1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)

160 600 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ khi mới thành lập đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ khoa học đã xác định rõ hai nhiệm vụ chính của khoa là i Đào tạo kỹ sư nông nghiệp có chất lượng cao phục vụ sản xuấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I - HÀ NỘI

KỶ YẾU 50 NĂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ (1956 - 2006)

HÀ NỘI - 2006

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 5

KHOA NÔNG HỌC

Trang 7

ẢNH KHOA

Trang 9

hoa Nông học, tiền thân là khoa Trồng trọt thuộc Học viện Nông Lâm, nay

là Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội được thành lập vào năm 1956 Trải qua 50 năm hoạt động, tập thể các thế hệ giáo viên, cán bộ công nhân viên của khoa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất

Ngay từ khi mới thành lập đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ khoa học đã xác định rõ hai nhiệm vụ chính của khoa là i) Đào tạo kỹ sư nông nghiệp có chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, ii) Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về các lĩnh vực như trồng trọt, bảo vệ thực vật và chọn giống cây trồng

Theo hai định hướng trên, bên cạnh các thành tích to lớn trong công tác đào tạo, khoa Nông học đã trở thành một trong các trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp hàng đầu trong cả nước Các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong 50 năm qua đã có tác động tích cực tới nhiều lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp của Việt nam, đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt

Giai đoạn 1956 - 1975

Đây là giai đoạn lịch sử hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học nông nghiệp của Việt Nam Nhiều thầy cô giáo, nhà khoa học thuộc Học viện Nông Lâm là những nhà khoa học tiên phong trong công tác nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Các kết quả nghiên cứu được chuyển giao trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, tạo sự thay đổi lớn về mặt kỹ thuật trồng trọt, thể hiện trong các lĩnh vực sau:

- Nghiên cứu xây dựng nhiều quy trình kỹ thuật tăng năng suất lúa và các loại cây trồng khác Kết quả nghiên cứu đã làm tăng nhanh năng suất các loại cây trồng, thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước

- Nghiên cứu chuyển đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng trong đó thành công lớn nhất là chuyển đổi vụ lúa chiêm sang vụ lúa xuân do tập thể các nhà khoa học (Bùi Huy Đáp, Đinh Văn Lữ và Nguyễn Văn Luật, 1964) Thử nghiệm sản xuất thành công cà chua xuân hè trái vụ tại vùng Đồng bằng sông Hồng (Tạ Thu Cúc, 1968-1970)

- Nghiên cứu chọn tạo các loại giống cây trồng mới ngắn ngày, nhiều giống cây trồng mới đựợc chọn tạo và chuyển giao vào sản xuất như các giống lúa: Nông nghiệp 1 (NN1), 813 và 828 của Lương Định Của, các giống Đông xuân 1, Đông xuân 2, Đông xuân 3, Đông xuân 4 và Đông xuân 5 của Vũ Tuyên Hoàng, các giống VN10 (NN 75-3), A4 (NN 75-5) của Trần Như Nguyện

Giai đoạn 1976 - 1995

Tiếp bước truyền thống nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của giai đoạn trước, sau khi đất nước thống nhất, mặc dù còn gặp rất nhiều khó

K

Trang 10

khăn, song công tác nghiên cứu khoa học của khoa vẫn được duy trì, hàng loạt các công trình nghiên cứu thành công được áp dụng ngay vào sản xuất như:

- Quy trình phá ngủ khoai tây; Quy trình xử lý lạnh các loại cây rau (hành tỏi), cây hoa loa kèn trồng; Sử dụng các chế phẩm tăng năng suất các loại cây lương thực, thực phẩm của Bộ môn Sinh lý thực vật

- Nhiều giống cây trồng mới được chọn tạo hơn hẳn các giống địa phương, như các giống lạc B 5000, Sen lai 75-23, V79, các giống đậu tương M-103, DT-93, giống đậu xanh ĐX-04 của Bộ môn Cây công nghiệp Các giống lúa ĐH60, nếp 44, đậu tương V48, cà chua MV1 của Bộ môn Di truyền giống

- Tập thể thầy cô giáo Bộ môn Rau quả đã thành công trong nghiên cứu các quy trình kỹ thuật, chuyển giao nhiều tiến bộ kỹ thuật về cây ăn quả, cây rau như: Áp dụng thành công kỹ thuật ghép táo, ghép hồng; nhập nội, chọn lọc và chuyển giao vào sản xuất giống bưởi POMELO (bưởi Đại học Nông nghiệp I), giống táo Thiện Phiến…

- Tham gia điều tra cơ bản sâu bệnh hại cây trồng ở miền Bắc và Tây Nguyên (Bộ môn Côn trùng - Bệnh cây)

- Nghiên cứu xây dựng vùng cách ly địa hình sản xuất khoai tây sạch bệnh và điều tra phát hiện bệnh Virus thực vật ở Việt Nam

- Kết hợp với các nhà khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp xây dựng tiêu chuẩn sắn lát khô của Việt Nam

Giai đoạn 1996 - 2006

Đây là giai đoạn các điều kiện nghiên cứu đã được cải thiện hơn, kinh phí Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu đã được nâng lên đáng kể, thêm vào đó nhiều cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài trở về trực tiếp tham gia nghiên cứu… đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học của khoa Những đóng góp lớn phải kể đến là chọn tạo thành công và đưa ra trồng ngoài sản xuất các giống lúa thuần, lúa lai, đậu tương, cà chua có năng suất cao, chất lượng tốt; Xây dựng quy trình quản lý tổng hợp các loại sâu bệnh hại cây trồng (IPM) góp phần thúc đẩy phong trào bảo vệ cây trồng, hạn chế sử dụng các loại thuốc độc hại, bảo vệ môi trường trong sạch và bền vững rộng khắp trong

cả nước; Nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học, các nguyên tố vi lượng cho các loại cây trồng nông nghiệp làm tăng năng suất cây trồng; Ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp (nuôi cấy mô); Thu thập và bảo tồn nguồn gen các loại cây trồng nông nghiệp làm tăng đa dạng sinh học

Trong thời gian này, nhiều cán bộ giảng dạy và nghiên cứu trong khoa đã chủ trì và tham gia 3 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, chủ trì 5 đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp

bộ và 20 đề tài nghiên cứu cấp bộ, 60 đề tài nghiên cứu cấp trường, 20 đề tài tham gia

Trang 11

hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học và các công ty trong nước và 10 đề tài hợp tác nghiên cứu với nước ngoài Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học được đánh giá cao như: “Chọn tạo giống lúa lai hai dòng Việt lai 20”, “Chọn tạo giống cà chua lai chịu nhiệt HT 7”, “Sản xuất KIT để chẩn đoán nhanh bệnh hại cây trồng”, “IPM trên cây khoai lang”, “ICM trên cây khoai tây”…

Công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên được triển khai đồng đều và trải rộng

ở các chuyên ngành, với 112 đề tài được thực hiện, trong đó có 1 công trình đạt giải nhất trong Hội nghị khoa học sinh viên khối Nông Lâm năm 2004, 2 công trình đạt giải nhì Vifotec, 4 công trình đạt giải khuyến khích Vifotec năm 2005

Kết quả đạt được từ những công trình nghiên cứu của khoa là những tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, trong thời gian này có 7 giống cây trồng mới

và tiến bộ kỹ thuật được Nhà nước công nhận cho áp dụng trên diện rộng (lúa Việt lai

20, cà chua HT 7, dậu tương DN-42, phân bón lá Pomior, quản lý tổng hợp (IPM) bọ hà (Cylas formicarius) trên khoai lang, quản lý tổng hợp (ICM) cây khoai tây ở Đồng bằng

sông Hồng, bộ KIT chẩn đoán bệnh hại cây trồng) Các tiến bộ kỹ thuật này đã góp phần mang lại hiệu quả kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước

Để tiếp tục phát huy thành tựu nghiên cứu khoa học trong 50 năm và nguồn nhân lực mạnh mẽ của khoa, công tác nghiên cứu giai đoạn 2003-2010 và các năm tiếp theo Khoa Nông học tập trung vào các hướng chính như: Chọn tạo các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt; Áp dụng công nghệ sinh học trong sản suất, chọn tạo giống

và bảo vệ thực vật; Bảo vệ tài nguyên, ngăn chặn suy thoái môi trường; Đấu tranh sinh học trong bảo vệ thực vật; Thu thập và bảo tồn nguồn gen các loại cây trồng nông nghiệp Trên cơ sở các định hướng nghiên cứu chung của Khoa, từng bộ môn đã xây dựng định hướng nghiên cứu

Bộ môn Di truyền - Giống tập trung nghiên cứu chọn giống cây trồng nông nghiệp

ưu thế lai với các tính trạng đặc biệt

Bộ môn Công nghệ sinh học và Phương pháp thí nghiệm đi sâu vào nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tế bào và chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống cây trồng chất lượng cao, chống chịu tốt: Cây lúa chất lượng cao, chống chịu bệnh bạc lá, đạo ôn; Cây có múi cam chanh không hạt; Cây khoai tây sạch bệnh và cây hoa có tuổi thọ dài, màu sắc mới

lạ Bên cạnh đó, thường xuyên cập nhật và áp dụng các biện pháp nâng cao độ chính xác cho nghiên cứu nông nghiệp và hệ thống nông nghiệp

Bộ môn Sinh lý thực vật tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng kết hợp nguyên tố vi lượng trong nông nghiệp; Nhân giống vô tính cây trồng bằng kỹ

thuật in vitro và in vivo; Kỹ thuật trồng cây không dùng đất (công nghệ trồng thuỷ canh

là chính)

Trang 12

Bộ môn Bệnh cây nghiên cứu các bệnh hại hạt giống (lúa, ngô, rau, đậu đỗ, lạc) và bệnh hại có nguồn gốc trong đất (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng), tạo các chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh hại cây trồng; Chẩn đoán nhanh bệnh virút bằng phương pháp ELISA, PCR và sản xuất cây sạch bệnh virút

Bộ môn Côn trùng tiếp tục nghiên cứu sử dụng biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

Bộ môn Cây lương thực tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái và dinh dưỡng các loại cây lương thực và chọn tạo giống ngô lai, các biện pháp kỹ thuật canh tác các loại cây lương thực và cây lương thực đặc sản (kỹ thuật thâm canh, phòng trừ cỏ dại), xây dựng hệ thống luân canh cây lương thực phù hợp cho vùng đồng bằng và trung

du Bắc Bộ

Bộ môn Rau-Hoa-Quả nghiên cứu kỹ thuật thâm canh đối với cây ăn quả như bưởi, cam, nhãn, vải, xoài, hồng, dứa; hoa và cây cảnh như hoa hồng, hoa cúc; cây rau như cà chua, dưa chuột, xà lách, dưa hấu, cải bắp chịu nhiệt; chọn giống và nhân giống cây ăn quả, cây rau và cây hoa, cây cảnh chủ yếu

Bộ môn Cây công nghiệp nghiên cứu chọn tạo giống một số cây công nghiệp chính

theo hướng năng suất cao và chống chịu tốt (đậu tương, lạc, mía) và các biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc, chè và thuốc lá

Bộ môn Thực vật nghiên cứu chọn lọc và nhân giống một số loài cây cảnh (họ Lan,

họ Cau, họ Hành), nghiên cứu hình thái giải phẫu có liên quan đến tính chống chịu của cây trồng

Bộ môn Dâu tằm – Ong mật nghiên cứu biện pháp nâng cao năng suất dâu tằm tơ kén vụ hè ở Đồng bằng sông Hồng

Trong suốt 50 năm qua, nhờ sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ giảng dạy, nghiên cứu và cán bộ công nhân viên trong Khoa, công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đạt được rất nhiều thành tựu nổi bật đã góp phần nâng cao vị thế của Khoa Nông học nói riêng và Trường Đại học Nông nghiệp I nói chung Trong giai đoạn tới, công tác nghiên cứu khoa học của Khoa tiếp tục được triển khai theo tinh thần phát huy nội lực, tranh thủ sự hợp tác quốc tế và hội nhập, bên cạnh việc tập trung xây dựng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm với các trang thiết

bị hiện đại, Khoa sẽ tổ chức để toàn thể cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ vào sản xuất và tạo điều kiện tốt hơn nữa để sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học

Kế thừa các thành tựu nghiên cứu khoa học đã đạt được trong 50 năm qua, cùng với sự cố gắng của tập thể cán bộ và sinh viên Khoa Nông học, các kết quả nghiên cứu

sẽ ngày một nhiều về số lượng và chất lượng, đạt trình độ công nghệ cao, góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại

Trang 13

MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TIÊU BIỂU

Trong 50 năm xây dựng và trưởng thành, Khoa Nông học đã có rất nhiều công trình khoa học công nghệ được tiến hành, tuy nhiên do điều kiện thu thập thông tin có hạn nên kỷ yếu này chỉ liệt kê được một số công trình và bài báo tiêu biểu

I THỜI KỲ 1956-1975

I.1 Một số công trình nghiên cứu về trồng trọt

Lúa xuân - một thành tựu lớn trong nông nghiệp miền bắc nước ta Nhóm tác

giả: Bùi Huy Đáp, Đinh Văn Lữ, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Văn Luật và ctv

Từ xưa, nông dân đồng bằng Bắc bộ chúng ta thường dựa vào vụ lúa mùa là chính

vì gieo cấy vào mùa mưa Vùng trũng và những nơi nào có điều kiện thuỷ lợi mới gieo cấy vụ chiêm dài ngày trong điều kiện giá lạnh nên năng suất thấp Qua thành công bước đầu về chủ trương tăng một vụ lúa xuân ngắn ngày ở miền núi phía Bắc, cuối những năm 50 của thế kỷ XX, khi về đồng bằng thấy vụ lúa chiêm dài ngày năng suất thấp và còn nhiều diện tích bị bỏ hoá vụ đông xuân, nhiều cán bộ nông nghiệp đã quyết tâm nghiên cứu đưa vụ lúa xuân về đồng bằng, thay lúa chiêm và tăng thêm một vụ lúa ngắn ngày năng suất cao hơn Viện Khoa học Nông nghiệp mà tiền thân là Viện Trồng trọt Trung ương ở Việt Bắc dưới sự lãnh đạo của GS Bùi Huy Đáp đã tiếp tục nghiên cứu và chỉ đạo đưa lúa xuân vào sản xuất

Năm 1963, Học viện Nông Lâm được tách thành hai đơn vị: Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp đóng tại Văn Điển và Trường Đại học Nông nghiệp I đóng tại Trâu Quỳ (Gia Lâm) Ở Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, các đề tài nghiên cứu về lúa xuân và thực nghiệm mở rộng trong sản xuất vẫn được tiếp tục dưới sự chỉ đạo của các nhà khoa học như Bùi Huy Đáp, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Văn Luật và một số cán bộ khác Ở trường Đại học nông nghiệp I, các đề tài nghiên cứu về lúa được Bộ môn Cây lương thực tiếp tục nghiên cứu

Nội dung và kết quả đạt được

Trong những năm đầu, lúa xuân phát triển còn gặp nhiều khó khăn như thời kỳ mạ gặp rét, thời vụ gieo cấy không ổn định do thời tiết biến động thất thường, nước tưới khan hiếm, trong vụ đông xuân, sâu bệnh phá hoại… và nhất là việc lai tạo, chọn giống lúa ngắn ngày thích hợp cho vụ lúa xuân…

Trong những năm 60- 70 của thế kỷ XX, Bộ môn Cây lương thực và các bộ môn trong Khoa đã nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau của lúa xuân

- Nghiên cứu các biện pháp chống rét cho mạ xuân Trong nghiên cứu này, các thí nghiệm cơ bản đã được bố trí, tìm hiểu sức chịu đựng của cây mạ với nhiệt độ thấp khác nhau Trong điều kiện của phòng thí nghiệm khi đó, phải sử dụng tủ lạnh, tủ định ôn để

Trang 14

điều chỉnh các mức nhiệt độ thấp khác nhau Hạt lúa sau khi đã nảy mầm được xếp lên trên giấy thấm tẩm ướt đặt trong hộp pêtri, với số lượng hạt nhất định để giám sát tỷ lệ chết và nhận thấy rằng với nhiệt độ dưới 130C, thậm chí dưới 100C, cây mạ còn dựa vào phôi nhũ của hạt thì vẫn duy trì được sức sống, nếu đã phát triển đến lá thứ 3 mà gặp nhiệt độ thấp dưới 130C kéo dài cây mạ sẽ chết Từ đó tập thể nghiên cứu đã tìm những biện pháp chống rét cho mạ như ngâm hạt giống được xử lý với molyđat amon nồng độ 0,05% và supe lân nồng độ 2% có tác dụng chống rét và tăng sức sống của cây mạ, đã

áp dụng với supe lân trong sản xuất Thí nghiệm còn được bố trí và theo dõi trên đồng ruộng qua các thời kỳ gieo có nhiệt độ khác nhau và đã thấy cây mạ chết nhiều khi ở tuổi 3 lá nếu gặp rét kéo dài nhiệt độ dưới 130C Ở nước ta thường có những đợt rét ấm xen kẽ nhau nên cây mạ tuy lá có màu vàng nhưng khi có nắng ấm một vài ngày, cây

mạ vẫn vượt lên được Vì vậy các thí nghiệm đã bố trí những biện pháp chống rét cho

mạ trên đồng ruộng như bón phân lân cho ruộng mạ, phủ tro sau khi gieo mạ, giữ nước

để chống rét…và thấy có kết quả tốt

- Xác định thời vụ để tránh rét cho mạ xuân: Tập thể tác giả đã bố trí thí nghiệm về

các phương pháp làm mạ khác nhau và thấy rằng phương pháp gieo mạ trên đất khô với mật độ gieo dày 600- 700g hạt/m2, sau khi gieo phủ một lớp đất mỏng (dưới 1cm) và tưới nước, giữ nước ở rãnh để đảm bảo độ ẩm cho mạ mọc đều Gieo mạ khô, do mật độ gieo dày, diện tích ít, có khả năng chống rét và dễ chăm sóc, tỷ lệ cấy có thể đạt 50- 80 ruộng cấy Theo dõi về phẩm chất mạ khô cho thấy phẩm chất tốt hơn, tỷ lệ C/N đạt 16- 18 so với mạ nước 12-14, mạ cứng cây, cấy chóng bén rễ Phương pháp gieo mạ sân cũng có nhiều tác dụng trong điều kiện giá rét, vụ xuân hạt được gieo trên một lớp đất bùn đổ trên sân, bố trí vào nơi khuất gió, tránh gió mùa Đông Bắc, cũng gieo dày với mật độ 500- 600g hạt/m2, chăm sóc như mạ khô, sang tuổi 4 lá có thể cấy được, tỷ lệ cấy ra ruộng đạt cao Phương pháp này được áp dụng trong những năm đầu làm lúa xuân và được nông dân ưa thích Ngoài ra các phương pháp làm mạ như mạ Dapô, mạ không đất, mạ che nilon… cũng được nghiên cứu theo dõi nhưng không thuận tiện trong sản xuất

- Nghiên cứu phương pháp gieo thẳng, gieo vãi lúa trên ruộng nước, thời vụ gieo chậm lại tránh được rét, để giảm khâu gieo mạ trong điều kiện giá rét của vụ lúa xuân chúng tôi đã có kết quả trên diện rộng, được nhân dân áp dụng trên nhiều vùng Kỹ thuật vãi lúa trên ruộng nước trong vụ xuân được nghiên cứu từ khâu làm đất, chọn giống thích hợp, thời vụ gieo, mật độ gieo, bón phân, giữ nước, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh… đã được tổng kết

- Thời vụ gieo cấy lúa xuân là một vấn đề phức tạp vì thời tiết khí hậu vụ đông xuân ở miền Bắc nước ta biến động từng năm, năm nào rét trong năm, ấm ngoài giêng theo đúng quy luật thời tiết thì lúa xuân phát triển tốt, năm nào rét đậm kéo dài, lúa xuân kém Năm nào thời tiết ấm đều, không có những đợt rét xen kẽ thì lúa xuân cũng không được mùa Kinh nghiệm năm 1987, ấm nhiều, năng suất giảm, năm 1991 quá ấm, năng suất cũng không cao Vì vậy nghiên cứu thời vụ gieo cấy lúa xuân thích hợp tương đối

Trang 15

ổn định với biến động thời tiết vụ đông xuân miền Bắc nước ta là quan trọng Tập thể các tác giả đã bố trí những thí nghiệm gieo cấy với thời vụ khác nhau, đã tổng kết biến động thời tiết qua nhiều năm, dùng phương pháp xác suất thống kê để phân tích (cùng tham gia có đồng chí Phạm Chí Thành) và đã kết luận là vụ lúa xuân ở miền Bắc nước

ta gieo mạ vào trước sau lập xuân (4- 5/2) và cấy vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 dương lịch (trước 10/3) là thích hợp, với tuổi mạ 25- 30 ngày, vừa tránh được rét, vừa tránh được sâu bệnh

- Những vấn đề về chế độ tưới nước cho lúa, phương pháp tưới tiết kiệm nước trong vụ xuân…cũng đã được Hà Học Ngô, Ngô Đức Thiệu (Bộ môn Thuỷ nông) nghiên cứu, vấn đề bón phân cho lúa xuân (Bộ môn Nông hoá Thổ nhưỡng), vấn đề sâu bệnh hại lúa xuân và phương pháp phòng trừ (Bộ môn Bảo vệ thực vật), vấn đề lai tạo chọn lọc giống lúa ngắn ngày thích hợp trong vụ xuân đã được Vũ Tuyên Hoàng, Trần Như Nguyện (Bộ môn Di truyền Giống) nghiên cứu nhiều và ứng dụng trong sản xuất đạt kết quả

Trong những năm 70 của thế kỷ XX, xuất phát từ thực tế Việt Nam và những kết quả về lúa xuân, nhiều nhà khoa học tham gia đề tài như Vũ Tuyên Hoàng, Nguyễn Hữu

Tề (Khoa Trồng trọt), Nông Hồng Thái (cán bộ Vụ Trồng trọt)… đã nghiên cứu các đề tài về lúa ở nước ngoài khi làm đề tài nghiên cứu sinh

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Cùng với các đề tài nghiên cứu về lúa xuân và công tác chỉ đạo thực nghiệm trong sản xuất của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, những đề tài nghiên cứu về lúa xuân của Khoa Trồng trọt - Trường Đại học Nông nghiệp I, sự tham gia chỉ đạo sản xuất ứng dụng kỹ thuật của các sinh viên năm thứ 4 ngành Trồng trọt thực tập ở các địa phương, sự bám sát đồng ruộng trong điều kiện sơ tán trong chiến tranh của Khoa đã đóng góp vào sự thành công chung của lúa xuân, làm thay đổi mùa vụ, mở ra trên diện rộng, đạt năng suất cao và ổn định trên các vùng trồng lúa miền Bắc nước ta

Ấn phẩm đã công bố

Bùi Huy Đáp (1957) Cây lúa và kỹ thuật trồng lúa, NXB Nông thôn

Bùi Huy Đáp (1957) Cây lúa miền Bắc Việt Nam, NXB Nông thôn

 Bùi Huy Đáp (1967) Some characteristic features of rice growing in Vietnam

Vietnam Studies No 13

Bùi Huy Đáp (1972) Lúa xuân miền Bắc Việt Nam, NXB Nông thôn

Đinh Văn Lữ (1967) Cơ sở khoa học tăng năng suất lúa NXB Khoa học kỹ

thuật

Đinh Văn Lữ (1970) Báo cáo khoa học về các biện pháp xử lý chống rét cho

mạ Trường Đại học Nông nghiệp I

Đinh Văn Lữ (1973) Phương pháp làm mạ NXB Nông nghiệp

Trang 16

Đinh Văn Lữ, Nguyễn Hữu Tề, Phùng Đăng Chinh, Phạm Quý Hiệp (1976) Kỹ thuật gieo vãi lúa trên ruộng nước NXB Nông nghiệp

Đào Thế Tuấn (1970) Sinh lý lúa năng suất cao NXB Khoa học Kỹ thuật

Nghiên cứu về giống và kỹ thuật thâm canh tăng năng suất mía Lê Song Dự

Trong thời kỳ phục hồi kinh tế, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc nước ta, công nghiệp đường non trẻ ra đời với sự xây dựng 3 nhà máy đường Sông Lam, Việt Trì và Vạn Điểm Đề tài nghiên cứu về giống mía và kỹ thuật thâm canh tăng năng suất mía là một yêu cầu bức thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu nguyên liệu mía cho các nhà máy đường lúc đó Đề tài được khởi đầu từ thời kỳ Học viện Nông Lâm, sau khi tách trường và viện, Bộ môn Cây công nghiệp của Trường Đại học Nông nghiệp tiếp tục phối hợp với

Tổ nghiên cứu mía của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp thực hiện đề tài này

Nội dung và kết quả đạt được

- Từ 1961-1964: Tham gia nghiên cứu về giống mía đã góp phần đề xuất giống mía F134 và nhân giống mía này ở Thường Tín (Hà Tây) Được xác định là giống tốt từ

1964, giống F134 phát triển nhanh ở miền Bắc, vụ mía 1974-1975 đã chiếm tới 70% diện tích mía vùng đồng bằng, cho tới đầu những năm của thập kỷ 80, F314 vẫn chiếm

tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu giống mía của các tỉnh từ Quảng Nam, Đà Nẵng trở ra phía Bắc

