1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề án quản trị kinh doanh tổng hợp

33 1,6K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 148,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cạnh tranh của một doanh nghiệp ,ngành , quốc gia mà mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm , hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thủy sản là một trong bốn mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Vốn là ngành truyền thống , ngành chế biến thủy sản nước ta đã nắm bắt nhanh xu hướng hội nhập , khai thác hiệu quả hơn và có dấu hiệu khởi sắc Thành công này có được phần lớn nhờ vào những lợi thế so sánh cuả ngành và những nỗ lực của các doanh nghiệp trong ngành.Tuy nhiên, sự phát triển của ngành chế biến thủy sản thời gian qua cũng đặt ra cho nhữngnhà quản lí một số vấn đề bất cập cần quan tâm nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững Một trong những vấn đề nổi bật đó là các doanh nghiệp chưa thật sự khẳng định được vị thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

Để có thể xây dựng được lợi thế cạnh tranh mang tính bền vững cho lĩnh vực chế biến thủy sản , ngành chế biến thủy sản cần có những hướng đi , giải pháp tổng thể để cải thiện cạnh tranh của ngành Năng lực cạnh trnah của ngành chế biến thủy sản cần được củng cố trên cơ sở khai thác hiệu quả các yếu tố lợi thế, đồng thời dựa trên năng lực của bản thân các doanh nghiệp trong ngành Nói cách khác ngành chế biến thủy sản Việt Nam cần có khả năng nâng cao chất lượng để vượt qua các rào cản kỹ thuật của các quốc gia nhập khẩu đồng thời đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường tiềm năng nhưng khó tính

PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

1 Các khái niệm và nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh

2 Cạnh tranh

Nền kinh tế thế giới đang ngày càng đi vào tình trạng cạnh tranh toàn diện, các rào cản thương mại truyền thống dần được gỡ bỏ , các đối thủ cạnh tranh mới nổi và sự cạnh tranh toàn cầu trở nên gay gắt hơn

Cạnh tranh là hiện tương tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các chủ thể có chung môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các chủ thể cùng quan tâm

Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay, trong nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, chính trị, luật, quân sự, thể thao

Từ nhiều góc độ khác nhau dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh

(i) Từ góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì “ cạnh tranh” là là hoạt động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay nhóm vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác

Trang 2

(ii) Trong kinh tế học chính trị thì cạnh tranh là là sự ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ từ đó thu được nhiều lợi nhuận cho mình Cạnh tranh có thể xáy

ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng , giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ

(iii)Theo Micheal Porter thì : cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà các doanh nghiệp đang có Kết quả của cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong các ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Có nhiều biện pháp cạnh tranh : cạnh tranh bằng giá cả ( giảm giá, chiết khấu ), cạnh tranh phi giá cả ( quảng cáo, nỗ lực phân phối ) Cạnh tranh của một doanh nghiệp ,ngành , quốc gia mà mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm , hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và thu nhập thực tế

Cạnh tranh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường , nó thúc đẩy quá trình pháttriển của hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa Ngày nay tất cả các quốc gia đều nhận thức được cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế xã hội

3 Lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để "nắm bắt cơ hội", để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa

có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia)

Ngoài ra, thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tụccung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được

4 Năng lực cạnh tranh

Trang 3

Năng lưc cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong , bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với đốithủ cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh cũng có thể được hiểu là khả năng giành được thị phần lớn hơn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn

bộ thị phần của đồng nghiệp

Năng lực cạnh tranh được sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp , giữa các doanh nghiệp với nhau mà còn là việc so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranh quốc tế

4.1 Yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp

4.1.1 Yếu tố bên trong Doanh nghiệp

* Hàng hóa và cơ cấu hàng hóa trong kinh doanh

Điều quan trọng nhất đối với hoạt động của một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh là cần xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm, hàng hoá Khi tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có hàng hoa đem ra thị trường và phải làm sao để chohàng hoá của mình thích ứng được với thị trường, nhằm tăng khả năng tiên thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh Thực chất của đa dạng hoá đó là quá trình mở rộng hợp lý danh mục hàng hoá, tạo nên một cơ cấu hàng hoá có hiệu quả của doanh nghiệp Hàng hoá của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duy trì các hàng hoá đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tìm ra các hàng hoá mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Đa dạng hoá hàng hoá kinh doanh không chỉ là để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu được nhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh khi mà tình hình cạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt

Đi đôi với thực hiện đa dạng hoá mặt hàng, đề đảm bảo đứng vững trong điều kiệncạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá hàng hoá vào một

số loại hàng hoá nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường

Trang 4

nhất định của mình Trong phạm vi này doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh, do đó doanh nghiệp đã tạo dựng được một bức rào chắn, đảm bảo giữ vững được phần thị trường của mình.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lược khác biệt hoá hàng hoá, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách hàng vào các hàng hoá của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp

Như vậy hàng hoá và cơ cấu hàng hoá một cách tối ưu là một trong những yếu tố quyết

định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

* Yếu tố giá cả

Giá cả của một hàng hoá trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay không mua của khách hàng.Trong nền kinh tế thị trường có sư cạnh tranh của các doanh nghiệp, khách hàng có quyền mua và lựa chọn những gì cho là tốt nhất và cùng một loại hàng hoá với chất lượng tương đương nhau chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, khi đó lượng bán của doanh nghiệp sẽ tăng lên

Giá cả được thể hiện như là vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá của hàng hoá: Định giá thấp (giá xâm nhập, giới thiệu) định giá ngang giá thị trường hay định giá cao Việc định giá cần phải xem xét các yếu tố sau: Lượng cầu đối với hàng hoá và tính tới số tiền mà dân cư có thể để dành cho loại hàng hoá đó, chi phíkinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm Phải nhận dạng đúng thị trường cạnh tranh để từ đó có cách định giá thích hợp cho mỗi loại thị trường Với một mức giángang giá thị trường giúp cho doanh nghiệp giữ được khách hàng đặc biệt là kháchhàng truyền thống Nếu doanh nghiệp tìm ra được các biện pháp hạ giá thành thì lợi nhuận thu được sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh sẽ cao Ngược lại, với một mức giá thấp hơn giá thị trường sẽ thu hút được nhiều khách hàng và tăng lượng bán, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn giá thị trường chỉ sử dụng được đối với các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này giúp cho doanh nghiệp thu được rất nhiều lợi nhuận (lợi nhuận siêu ngạch)

Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọncác chính sách giá thích hợp cho từng loại hàng hoá, từng giai đoạn trong chu kỳ

Trang 5

* Chất lượng hàng hóa

Nếu như trước kia giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh, thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng hàng hoá Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là biện pháp nghèo nàn vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại cùng một loại hàng hoá, chất lượng hàng hoá nào đáp ứng được nhu cầu khách hàng thì họ cũng sẵn sàng mua với một mức giá cao hơn, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng cao hơn trước Chất lượng hàng hoá là hệ thống nội tại của hàng hoá được xác định bằng cá thông số có thể do được hoặc so sánh được, thoả mãn các điều kiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội Chất lượng háng hoá được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chứ sản xuất và ngay cả khitiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: Công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ quản lý

Muốn đảm bảo về chất lượng thì một mặt phải thường xuyên chú ý tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, mặt khác,chất lượng hàng hoá không những được đảm bảo trước khi bán mà còn phải được đảm bảo ngay cả sau khi bán hàng bằng các dịch vụ bảo hành Chất lượng hàng hoá thể hiện tính quyết định khả năng của doanh nghiệp ở chỗ Thứ nhất, nâng cao chất lượng hàng hoá sẽ làm tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.Thứ hai, hàng hoá chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thích khách hàng mua hàng và

nở rộng thị trường.Thứ ba, chất lượng hàng hoá cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp

* Tổ chức hoạt động xúc tiến

Trong kinh doanh thương mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả cao nếu chỉ nghĩ rằng có hàng hoá chất lượng cao, giá rẻ là đủ để bán hàng Nhưng giá trị của hàng hoá, dịch vụ, thậm chí cả những lợi ích đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin tới khách hàng hiện đại, khách hàng tiềm năng, cũng như những người có ảnh hưởng tới việc mua sắm Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các hoạt động của xúc tiến thương mại

Trang 6

Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến là tập hợp nhiều nội dung khác nhau nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Công tác tổ chức hoạt độngxúc tiến gồm một số nội dung sau:Quảng cáo; khuyến mại;hội chợ triển lãm; bán hàng trực tiếp

Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác

Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền tin (Đài, báo, truyền hình ) về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng nhằm làm cho khách hàng chú ý tới sự có mặt của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ sẽ được cung cấp.Quảng cáo phải tạo ra sự khá biệt giữa hàng hoá của doanh nghiệp với hàng hoá hác trên thị trường, làm tăng giá của hàng hoá bán ra Quảng cáo phải gây được ấntượng cho khách hàng, tác động vào tâm lý khách hàng để làm nảy sinh nhu cầu mua sắm của họ, từ đó làm tăng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp (nhờ tăng lượng bán) Và một tác dụng nữa của quảng cáo là nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, là một phương tiện cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh

Bên cạnh hoạt động trên, hiện nay các doanh nghiệp còn thực hiện các hoạt động như chiêu hàng, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng để giới thiệu về sản phẩm của doanh nghiệp mình

Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến tốt tác động mạnh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Thứ nhất, tổ chức hoạt động xúc tiến tốt giúp cho doanh nghiệp tăng lượngbán tăng doanh thu, lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh.Thứ hai,tổ chức hoạt động xúc tiến tốt

sẽ tạo ra uy tín của sản phẩm trên thị trường, làm cho khách hàng biến đến và hiểu rõ kỹ năng công dụng của sản phẩm.Thứ ba, tổ chức tốt hoạt động xúc tiến giúp cho doanh nghiệp tìm được nhiều bạn hàng mới, khai thác được nhiều thị trường, kích thích sản xuấtkinh doanh phát triển

* Dịch vụ sau bán hàng

Để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dựng được uy tín với người tiêu dùng về

hàng hoá của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt các dịch vụ sau bán hàng

Nội dung hoạt động dịch vụ sau bán hàng gồm: Hướng dẫn cách sử dụng hàng hoá, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành, bảo đảm các dịch vụ thay thế

Trang 7

Qua dịch vụ sau bán hàng doanh nghiệp nắm bắt được hàng hoá của mình có đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng không, để từ đó ngày càng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của mình Do vậy, dịch vụ sau bán hàng là một biện pháp rất tốt tăng uy tín trong cạnh tranh.

* Phương thức thanh toán

Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phương thức thanh toán khác nhau như: Thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngân hàng, mở L/C giúp cho hoạt động mua bán được diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người bán và người mua Việc lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý sẽ có tác động kích thích đối với khách hàng, tăng khối lượng tiêu thụ và do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

4.1.2 Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

a Môi trường kinh tế quốc dân

* Nhóm nhân tố kinh tế

Tốc độ tăng trưởng cao của nước sở tại luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực sự tăng lên về khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, khi tăng trưởng cao khả năng tích tụ tập trung tư bản cao do đó khả năng sản xuất kinh doanh

và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng cao

Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi tỷ giá hối đoái giảm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tăng lên trên thị trường quốc tế

vì khi đó giá bán của doanh nghiệp thấp hơn hoá bán của đối thủ cạnh tranh của nước khác, và ngược lại tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế giảm

Lãi suất ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm cho giá thành sản phẩm tăng lên từ đó giá tăng lên, do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là các đối thủ có tiềm lực về vốn

* Nhân tố chính trị, pháp luật

Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu bởi các doanh nghiệp này hoạt động trên thị trường quốc tế với lợi thế mạnh trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa các nước Chính trị ổn định, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả

Trang 8

Chẳng hạn bất kỳ một sự ưu đãi về thuế xuất khẩu nào cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.

* Nhóm nhân tố về công nghệ, khoa học kĩ thuật

Nhóm nhân tố này tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường là chất lượng và giá cả Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí cá biệt của các doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao, khoa học kỹ thuật, công nghệ ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng sau:

Tạo ra những thế hệ công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và trang bị lại toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật

Giúp các doanh nghiệp trong qúa trình thu nhập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin một cách nhanh chóng và chính xác nhất

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao uy tín của doanh nghiệp

* Các nhân tố tự nhiên, văn hóa- xã hội

Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý của quốc gia, môi trường thời tiết khí hậu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng tích cực hay tiêu cực Chẳng hạn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vịtrí địa lý thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, có điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường Bên cạnh đó, những khó khăn ban đầu do điều kiện tự nhiên gây ra làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Phong tục tập quán thị hiếu lối sống, thói quen tiêu dùng, tôn giáo tín ngưỡng ảnh hưởng đến cơ cấu nhu cầu của thị trường doanh nghiệp tham gia và từ đó ảnh hưởng đến chính sách kinh doanh của các doanh nghiệp khi tham gia vào các thị trường khác nhau

b Môi trường ngành

* Khách hàng

Khách hàng sẽ tạo áp lực làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng việc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ bán hàng tốt hơn và do đó, để duy trì và tồn tại trên thị trường, buộc các doanh nghiệp phải thoả mãn tốt các nhu cầu của khách hàng trong điều kiện cho phép điều này sẽ làm tăng cường độ và tính chất cạnhtranh của doanh nghiệp

* Số lượng các doanh nghiệp trong ngành hiện có và số lượng doanh nghiệp tiềm ẩn

Trang 9

Số lượng doanh nghiệp cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi số lượng đối thủ cạnh tranhthì thị phần của các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ giảm khi đó doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hay là doanh nghiệp

có khả năng cạnh tranh cao nhất, doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữa cường độ cạnh tranh, ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Hơn nữa cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt hơn nếu như có sự xuất hiện thêm một vài doanh nghiệp mới thamgia cạnh tranh Khi đó, các doanh nghiệp cũ với lợi thế về sản phẩm, vốn, chi phí cố định

và mạng lưới kênh phân phối sẽ phản ứng quyết liệt đối với doanh nghiệp mới Tuy nhiên nếu các doanh nghiệp mới có ưu thế hơn về công nghệ, chất lượng sản phẩm, áp dụng các biện pháp để giành thị phần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp mới sẽ cao hơn nếu các doanh nghiệp không sử dụng hữu hiệu công cụ trong cạnh tranh

* Các đơn vị cung ứng đầu vào

Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây ra những khó khăn làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau:

Nguồn cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp độc quyền cung ứng

Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung ứng nào khác thì doanh nghiệp sẽ yếu thế hơn trong mối tương quan thế và lực đối với nhà cung ứng hiện có

Nếu nhà cung cấp có đủ khả năng, đủ các nguồn lực để khép kín sản xuất, có hệ thống mạng phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì có thế lực đáng kể đối với doanh nghiệp với tưcách là khách hàng

Tất cả những khó khăn đối với doanh nghiệp có thể gặp phải ở trên sẽ giảm đến sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào các đơn vị cung ứng đầu vào có thể gây ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Để giảm bớt các tác động không tốt từ các nhà cung ứng, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một hay nhiều người cung ứng, nghiên cứu tìm hiểu nguồn đầu vào thay thế khi cần thiết và cần có chính sách dự trữ hàng hoá hợp lý

* Sức ép của sản phẩm thay thế

Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một yếu tố nhằm đáp ứng sự biến động của nhu cầu thị trường theo xu hướng ngày càng đa dạng phong phú và cao cấp hơn và chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế

Trang 10

Đặc biệt nhiều sản phẩm thay thế được sản xuất trên những dây chuyền kỹ thuật công nghệ tiên tiến hơn, do đó có sự cạnh tranh cao hơn sản phẩm thay thế phát triển sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp không có sản phẩm thay thế.

1.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

Xét về khía cạnh lợi thế cạnh tranh thì có nhiều tiêu chí có thể đo lường

Theo quan điểm truyền thống thì các tiêu chí này thuộc về marketing hoặc tài chính như:

* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp tính theo doanh thu

GT t = ( DT t – DT t-1 ) : DT t-1

Trong đó:

Gtt: Tốc độ tăng trưởng theo doanh thu thời kỳ nghiên cứu

DTt: Doanh thu kỳ nghiên cứu

DTt-l: Doanh thu kỳ trước

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng lên hoặc giảm đi của thị phần của doanh

nghiệp trên thị trường, đồng nghĩa với sự lớn lên hay giảm sút sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp theo lợi nhuận

GT t = (Pr t – Pr t-1 ) : Pr t-1

Trong đó:

GTt: Tốc độ tăng trưởng theo lợi nhuận kỳ nghiên cứu

Prt::Lợi nhuận kỳ nghiên cứu

Prt-l: Lợi nhuận kỳ trước đó

Ý nghĩa: Có ý nghĩa giống với chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tính theo doanh thu nhưng phản