- Từ 1965-1973: Chủ trì đề tài thâm canh tăng năng suất mía của Trường, các kết quả nghiên cứu trồng xen cây họ đậu với mía, mật độ khoảng cách trồng mía, kỹ thuật

xử lý hom mía đã được sử dụng để xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất mía của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương năm 1973-1974

Ấn phẩm đã công bố

Lê Song Dự (1965) Kỹ thuật nhân giống mía Báo cáo nghiên cứu khoa học,

trường Đại học Nông nghiệp I

Lê Song Dự (1967) Giáo trình Cây mía Tủ sách Đại học Nông nghiệp

Lê Song Dự, Phạm Kiến Nghiệp (1966) Hiệu quả của biện pháp xử lý hom trồng đối với mía Tạp chí KHKT Nông nghiệp

Lê Song Dự (1967) Hiệu quả trồng xen một số cây họ đậu với mía vụ xuân Tạp chí KHKT Nông nghiệp

Lê Song Dự, Vũ Trung Chính, Trần Quang Chinh (1969) Thí nghiệm trồng xen cây họ đậu với mía Tạp chí KHKT Nông nghiệp

Đinh Văn Lữ, Lê Song Dự (1969) Hỏi, đáp về thâm canh cây công nghiệp (mía, lạc) NXB Khoa học Kỹ thuật

Trang 17

Kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây có củ Đinh Thế Lộc

Cây có củ là một cây trồng vừa có thể dùng làm cây lương thực và cây thực phẩm rất quan trọng ở Việt Nam Công trình nghiên cứu này được thực hiện giai đoạn 1965-

2005 đã mô tả được những đặc điểm sinh học chủ yếu và kỹ thuật thâm canh đối với một số loại cây có củ chính

Nội dung và kết quả đạt được

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật thâm canh một số cây có củ như khoai lang, sắn, khoai môn sọ, dong riềng, từ vạc, khoai tây, khoai sáp

Tất cả các công trình đã được nghiệm thu và đăng tải trên các tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Kết quả nghiên cứu Khoa Trồng trọt, ĐHNN1, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Đại học Nông nghiệp 1 và được công

bố ở các cuốn sách

Ấn phẩm đã công bố

Đinh Thế Lộc (1979) Kỹ thuật thâm canh khoai lang NXB Nông nghiệp

Đinh Thế Lộc (chủ biên).1997 Giáo trình Cây lương thực tập 2 (phần cây

màu) NXB Nông nghiệp

Đinh Thế Lộc (đồng tác giả) 2004-2005 Cây có củ và kỹ thuật thâm canh

gồm 6 cuốn: Khoai lang; Sắn; Khoai môn sọ; Từ - Vạc; Khoai tây; Dong riềng - Khoai sáp) NXB Lao động - Xã hội

Lúa mùa trồng trong vụ chiêm Vũ Tuyên Hoàng

Dựa vào phản ứng ánh sáng của cây lúa và bản chất di truyền ARN của đỉnh sinh trưởng, tác giả đã lai tạo giống để đưa các giống lúa mùa ngắn ngày, năng suất và chất lượng tốt trồng trong vụ chiêm Công trình khoa học này đã tạo ra các giống Đông Xuân

2, Đông Xuân 3, Đông Xuân 4, Đông Xuân 5 được Bộ Nông nghiệp công nhận và phát triển ở nhiều vùng trong nước

Vũ Tuyên Hoàng (1985) Giống lúa xuân số 2 và kỹ thuật gieo trồng Tuyển

tập công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp (1981-1985) - (Phần trồng trọt - cơ khí) NXB Nông nghiệp

Trang 18

Chọn lọc và lai tạo giống lúa VN 10 Trần Như Nguyện

Giống lúa VN10 được chọn lọc từ tổ hợp lai A5/Rumani 45 được công nhận là giống quốc gia Hiện nay VN10 là giống lúa xuân sớm chủ lực của tỉnh Thái Bình và một số tỉnh khác

Đặc điểm của giống VN10: Thời gian sinh trưởng từ 195-200 ngày trong vụ xuân gieo cấy vào trà xuân sớm, chịu rét rất tốt, chịu chua, chịu mặn khá, kháng tổng hợp với nhiều loại sâu bệnh Tiềm năng năng suất từ 80 - 90 tạ/ha, tỷ lệ xay rất cao (trên 84%), chất lượng gạo phù hợp cho chế biến bún, bánh, làm cồn, làm mì, bánh đa và xuất khẩu cho thị trường Trung Quốc VN10 là giống lúa xuân mới có thời gian tồn tại dài nhất trong tất cả các giống lúa mới của nước ta

Nghiên cứu về cây rau ở Việt Nam Tạ Thu Cúc

Nội dung và kết quả đạt được:

- Từ 1962 - 1967: Tác giả gắn liền giảng dạy với đi thực tế, nghiên cứu các cây rau như cà chua, cải bắp, cà, su hào, súp lơ, xà lách, v.v được nhập từ Trung Quốc, Liên

Xô (cũ), CHDC Đức (cũ); đồng thời còn nghiên cứu liều lượng đạm, mật độ, khoảng cách đối với rau muống trồng cạn

- Từ 1968 - 1970: Tập trung nghiên cứu thời vụ cà chua xuân hè Đến nay sau gần

40 năm, cà chua xuân hè vẫn còn phát triển ở nhiều nơi trên đồng ruộng Việt Nam và ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng

- Từ 1973 - 1985: Tập trung nghiên cứu tập đoàn giống cà chua trong vụ xuân hè

và đông xuân tại huyện Gia Lâm, Hà Nội Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng

cà chua xuân hè ở Hà Nội và các vùng phụ cận

- Từ 1986 - 1987: Điều tra kỹ thuật trồng hành tây tại huyện Mê Linh (Hà Nội), điều tra cây rau ở Hà Nội và nghiên cứu thời vụ cây bí xanh tại Mê Linh

- Từ 1988 - 1996: Nghiên cứu đề tài về rau sạch, đưa ra ý tưởng đầu tiên về nghiên cứu rau sạch ở Hà Nội Với những tài liệu thu thập được và cùng với số kinh phí mà thành phố cấp, tác giả đã nghiên cứu về rau sạch, nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm vô cơ đến dư lượng NO3 trên các cây rau: Hành tây, cải bắp, cà chua, dưa chuột đông, dưa chuột xuân, đậu cô ve leo và cà rốt xuân

Từ những nghiên cứu trên đồng ruộng, cùng với tổ chuyên gia, tác giả đã xây dựng tiêu chuẩn chung về rau sạch và sản xuất 6 cây rau sạch của thành phố Hà Nội

- Từ tháng 10 - 1994 đến tháng 5 - 1996: Tác giả làm chuyên gia cho Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Hà Nội về dự án sản xuất thử rau sạch tại ngoại thành Hà Nội Nhờ vậy mà sản xuất rau sạch nhanh chóng lan tỏa ra nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước với đội ngũ các nhà chuyên môn ngày càng hùng hậu Phương thức sản xuất rau sạch ngày càng phong phú hơn

Trang 19

Ấn phẩm đã công bố

 Tạp chí KHKTNN 9/1971; l1/1987; 5/1991; l0/1992

Tạ Thu Cúc (chủ biên) 1968 Giáo trình đại cương về nghề trồng rau và kỹ thuật trồng rau cải bắp, cà chua, khoai tây In typo tại xưởng in trường ĐHNN I

Tạ Thu Cúc (chủ biên) 1979 Giáo trình trồng rau NXB Nông nghiệp

Tạ Thu Cúc (chủ biên) 2000 Cây rau NXB Nông nghiệp

Tạ Thu Cúc (chủ biên) 2005 Giáo trình kỹ thuật trồng rau NXB Nông

nghiệp

Tạ Thu Cúc, Nguyễn Thành Quỳnh (1983) Kỹ thuật trồng cà chua (lần 2)

NXB Nông nghiệp

Tạ Thu Cúc (2004) Kỹ thuật trồng cà chua (in lần 3) NXB Nông nghiệp

Tạ Thu Cúc (2003) Kỹ thuật trồng một số cây đậu rau NXB Nông nghiệp

thành phố Hồ Chí Minh

Đinh Văn Lữ, Tạ Thu Cúc, Lê Trọng Văn (1973) Hỏi đáp thâm canh rau

NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội

I.2 Một số công trình nghiên cứu về Bảo vệ thực vật

Sâu bệnh hại lúa trước năm 1975 Đường Hồng Dật, Lê Khôi, Nguyễn Văn Thạnh, Đào Trọng Hiển, Trần Vĩnh Bảo, Hồ Khắc Tín

Sâu bệnh đã xảy ra ở Việt Nam từ năm 1956 - 1975, đặc biệt là bệnh lúa vàng lụi trong những năm 1963-1968 đã phát triển mạnh ở miền Bắc Việt Nam trên hàng vạn hécta Đây là công trình khoa học có đóng góp lớn trong việc hạn chế tác hại của sâu bệnh hại lúa đó là bệnh vàng lụi, sâu đục thân, bọ rày xanh đuôi đen

Nội dung và kết quả đạt được

Nhóm nghiên cứu bệnh vàng lụi gồm các tác giả Đường Hồng Dật, Lê Khôi và nhiều cộng tác viên đã đi đến kết luận: Bệnh lúa vàng lụi là bệnh do virus gây ra Đây là một công trình nghiên cứu khoa học đóng góp lớn trong việc hạn chế tác hại của bệnh vàng lụi Nhóm nghiên cứu về sâu hại lúa gồm các tác giả Nguyễn Văn Thạnh, Đào Trọng Hiển, Trần Vĩnh Bảo, Hồ Khắc Tín và các cộng tác viên đã nghiên cứu và tìm ra biện pháp có hiệu quả phòng trừ sâu đục thân lúa, bọ rày xanh đuôi đen

Trang 20

Đường Hồng Dật (1965) Tình hình bệnh hại lúa ở miền Bắc nước ta Tạp chí

Đường Hồng Dật (1966) Bệnh lúa vàng lụi ở miền Bắc nước ta Tạp chí Tin

tức hoạt động khoa học - Uỷ ban Khoa học Nhà nước

Đường Hồng Dật (1968) Bệnh lúa vàng lụi NXB Khoa học

Đường Hồng Dật (1970) Sự phục hồi của cây lúa bị bệnh vàng lụi Tạp chí

KHKT Nông nghiệp

Nghiên cứu về các bệnh hại cây trồng dài ngày và ngắn ngày trước năm 1975

Đường Hồng Dật, Phan Thị Liễu, Lê Lương Tề, Đạng Thái Thuân, Phạm Quý Hiệp, Phạm Đoá

Công trình này đã nghiên cứu trên các cây cà phê, chè, bông, lạc, đậu tương đã góp phần cho việc phát triển cây công nghiệp ở các nông trường miền Bắc Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ

Ấn phẩm đã công bố

Đường Hồng Dật Bệnh gỉ sắt hại cà phê ở nước ta Báo cáo khoa học -

Trường ĐH Nông nghiệp I

Phan Thị Liễu (1966) Mấy nhận xét đầu tiên về bệnh phồng lá chè ở miền Bắc Việt Nam Tạp chí KHKT Nông nghiệp, số 6/1966

Lê Lương Tề (1965) Bệnh giác ban hại bông Báo cáo khoa học nông

nghiệp, số 2/1965 - trường ĐH Nông nghiệp I - Hà Nội

Lê Lương Tề (1965) Nhận xét về bệnh chấm xám chè Pestalozia theae ở miền Bắc Việt Nam Tạp chí KHKT Nông nghiệp, tháng 9/1965

Lê Lương Tề (1968) Một số kết quả nghiên cứu về bệnh héo rũ cây lạc ở vùng trung du Bắc Bộ Thông tin KHKT Nông nghiệp, số 3/1968

Nghiên cứu về thuốc hoá học, thuốc thảo mộc bảo vệ thực vật Lê Trường,

Nguyễn Thơ, Nguyễn Duy Trang

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu và áp dụng các loại thuốc hoá học trong công tác phòng trừ sâu bệnh ở nước ta Nhóm tác giả đã thu thập tập đoàn các loài cây hoang dại và cây trồng có chứa các chất độc, áp dụng các phương pháp sử dụng

để trừ sâu hại cây trồng

Trang 21

Nghiên cứu về bệnh hại cây rau trước năm 1975 Vũ Hoan, Nguyễn Thơ, Vũ

Triệu Mân

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về bệnh trên các cây rau từ sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam năm 1954 Các công trình này đã góp phần phát triển cây vụ đông, một vụ sản xuất quan trọng ở miền Bắc Việt Nam, trong đó cây khoai tây, cà chua là những cây trồng chủ lực của vụ đông