ánh thực chất và chính xác hơn về một doanh nghiệp vì nó so sánh về tốc độ tăng lợi nhuận và lợi nhuận mới thực sự phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp

Thị phần của doanh nghiệp = Doanh thu của doanh nghiệp : Tổng doanh thu tiêu thụ trên thị trường

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên mức độ rộng lớn của thị trường của một doanh nghiệp và

vai trò ví trị của doanh nghiệp đó trên thị trường Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá mức độ hoạt động có hiệu quả hay không của doanh nghiệp trong

Trang 11

việc thực hiện chiến dịch thị trường, chiến lược marketing, chiến lược cạnh tranh và hỗ trợ cho việc đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, chỉ tiêu trên có một nhược điểm là khó thể đảm bảo tính chính xác khi xác định nó, nhất là khi thị trường mà doanh nghiệp đang tham gia quá rộng lớn vì nó gây nhiều khó khăn trong việc tính được chính xác doanh thu thực tế của các doanh nghiệp Mặt khác công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí

Các công ty dẫn đầu thường có mức thị phần cao

* Tỷ số về khả năng sinh lãi

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = Thu nhập sau thuế : Doanh thu

Tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất- kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp

Chỉ tiêu này xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế (lợi nhuận sau thuế) cho doanh thu Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế ttrong 100 đồng doanh thu

* Doanh lợi tài sản (ROA)

ROA = Thu nhập sau thuế :Tổng tài sản

Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi sosánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh tổng tài sản

Việc đo lường rất dễ dàng thực hiện khi các số liệu về thị phần, doanh số lợi nhuận đều

có trong các bảng nghiên cứu thị trường hay các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Ngoài các tiêu chí đo lường theo cách truyền thông trên thì doanh nghiệp nên quan tâm đến một số tiêu chí khác nhau tùy theo lĩnh vực kinh doanh của mình Đôi khi các tiêu chínày rất khó đo lường nhưng lại có một ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá doanh nghiệp

Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thì có thể có các ưu thế sau so với công ty cùngngành khác như:

Một là, chất lượng sản phẩm tốt hơn – đáng tin cậy, tính năng sản phẩm vượt trội, vận hành tốt hơn…

Hai là, dịch vụ khách hàng tốt hơn – dịch vụ hỗ trợ bán hàng, cách xử lý sự cố hay than phiền từ khách hàng…

Trang 12

Ba là, tỉ lệ khách hàng trung thành cao hơn – khách hàng trung thành thường là người mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp

Bốn là, giá thành cạnh tranh hơn - chi phí sản xuất sản phẩm thấp hơn các công ty cùng ngành

Năm là, tiến trình ra các quyết định kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả hơn – giúp doanh nghiệp có thể phản ứng tốt sự thay đổi của thị trường

Sáu là, nhân viên nhiệt huyết và trung thành – điều này sẽ dẫn đến việc năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ sẽ tốt hơn

5 Một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh

6 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter

Michael Porter đã cung cấp một khung lý thuyết để phân tích Trong đó, ông mô hình hóacác ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh Các nhà quản trị phải tìm kiếm ưu thế nổi trội hơn các đối thủ

có thể sử dụng mô hình này nhằm hiểu rõ hơn bối cảnh của ngành kinh doanh mình đang hoạt động

Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter là việc đề xuất mô

hình 5 áp lực: Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty đang tồn tại; mối đe doạ về

việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ xuất hiện các sản phẩm thay thế; khả năng thương lượng của khách hàng ; sức mạnh của các nhà cung cấp

Trang 13

Trong đó:

*Nguy cơ đe doạ từ những người mới vào cuộc

Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường nhưng khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường (thị phần) của các doanh nghiệp khác Để hạn chế mối đe doạ này, các nhà quản lý thường dựng nên các hàng rào như: Mở rộng khối lượng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi phí,khác biệt hoá sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới hệ thống phân phối phát triển các dịch vụ bổ sung

Ngoài ra có thể lựa chọn địa điểm thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợ của Chính phủ và lựa chọn đúng dadứn thị trường nguyên liệu, thị trường sản phẩm

* Quyền lực thương lượng của người cung ứng

Người cung ứng có thể chi phối đến doanh nghiệp là do sự thống trị hoặc khả năng độc quyền của một số ít nhà cung ứng Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất do tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng, do đặc tính khác biệt hoá cao độ của người cung ứng với người sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phầm mà nhà sản xuất phải chấp nhận và tiến hành, do liên kết của những người cung ứng gây ra

Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật liệu Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng quốc tế có

Trang 14

vị trí càng quan trọng Mặc dù có thể có cạnh tranh giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất thì quyền lực thương lượng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trước khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải biết được quyền lực thương lượng của người cung ứng thành quyền lực của mình.