Nhóm nghiên cứu đã điều tra, mô tả một số loại bệnh hại rau như bệnh thối rễ, mốc sương, xoăn lá, héo xanh cà chua và một số loại bệnh hại khoai tây… Đồng thời công trình cũng đề xuất một số biện pháp phòng trừ các loại bệnh trên

Nguyễn Thơ (1973) Kết quả nghiên cứu bệnh xoăn lá cà chua Hội nghị báo

cáo khoa học của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp

Vũ Triệu Mân (1973) Bệnh chết vàng và héo rũ khoai tây Tạp chí KHKT

Nông nghiệp, số 2/1973

II THỜI KỲ 1976-1995

II.1 Một số công trình nghiên cứu về trồng trọt

Nghiên cứu chọn tạo giống và biện pháp thâm canh tăng năng suất cây công

nghiệp họ đậu ngắn ngày (lạc, đậu tương, đậu xanh) Lê Song Dự và cộng sự

Từ giữa những năm 1970, Bộ môn Cây công nghiệp đồng thời nghiên cứu về kỹ thuật, đã chuyển mạnh mẽ hướng nghiên cứu chọn tạo giống bằng phương pháp gây đột biến phóng xạ, hóa chất và lai hữu tính, nhập nội Năm 1981, KS Lê Song Dự, nguyên trưởng bộ môn được Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước cử làm ủy viên ban chủ nhiệm chương trình 0207 (cấp nhà nước): "Xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật sản xuất cây đậu đỗ: đậu tương, lạc, các cây đậu đỗ khác" Bộ môn được giao chủ trì đề tài "Nghiên cứu các biện pháp thâm canh đậu tương" (02-07-01-03), và tham gia đề tài

"Chọn tạo giống đậu tương" (02-07-01-01), "Xây dựng và nghiên cứu tập đoàn giống lạc, chọn tạo giống lạc"(02-07-02-01) Thời kỳ 1985-1990 Bộ môn tiếp tục tham gia

Trang 22

chương trình đậu đỗ cấp nhà nước 02A-05-02 về kỹ thuật thâm canh và 02A-05-01 chọn tạo giống Thời kỳ 1991-1995 Bộ môn tham gia đề tài cấp nhà nước "Nghiên cứu chọn tạo giống đậu đỗ và các biện pháp thâm canh" mã số KN01-06 và chủ trì đề tài cấp

bộ, mã số B91-11-09 về chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh đậu đỗ

Sau khi đất nước thống nhất, tuy còn rất nhiều khó khăn của thời kỳ hậu chiến, nhưng Nhà nước vẫn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, không chỉ chú trọng đến đến lúa gạo để bảo đảm an ninh lương thực mà còn chú ý đề cập đến chất lượng bữa ăn (protein cho người, gia súc và những cây nông nghiệp có thế mạnh xuất khẩu như lạc) Do đó đã có chương trình nghiên cứu cấp nhà nước về đậu đỗ Tuy nhiên trên thực tế, trong thời gian hàng chục năm ở thời kỳ đó, kinh phí cho nghiên cứu rất hạn hẹp, kinh nghiệm không nhiều, trao đổi quốc tế hiếm hoi Trong hoàn cảnh

đó, các thầy cô giáo của Bộ môn Cây công nghiệp đã có những cố gắng rất lớn để đạt được một số kết quả về nghiên cứu chọn tạo giống và kỹ thuật tăng năng suất đậu đỗ phục vụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ và khu 4

Nội dung và kết quả đạt được

a) Chọn tạo giống:

- Gây đột biến phóng xạ: Xử lý hạt khô gió bằng tia  Co60 giống lạc Bạch sa (Trung Quốc), với liều xạ 5000, 10000, 15000 và 20000r từ 1974-1976 gây đột biến đã tạo ra một số giống lạc:

 Giống lạc B5000 (tác giả: Lê Song Dự và cộng sự): Loại hình lạc đứng, năng suất cao và ổn định, thích hợp điều kiện thâm canh (năng suất đạt 20-30 tạ/ha), khối lượng hạt lớn (100g hạt chỉ cần 180 - 190 hạt), vỏ lụa màu trắng hồng, phù hợp với xuất khẩu lạc nhân giống B5000 đã được khu vực hóa, được tặng huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm kinh tế - kỹ thuật Việt Nam năm 1987

 Giống lạc V79 (tác giả: Lê Song Dự - Trần Nghĩa): Loại hình lạc đứng Spanish, thời gian sinh trưởng 120 - 125 ngày, năng suất đạt 20 - 30 tạ/ha, hạt

to trung bình, 100 hạt đạt 48 - 52g, vỏ lụa màu hồng cánh sen, tỷ lệ nhân cao

73 - 76%, vỏ quả trơn, mỏng, dễ bóc, chịu hạn khá, thích hợp cho vùng đất cát duyên hải miền Trung Giống V79 đã được công nhận giống quốc gia năm 1995

 Giống lạc 4329 (tác giả: Trần Nghĩa - Lê Song Dự): Được tạo ra bằng xử lý đột biến phóng xạ  Co60 liều xạ 5000r giống Hoa 17 (Trung Quốc) Giống

4329 có khả năng sinh trưởng khỏe, năng suất trung bình đạt 20tạ/ha, năng suất cao nhất đạt 35 tạ/ha, hạt to: 100 hạt đạt 55 - 60g, vỏ lụa trắng hồng, thích hợp cho xuất khẩu, kháng bệnh thối quả và lở cổ rễ, thích hợp đất phù

sa, thịt nhẹ, đất đồi thấp trong vụ xuân đồng bằng Bắc bộ - giống 4329 được công nhận giống quốc gia năm 1995

Trang 23

- Lai hữu tính và nhập nội: Bằng phương pháp lai hữu tính hoặc nhập nội đã chọn tạo ra một số giống lạc, giống đậu tương, đậu xanh

 Giống lạc Sen lai 75/23 (tác giả: Lê Song Dự - Đào Văn Huynh): Được tạo ra

từ tổ hợp lai Mộc Châu trắng x Trạm Xuyên, chọn lọc theo phả hệ lạc Sen lai 75/23 thuộc loại hình lạc đứng, khối lượng 100 hạt đạt 55 - 60g, vỏ lụa trắng hồng, tỷ lệ nhân đạt >70%, chống chịu điều kiện bất thuận, ít bị bệnh gỉ sắt, năng suất cao, ổn định đạt 20 -30tạ/ha, thâm canh có tưới nước đạt 40 tạ/ha, vùng phân bố thích hợp là đồng bằng, trung du Bắc bộ, khu 4 cũ và một phần

ở Tây Nguyên Giống được công nhận giống quốc gia năm 1990, là giống lạc đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính

 Giống đậu tương ĐT 93 (tác giả: Lê Song Dự, Nguyễn Thị Lý và cộng sự): Giống ĐT93 được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính từ tổ hợp lai 821 x

134 (Nhật Bản) do Lê Song Dự và cộng sự thực hiện tại Đại học Nông nghiệp I tạo ra dòng 862, phối hợp cùng trạm nghiên cứu và phát triển từ 862 đặt tên ĐT93 được công nhận giống quốc gia năm 1995 Giống đậu tương ĐT93 có thể trồng ở cả 3 vụ trong năm: Xuân, hè, đông, năng suất đạt trung bình 18 - 20 tạ/ha, hạt tròn, màu vàng đẹp, khối lượng 1000 hạt đạt 130 - 140g, hàm lượng protein cao (47 - 49%), đặc biệt thời gian sinh trưởng trong

vụ hè ngắn 80 ngày (dài hơn giống Lơ Hà Bắc 3 - 4 ngày) nên có thể đưa vào

cơ cấu giống đậu tương hè giữa 2 vụ lúa thay cho giống địa phương Lơ Hà Bắc hạt nhỏ, màu xanh không hợp thị hiếu tiêu dùng

 Giống đậu xanh 044 (tác giả: Nguyễn Thế Côn, Lê Trần Tùng, Đào Quang Vinh): Giống đậu xanh 044 được tạo ra bằng phương pháp chọn lọc cá thể từ giống đậu xanh nhập nội (mã hiệu VC2768A) của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Rau quả châu Á (AVRDC) Giống ĐX 044 có thời gian sinh trưởng

vụ xuân 80 ngày, vụ hè 75 - 80 ngày, vụ đông 90 ngày Năng suất trung bình

11 - 13tạ/ha, khối lượng 1000 hạt đạt 66 - 70g, thuộc loại đậu mỡ, phẩm chất tốt, có thể xuất khẩu, chống chịu bệnh phấn trắng và đốm lá khá Giống đậu xanh ĐX 044 được công nhận giống quốc gia năm 1993

b) Kỹ thuật thâm canh:

Những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm về thời vụ, mật độ, khoảng cách, phân bón đối với đậu đỗ đã được sử dụng để xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh tăng năng suất các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh của Bộ Nông nghiệp và PTNT

Đặc biệt đã xây dựng thành công mô hình thâm canh lạc ở vùng đất cát ven biển với các tiến bộ kỹ thuật như sử dụng giống mới (Sen lai 75/23, V79), bón phân NPK, vi lượng, tưới nước (sử dụng giếng ngầm tưới vào thời kỳ ra hoa, đâm tia), phòng trừ sâu bệnh Năm 1993 trên diện tích 25ha ở Hợp tác xã Đà Thịnh (Diễn Châu, Nghệ An), mô hình thâm canh đã đạt năng suất 4 tấn/ha

Trang 24

Ấn phẩm đã công bố

Lê Song Dự - Nguyễn Thế Côn (1979) Giáo trình cây lạc NXB Nông

nghiệp

Lê Song Dự và cộng sự (1979) Phương pháp lai hữu tính lạc- Báo cáo khoa

học kỹ thuật Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp 1981

Lê Song Dự (1985) Về tập đoàn giống đậu tương nhập nội trồng ở miền Bắc Việt Nam - Tuyển tập các công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp 1981 -

1985, NXB Nông nghiệp

Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn - Vũ Đình Chính (1986) Kết quả nghiên cứu giống lạc B5000 Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp của

Trường ĐH Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp

Lê Song Dự - Nguyễn Thế Côn - Trần Đăng Kiên (1986) Kết quả nghiên cứu về đậu tương và lạc từ 1981 - 1985 của Trường ĐHNNI Tuyển tập công

trình nghiên cứu KHKT Nông nghiệp, NXB Nông nghiệp

Lê Song Dự (1986) Kỹ thuật lai hữu tính đậu tương Tạp chí KHKT Nông

Mai Thọ Trung, Lê Song Dự, Ngô Thị Đào (1990) Trồng trọt chuyên khoa

(phần cây đậu tương do tác giả Lê Song Dự viết) tủ sách Đại học Sư phạm, NXB Giáo dục

Lê Song Dự và cộng sự (1991) Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống lạc (Arachis hypogaea L.)- Thông báo khoa học của các trường đại học - Bộ

Giáo dục và Đào tạo

Lê Song Dự (1991) Mô hình cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) có năng suất cao Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKTNN 1986-1991, Kỷ

niệm 35 năm thành lập trường ĐHNNI- NXB Nông nghiệp

Lê Song Dự và cộng sự (1994) Kết quả chọn tạo giống đậu đỗ của Khoa Trồng trọt, Trường ĐHNNI- Hà Nội (1991-1993) Kết quả nghiên cứu khoa

học, Khoa Trồng trọt 1992-1993, NXB Nông nghiệp

Lê Song Dự, Nguyễn Thị Lý và cộng sự (1995) Giống đậu tương DT93 Kết

quả nghiên cứu khoa học cây đậu đỗ 1991-1995 Viện KHKTNN Việt Nam- Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ, Hà Nội 9/95

Trang 25

Cải tiến hệ thống canh tác trên đất gò đồi, cao, hạn, bạc màu Bắc Bộ (1991 – 1995) Nguyễn Hữu Tề Cán bộ tham gia: Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm và các cộng

tác viên

Ðề tài tiến hành nghiên cứu phân chia điều kiện sinh thái, phát hiện những yếu tố hạn chế đối với hệ thống cây trồng từ đó đề xuất hệ thống giống cây trồng, các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp Đây là đề tài nhánh nằm trong chương trình KN01-18

Ðề tài đã góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên vùng đất cao hạn, bạc màu Bắc Bộ Ðặc biệt, đề tài đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất lúa cho vùng đất bạc màu huyện Sóc Sơn, Hà Nội, được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp và PTNT năm

2004 công nhận là tiến bộ kỹ thuật được phép khu vực hoá (số 21)

Ấn phẩm đã công bố

Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Hữu Tề (1995) Kết quả nghiên cứu Hệ thống canh tác ở huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị Tuyển tập Kết quả nghiên cứu khoa

học Khoa Trồng trọt, NXB Nông nghiệp

Xây dựng mô hình thâm canh cây lương thực tỉnh Hà Giang (1994 - 1996)

Nguyễn Hữu Tề Cán bộ tham gia: Văn Tất Tuyên

Công trình nghiên cứu này được tiến hành tại Hà Giang từ năm 1994-1996 nhằm chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt để nâng cao khả năng thâm canh cây lương

Trang 26

thực Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công các mô hình trồng lúa đạt năng suất

từ 5 - 6 tấn/ha/vụ, ngô từ 6 - 7 tấn/ha/vụ Chuyển giao các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như thời vụ, mật độ, phân bón và các giống phù hợp với địa phương, tổ chức nhiều hội nghị đầu bờ và tập huấn cho nông dân Đề tài đã giúp 2 nghiên cứu sinh tiến hành và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nông nghiệp

Ấn phẩm đã công bố

Văn Tất Tuyên, Nguyễn Hữu Tề, Đàm Văn Bông (1994) Kết quả so sánh một số giống lúa lai Trung Quốc trong vụ xuân 1994 tại Hà Giang Tạp chí

Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm số 8

Văn Tất Tuyên, Nguyễn Văn Bào (1995) Kết quả so sánh một số giống ngô tại Hà Giang Tạp chí Nông nghiệp và công nghệ thực phẩm số 2

Kỹ thuật ghép hồng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Phạm Văn Côn

Nước ta có tập đoàn hồng khá phong phú trong đó có nhiều giống quý, nhưng bị mai một dần bởi vướng mắc về khâu nhân giống Trong một thời gian dài (từ thời Pháp thuộc), để giữ được những đặc tính tốt của giống địa phương, phương pháp duy nhất là nhân giống từ rễ Về sau, có nhiều thí nghiệm chiết cành hồng nhưng không thành công Vào mùa thu năm 1974 tại vườn cây ăn quả của trường ĐHNNI Hà Nội đã có sự thử nghiệm ghép hồng đầu tiên thành công trên cành các cây hồng giống Thạch Thất sẵn có bằng phương pháp ghép mắt cửa sổ

Năm 1975, 1976, 1977, liên tục thí nghiệm về kỹ thuật ghép hồng và cuối cùng khẳng định: có thể ghép hồng bằng 3 phương pháp là ghép mắt cửa sổ, ghép mắt có gỗ

và ghép vát cành

Từ đó đến nay cây hồng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu từ nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và chế biến quả Sản phẩm hồng quả trên thị trường khá dồi dào

Ấn phẩm đã công bố

Phạm Văn Côn (1978) Giáo trình cây ăn quả (đồng tác giả) NXB Nông

nghiệp

Phạm Văn Côn (1978) Kỹ thuật ghép táo, mận, hồng NXB Nông nghiệp

Phạm Văn Côn (2001) Cây hồng - kỹ thuật trồng và chăm sóc NXB Nông

nghiệp

Phạm Văn Côn (1987) Bài giảng môn học cây ăn quả NXB Nông nghiệp

Phạm Văn Côn (2003) Các biện pháp điều khiển sinh trưởng ra hoa cây ăn trái NXB Nông nghiệp

Trang 27

Nghiên cứu về tài nguyên cây ăn quả ở Việt Nam Trần Thế Tục

Nghiên cứu tiến hành điều tra ở hầu hết các tỉnh trong nước, chia làm 2 giai đoạn: a) Từ 1962 đến 1975 trước ngày giải phóng miền Nam: Trong giai đoạn này đã điều tra nghiên cứu ở tất cả các tỉnh ở miền Bắc

b) Từ 1975 đến 2000: Trong giai đoạn này tập trung điều tra tài nguyên cây ăn quả các tỉnh miền Trung và miền Nam Kết quả nghiên cứu ở cả 2 giai đoạn đã được thể hiện trong luận án Tiến sĩ Khoa học bảo vệ ngày 27/6/1987 trước Hội đồng Bác học phiên họp đặc biệt ở trường Nông nghiệp á nhiệt đới Grudia ở Xukhami (Liên Xô cũ) Công trình khoa học này được đăng tóm tắt trong “Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp 1985-1991" Kỷ niệm 35 năm thành lập trường Đại học Nông nghiệp I (1950-1991) và trong giáo trình Cây ăn quả

Kết quả đạt được

1 Danh mục cây ăn quả Việt Nam: Có trên 130 loài và hàng trăm giống cây ăn quả thuộc 39 họ khac nhau viết theo tên khoa học và tên gọi bằng tiếng Việt, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho con người ở mỗi loại

2 Nguồn gốc: Trong 39 họ được ghi chép có nhiều họ có số lượng loài và giống rất phong phú và đa dạng như: Musaceae, Rutaceae, Anacardiaceae, Sapindaceae, Rosaceae, trong tập đoàn cây ăn quả ở nước ta những cây ăn quả có nguồn gốc bản địa chiếm một tỷ lệ khá lớn, những giống cây ăn quả nhập nội tuy ít hơn so với cây gốc bản địa song một số có vị trí quan trọng và ý nghĩa kinh tế trong nghề trồng cây ăn quả của Việt Nam Ví dụ: Dứa, na, đu đủ, đào lộn hột, hồng xiêm, ổi, sầu riêng, mận, đào,

lê, nho, dưa hấu, v.v

3 Phân loại cây ăn quả Việt Nam dựa theo giá trị sử dụng sản phẩm và ý nghĩa kinh tế: Có 11 nhóm trong đó có nhóm cung cấp nguồn dinh dưỡng cho người chủ yếu cung cấp đường và các loại vitamin, v.v ; nhóm cây ăn quả dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp; nhóm cây ăn quả dùng làm thuốc; nhóm cây ăn quả vừa cho quả vừa làm cây bóng mát, cây cảnh, cây che phủ đất có tác dụng về môi trường, v.v

4 Phân loại cây ăn quả dựa vào khả năng thích nghi của chúng với điều kiện ngoại cảnh ở từng vùng trồng, chia thành 3 nhóm:

a) Nhóm cây ăn quả nhiệt đới: Chuối, dứa, xoài, mít, na, hồng xiêm, đu đủ, sầu riêng, măng cụt, vú sữa, đào lộn hột, v.v

b) Nhóm cây ăn quả á nhiệt đới: Vải, nhãn, hồng, bơ, cam quýt, hạt dẻ, v.v

c) Nhóm cây ăn quả ôn đới: Đào, mận, mơ, lê, táo tây, nho, óc chó, dâu tây, v.v

Ấn phẩm đã công bố:

Trần Thế Tục (1977) Báo cáo khoa học kỹ thuật nông nghiệp Trường Đại

học Nông nghiệp I Hà Nội

Trang 28

Trần Thế Tục (1980) Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp NXB Nông nghiệp Hà Nội

Trần Thế Tục (chủ biên) (1998) Giáo trình Cây ăn quả Trường Đại học

Nông nghiệp I NXB Nông nghiệp Hà Nội

Trần Thế Tục (1987) Nghề trồng cây ăn quả ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luận án Tiến sĩ khoa học Trường Nông nghiệp á nhiệt đới

Grudia ở Xukhami (Liên Xô cũ)

II.2 Một số công trình nghiên cứu về bảo vệ thực vật

Nghiên cứu ứng dụng biện pháp sinh học (Biological Control) trong quản lý tổng hợp dịch hại (IPM) cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam của Bộ môn Côn

trùng Hà Quang Hùng

Trong mối quan hệ biện chứng giữa cây trồng - dịch hại và các yếu tố môi trường (yếu tố vô sinh và hữu sinh), điều khiển tự nhiên (Natural control) giữ vai trò quan trọng, đặc biệt vai trò của thiên địch (Natural Enemies) Điều khiển tự nhiên dịch hại của yếu tố thiên địch có quan hệ với biện pháp sinh học Nghiên cứu ứng dụng biện pháp sinh học góp phần xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh học, nền nông nghiệp bền vững, nâng cao tính đa dạng sinh học, đồng thời duy trì cân bằng sinh học sẵn có trong mối hệ sinh thái nông nghiệp.Trong công tác BVTV, việc đẩy mạnh áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là hết sức cần thiết Biện pháp sinh học trở thành cốt lõi của mỗi quy trình IPM

a) Kết quả nghiên cứu ứng dụng biện pháp sinh học trong phòng chống tổng hợp dịch hại cây trồng của Bộ môn Côn trùng:

- Bảo vệ duy trì, lợi dụng khích lệ vai trò của các loài thiên địch có sẵn trong mỗi

hệ sinh thái đồng ruộng, có ý nghĩa đẩy mạnh điều khiển tự nhiên (Natural control)

- Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi dịch hại tới ngưỡng kinh tế, sử dụng thuốc 4 đúng, tăng cường thuốc sinh học, nhằm bảo vệ khích lệ thiên địch sẵn có trong hệ sinh thái nông nghiệp, Bộ môn đã xây dựng bài tập huấn cho nông dân ở các vùng sản xuất cây trồng chính (lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, rau, đậu rau, chè, mía, cây ăn quả có múi, hoa và cây cảnh…)

- Đẩy mạnh các biện pháp canh tác kỹ thuật (quản lý cây trồng tổng hợp ICM, xen canh tạo nơi trú ẩn, nguồn dinh dưỡng cho thiên địch ), Bộ môn đã xây dựng quy trình IPM trên cây khoai lang, ICM trên cây cà chua, ICM trên cây khoai tây, lấy biện pháp sinh học làm cốt lõi Những quy trình này đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận

là tiến bộ kỹ thuật trong công tác bảo vệ thực vật ở Việt Nam (2005)

- Tạo điều kiện sống thuận lợi cho thiên địch chủ yếu, thay đổi sinh quần đồng ruộng theo hướng có lợi cho con người nhưng hợp lí, hợp quy luật

Trang 29

b) Nhân nuôi, thả bổ sung những loài thiên địch có ý nghĩa vào sinh quần đồng ruộng, phối hợp với các biện pháp khác trong quy trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM Nhiều năm qua Bộ môn đã tiến hành thu thập, xác định thành phần thiên địch của nhiều loài sâu hại chính trên lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, rau họ Hoa thập tự, đậu tương, cà chua, bông, chè, cây ăn qủa có múi… ở miền Bắc Việt Nam Đã bổ sung nhiều loài thiên địch vào trong danh lục thiên địch của sâu hại cây trồng chính ở Việt Nam Nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái học của những loài thiên địch có ý nghĩa trong điều hòa số lượng sâu hại cây trồng Từ đó, nhân nuôi hàng loạt được thiên địch

có ý nghĩa, đạt hiệu quả Các loài bọ rùa họ Cocinellidae; bọ chân chạy họ Carabidae,

bọ xít bắt mồi họ Anthocoridae, Reduviidae, Pentatomidae; ong kí sinh họ

Trichogrammatidae, Braconidae; nhện bắt mồi Amblyseius sp phòng chống nhện đỏ, nhện Polyphagotarsonemus latus Bankz; nấm Beauveria bassiana gây bệnh bọ hà hại khoai lang Cylas formicarius Fabr Bộ môn đã xây dựng phương pháp, quy trình, thả

thêm thiên địch có ý nghĩa được nhân nuôi vào hệ sinh thái đồng ruộng: Bọ xít bắt mồi

Orius sauteri, nhện bắt mồi Amblyseíus sp., nấm Beauveria bassiana

Ấn phẩm đã công bố

Tran Dinh Chien (1999) Composition of predacious insects and spiders of major soybean pests in Hanoi and surrounding areas and biological characteristics of Chlaenius bioculatus Chaudoir Biological control in IPM

for Controling insect pests of Crop in Japan and Vietnam

Dang Thi Dung (1999) Parasitic Insect composition on soybean and some Eco-Biological characteristics of Trathala flavoorbitalis Cameron (Hym: Ichneumonidae), parasitic on soybean leaffolder Lamprosema indicata F (Lep: Pyralidae) in Hanoi and surrounding areas in Vietnam Proceeding of

the 2nd joint workshop in Agronomy on Bio-Control in IPM for controlling insects pests of crops in Japan and Vietnam, Organized by HAU-JICA-ERCB project office

Nguyen Van Dinh (2001) Using the predaptory mite Amblyseius sp and fungus product of Beauveria bassiana for controlling the broad mite, Polyphagotarsonemus latus Banks In: Proceedings: Biological control of

Crop Pests Vietnamese Norwegian Workshop

Nguyen Van Dinh and Nguyen Thi Kim Oanh (2001) Preliminary results of using Beauveria bassiana for control os sweet potato Weevil (Cyclas formicarius) in Vietnam Development of New Bio-Agents for alternative Farming Systems Tokyo University of Agriculture