* Quyền lực thương lượng của người mua

Người mua có quyền thương lượng với doanh nghiệp (người bán) thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ doanh nghiệp, hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá

Các nhân tố tạo nên quyền lực thương lượng của người mua gồm: Khối lượng mua lớn,

sự đe doạ của quá trình liên kết những người mua khi tiến hành thương lượng với doanh nghiệp, do sự tập trung lớn của người đối với sản phẩm chưa được dị biệt hoá hoặc các dịch vụ bổ sung còn thiếu

Quyền lực thương lượng của người mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trường, hoặc khi doanh nghiệp thiếu khá nhiều thông tin về thị trường (đầu vào và đầu ra) Các doanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăn hơn và bằng những phương thức dịch vụ độc đáo hơn

* Nguy cơ đe doạ về những sản phẩm và dịch vụ thay thế

Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khác hàng có xu hướng sử dụng sảnphẩm và dịch vụ thay thế Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trường của doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trường những sản phẩm thay thế có khả năng biệt hoá cao độ so với sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính

Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp, thì mối đe doạ đối với doanh nghiệp càng lớn Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lượng hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Néu có ít sản phẩm tương ứng sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi nhuận

* Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành

Cạnh tranh giữa các Công ty trong một ngành công nghiệp được xem là vấn đề cốt lõi nhất của phân tích cạnh tranh Các hàng trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá

Trang 15

tồn tại trong thị trường Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần nhưcân bằng nhau, khi tăng trưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng, khicác đối thủ cạnh tranh có chiến lược đa dạng

Có một điều thuận lợi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinh doanh, hoặc các thông tin

về thị trường Các doanh nghiệp sẽ có khả năng cạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời và ngược lại có thể mất lợi thế cạnh tranh bất cứ lúc bào họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén

Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (trừ các doanh nghiệp ở nước sở tại) khi cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ có một phần bất lợi như nhau do các quy định hạn chế của Chính phủ nước sở tại Chính vì thế, doanh nghiệp nào mạnh về tài chính hoặc khoa học kỹ thuật hoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thếrất lớn Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, doanh nghiệp khi tham gia thị trường nước ngoài cần có sự trợ giúp của các doanh nghiệp khác trong cùng quốc gia

để có thêm khả năng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc quốc gia khác Lúc đó có thể coi sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranh giữa các quốc gia.Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp làm cho giá cả các yếu tố đầu ra và những yếu tố đầu vào biến động theo các xu hướng khác nhau Tình hình này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm thách thức, tăng thời

cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnhthị trường, đưa ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp

Ngoài mô hình 5 lực lượng cạnh tranh, M.Porter còn đề xuất mô hình kim cương để đo năng lực cạnh tranh quốc gia

dựa vào phân tích các yếu tố: vốn, chiến lược, nhu cầu thị trường, sự phát triển

ngành dịch vụ hỗ trợ và 2 yếu tố tác động là chính phủ và cơ hội

7 Mô hình SWOT

SWOT là một thuật ngữ tiếng Anh được viết tắt từ các từ Strengths (Điểm mạnh)

Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội),Threats (Thách thức)

Hai thành phần chính của SWOT là các phân tích bên ngoài (O,T) và các phân tích bên trong (S,W).Việc phân tích sáng suốt, doanh nghiệp có thể đề ra các chiến lược đúng đắn,nắm bắt được các cơ và sẵn sàng đối phó với các đe dọa có thể xảy ra Từ đó,tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 16

PHẦN II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM

2.1 Tình hình phát triển của ngành thủy sản Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nhiều ao hồ, đầm phá, kênh rạch lại thêm bờ biển dài, ngườidân có truyền thống khai thác thủy sản Nhờ đó , thủy sản từ một ngành truyền thống nhanh chóng thành ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân

Chế biến là khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị của ngành thủy sản , góp phần nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ đem lại nhiều khoản lợi nhuận lớn cho các Doanh nghiệp Những bước thăng trầm của các doanh nghiệp luôn gắnliền với nhịp sống chung của nền kinh tế

Theo Tổng cục Thủy sản, trong hoạt động nuôi trồng, tháng 5/2014, diện tích nuôi cá tra tính đến ngày 16/5 là 2.168 ha (bằng 99,1% so với cùng kỳ năm 2013) Sản lượng thu hoạch là 311.899 tấn (bằng 114,2% so với cùng kỳ năm 2013, năng suất 273

tấn/ha) Nuôi tôm, diện tích thả nuôi đến nay đạt 558.019 ha (bằng 107,9% so với cùng

Ngày đăng: 12/10/2015, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tổng cục Thống kê, “Tình hình Kinh tế xã hội 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình Kinh tế xã hội 2013
Tác giả: Tổng cục Thống kê
4. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, “ Thống kê - Giá thế giới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê - Giá thế giới
Tác giả: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
5. Tổng cục Thủy sản, “ Báo cáo tóm tắt thực trạng phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2001- 2011” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt thực trạng phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2001- 2011
Tác giả: Tổng cục Thủy sản
6. Vietstock (2013), “ Rủi ro từ nhập khẩu nguyên liệu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro từ nhập khẩu nguyên liệu
Tác giả: Vietstock
Năm: 2013
7. Vietbao.vn ( 2012), “ Thủy sản Việt Nam còn nhiều yếu điểm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy sản Việt Nam còn nhiều yếu điểm
8. Quang Huy ( báo Pháp luật ), “ Doanh nghiệp Thủy sản đói nguyên liệu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Thủy sản đói nguyên liệu
Tác giả: Quang Huy
Nhà XB: báo Pháp luật
9. AGIFISH (2014), “ Xuất khẩu thủy sản còn đối mặt với nhiều thách thức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu thủy sản còn đối mặt với nhiều thách thức
Tác giả: AGIFISH
Năm: 2014
10. Nguyễn Viễn Sự ( báo Tuổi trẻ Online), “ Đừng để ngư dân tự bơi giữa biển cả” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đừng để ngư dân tự bơi giữa biển cả
Tác giả: Nguyễn Viễn Sự
Nhà XB: báo Tuổi trẻ Online
11. T.S Bùi Đức Tuân (2010), Luận án “ Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chế biến thủy sản Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành chế biến thủy sản Việt Nam
Tác giả: T.S Bùi Đức Tuân
Năm: 2010
12. Nguyễn Mai Phương (2012), Luận văn “ Năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường Mỹ
Tác giả: Nguyễn Mai Phương
Năm: 2012
13. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Kiên Giang, “ Chính sách hỗ trợ đầu tư kho lạnh bảo quản thủy sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách hỗ trợ đầu tư kho lạnh bảo quản thủy sản
14. Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan, Ngoại giao kinh tế “ Việt Nam kiên quyết loại bỏ dư lượng kháng sinh trong mặt hàng thủy sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao kinh tế “ Việt Nam kiên quyết loại bỏ dư lượng kháng sinh trong mặt hàng thủy sản”
Tác giả: Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan
15. Phanh Trung Hiếu ( 2011), “Thực trạng xuất khẩu thủy sản vào Nhật Bản và các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng xuất khẩu thủy sản vào Nhật Bản và các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu
Tác giả: Phanh Trung Hiếu
Năm: 2011
16. Nguyễn Văn Lập ( Báo Nhân dân điện tử ), “ Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
1. Giáo trình Quản trị kinh doanh – NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2012 2. Giáo trình Quản lí học – NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1- Ước giá trị sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2014 - Đề án quản trị kinh doanh tổng hợp
Bảng 1 Ước giá trị sản xuất thủy sản 9 tháng đầu năm 2014 (Trang 17)
Bảng 2. Dự báo thị trường tiêu thụ một số sản phẩm thủy sản chủ lực đến năm 2015 - Đề án quản trị kinh doanh tổng hợp
Bảng 2. Dự báo thị trường tiêu thụ một số sản phẩm thủy sản chủ lực đến năm 2015 (Trang 18)
Bảng 3. Giá tôm tại thị trường New York - Đề án quản trị kinh doanh tổng hợp
Bảng 3. Giá tôm tại thị trường New York (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w