Ho Thi Thu Giang (2003) Influence of temperature on Cotesia plutellae (Hym: Braconidae), a parasitoid of Plutella xylostella (Lep: Yponomeeutidae) Proceedings: Biological control and Integrated pest

management (IPM) in vegetables in Vietnam Vietnamese Norwegian

Workshop

Trang 30

Hà Quang Hùng (2004) Thành phần loài sâu mọt và thiên địch trên thóc bảo quản đổ rời tại kho cuốn của Cục dự trữ Quốc gia vùng Hà Nội và phụ cận

Tạp chí BVTV, số 2, 2004

Ha Quang Hung (2002) Insect predaptors and parasites of some major stinkbugs in Hanoi, Vietnam and the predaptory ability of Metioche vittacolis (Stal) (Grryllidae: Orthoptera) on eggs and nymphs of stinkbugs under laboratory conditions Biological control and Integrated Pest Management

(IPM) in Vegetables in Vietnam

Ha Quang Hung (2002) Some morphological and biological characteristics

of the predacius bug Orius sauteri Poppius (Hemiptera: Anthocoridae) cultured on Thrips palmi Karny and eggs of Corcyra cephalonoca Stainton

Biological control and Integrated Pest Management (IPM) in Vegetables in Vietnam

Hà Quang Hùng (2002) Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học của ong Dacnusa sibirica Telenga (Hym: Braconidae) ký sinh ruồi Liriomyza sativae Blanchard (Dipt: Agromyzidae) hại lá rau, đậu vùng Hà Nội và phụ cận Báo cáo khoa học hội nghị Côn trùng toàn quốc lần thứ 4

Ha Quang Hung (2002) The leafminer Liriomyza sativae Blanchard (Dipt: Agromyzidae) and its parasite Dacnusa sibirica Telenga in Vietnam

Biological control of Crop pests, No 13, 2002

Hà Quang Hùng (2000) Thành phần ký sinh và bắt mồi ăn thịt sâu đục thân mía vụ đông xuân 1997-1998 tại Bến Cát, Bình Dương Tạp chí BVTV số1,

control in IPM for Controlling insect pests of Crops in Japan and Vietnam

Hà Quang Hùng (1996) Nghiên cứu kẻ thù tự nhiên của sâu hại chính trên cam quýt, rau và đậu tương vùng Hà Nội (1994-1995) Tuyển tập công trình

nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp Kỷ niệm 40 năm thành lập Trường

Trang 31

III THỜI KỲ 1996 ĐẾN NAY

III.1 Một số công trình nghiên cứu về trồng trọt

Chọn tạo giống đậu tương D140 và D912 Vũ Đình Chính

Công trình tiến hành trong giai đoạn 1996-2005 tại Đại học Nông Nghiệp1 và một

số tỉnh miền Bắc Giống đậu tương D140 được công nhận giống quốc gia năm 2002 Giống đậu tương D140 được tạo ra từ tổ hợp lai DLO2 x ĐH4.Giống D140 có thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, thích hợp gieo trồng cả 3 vụ trong năm: Vụ xuân, vụ hè và vụ đông Giống có tỷ lệ quả 3 hạt cao 20-30%, có năng suất cao 14-26 tạ/ha Có thể trồng được tại các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ Giống đậu tương D912 do TS Vũ Đình Chính lai tạo ra và được công nhận giống tạm thời năm 2005, được tạo ra từ tổ hợp lai V74 x M103 Giống D912 có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, thích hợp gieo vụ xuân

và vụ đông trong năm Giống có tỷ lệ quả 3 hạt khá 15-20%, có khối lượng 1000 hạt khá cao biến động từ 150-160g, có năng suất cao 17-27 tạ/ha, có thể trồng được ở các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ

Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ rễ cây chè ở miền Bắc Việt Nam Nguyễn

Đình Vinh, Nguyễn Ngọc Kính

Bộ rễ của cây chè là một bộ phận cơ thể không thể tách rời trong đời sống của cây,

có quan hệ trực tiếp với sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng búp của cây chè Đặc điểm sinh trưởng, phát triển và phân bố của bộ rễ của cây chè có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng búp, khả năng chống chịu hạn và tuổi thọ của cây Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có các nghiên cứu về bộ rễ cây chè một cách có hệ thống Để tìm hiểu đặc điểm phân bố của bộ rễ cây chè trong đất, công trình đã tiến hành nhiều nghiên cứu chi tiết từ năm 1980 đến 2005

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả đã thu được một số kết quả:

- Đa số khối lượng rễ của cây chè phân bố ở tầng đất sâu từ 0-40cm, bộ rễ cây chè

có khả năng phân bố sâu từ 1,2 đến 1,7m Theo chiều ngang, đa số khối lượng rễ của cây chè phân bố ở lát đất cách gốc cây 0-20cm và giảm dần đến giữa hàng chè

- Các giống chè thân gỗ có khối lượng rễ và độ sâu phân bố rễ lớn hơn các giống chè thân bụi Các giống chè Shan Chất Tiền, PH1 có khối lượng rễ và độ sâu phân bố rễ lớn hơn giống chè Trung Du xanh và Trung Quốc lá nhỏ

- Các loại đất khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng rễ, độ sâu phân bố rễ

và tỷ lệ phân bố rễ trong các tầng và lát đất khác nhau Các loại đất nâu đỏ phát triển trên đá vôi, đất xám feralit phát triển trên đá sét và phiến thạch mica có tính chất vật lí hoá học tốt phù hợp cho bộ rễ cây chè sinh trưởng phát triển

- Làm đất lần đầu sâu 45 cm theo hàng chè hay trên toàn bộ bề mặt vườn chè đều

có ảnh hưởng tốt đến độ sâu phân bố rễ và khối lượng rễ

Trang 32

- Mật độ trồng chè có ảnh hưởng lớn đến khối lượng rễ, độ sâu phân bố và hướng phân bố rễ của các cây chè Ở các tuổi chè nhỏ mật độ trồng dày có ảnh hưởng tốt đến khối lượng rễ và tỷ lệ phân bố rễ trong các tầng và lớp đất Ở tuổi chè lớn (15 tuổi) mật

độ trồng dày có ảnh hưởng xấu đến khối lượng và tỷ lệ phân bố rễ cây chè trong đất

- Bộ rễ của cây chè trồng bằng cành giâm ở các tuổi chè non (1-3 tuổi) phân bố nông hơn bộ rễ cây chè trồng bằng hạt Từ tuổi 4 đến 28 tuổi bộ rễ của cây chè trồng bằng cánh giâm sinh trưởng tốt hơn cây chè trồng bằng hạt Khối lượng rễ (đặc biệt là khối lượng rễ hút) của cây chè trồng bằng cành giâm cao hơn, độ sâu phân bố rễ lớn hơn

so với cây cây chè trồng bằng hạt

- Cây chè được bón đầy đủ và cân đối các loại phân, đặc biệt là phân hữu cơ và phân ka li, có khối lượng rễ cao hơn, rễ phân bố sâu hơn và tỷ lệ phân bố rễ trong các tầng và lớp đất đồng đều hơn các công thức bón phân đơn độc và không cân đối

- Các công thức đốn chè khác nhau có ảnh hưởng đến sinh trưởng của bộ rễ cây chè song không có ảnh hưởng đến độ sâu phân bố rễ cây chè Các công thức đốn đau có số

rễ chết nhiều hơn công thức đốn phớt và đốn lửng

- Các giống chè khác nhau có quy luật tích luỹ tinh bột trong bộ rễ cây chè khác nhau Với khí hậu của vùng trung du Bắc bộ, cây chè bắt đầu tích lũy tinh bột vào rễ từ tháng 8 đến tháng 12-1 hàng năm Hàm lượng tinh bột trong rễ cao nhất vào tháng 12 và tháng 1 hàng năm Giống chè LDP1, LDP2 có tỷ lệ tinh bột tích luỹ trong rễ cao hơn giống Trung Du xanh và duy trì lâu dài hơn trong các tháng vụ xuân Cây chè trồng bằng cành giâm của giống PH1 có khả năng tích luỹ tinh bột trong rễ tốt hơn cây chè trồng bằng hạt của cùng giống

Các kết quả nghiên cứu đã góp phần vào việc xây dựng các quy trình kỹ thuật trồng

và chăm sóc chè một cách hợp lý Trong đó đóng góp lớn nhất là đánh giá được khả năng sinh trưởng và phân bố của bộ rễ cây chè trồng bằng cành giâm tốt hơn cây chè trồng bằng hạt, chỉ ra được các nhược điểm sinh trưởng của bộ rễ cây chè trồng bằng cành giâm tuổi 1-3 Các kết quả đã chứng minh về mặt khoa học và tạo lòng tin cho người làm chè, góp phần đẩy mạnh diện tích trồng chè bằng cành giâm trong 10 năm gần đây Ngoài ra các kết quả nghiên cứu của đề tài là các tài liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về cây chè ở Việt Nam Từ các kết quả nghiên cứu của công trình đã có 2 luận án Tiến sĩ, 2 luận án Thạc sĩ và nhiều luận văn của sinh viên

đã bảo vệ thành công

Ấn phẩm công bố

Nguyễn Ngọc Kính, Nguyễn Đình Vinh (1985) Đặc điểm phân bố bộ rễ cây chè trồng bằng cành giâm và trồng hạt trên đất Feralit vàng đỏ Phú Hộ Tuyển

tập công trình nghiên cứu KHKTNN 1981-1985, NXB Nông nghiệp Hà Nội

Đỗ Văn Ngọc (1991) Nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng đốn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng của cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ, luận án PTS Nông nghiệp, Viện KHKTNN Việt Nam

Trang 33

Nguyễn Đình Vinh (1994) Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ rễ cây chè trồng bằng cành giâm và trồng hạt tại Phú Hộ - Phú Thọ Luận văn thạc sĩ

Nông nghiệp, ĐHNNI

Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Ngọc Kính 1999 Quan hệ giữa sinh trưởng của bộ rễ cây chè với đất và phân bón Kinh tế và KHKT chè (1-2), Hiệp hội

chè Việt Nam

Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Ngọc Kính (2000) Nghiên cứu đặc điểm phân

bố của bộ rễ cây chè ở các mật độ trồng và tuổi chè khác nhau Tạp chí

Công trình tiến hành tại Việt Nam và Nhật Bản (2000-2006) đã đánh giá ưu thế lai (ƯTL) về các đặc tính quang hợp ở các giai đoạn sinh trưởng và mối quan hệ giữa chúng với ƯTL về chất khô tích luỹ và ƯTL về năng suất hạt của lúa lai F1, ngoài ra ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến việc biểu hiện ƯTL về quang hợp cũng được đánh giá

- Ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, cường độ quang hợp dưới dạng cường độ trao đổi CO2 (CER) của lúa lai F1 thấp hơn so với bố mẹ của chúng ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng do hàm lượng N trong lá thấp hơn, tuy nhiên ƯTL về quang hợp đặc biệt ở giai đoạn trỗ đóng góp vào ƯTL về năng suất hạt Quang hợp của con lai F1 có tương quan thuận với giá trị này của dòng bố tương ứng

- ƯTL về các đặc tính quang hợp được đánh giá ở nhiệt độ (20, 25, 30, 35 và 40°C), cường độ ánh sáng (500, 1000, 1500 và 2000 mol/m2/s) và thời gian trong ngày (8, 10, 12, 14 và 16 giờ) Trong điều kiện nhiệt độ và ánh sáng trung bình con lai F1 không có ƯTL tuy nhiên ở nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh hay buổi chiều (14-16 gìơ), con lai F1 (tổ hợp Việt lai 20 và TH5-1) cho giá trị UTL về CER vượt dòng bố (12-42%) và vượt trung bình bố mẹ (28-62%), do độ sự vượt trội về độ nhạy khí khổng, cường độ thoát hơi nước và chất giải phóng quang hóa (non-photochemical quenching)

- Ở mức phân N bón cao con lai F1 cho UTL về CER vượt so với dòng bố (11%)

và trung bình bố mẹ (22%) do ưu thế lai về hàm lượng N trong lá, hàm lượng chlorophyll (SPAD reading), hàm lượng dung dịch protein và hoạt tính của ẹnzyme cố định CO2 (Rubisco), trong khi không có ƯTL ở mức đạm thấp

Trang 34

- Hầu hết các tổ hợp lai F1 giữa dòng TGMS với dòng bố Indica cho ƯTL vượt dòng bố về năng suất hạt (12-67%) do ƯTL về chất khô tích luỹ ở thời kỳ phân hoá đòng, về số bông trên khóm và đặc biệt là ƯTL về số hạt trên bông Khi tăng lượng phân N thì ƯTL về năng suất hạt của lúa lai F1 tăng (35-75%) do tăng năng suất chất khô và tăng cường độ quang hợp giai đoạn sau trỗ

Như vậy những kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho công tác chọn giống lúa lai cũng như canh tác lúa lai

Ấn phẩm đã công bố

Pham Van Cuong., Murayama, S and Kawamitsu, Y 2003 Heterosis for photosynthesis, dry matter production and grain yield in F 1 hybrid rice (Oryza sativa L.) from thermo-sensitive genic male sterile line cultivated at different soil nitrogen levels Environ Control in Biol 41 (4) : page 335-345

 Pham Van Cuong., Murayama, S., Ishimine, Y., Kawamitsu, Y., Motomura,

K and Tsuzuki, E 2004a Sterility of TGMS line, heterosis for grain yield and related characters in F1 hybrid rice (Oryza sativa L.) Plant Prod Sci 1

(4) : 22-29

 Pham Van Cuong, Murayama, S; Kawamitsu, Y., Motomura, K, and Miyagi,

S 2004b Heterosis for Photosynthetic and Morphological characters in F1 hybrid rice (Oryza sativa L.) from a thermo-sensitive genic male sterile line

at different growth stages Japanese Journal of Tropical Agriculture 48 (3) :

137-148

Phạm Văn Cường và Hoàng Tùng 2005c Mối quan hệ giữa ưu thế lai về khả năng quang hợp và năng suất hạt của lúa lai F1 (Oryza sativa L.) Tạp chí

Khoa học Nông nghiệp, ĐH Nông nghiệp1(4) 253-261

Pham Van Cuong., Murayama, S and Kawamitsu, Y 2005d Heterosis in Temperature Repsonses of photosynthetic characters in F1 hybrid rice Environ Control in Biol 43 (3) : 193-200

 Pham Van Cuong, Nguyen The Hung, Tang Thi Hanh and Takuya

Araki.2000e Influence of Light Intensity and Diurnal change on Heterosis for Photosynthetic Characters in F1 hybrid Rice (Oryza sativa L.) Bulletin of the

Institute of Tropical Agriculture, Kyushu University, Japan (28).P25-34

Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô lai phục vụ sản xuất giai đoạn 2001-2005 (B-2001-32-32) Nguyễn Thế Hùng Cán bộ tham gia: Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt

Long, Ngô Thị Hằng, Ngô Thị Nguyệt

Công trình được tiến hành trong thời gian 5 năm với các mục tiêu: Tạo nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ chọn tạo giống ngô lai, lai tạo chọn ra một số tổ hợp ngô lai, ngô thực phẩm làm vật liệu chọn tạo giống ngô lai mới phục vụ sản xuất

Trang 35

Kết quả đạt được

- Thu thập và đánh giá tập đoàn vật liệu khởi đầu bao gồm các loại nguồn gen (vật liệu khởi đầu) ngô năng suất cao, ngô đường, ngô nếp và ngô tẻ

- Tạo được 35 dòng ngô thuần thế hệ S6 đến S8, 15 dòng ngô đường đời S3 - S6 ;

13 dòng ngô nếp thế hệ S3-S4 Chọn ra được các dòng ngô ưu tú có KNKH chung và riêng cao phục vụ công tác chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, ngô nếp và ngô đường

- Đã lai thử 120 tổ hợp ngô lai năng suất cao, 60 tổ hợp ngô đường; 45 tổ hợp ngô nếp

- Đã đánh giá và chọn ra được 2 tổ hợp ngô lai mới, có triển vọng năng suất cao: VN6 x AV10 và VN7 x AV10 gửi đi khảo nghiệm Chọn được 3 tổ hợp ngô đường lai có triển vọng: CLT-Đ2 x CLT-Đ5, CLT- Đ4 x CLT- Đ5, TN115 x CLT- Đ7 chuẩn bị đưa đi khảo nghiệm và chuyển giao ra ngoài sản xuất

Ấn phẩm đã công bố

Nguyễn Thế Hùng 2003h Xác định khả năng kết hợp tính trạng năng suất của một số dòng ngô thuần bằng phương pháp lai đỉnh Tạp chí khoa học kỹ

thuật Nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I, tập I số 3

Nguyễn Thế Hùng 2004 Kết quả chọn tạo dòng thuần ngô giai đoạn

1996-2003 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2004, Số 2, 194-196

Xây dựng mô hình trang trại sản xuất cà phê tại 2 xã Hướng Phùng, Hướng Tân, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị (1996 – 1998) Nguyễn Hữu Tề Cán bộ

tham gia nghiên cứu: Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm và các cộng tác viên

Đây là đề tài nằm trong chương trình hợp tác Việt Nam - Hà Lan nhằm khai thác tốt tiềm năng điều kiện tự nhiên, sản xuất cà phê có hiệu quả và bền vững

Đề tài đã tiến hành mở các lớp tập huấn kỹ thuật và quản lý cho chủ trang trại, các nông hộ có tiềm năng phát triển sản xuất để nâng cao trình độ sản xuất, kinh doanh (tổ chức lao động, kỹ thuật sản xuất, chế biến và tiếp thị sản phẩm) Hướng dẫn công tác quy hoạch thiết kế lô thửa, giao thông liên vùng, trồng băng cây chống xói mòn, cây che bóng và rừng phòng hộ Chọn cây trồng xen, che bóng là các loại cây chống xói mòn và

bồi dưỡng đất tốt như keo dậu Cuba (Acacia riculiformit), keo tai tượng (Acacia Mangium), trẩu (Aleurite montana), tràm lá nhọn (Indigofera) Đề tài cũng đề xuất một

số biện pháp kỹ thuật sản xuất cà phê phù hợp với vùng điều kiện địa phương như mật

độ, bón phân đầy đủ và cân đối, tạo hình, tạo tán thông thoáng giúp cây duy trì được hệ

số diện tích lá, tủ gốc, đào rãnh, trồng cây che phủ để duy trì độ bền vững của hệ sinh thái

Trang 36

Ấn phẩm đã công bố

Đoàn Văn Điếm, Lê Quang Vĩnh (2000) Điều tra, đánh giá các mô hình nông lâm kết hợp ở huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị 2000 Kết quả nghiên

cứu khoa học của NCS, trường ĐHNNI, NXB Nông nghiệp

Nguyễn Hữu Tề, Đoàn Văn Điếm (2001) Vấn đề sản xuất cà phê hàng hoá có hiệu quả và bền vững ở 2 xã Hướng Phùng, Hướng Tân, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị (2001) Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, trường Đại học

Nông nghiệp I, số 3

Việt Lai 20 - Giống lúa lai quốc gia đầu tiên của Việt Nam Nguyễn Văn Hoan

Cộng tác viên chính: Vũ Hồng Quảng; Nguyễn Thị Bích Hồng

Việt Lai 20 là giống lúa lai hai dòng được chọn tạo hoàn toàn trong nước Giống có

mẹ là dòng bất dục đực chức năng di truyền nhân cảm ứng với nhiệt độ (TGMS) 103s

và dòng bố R20 Dòng mẹ 103s có khả năng nhận phấn ngoài rất tốt, sự chênh lệch về thời gian từ gieo đến trổ của hai dòng bố mẹ từ 5 -7 ngày Nhờ vậy mà sản xuất hạt lai

dễ dàng thuận lợi, năng suất hạt lai F1 rất cao (bình quân 35tạ/ha), chi phí thấp, lãi suất cao, được các công ty giống trong nước chấp nhận rộng rãi Đây là giống lúa lai đầu tiên bán được bản quyền công nghệ

Vụ xuân 2001, Việt Lai 20 được đem thử nghiệm rộng rãi trên 108 điểm khác nhau thuộc ba vùng sinh thái là miền núi các tỉnh phía Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang ), Đồng bằng trung du Bắc Bộ (Phú thọ, Vĩnh phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Tây, Hà Nội ), duyên hải miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa ) Kết quả thử nghiệm đạt được rất khả quan, trong thời gian sinh trưởng 110 ngày, Việt Lai 20 đã cho năng suất bình quân là 69 tạ/ha rất nhiều điểm đạt năng suất trên 80 tạ/ha đặc biệt tại Khánh Hòa, tổ hợp Việt Lai 20 có thời gian sinh trưởng 98 ngày và đạt được năng suất 100 tạ/ha Lần đầu tiên một tổ hợp lai hoàn toàn Việt Nam đã ra mắt công chúng, năng suất hạt lai đạt trung bình 27 tạ/ha, cao hơn 7 tạ/ha so với các tổ hợp nhập nội, lượng thóc giống sản xuất ra đạt trên 55 tấn

đã đủ để gieo cấy 1200ha ở vụ xuân 2002 và vụ mùa 2002 tập trung ở các tỉnh: Lào Cai, Hải Phòng, Hà Nam, Thanh Hóa, Quảng Bình

So với các tổ hợp lúa lai nhập nội, giống lúa lai hai dòng mới Việt Lai 20 có nhiều

ưu điểm nổi bật hơn hẳn, đó là: thời gian sinh trưởng rất ngắn: Vụ xuân: 110 - 115 ngày,

Vụ mùa: 85 - 90 ngày Tiềm năng năng suất của tổ hợp Việt Lai 20: 90 - 100tạ/ha vụ xuân, 70 - 80tạ/ha vụ mùa Chất lượng gạo và chất lượng cơm của Việt Lai 20 thuộc dạng tốt: hàm lượng protein đạt 10,7% trong khi các tổ hợp khác chỉ đạt 7,8 - 8%, cơm ngon, nấu nhanh chín được nông dân chấp nhận Sản xuất hạt giống dễ dàng, chi phí thấp, lãi suất do sản xuất hạt giống mang lại cao

Trang 37

Nhờ những ưu điểm nổi bật mà tổ hợp Việt Lai 20 đã được hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi, trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa chấp nhận, trong đó có 4 tỉnh đã đưa vào cơ cấu chính thức là Lào Cai, Hải Phòng, Hà Nam và Thanh Hóa Các tỉnh Bắc Giang, Thái Bình, Yên Bái đã đưa vào cơ cấu chính thức từ vụ xuân 2004 Diện tích gieo cấy Việt Lai 20 đã phát triển với tốc độ rất nhanh: Vụ xuân 2001 mới đạt 120ha, vụ xuân 2002 và vụ mùa 2002 đã đạt 1200ha Quy trình công nghệ khép kín từ khâu tạo tổ hợp, làm thuần 2 dòng bố mẹ, sản xuất hạt siêu nguyên chủng, nguyên chủng, F1, đã được thiết lập hoàn chỉnh Khu chọn dòng liên kết với Trung tâm giống Lào Cai đã được xây dựng tại Bắc Hà đủ năng lực sản xuất được 200kg hạt giống siêu nguyên chủng dòng mẹ 103S, lượng hạt giống này đủ để nhân ra 20 tấn hạt nguyên chủng đáp ứng diện tích của 500ha hạt lai F1 trong năm 2004, diện tích gieo cấy Việt Lai 20 ở năm

2005 dó đạt trên 30.000ha Tính đến hết vụ mùa năm 2006 diện tích cộng dồn của Việt Lai 20 đã đạt trên 100.000 ha Nhờ những ưu điểm nổi bật mà Việt Lai 20 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia từ năm 2004, đây là giống lúa lai quốc gia đầu tiên của Việt Nam

Dòng TGMS 103s còn được sử dụng trong các chương trình nghiên cứu lúa lai để tạo ra nhiều tổ hợp lúa lai ưu việt khác (Việt Lai 24, Việt Lai 45, Việt Lai 50…)

Ấn phẩm đã công bố

Nguyễn Văn Hoan 2004 Giống lúa lai hai dòng ngắn ngày Việt Lai 20 Hội

nghị chọn tạo giống lúa toàn quốc lần thứ nhất, Cần Thơ

Nguyễn Văn Hoan 2004 Hiệu quả gieo cấy giống lúa lai ngắn ngày ở vùng núi các tỉnh phía Bắc Hội thảo tiến bộ kỹ thuật Nông – Lâm – Ngư phục vụ

phát triển kinh tế miền núi các tỉnh phía Bắc, Hoà Bình

Nguyễn Văn Hoan 2006 Kết quả khảo nghiệm quốc gia các giống lúa lai ngắn ngày Tạp chí Nông nghiệp và PTNT 2006 số 3 tập III

Nguyễn Văn Hoan 2000 Use Rice gene pool for Hybrid Rice Breeding by two line system - Plant Genetic Resourcies HAU – JICA ERCB project,

Trang 38

nhờ nước trời, đất nghèo dinh dưỡng, đa dạng theo các tiểu vùng sinh thái miền núi, chất lượng phù hợp với tiêu dùng là nguồn gen vô cùng quý giá cho tạo giống cây trồng Nghiên cứu đã tiến hành thu thập nguồn gen cây trồng bản địa tập trung vào các giống lúa, ngô địa phương tại các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam Kết quả đã thu thập được 296 mẫu giống cây trồng địa phương trong đó có 99 mẫu giống cây lương thực Đánh giá hồ sơ hóa các mẫu giống làm nguồn vật liệu tạo giống lúa ngô cho điều kiện hạn, đất dốc và nghèo dinh dưỡng ở miền núi Chọn lọc cải tiến 02 giống lúa nương và

01 giống ngô thụ phấn tự do đang trong giai đoạn thử nghiệm năng suất, tạo dòng tự phối ngô nếp được 125 dòng ở thế hệ thứ 4 và thứ 5 đã thử khả năng kết hợp để tạo giống ngô nếp tổng hợp và ngô nếp chịu hạn ưu thế lai

Ấn phẩm đã công bố

Vũ Văn Liết (2003) Sự đa dạng nguồn gen cây lúa, ngô ở một số địa phương miền núi phía Bắc Việt Nam Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường

Đại học Nông nghiệp I

Vũ Văn Liết và cs (2004) Đánh giá khả năng chịu hạn của một số mẫu giống lúa địa phương sau chọn lọc Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp,

Trường Đại học Nông nghiệp II

Vũ Văn Liết (2004) Thu thập và đánh giá nguồn vật liệu giống lúa địa phương phục vụ chọn tạo giống lúa cho vùng canh tác nhờ nước trời vùng núi Tây Bắc, Việt Nam Báo cáo hội nghị Quốc gia chọn tạo giống lúa, chào

mừng năm quốc tế lúa gạo 2004 tại Viện nghiên cứu Lúa Đồng bằng sông Cửu Long

Vũ Văn Liết và cs (2005) Đánh giá một số giống lúa chịu hạn trong điều kiện môi trường đủ nước và canh tác nhờ nước trời Tạp chí khoa học kỹ

thuật nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I

Vũ Văn Liết (2005) Đánh giá mức suy thoái cận huyết ở một số tính trạng của các giống ngô nếp địa phương Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp,

Trường Đại học Nông nghiệp III

Tạo giống cà chua ưu thế lai trồng trái vụ, chất lượng cao, bảo quản lâu dài

sau thu hoạch Nguyễn Hồng Minh Cán bộ tham gia: Kiều Thị Thư

Tạo giống ưu thế lai có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các cây rau nói chung và

cà chua nói riêng Từ 1995 – 1996 tới nay các công ty nước ta đã nhập khối lượng lớn hạt giống cà chua lai F1 từ Mỹ, châu Âu, Đài Loan và các nước khác Do hạt giống rau rất nhỏ nhẹ dễ lưu thông nên thị trường ngày càng tràn ngập các giống cà chua ngoại nhập Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc đặt ra trong sản xuất cà chua nước ta như tạo giống cà chua chịu nóng, trồng trái vụ, chất lượng, bảo quản lâu dài sau thu hoạch, đồng thời góp phần hạn chế giống nhập ngoại

Trang 39

Đề tài đã tiến hành từ năm 1994 – 2001 tại Đại học Nông nghiệp I -Hà Nội với các nghiên cứu và phân lập, đánh giá khả năng chịu nóng của các mẫu giống cà chua, đánh giá phẩm chất quả, đặc điểm cấu trúc thịt quả và vỏ quả nhằm tạo giống cà chua chất lượng cao và có khả năng cất giữ lâu dài sau thu hoạch Đã triển khai hàng loạt các tổ hợp lai thử, đánh giá sàng lọc các con lai ở các mùa vụ, rút ra các tổ hợp lai triển vọng Năm 1997 đã tuyển chọn được tổ hợp lai nổi trội đáp ứng các mục tiêu đề ra, năm

1998 nó được đặt tên là HT7 và đưa vào các thử nghiệm sinh thái, phát triển sản xuất Tới năm 2000 HT7 đã phát triển ra sản xuất đại trà diện tích lớn, tháng 9 năm 2000 tại hội nghị khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT cà chua lai HT7 được công nhận là giống quốc gia Từ 1996 – 1998 chúng tôi đã tiến hành các nghiên cứu đưa ra quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai F1 trên quy mô đại trà ở nước ta

Giống HT7 ra đời có sức cạnh tranh, phát triển diện tích đại trà hàng trăm ha nhiều năm liên tục, đó là vì HT7 phối hợp được nhiều ưu điểm độc đáo mang tính đột phá như: khả năng chịu nóng cao, trồng được nhiều thời vụ trong năm, thuộc dạng thấp cây, ngắn ngày, nhiều hoa, sai quả, quả chín đỏ đẹp, cho năng suất cao trên đơn vị thời gian,

dễ dàng bố trí luân canh cây trồng ở nước ta, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất HT7 trồng chủ yếu ở trái vụ: Hè thu (năng suất 32 – 40 tấn/ha, thu đông, xuân hè (năng suất 45 – 55 tấn/ha)

Trên thế giới đã sử dụng kỹ thuật di truyền tạo cây cà chua chuyển gen (gen ngược nghĩa polygalacturonase) gây quả chậm nẫu nhũn để bảo quản lâu sau thu hoạch Để tạo giống cà chua có khả năng bảo quản lâu, nghiên cứu này đã đi theo hướng riêng phù hợp với điều kiện nghiên cứu của mình, đó là sử dụng kiểu cấu trúc thịt quả bền chắc, tạo giống lai F1 phối hợp được các tố chất về độ bền của quả, đồng thời thịt quả có chất lượng tiêu dùng cao (vỏ quả bền, thịt quả dày chắc mịn, khô ráo, có hương thơm, khẩu

vị ngọt dịu, vận chuyển xa tốt) để phát triển sản xuất, kết quả này chính là HT7 Bên cạnh đó chúng tôi phối hợp với các biện pháp kỹ thuật về trồng trọt, thu hái, bảo quản

để tăng thời gian, hiệu quả cất giữ quả (có thể tới 70- 80 ngày sau thu hoạch ở điều kiện kho tự nhiên)

HT7 là giống cà chua lai công nhận Quốc gia đầu tiên ở Việt Nam, cạnh tranh được với các giống cà chua thế giới phát triển diện tích sản xuất lớn nhiều năm liên tục, góp phần thay thế giống nhập khẩu, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đông đảo người sản xuất

Trang 40

Kiều Thị Thư, Nguyễn Hồng Minh, Trần Đình Long (1997) Nghiên cứu khả năng chịu nhiệt độ cao ở giai đoạn giao tử thể của một số dòng, giống cà chua Tạp chí Di truyền và ứng dụng 1997, N4

Nguyen Hong Minh, Kieu Thi Thu (2000) Some results of evaluation and use of working collection of tomato Plant Genetic Resources Proceedings of

the 3rd Joint Workshop in Agronomy August 2000

Tạo giống cà chua ưu thế lai chất lượng cao, tăng khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn Nguyễn Hồng Minh Cán bộ tham gia: Kiều Thị Thư, Phạm Thị Ân, Lê

Thị Tuyết Châm

Công trình thực hiện từ năm 2001-2006 Ở nước ta thị trường tràn ngập giống cà chua lai ngoại nhập, chiếm lĩnh phần lớn diện tích các vùng trồng rau Các bệnh hại nguy hiểm ngày càng phát triển mạnh ở các vùng trồng rau trong đó có bệnh héo xanh

cà chua Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra của sản xuất về tạo giống cà chua lai chất lượng cao, trồng trái vụ, tăng khả năng kháng bệnh chết héo vi khuẩn và góp phần thay thế giống ngoại nhập Đề tài đứng trước những thử thách rất lớn về cạnh tranh với các giống cà chua của thế giới

Đề tài đã tiến hành các nghiên cứu về phân lập, đánh giá nguồn vật liệu, tiến hành hàng loạt các tổ hợp lai thử (theo sơ đồ lai đỉnh), đánh giá sàng lọc các con lai ở các mùa vụ, thử nghiệm các tổ hợp lai triển vọng, tuyển chọn ra các giống lai phục vụ sản xuất theo các mục tiêu đặt ra

Giống cà chua lai HT21 được tạo ra theo hướng chất lượng cao Qua thời gian thử nghiệm sản xuất, năm 2004 HT21 được công nhận khu vực hoá và đã phát triển sản xuất diện tích lớn HT21 phục vụ cho trồng ở đông sớm và đông chính, năng suất đạt 50-56 tấn/ha Giống này có hàm lượng đường rất cao, độ Brix cao (đạt 5,18%) Ở điều kiện miền Bắc nước ta, do khó khăn về thời tiết và khắt khe về cơ cấu cây trồng, nên việc mở rộng diện tích sản xuất cà chua chất lượng cao là không dễ dàng Điểm đặc biệt là ở chỗ nhóm giống cà chua chất lượng cao do chúng tôi tạo ra có thời gian sinh trưởng rất ngắn, cho năng suất cao trên đơn vị thời gian, phù hợp với điều kiện canh tác nước ta, tạo điều kiện cho mở rộng diện tích (đất sau giải phóng lúa mùa) HT21 đã được công nhận tạm thời là giống quốc gia năm 2004

Trong nhóm chất lượng cao, giống cà chua lai HT42 được tạo ra theo mẫu hình cấu trúc cây mới (theo quan điểm của tác giả) Nó thuộc dạng ngắn ngày, thấp cây, chắc khoẻ, mau đốt, có bộ lá dày, có khả năng ra ánh mạnh, ra hoa rộ, nhiều hoa, sai quả, quả chín đỏ đẹp, vận chuyển và cất giữ tốt, thịt quả dày, ngọt dịu, có hương sắc đậm đà của

cà chua HT42 sinh trưởng khoẻ, khả năng đậu quả tốt ở nhiều điều kiện nhiệt độ, chịu nóng cao, đặc biệt có khả năng chống chịu bệnh chết héo xanh Do những ưu điểm nêu trên, HT42 có khả năng thích ứng rộng, trồng được nhiều thời vụ trong năm: Trái vụ (hè thu, thu đông, xuân hè), chính vụ (đông sớm, đông chính, đông xuân muộn), phù hợp nhiều chân đất khác nhau và thuận lợi cho bố trí luân canh cây trồng

Ngày đăng: 12/10/2015, 22:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm đơn bào ở các địa điểm nghiên cứu - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm đơn bào ở các địa điểm nghiên cứu (Trang 124)
Bảng 1. Hàm lượng các nguyên tố Cu, Zn, Co, Mn, Fe trong thức ăn (mg/kg CK) - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 1. Hàm lượng các nguyên tố Cu, Zn, Co, Mn, Fe trong thức ăn (mg/kg CK) (Trang 128)
Bảng 2. Thu nhận khoáng hàng ngày của bò (mg/kg CK) - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 2. Thu nhận khoáng hàng ngày của bò (mg/kg CK) (Trang 128)
Bảng 3. Phẩm chất tinh dịch bò được bổ sung khoáng - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 3. Phẩm chất tinh dịch bò được bổ sung khoáng (Trang 129)
Bảng 8. Thành phần hoá học, pH và hàm lượng HCN của sắn ủ - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 8. Thành phần hoá học, pH và hàm lượng HCN của sắn ủ (Trang 131)
Bảng 11. Thành phần hoá học của một số loại cây ngô sau thu bắp - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 11. Thành phần hoá học của một số loại cây ngô sau thu bắp (Trang 133)
Bảng 12. Thành phần hoá học và tỷ lệ tiêu hoá của cây ngô sau thu bắp già - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 12. Thành phần hoá học và tỷ lệ tiêu hoá của cây ngô sau thu bắp già (Trang 133)
Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng của một số loại bột bèo hoa dâu và bột cỏ Alfalfa - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng của một số loại bột bèo hoa dâu và bột cỏ Alfalfa (Trang 141)
Bảng 2. Giá trị năng lượng trao đổi (ME) của ngô  (kcal/kg chất khô) - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 2. Giá trị năng lượng trao đổi (ME) của ngô (kcal/kg chất khô) (Trang 142)
Bảng 4. Giá trị năng lượng trao đổi của khô dầu đậu tương (kcal/kg chất khô) - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 4. Giá trị năng lượng trao đổi của khô dầu đậu tương (kcal/kg chất khô) (Trang 143)
Bảng 2. Thành phần hoá học của rơm theo các công thức ủ - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 2. Thành phần hoá học của rơm theo các công thức ủ (Trang 152)
Đồ thị 2. Lượng thu nhận rơm tự do của bò - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
th ị 2. Lượng thu nhận rơm tự do của bò (Trang 153)
Bảng 3. Động thái phân giải CK của rơm ủ theo các công thức khác nhau - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 3. Động thái phân giải CK của rơm ủ theo các công thức khác nhau (Trang 154)
Bảng 2. Ước lượng tham số trong hàm sản xuất (stochastic production frontier) - Kỷ yếu 50 năm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (1956 2006)
Bảng 2. Ước lượng tham số trong hàm sản xuất (stochastic production frontier) (Trang 159)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm