Trong công tác cải cách thủ tục hành chính, việc niêm yết công khai các thủ tục hành chính trên trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước, triển khai thực hiện các dịch vụ
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - Năm 2015
Trang 2TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60340410
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thùy Anh
Cơ quan: Trường ĐH Kinh tế - ĐHQG Hà Nội
Hà Nội - Năm 2015
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và đảm bảo tính khoa học
Ngô Bá Đủ
Trang 4
LỜI CẢM ƠN Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Thùy Anh - Người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô giáo khoa kinh tế - chính trị, Phòng quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Cục Tin học và thống kê tài chính - Bộ Tài chính, Lãnh đạo Sở và các phòng nghiệp vụ của Sở Tài chính tỉnh Hà Giang, các phòng Tài chính - kế hoạch huyện, thành phố và các cơ quan đơn vị đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được theo học và hoàn thiện khóa học này
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Bá Đủ
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 5
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 6
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 9
1.2.1 CÁC KHÁI NIỆM 9
1.2.1.1 Công nghệ thông tin 9
1.2.1.2 Tài chính 24
1.2.1.3 Quản lý tài chính 37
1.2.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 43
1.2.3 ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH 43
1.2.3.1 Khái niệm ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính 43
1.2.3.2 Đặc điểm của ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính 44
Trang 6
1.2.3.3 Nội dung của ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính 45
1.2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính 46
1.2.4 KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ 46
1.2.4.1 Kinh nghiệm 46
1.2.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra về nội dung quản lý CNTT 49
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 50
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học 50
2.1.2 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học 53
2.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỤ THỂ 57 2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp 57
2.2.2 Phương pháp quy nạp và diễn giải 58
2.2.3 Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 59
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOAHỌC CỦA LUẬN VĂN 63 2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, dữ liệu 63
2.3.2 Phương pháp xử lý tài liệu, dữ liệu 64
Chương 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG 66
3.1 MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẶCĐIỂM TỰNHIÊN XÃ HỘI HÀ GIANG 66 3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 66
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 68
3.1.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của ngành tài chính ở tỉnh
Hà Giang 73
Trang 7
3.2 CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH, MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ
GIẢI PHÁP CỦA TỈNH VỀ PHÁT TRIỂN, ỨNG DỤNG CNTT 82
3.3 NHU CẦU ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI
3.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG…… 88
3.6 NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ỨD CNTT
VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG 91
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ
GIANG 93
4.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG
TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN NĂM
2011-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 93
4.1.1 Mục tiêu ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh
Hà Giang giai đoạn năm 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020 93
4.1.2 Định hướng ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh
Hà Giang giai đoạn năm 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020 93
4.2 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CNTT VÀO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN NĂM
2011-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTT : Công nghệ thông tin (Information Technology)
PCI : Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh
(Provincial Competitiveness Index) TCNN : Tài chính Nhà nước
TTTT : Thông tin và Truyền thông
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9Sự xuất hiện của yếu tố thứ năm là thông tin đã tạo ra sự thay đổi lớn mang tính cách mạng về phương thức làm việc và mô hình phát triển trong thế giới công nghiệp hóa với yếu tố dẫn đầu là kinh tế tri thức Khi thông tin đã thực sự trở thành một lực lượng sản xuất vật chất quan trọng được thừa nhận ở tất cả các quốc gia, được sử dụng thường xuyên trong các hoạt động kinh tế - xã hội thì bước chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin sẽ là tất yếu
Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin (CNTT) đang diễn ra trên quy mô toàn cầu và ngày càng đi vào chiều sâu, không loại trừ bất cứ một quốc gia nào
Nó đã và đang tạo ra một bối cảnh cho sự ra đời của những cái mới Bởi cuộc cách mạng thông tin đang trên đường tiến tới, đó không chỉ là cuộc cách mạng
về công nghệ, về máy móc, về kỹ thuật, về phần giá trị tăng thêm hay tốc độ,
mà trước hết đó là cuộc cách mạng về quan niệm, về đổi mới tư duy
Ngày nay, CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác nó có tác dụng làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Áp dụng những tiến bộ khoa học, thành tựu về CNTT trong phát triển kinh tế - xã hội, khai thác triệt để các tiềm lực, đổi mới nền sản xuất là cấp thiết đối với những quốc gia đang phát triển khi bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương vận dụng CNTT trong một số lĩnh vực; Khi bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ứng dụng CNTT đã được nhấn mạnh và cụ thể hóa trong nhiều nghị quyết của Đảng và Chính phủ như: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công
Trang 102
nghệ trong sự nghiệp đổi mới; Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VII về ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, trong đó có CNTT Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh về phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, kể cả thương mại điện tử, các loại hình vận tải, bưu chính viễn thông sớm phổ cập sử dụng tin học và mạng thông tin quốc tế (Internet) trong nền kinh tế và đời sống xã hội Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị khóa IX xác định rõ "ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [14, tr.7]
Chính phủ Việt Nam đã ký hiệp định khung E-Asian vào ngày 24/11/2000 với mục tiêu chính là: xây dựng chính phủ điện tử, thương mại điện tử và cộng đồng điện tử, có nghĩa là chúng ta đã cam kết đồng thuận triển khai các hoạt động của hiệp định, từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thực hiện mô hình chính phủ điện tử, thương mại điện tử, cộng đồng điện tử ở Việt Nam Một khi chính phủ điện tử, thương mại điện tử, cộng đồng điện tử được vận hành có hiệu quả, các thao tác kỹ thuật được chuẩn hóa và thực hiện nhanh chóng, thì mức độ chi phối của yếu tố chủ quan của con người vào nhiều khâu của quá trình quản lý sẽ được giảm đáng kể Cộng đồng điện tử, thương mại điện tử sẽ đảm bảo phát triển nhanh một xã hội tri thức, thu hẹp sự khác biệt về kỹ thuật
số, sự thông thoáng và hiệu quả khi người dân được tiếp cận với hệ thống hành chính, luật pháp và thông tin hiện đại trong nhiều lĩnh vực
Ngành Tài chính là nơi nắm giữ "ngân khố" của Quốc gia, có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình tham mưu phục vụ quản lý và điều hành Cũng như các ngành, lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước khác ở địa phương trong điều kiện đổi mới, ngành tài chính tỉnh Hà Giang chủ trương tiếp tục nâng
Trang 113
cao năng lực quản lý, ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính và cải cách thủ tục hành chính Trong công tác cải cách thủ tục hành chính, việc niêm yết công khai các thủ tục hành chính trên trang thông tin điện tử của cơ quan hành chính nhà nước, triển khai thực hiện các dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý là một trong những vấn đề được người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư rất quan tâm khi tìm kiếm cơ hội đầu tư Ứng dụng CNTT và vận hành có hiệu quả chính phủ điện tử, thực hiện tốt các dịch vụ công trực tuyến giúp cho việc giải quyết nhanh chóng các nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là phục vụ tốt công tác quản lý của ngành tài chính và đảm bảo
an ninh tài chính ở địa phương
Tuy nhiên mặt bằng ứng dụng CNTT của ngành tài chính ở tỉnh Hà Giang hiện nay chưa đáp ứng kịp yêu cầu của công tác quản lý, còn nhiều hạn chế so với các ngành, lĩnh vực quản lý khác; Vai trò động lực và tiềm năng to lớn của CNTT phục vụ công tác quản lý tài chính chưa được phát huy mạnh mẽ, nguồn nhân lực CNTT chưa được phát triển kịp thời cả về số lượng và chất lượng, các ứng dụng CNTT chưa đáp ứng về số lượng và chất lượng, đầu tư cho CNTT chưa tương xứng với tiềm năng, công tác quản lý đôi lúc còn hình thức và hiệu quả chưa cao
Thực tế có nhiều loại yếu tố tác động ảnh hưởng, nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thực trạng trên Do đó đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, cả dưới góc độ lý luận và góc độ thực tiễn
Đề tài "Ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang" đã
được tác giả chọn làm luận văn thạc sĩ, nhằm góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận, rút ra những điểm quan trọng và đẩy mạnh Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
Trang 124
2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
- Thực trạng ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh
Hà Giang hiện nay như thế nào ?
- Làm thế nào để đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài
chính ở tỉnh Hà Giang trong thời gian tới ?
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh
Hà Giang; Từ đó đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào
công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài, luận văn xác định các nhiệm vụ gồm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về CNTT và ứng dụng CNTT trong
công tác quản lý tài chính
- Đánh giá thực trạng và những yếu tố tác động đến ứng dụng CNTT vào
công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
- Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT phục vụ công tác
quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình ứng dụng CNTT phục vụ công tác quản lý tài chính ở các cơ
quan trong ngành tài chính tỉnh Hà Giang, gồm Sở Tài chính và các Phòng Tài
chính - kế hoạch huyện, thành phố
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ
quan trong ngành tài chính tỉnh Hà Giang, gồm Sở Tài chính và các Phòng Tài
chính - kế hoạch huyện, thành phố từ năm 2004 đến nay
Luận văn không nghiên cứu về phát triển công nghiệp CNTT, thị trường,
kinh doanh sản phẩm CNTT và các giải pháp liên quan đến kỹ thuật CNTT
Trang 135
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu hoàn thiện và đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển KT-XH ở tỉnh Hà Giang
Luận văn đưa ra các khuyến nghị với Lãnh đạo và công chức viên chức trong ngành tài chính tỉnh Hà Giang trong việc nhận thức đầy đủ cở sở lý luận gắn với thực tiễn để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính nói riêng, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước nói chung theo mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, nhà nước ta hiện nay
Luận văn là tài liệu cơ sở khoa học giúp cho các tổ chức, cá nhân quan tâm đến lĩnh vực ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính có thể tham khảo, tiếp tục nghiên cứu áp dụng tại các địa phương khác
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn gồm có phần mở đầu, phần kết luận và các chương:
- Phần mở đầu
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở khoa học về việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản
lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
- Chương 4: Giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang
- Kết luận
Trang 146
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
VỀ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây, vai trò của CNTT ngày càng được nâng cao và chiếm vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, đặc biệt là phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội Công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý của Nhà nước được đặc biệt quan tâm, các cơ quan Đảng, Nhà nước cấp Trung ương và ở Địa phương đều có những chương trình ứng dụng CNTT riêng cho mình Công tác nghiên cứu giảng dạy và ứng dụng CNTT được các nhà khoa học vào cuộc đã thúc đẩy phát triển nhanh chóng và mang lại nhiều thành tựu, tiến bộ khoa học
Có nhiều tác phẩm viết về vai trò của CNTT trong đời sống và trong công tác ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính như:
- Bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị Diễn đàn cấp cao CNTT - Truyền thông Việt Nam lần thứ 3 năm 2013 Thủ tướng khẳng định: Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó xác định CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của phát triển, góp phần làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
- Bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà tại hội nghị Hội thảo triển lãm Việt Nam Finance 2014 trong tháng 9/2014 Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết: Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu và định hướng cải cách nền tài chính công theo chiến lược tài chính đến năm 2020, công tác ứng dụng CNTT trong ngành Tài chính cần phải tiếp tục được đẩy mạnh để phát huy hiệu quả các hệ thống CNTT hiện có, hỗ trợ cải thiện môi trường kinh doanh cũng như thúc đẩy cải cách hành chính trong lĩnh vực tài
Trang 157
chính Việc triển khai các hệ thống CNTT mới cũng đồng thời phải đảm bảo được tính kết nối, tính đồng bộ giữa quá trình cải cách thể chế, đưa CNTT trở thành công cụ quan trọng để hiện thực hóa các định hướng về cải cách nền tài chính công Thứ trưởng nhấn mạnh: Việc triển khai xây dựng Hệ thống thông tin quản lý Tài chính Chính phủ (GFMIS) đã được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về phát triển CNTT của Ngành Tài chính trong hai năm tới Định hướng và lộ trình thực hiện GFMIS cũng đã được xác định trong Chương trình hành động của ngành Tài chính triển khai thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020 Thứ trưởng Trần Xuân Hà đề nghị Hội thảo triển lãm Tài chính Việt Nam 2014, cần tập trung làm rõ về 3 vấn đề cơ bản: Thứ nhất, có đánh giá đầy đủ, toàn diện về những vấn đề đang đặt ra đối với việc xây dựng Hệ thống GFMIS ở Việt Nam, chỉ ra được những yêu cầu mà Hệ thống GFMIS cần hướng tới để từ đó có thể góp phần thực hiện có hiệu quả các định hướng cải cách thể chế tài chính công đến năm 2020, đặc biệt là trong việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực về quản lý tài chính công; đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính; tăng cường minh bạch và công khai; Thứ hai, thảo luận, làm
rõ các xu thế ứng dụng CNTT, kinh nghiệm các nước trong việc hoàn thiện phương thức, cách thức xây dựng và triển khai GFMIS, đặc biệt là về mô hình,
lộ trình và điều kiện tổ chức thực hiện; Thứ ba, các giải pháp, chính sách để đảm bảo sự thành công trong quá trình xây dựng và triển khai GFMIS ở Việt Nam, đặc biệt là những giải pháp để phát huy được hiệu quả của GFMIS trong tiến trình cải cách nền tài chính công của Việt Nam, trong đó có cả những giải pháp về chính sách và lộ trình triển khai hệ thống GFMIS có ảnh hưởng rất lớn đến công tác triển khai ứng dụng CNTT ngành tài chính ở tỉnh Hà Giang
- Đề tài khoa học cấp bộ về CNTT phục vụ QLNN và Quản lý nhà nước
về CNTT (2003) của tác giả TS Nguyễn Khắc Khoa nghiên cứu về: CNTT và tác động của CNTT trong thời đại mới; CNTT phục vụ QLNN và Quản lý nhà nước về thông tin và CNTT
- Bài viết về vai trò của CNTT của Tác giả Th.s Phạm Thị Như Quỳnh viết về vai trò và tầm quan trọng của CNTT đối với mọi lĩnh vực của đời sống
Trang 168
xã hội [http://truongchinhtrina.gov.vn/ArticleDetail.aspx? _Article_ID=373]
đã xuất bản trên trang thông tin điện tử của trường chính trị tỉnh Nghệ An
- Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia
- Đổi mới công tác thông tin phục vụ quản lý kinh tế của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay (2001), Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Nguyễn Văn Hứa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Ứng dụng CNTT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, Thực trạng và giải pháp (2006), luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Nguyễn Bá Hiến, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (Đề
án 112), liên quan trực tiếp đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, đề án này đã không đạt được hiệu quả như mong muốn
- Đề án tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47) và Đề án tin học hóa hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2006-2010 (Đề án 06)
- Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý chính quyền của tỉnh
An Giang (2008), luận văn thạc sĩ của Phùng Đình Dụng, Đại học An Giang
Các tác phẩm trên nghiên cứu về CNTT dưới các góc độ khác nhau Song chủ yếu nghiên cứu về CNTT nói chung, vai trò đối với phát triển xã hội nói riêng và các giải pháp để ứng dụng CNTT phục vụ phát triển KT-XH
Đối với ngành tài chính ở tỉnh Hà Giang đã thực hiện một vài nghiên cứu
về ứng dụng CNTT như: Nghiên cứu xây dựng Dự án ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính tỉnh Hà Giang giai đoạn 2005-2010 của nhóm tác giả thuộc Cục Tin học và thống kê tài chính, Bộ Tài chính
Mặc dù có rất nhiều tài liệu, tác phẩm nghiên cứu về CNTT nói chung, ứng dụng CNTT nói riêng song vấn đề ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang vẫn còn là rất mới kể cả về mặt lý thuyết đến thực tiễn cần được triển khai
Tất cả các tài liệu nghiên cứu, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
Trang 179
nước cũng như các chương trình, kế hoạch, đề án trên chưa nghiên cứu về vấn
đề làm thế nào để hoàn thiện và tăng cường công tác ứng dụng CNTT vào công
tác quản lý tài chính ở tỉnh Hà Giang và chưa trả lời được các câu hỏi:
- Thực trạng ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài chính ở tỉnh
Hà Giang hiện nay như thế nào ?
- Làm thế nào để đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào công tác quản lý tài
chính ở tỉnh Hà Giang trong thời gian tới ?
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG
CNTT VÀO CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
1.2.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.2.1.1 Công nghệ thông tin
- Khái niệm về công nghệ thông tin
CNTT (Information Technology) được hình thành từ Khoa học máy tính
(Computer Science) Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong
nhiều khái niệm khác nhau Ta có thể chia sự hình thành khái niệm CNTT
thành 3 giai đoạn phát triển:
+ Giai đoạn 1 (1943-1980): Từ khi máy tính điện tử đầu tiên ra đời cho
đến trước khi máy tính cá nhân (Personal Computer - PC) xuất hiện Giai đoạn
này, ngành khoa học máy tính có đối tượng nghiên cứu là máy tính điện tử, các
ngôn ngữ lập trình và các thuật toán xử lý; Nhiệm vụ chỉ tập trung vào giải
quyết các vấn đề mang tính “toán học”
+ Giai đoạn 2 (1981-1989): Đây là giai đoạn máy tính cá nhân có giao
diện đồ họa xuất hiện và được phổ biến trong xã hội Cùng với sự phát triển của
các ngành khoa học kỹ thuật khác, máy tính khả năng lưu trữ và xử lý của máy
tính ngày càng tăng Đặc biệt, sự phát triển của mạng máy tính và kỹ thuật số
đã bước đầu xóa bỏ rào cản “không gian” giữa các máy tính, đưa khoa học máy
tính lên một tầm cao mới Một bộ phận của khoa học máy tính đã phát triển
thành Tin học (Informatics), với đối tượng nghiên cứu là thông tin và sử dụng
công cụ chủ yếu là máy tính điện tử Nhiệm vụ của Tin học lúc này là nghiên
cứu việc lưu trữ và xử lý thông tin một cách tự động
Trang 1810
+ Giai đoạn 3 (cuối năm 1989 đến nay): Sự phát triển của các công nghệ
về máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng đã đạt đến đỉnh cao
Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống mạng máy tính dùng chung
cho toàn thế giới (Internet), khả năng ứng dụng của máy tính và mạng máy tính
đã gần như không có giới hạn Chúng đã trở thành phương tiện, công cụ không
thể thiếu của các hệ thống thông tin, hệ thống tổ chức CNTT đã ra đời với tư
cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại
Việc chia các giai đoạn trên chỉ mang tính tương đối Bởi lẽ, quá trình
phát triển từ khoa học máy tính lên Tin học, rồi thành CNTT là một quá trình
phát triển khá phức tạp, liên quan trực tiếp đến sự phát triển của nhiều ngành,
lĩnh vực khác nhau
Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về mối quan hệ giữa khoa học máy
tính, Tin học và CNTT Vì vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về CNTT Một
số khái niệm CNTT phổ biến hiện nay như:
+ Theo UNESCO, CNTT bao gồm việc sử dụng ứng dụng máy tính,
công nghệ viễn thông, tin học trong việc truy cập, cung cấp thông tin riêng và
chung Nó cho phép mọi người giao tiếp, trao đổi thông tin giới hạn trong
không gian số, làm việc tại văn phòng ảo và thiết lập một xã hội tri thức
+ Theo Hiệp hội CNTT của Mỹ (ITAA), CNTT là việc nghiên cứu, thiết
kế, phát triển, triển khai thực hiện, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin
điện tử, chủ yếu là các phần mềm máy tính và phần cứng máy tính CNTT bao
hàm việc sử dụng các máy tính điện tử và phần mềm máy tính để chuyển đổi,
lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và nhận nhận thông tin an toàn
+ Theo giáo sư Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phương tiện máy tính điện tử, trong đó nội dung xử lý thông
tin bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận
thông tin
+ Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để
chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình
xứ 1ý thông tin Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp
Trang 1911
khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người [14, tr.5]
+ Theo Luật CNTT (2006), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số [15, tr.2]
Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là ngành khoa học và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là máy tính điện tử Riêng khái niệm về CNTT của Luật CNTT cần sử dụng thuật ngữ “thông tin” thay cho “thông tin số” Bởi lẽ, thông tin số là chỉ là một dạng biểu diễn thông tin được xử lý và lưu trữ bằng các phương pháp số, hay còn được gọi là dữ liệu (data) Trong khi, một quy trình
xử lý thông tin của CNTT bao gồm: đầu vào là thông tin, xử lý thông tin (số) và đầu ra là thông tin hoặc tri thức
Có thể nói khái niệm về CNTT của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị đưa ra là hoàn chỉnh nhất và phù hợp với mục đích nghiên cứu của Luận văn
Vì vậy, thuật ngữ CNTT trong Luận văn sẽ được hiểu theo quan điểm này Điểm cần lưu ý là CNTT bao gồm cả Ngành công nghệ, công nghiệp CNTT và việc ứng dụng CNTT (thường gắn liền với một hệ thống tổ chức hay hệ thống thông tin nào đó) Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn sẽ tập trung vào nội dung của ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN
- Đặc điểm của công nghệ thông tin
+ CNTT là ngành công nghệ mũi nhọn
Công nghệ mũi nhọn ở đây được hiểu là cái chóp của một kim tự tháp, có nghĩa là nó là ngành công nghệ được xây dựng trên thành quả của nhiều công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại Do vậy, muốn xây dựng
và phát triển một công nghệ mũi nhọn hoàn chỉnh phải phát triển từng bước và phải lựa chọn thế đứng riêng của mình Mặt khác, đặc điểm của công nghệ mũi
Trang 2012
nhọn là luôn luôn nặng về tri thức, đó cũng là đặc điểm của CNTT Vì vậy, để phát triển CNTT luôn cần nguồn nhân lực có trình độ cao
+ CNTT là ngành có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh nhất
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, chưa có ngành khoa học, công nghệ nào có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh như CNTT Có thể hình dung
sự phát triển của CNTT qua định luật Moore, biểu tượng năng lực và sự phát triển Theo định luật Moore, khả năng tính toán của một bộ vi xử lý điện tử cứ sau 18 tháng lại tăng lên gấp đôi, trong khi giá cố định (hoặc thấp hơn) Điều này là cơ sở để giải thích cho việc thay đổi nhanh chóng trong ngành công nghiệp máy tính Hiện nay, định luật này đã được sửa lại là với thời gian là 24 tháng và hãng Intel vẫn đang tiếp tục duy trì định luật này Theo dự đoán của các chuyên gia định luật Moore vẫn còn đúng trong 1-2 thập kỉ nữa
Thật vậy, kể từ khi máy tính cá nhân đầu tiên xuất hiện (1980) đến nay
đã có khoảng 2 tỉ máy tính đang được sử dụng trên toàn thế giới Hãng IDG dự báo năm 2014 có hơn 2 tỉ người - sẽ sử dụng Internet thường xuyên, tương đương với 35% dân số thế giới
Theo hãng Microsotf, trong 34 năm qua (1980-2014), ngành công nghiệp
IT đã trải qua nhiều cuộc cách mạng Đầu tiên là sự xuất hiện của máy tính bình dân, kế đến là sự phát triển của giao diện người dùng đồ họa, sự nổi lên của Internet, Web 2.0 và tác động rõ nhất là mạng tương tác xã hội, các vấn đề xã hội toàn cầu và cá nhân hóa
Dưới sự phát triển như vũ bão của CNTT, thay đổi liên tục Vì vậy, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cần lưu ý khi lựa chọn các giải pháp về công nghệ Nếu không, việc đầu tư hay định hướng sai công nghệ
sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư và gây lãng phí lớn
+ CNTT là ngành khoa học có thể ứng dụng cho mọi lĩnh vực
Giới hạn của những công nghệ khác thường là không có khả năng kết hợp nhiều loại thông tin, phương tiện với nhau Ví dụ như với điện thoại chỉ có thể gởi và nhận âm thanh, vô tuyến truyền hình thì chỉ có nhận hình ảnh, âm thanh nhưng không thể phản hồi, tương tác Với khả năng số hóa thông tin, xử
Trang 2113
lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành công cụ, phương tiện cho các công nghệ khác CNTT có thể tham gia trực tiếp vào trong quá trình sản xuất của các lĩnh vực như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, hoặc tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành của các hệ thống thông tin, hệ thống lãnh đạo, CNTT còn tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành nghề thông qua
hệ thống thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện
Ngày nay, CNTT vẫn đang tiếp tục phát triển và phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con người
+ CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp
Trong CNTT, nếu tính từ người sử dụng (người dùng đầu cuối) đến khâu sản xuất các thiết bị, vi mạch, ta sẽ thấy bên trong có nhiều tầng lớp và lớp trên được xây dựng dựa trên các lớp phía dưới, chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về công nghệ Càng lên cao, số lượng công nghệ có xu hướng càng tăng,
sự phát triển của công nghệ của lớp này cũng thúc đẩy sự phát triển các công nghệ tương ứng ở lớp khác và ngược lại
Có thể chia CNTT thành các tầng lớp theo sơ đồ sau:
Hình 1.1: Sơ đồ về sự phân tầng của CNTT.[Hà Dương Tuấn (2005),
“Toàn cầu hóa công nghệ thông tin và xuất khẩu phần mềm”, Thời đại mới số
6, http://www.tapchithoidai.org/TD6_ HaDuongTuan.pdf]
Vi xử lý Thiết bị
Hệ thống Phát triển ứng dụng Ứng dụng cơ bản Ứng dụng tích hợp
Trang 2214
(1) Lớp ứng dụng tích hợp, đây là lớp trên cùng gồm các ứng dụng được phát triển riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp nào đó Các ứng dụng này do đơn
vị sử dụng tự phát triển hoặc đặt gia công bên ngoài Chúng được phát triển dựa trên một hệ quản trị CSDL nào đó (MySQL, PosgreSQL, Oracle, SQL Server, DB2, …), thường hoạt động qua mạng và có xu hướng phát triển theo dạng tích hợp, dùng chung cho cả hệ thống
(2) Lớp ứng dụng cơ bản, là lớp đa dạng và phổ biến nhất hiện nay Bao gồm các ứng dụng ở mức đơn giản, tổng quát để xử lý văn bản (OpenOffice, Microsoft Office, …) hoặc tính toán và quản lý đơn giản (SPSS, Microsoft Project, …); và cao hơn là các ứng dụng chuyên dùng dành riêng cho một lĩnh vực nào đó như tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học (SPSS, MathType, Matlab…)
(3) Lớp phát triển ứng dụng, các ứng dụng của lớp này thường được dùng bởi các chuyên gia về phần mềm sử dụng để phát triển các ứng dụng của hai lớp trên, mục tiêu là hướng về người dùng đầu cuối Bao gồm các ngôn ngữ lập trình (C, java, Visual Basic, C#, php, …), các hệ quản trị CSDL
(4) Lớp ứng dụng hệ thống, là những chương trình, ứng dụng đặc biệt cho các ứng dụng của lớp trên có thể hoạt động hoặc giao tiếp với thiết bị phần cứng Chủ yếu là hệ điều hành và hệ điều hành mạng (Microsoft Windows, Unix, Linux, Mac, Netware, ) Đây thường là các ứng dụng độc quyền (trừ các sản phẩm từ Linux), chúng có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các tầng bên trên, đồng thời cũng quan hệ chặt chẽ về mặt công nghệ với các tầng bên dưới
(5) Lớp thiết bị phần cứng, có thể coi như bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ: làm
ra các bản mạch, rồi lắp ráp các linh kiện điện tử với phần điện, cơ khí, các thiết bị ngoại vi, để trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một bộ phận của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiêu dùng
(6) Lớp vi xử lý, đây là lớp cuối cùng chính là việc sản xuất các linh kiện điện tử, các chíp vi xử lý Hiện nay, chỉ có Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn chỉnh tạo ra các sản phẩm của lớp này
Trang 2315
Thông thường, khi xét đánh giá mức độ ứng dụng CNTT, người ta thường tập trung xét ở 2 lớp trên cùng Để đơn giản, ta có thể chia mức độ ứng dụng CNTT thành 4 cấp độ tăng dần theo thứ tự sau: (1) ứng dụng mức cơ bản, (2) ứng dụng mức chuyên dùng trong lĩnh vực (3) ứng dụng mức có sử dụng hệ quản trị CSDL và (4) ứng dụng tích hợp cho cả hệ thống
Do công nghệ của các tầng lớp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi lựa chọn công nghệ ứng dụng cần lưu ý các điều kiện sẵn có và xu hướng công nghệ của các tầng có liên quan
- Khả năng số hóa thông tin, tổ chức, lưu trữ thông tin trên diện tích nhỏ; truy xuất và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác
Đây là một đặc trưng của máy tính điện tử nói riêng và CNTT nói chung
Có thể hiểu số hóa thông tin là khả năng biểu diễn thông tin dưới dạng số 0 và
1, và lưu lại trên các thiết bị lưu trữ của máy tính Các thông tin được lưu trữ dưới dạng này gọi là thông tin số Ưu điểm của thông tin số chính là có thể mô
tả chính xác thông tin, truy xuất nhanh và lưu trữ được trên diện tích nhỏ
Ngày nay, khả năng lưu trữ và tốc độ xử lý thông tin của các thiết bị CNTT ngày càng tăng, trong khi kích thước của thiết bị ngày càng nhỏ Khả năng lưu trữ của các thiết bị lưu trữ đã lên đến TB (TegaByte) và tốc độ tính toán đã đạt hàng tỉ phép tính trên giây Có thể đơn cử vài ví dụ sau:
Giả sử một trang giấy A4 có 40 dòng, một dòng 80 ký tự thì một quyển sách 100 trang A4 khi lưu trữ sẽ chiếm khoảng 625 KB (KiloByte) hoặc một tấm ảnh số trung bình sẽ chiếm khoảng 1 MB (MegaByte) Như vậy, một ổ cứng 1TB (1TB = 1x1024GB = 1x1024x1024MB = 1x1024x1024x1024 KB) kích thước bằng ½ quyển sách, ta có thể lưu trữ trên 1,7 triệu quyển sách hoặc trên 1,04 triệu tấm ảnh;
Và chỉ mất vài giây, thậm chí là vài mili giây, chúng ta đã có thể truy xuất hay xử lý các thông tin số trên Bởi lẽ, hàng tỉ phép tính trên giây chính là tốc độ tính toán của các máy tính ngày nay; Còn 1 triệu tỉ phép tính trên giây chính là tốc độ của siêu máy tính Roadruner của hãng IBM Chỉ 1 ngày làm
Trang 24Một kết quả nghiên cứu trong năm 2006 của IDC, khối lượng thông tin
đã được số hóa của các bức ảnh, phim, thư điện tử, trang web, tin nhắn trực tuyến, cuộc gọi điện đàm, cùng với các nội dung số khác trên khắp hành tinh là
161 ExaBytes (khoảng 161 tỉ GigaByte); tương đương với 12 chồng sách đều
có chiều dài bằng khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, hoặc gấp 3 triệu lần số lượng thông tin trong tất cả các cuốn sách đã được in ra Để lưu trữ 161 exabyte, chỉ cần có hơn 2 tỉ chiếc iPod trên thị trường Trước đó, một cuộc nghiên cứu tương tự đã được những nhà khoa học của ĐH Berkeley (Mỹ) tiến hành vào năm 2003 cho thấy tổng số lượng thông tin của thế giới sản xuất ra khi đó mới chỉ có 5 ExaByte
Trong xu thế của sự phát triển, số hóa thông tin cũng là một tất yếu, là cơ
sở cho việc tái tạo, phổ biến thông tin và tri thức Ứng dụng CNTT càng nhanh, càng hiệu quả thì lượng thông tin được số hóa cũng tăng theo tương ứng Trong thực tiễn, lượng hóa thông tin số có thể coi là một trong các tiêu chí cho việc đánh giá mức độ hiệu quả của một dự án CNTT nhưng thường bị bỏ qua
+ Đầu vào là thông tin, đầu ra là thông tin hoặc tri thức
Như đã trình bày phần khái niệm, thông tin chính là đối tượng xử lý chủ yếu của CNTT Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của riêng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên những người trực tiếp quản lý quá trình sản xuất, những kỹ sư, những nhà công nghệ Các sản phẩm được tạo ra từ CNTT có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng tăng Trong lĩnh vực phần mềm của CNTT, sản phẩm tạo ra có hàm
Trang 2517
lượng giá trị do trí tuệ kết tinh bên trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm
- Vai trò của công nghệ thông tin
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nước phát triển đã bắt đầu bước vào một nền văn minh mới được gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minh thông tin), lấy tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp Các nước sớm bước vào nền Văn minh tri thức đã xác định bốn trụ cột của nền văn minh này đó là: CNTT, công nghệ nguyên liệu mới, công nghệ năng lượng mới và công nghệ sinh học Trong đó, CNTT được xác định là nhân
tố quan trọng nhất cho sự phát triển và tạo dựng nền Văn minh tri thức CNTT đóng vai trò là công nghệ chìa khoá trong hệ thống các công nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công nghệ lại với nhau, vừa là động lực phát triển chúng
Đối với các nước đang phát triển, nền Văn minh tri thức tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng có những thách thức không nhỏ Các nước đang phát triển đã nhận định rằng, khoảng cách phát triển chính là do khoảng cách về tri thức, rút ngắn được khoảng cách về tri thức sẽ rút ngắn được khoảng cách về phát triển Vì vậy, nhiều nước đã đề ra chiến lược đi tắt vào nền Văn minh tri thức, lấy ứng dụng và phát triển CNTT làm giải pháp hàng đầu để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, tăng tính cạnh tranh của quốc gia trước sự hội nhập kinh tế
Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị đã nêu rõ, ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp,
hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH
Trang 2618
- Vai trò của CNTT đối với phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
+ CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ khác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới đương đại
Kết hợp các phương tiện truyền thông và Internet, CNTT đã tạo ra môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông, đa phương tiện (multimedia) Các công nghệ kết nối này đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, nhờ vậy mà con người có thể thực hiện mua bán, trao đổi thông tin kinh tế - xã hội hay thực hiện học tập, hội nghị từ xa Những công nghệ này kết nối thế giới ngày càng phổ biến, nhanh chóng, dễ dàng và chặt chẽ hơn Chính vì vậy mà CNTT đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa xã hội Từ biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc, thay đổi cách thức chăm sóc y tế và học tập Cụ thể như:
Hơn một tỉ người có thể truy cập internet cùng một lúc và tham gia gặp
gỡ, trao đổi và cập nhật thông tin theo thời gian thực Con người có thể thực hiện giao dịch mua bán trên mạng, trò chuyện với bạn bè trên khắp thế giới
Nhờ ứng dụng CNTT mà ngày nay, năng suất lao động được tăng nhanh, khối lượng công việc của hoạt động thương mại được giải quyết trong một ngày bằng cả năm 1949, một ngày xử lý các dự án khoa học bằng cả năm 1960, số cuộc gọi điện thoại trong một ngày bằng cả năm 1983, số thư điện tử gửi đi trong một ngày bằng cả năm 1990
Thương mại điện tử đang thúc đẩy mạnh mẽ các ngành sản xuất, dịch vụ trên phạm vi toàn cầu Nhờ ứng dụng thương mại điện tử mà các nước đang phát triển, đặc biệt là các công ty nhỏ, các vùng biệt lập, xa xôi có thể dễ dàng tiếp xúc với thị trường rộng lớn ở trong nước cũng như ngoài nước
Một dịch vụ ngân hàng được thực hiện tại chi nhánh tốn 1,14 đôla Mỹ, nhưng qua Internet chỉ tốn có 1 cent (1/100 đôla) Một dịch vụ đăng ký và bán
vé máy bay trung bình tốn 10 đôla Mỹ nhưng qua Internet chỉ còn 1 đô la Mỹ
Trang 2719
Chữa bệnh trên mạng (hướng dẫn, khám bệnh, chẩn đoán, điều trị từ xa) đang trở thành một hình thức phổ biến, có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực cho dân cư ở các vùng còn nghèo nàn, lạc hậu nằm xa các trung tâm y tế
Giáo dục, đào tạo từ xa đang giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy và học tập Người đi học ở khắp mọi nơi có thể thông qua mạng để đăng ký và tham gia học tập
+ CNTT là một ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8% (ở Việt Nam là 23%), tạo ra nhiều việc làm mới Ở các nước có CNTT phát triển, tỷ trọng riêng của ngành công nghiệp CNTT chiếm 10-15% GDP Mỗi quốc gia đều chọn hướng phát triển CNTT riêng cho mình Chẳng hạn như Malaysia chọn phát triển mạnh linh kiện điện tử, Ấn Độ phát triển công nghiệp phần mềm, Trung Quốc chiếm giữ sản xuất thiết bị CNTT Theo các chuyên gia tư vấn, định hướng phát triển CNTT ở Việt Nam nên tập trung vào lĩnh vực gia công phần mềm, đặc biệt là đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao, đây có thể là hướng đi đúng nhất hiện nay Bởi lẽ về lĩnh vực sản xuất phần cứng là các lĩnh vực độc quyền về công nghệ và có xu hướng chia nhỏ ở nhiều quốc gia (theo xu hướng phân công lao động của quá trình toàn cầu hóa); Về lĩnh vực phần mềm, dẫn đầu là Ấn Độ, kế là Trung Quốc Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần ưu tiên các chính sách về phát triển phần mềm, kết hợp với việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
+ CNTT còn là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Cùng với sự phát triển của Internet và viễn thông, CNTT đã từng bước xóa bỏ
đi các rào cản không gian về mặt vật lý giữa các vùng, miền hay giữa các quốc gia với nhau Như đã trình bày, ngày nay, việc mua bán hay học tập, hội thảo qua mạng đã trở nên phổ biến và hơn thế nữa, một người ở quốc này có thể làm thuê cho một công ty ở quốc gia khác đã không còn là vấn đề quá xa lạ Mạng internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra, các công ty có thể hợp tác sản xuất, trao đổi mua bán, quảng bá và mở rộng thị trường của mình ra khắp thế giới
- Vai trò của CNTT đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước
Trang 2820
Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống interrnet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng di chuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin;
Theo mô hình “bốn thành phần, ba chủ thể” của Viện chiến lược Bưu chính viễn thông và CNTT thuộc Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và truyền thông):
Hình 1.2: “Bốn thành phần, ba chủ thể”
Nguồn: [Viện chiến lược BCVT và CNTT, 2005]
CNTT với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình chính trị, kinh tế - xã hội, tiến đến xây dựng Chính phủ điện tử
Đối với các CQNN, nhờ vào khả năng số hóa, xử lý và tái tạo thông tin một cách tự động, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc vi tính hóa các qui trình, thủ tục giấy tờ hiện hành Từ đó, sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính,
Ứng
Hạ tầng nghiệp Công
thúc đẩy phát triển
Trang 2921
tạo ra phong cách lãnh đạo mới, các cách thức mới trong việc xây dựng và quyết định chiến lược, cải tiến các hình thức cung cấp dịch vụ công Kết quả làm tăng tính hiệu quả của quá trình phê duyệt và cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp và cả trong hệ thống các
cơ quan nhà nước
Mặt khác, tính minh bạch của thông tin trong môi trường số sẽ giúp cho việc nâng cao tính minh bạch và tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành, cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề về điều hành và hoạch định chính sách Thông qua internet và một số phương tiện truyền thông khác, việc phổ biến rộng rãi thông tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người dân cũng như quá trình đưa ra quyết định của cơ quan nhà nước Tính minh bạch của thông tin không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn tạo nên sự tin cậy giữa những nhà lãnh đạo và tính hiệu quả trong điều hành; Đồng thời cũng góp phần chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy
cơ quan nhà nước
Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và cơ quan nhà nước nói riêng, CNTT chính là công cụ, phương tiện để nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân; CNTT còn tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các cơ quan nhà nước nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế, xã hội
Ngày nay, lĩnh vực lãnh đạo quản lý cũng như các lĩnh vực khác đều đang chịu sự tác động của CNTT CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của nó Đồng thời, hoạt động lãnh đạo quản lý cũng có tác động lớn đến sự phát triển và ứng dụng CNTT
Việc ứng dụng CNTT là sử dụng những kết quả của CNTT để hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xứ lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và các cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi
Trang 30- Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Ngay từ đầu thập niên 1990, nước ta đã có những chủ trương ứng dụng
và phát triển CNTT, cụ thể như: Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của
Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học"; Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) ngày 30/7/1994 xác định: "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như CNTT phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân"; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh
"Ứng dụng CNTT trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế"; Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 của Chính phủ đã ban hành về "Phát triển CNTT
ở Việt Nam trong những năm 90" Nhưng có thể nói, văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt, có giá trị to lớn và lâu dài trong việc chỉ đạo, tổ chức việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế hoạch và dự án ứng dụng và phát triển CNTT chính là Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chỉ thị đã khẳng định: “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại”
Trang 3123
Theo Chỉ thị 58-CT/TW, ứng dụng CNTT là quá trình đưa CNTT vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh
và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng
và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chỉ thị 58-CT/TW đã là cơ sở cho sự ra đời của Luật CNTT -
Bộ luật đầu tiên trong lĩnh vực CNTT, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/NQ-QH, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đó là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
Với quan điểm ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước như trên, Nghị định 64/2007/NĐ-CP đã đặt ra nhiệm vụ hiện đại hóa nền hành chính và tiến đến xây dựng Chính phủ điện tử
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về Chính phủ điện tử nhưng có một khái niệm được nhiều người chấp nhận là: “Chính phủ ứng dụng CNTT để hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, minh bạch hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và phát huy vai trò làm chủ của người dân mạnh mẽ hơn” Như vậy, với cách hiểu này, việc xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam bắt đầu từ khi các cơ quan nhà nước sử dụng máy tính nâng cao hiệu quả hoạt động và phục vụ người dân tốt hơn [8, tr.10] Điều cần lưu ý, Chính phủ điện tử ở đây phải được hiểu là bao gồm cả hệ thống hành chính, hệ thống Đảng, Viện kiểm soát, Tòa án, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể khác
Như vậy, thực chất của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước là việc xây dựng Chính phủ điện tử; Chính phủ điện tử vừa là
Trang 3224
định hướng, vừa là đích đến của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu về Chính phủ điện tử cũng chính là nghiên cứu việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Trong thực tế, việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói riêng và Chính phủ điện tử nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn Đây vẫn là vấn đề đang được nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới nghiên cứu Do vậy, ở Việt Nam, đa số các bộ, ngành hay các cấp chính quyền địa phương vẫn còn lúng túng, không biết ứng dụng CNTT bắt đầu từ đâu và ứng dụng như thế nào? Kế hoạch triển khai Chính phủ điện tử ra sao? Mặt khác, tài liệu về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước vẫn còn rất ít Hầu hết các tài liệu đều dưới dạng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm từ nhiều nguồn, nhiều nơi khác nhau Có nơi đã áp dụng thành công, có nơi thất bại hoặc không đạt hiệu quả như mong đợi Vấn đề đặt ra cho các cấp cơ quan nhà nước là không thể triển khai ứng dụng rập khuôn mà phải lựa chọn ra các giải pháp phù hợp với điều kiện của mình
1.2.1.2 Tài chính
- Khái niệm về tài chính
Tài chính Nhà nước là một bộ phận hữu cơ của nền tài chính quốc gia
Nó ra đời, tồn tại và phát triển gần với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ Nhà nước xuất hiện đòi hỏi phải có nguồn lực vật chất nhất định để nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội do cộng đồng giao phó Trong nền kinh
tế hàng hoá tiền tệ, các nguồn lực vật chất đó, không những đã được tiền tệ hoá
mà còn ngày càng trở nên dồi dào Chính trong những điều kiện như vậy, tài chính Nhà nước mới ra đời, tồn tại và phát triển Ngày nay, tài chính Nhà nước, không chỉ là công cụ động viên, khai thác mọi nguồn lực tài chính của xã hội tạo nên sức mạnh tài chính của Nhà nước mà còn là công cụ quản lý, điều chỉnh mọi hoạt động kinh tế, xã hội của mọi quốc gia Xuất phát từ tầm quan trọng
đó, sự tồn tại, phát triển tài chính Nhà nước là một đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết
Trang 3325
Gắn với chủ thể là Nhà nước, các quỹ tiền tệ của Nhà nước được tạo lập
và sử dụng gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Nói một cách khác, các quỹ tiền tệ của Nhà nước là tổng số các nguồn lực tài chính đã được tập trung vào trong tay Nhà nước, thuộc quyền nắm giữ của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng cho việc thực hiện các sứ mệnh xã hội của mình Trên quan niệm đó, quỹ tiền tệ của Nhà nước, có thể được xem như là sự tổng hợp của các quỹ tiền tệ chung của Nhà nước và quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước Các quỹ tiền tệ chung của Nhà nước lại bao gồm: Quỹ ngân sách nhà nước (NSNN)
và các quỹ ngoài NSNN
Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước kể trên chính là quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của tài chính Nhà nước Các hoạt động thu, chi bằng tiền đó là mặt biểu hiện bên ngoài của tài chính Nhà nước, còn các quỹ tiền tệ Nhà nước nắm giữ là biểu hiện nội dung vật chất của TCNN
Tuy vậy, cần nhận rõ rằng, quá trình diễn ra các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành trên cơ sở các luật lệ do Nhà nước quy định đã làm nảy sinh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội
Đó chính là các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối và sử dụng các nguồn tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền
tệ của Nhà nước Các quan hệ kinh tế đó chính là mặt bản chất bên trong của tài chính Nhà nước, biểu hiện nội dung kinh tế - xã hội của tài chính Nhà nước
Từ những phân tích trên đây có thể có khái niệm tổng quát về tài chính Nhà nước như sau: Tài chính Nhà nước là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước Tài chính Nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội nảy sinh trong quá trình Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính
- Đặc điểm của tài chính Nhà nước
Trang 3426
+ Đặc điểm về tính chủ thể của tài chính Nhà nước
Tài chính Nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước, do đó Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước Việc sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước, đặc biệt là Ngân sách Nhà nước, luôn luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận
Các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của một quốc gia trong từng thời
kỳ phát triển được quyết định bởi cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước - Quốc hội, do đó, Quốc hội cũng là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các thu, chi Ngân sách Nhà nước - quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước - tương ứng với các nhiệm vụ đã được hoạch định nhằm đảm bảo thực hiện có kết quả nhất các nhiệm vụ đó
+ Đặc điểm về nguồn hình thành thu nhập của tài chính Nhà nước
Xét về nội dung vật chất, tài chính Nhà nước bao gồm các quỹ tiền tệ thuộc quyền nắm giữ và sử dụng của Nhà nước Các quỹ tiền tệ đó là một lượng nhất định các nguồn tài chính của toàn xã hội đã được tập trung vào tay Nhà nước, hình thành thu nhập của tài chính Nhà nước, trong đó NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước Việc hình thành thu nhập của tài chính Nhà nước mà đại diện tiêu biểu là NSNN có các đặc điểm chủ yếu là:
Thứ nhất, Thu nhập của tài chính Nhà nước có thể được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài nước; từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lưu thông và phân phối, nhưng nét đặc trưng là luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nước và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất…
Kết quả của các hoạt động kinh tế trong nước được đánh giá bằng các chỉ tiêu chủ yếu như: mức tăng trưởng GDP, tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế Đó
là các nhân tố khách quan quyết định mức động viên của tài chính Nhà nước
Sự vận động của các phạm trù giá trị khác vừa có tác động đến sự tăng giảm mức động viên của tài chính Nhà nước, vừa đặt ra yêu cầu sử dụng hợp lý các
Trang 35+ Đặc điểm về tính hiệu quả của chi tiêu tài chính Nhà nước
Chi tiêu tài chính Nhà nước là việc phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ (vốn) của Nhà nước Các quỹ tiền tệ của Nhà nước được đề cập ở đây bao gồm quỹ NSNN và các quỹ tài chính nhà nước ngoài NSNN, không bao gồm vốn và các quỹ của doanh nghiệp nhà nước Đối với hoạt động SXKD ở các đơn vị kinh tế cơ sở, hiệu quả của việc sử dụng vốn thường được đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng như: Tổng số lợi nhuận thu được trong kỳ, số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ, hệ số doanh lợi (lợi nhuận/vốn, lợi nhuận/giá thành, lợi nhuận/chi phí)
Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh ở cơ sở, tầm vi mô, việc dựa vào các chỉ tiêu định lượng để đánh giá hiệu quả các khoản chi của tài chính Nhà nước sẽ gặp phải khó khăn và sẽ không cho phép có cái nhìn toàn diện Bởi vì, chi tiêu của tài chính Nhà nước không phải là những chi tiêu gắn liền trực tiếp với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị cơ sở, mà là những chi tiêu gắn liền với việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, tức là gắn liền với việc đáp ứng các nhu cầu chung, nhu cầu có tính chất toàn xã hội - tầm vĩ
mô Mặc dù hiệu quả của các khoản chi tiêu của tài chính Nhà nước trên những khía cạnh cụ thể vẫn có thể đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng như vay nợ, một số vấn đề xã hội… nhưng xét về tổng thể, hiệu quả đó thường được xem xét trên tầm vĩ mô Điều đó có nghĩa là, hiệu quả của việc sử dụng các quỹ tiền
tệ của Nhà nước phải được xem xét dựa trên cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu kinh tế -xã hội đã đặt ra mà các khoản chi của tài chính Nhà nước phải đảm nhận Thông thường việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính Nhà
Trang 3628
nước dựa vào hai tiêu thức cơ bản: kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Kết quả ở đây được hiểu bao gồm: kết quả kinh tế và kết quả xã hội, kết quả trực tiếp và kết quả gián tiếp
+ Đặc điểm về phạm vi hoạt động của tài chính Nhà nước
Gắn liền với bộ máy Nhà nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế, phạm vi ảnh hưởng của tài chính Nhà nước rất rộng rãi, TCNN có thể tác động tới các hoạt động khác nhau nhất của mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội Thông qua quá trình phân phối các nguồn tài chính, TCNN có khả năng động viên, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia vào tay Nhà nước từ mọi lĩnh vực hoạt động, từ mọi chủ thể kinh tế xã hội; đồng thời, bằng việc sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước, TCNN có khả năng tác động tới mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, đạt tới những mục tiêu đã định
- Chức năng của tài chính Nhà nước
Như đã biết, phạm trù tài chính vốn có hai chức năng là phân phối và giám đốc Là một bộ phận của tài chính nói chung, tài chính Nhà nước cũng có những chức năng khách quan như vậy Tuy nhiên, do tính đặc thù của nó là luôn gắn liền với Nhà nước và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý vĩ
mô nền kinh tế, vậy có ba chức năng: phân bổ nguồn lực, tái phân phối thu nhập, điều chỉnh và kiểm soát
+ Chức năng phân bổ nguồn lực
Chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính Nhà nước là khả năng khách quan của TCNN mà nhờ vào đó các nguồn tài lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp xếp, phân phối một cách có tính toán, cân nhắc theo những tỷ lệ hợp lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế - xã hội của việc
sử dụng các nguồn tài lực đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và
ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Đương nhiên, ngày nay trong một nền kinh tế đang chuyển đổi như ở nước ta, việc phân bổ nguồn lực không chỉ duy nhất do TCNN thực hiện
Trang 37xã hội dưới sự điều khiển của Nhà nước
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, với việc Nhà nước từ bỏ dần những
sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế - xã hội, để chủ yếu thực hiện chức năng quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, việc bao cấp nguồn tài chính từ Ngân sách Nhà nước cho các hoạt động kinh tế xã hội cũng giảm dần Trong điều kiện mới đó, chức năng phân bổ của TCNN cho các hoạt động kinh
tế xã hội cũng được sử dụng theo cách khác hơn Các nguồn lực tài chính từ Ngân sách được phân bổ có sự lựa chọn, cân nhắc, tính toán hơn, có trọng tâm, trọng điểm hơn Điều đó thể hiện xu hướng mới trong việc sử dụng chức năng này của TCNN
Vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực của TCNN vào đời sống thực tiễn, con người tổ chức quá trình động viên các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của Nhà nước để tạo lập các quỹ tiền tệ của Nhà nước và quá trình phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ đó cho các mục đích đã định
Trong các quá trình kể trên, Nhà nước là chủ thể phân bổ với tư cách là người có quyền lực chính trị, hoặc là người có quyền sở hữu, hoặc là nguời có quyền sử dụng các nguồn tài chính và các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của Nhà nước chính là đối tượng phân bổ
Trang 38mẽ tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính; thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế - xã hội bằng việc tính toán, sắp xếp các tỷ lệ cân đối quan trọng trong phân bổ các nguồn tài chính Một sự phân bổ như thế sẽ là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển vững chắc và ổn định của nền kinh tế
Những kết quả cần phải đạt được đó của sự phân bổ có thể coi là những tiêu chuẩn để đánh giá mức độ đúng đắn, hợp lý của việc sử dụng công cụ tài chính Nhà nước trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính Bên cạnh các tiêu chuẩn đó, đòi hỏi sự phân bổ phải được tính toán trên cơ sở thực lực nguồn tài chính của toàn xã hội và của Nhà nước, có cân nhắc cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước trong từng thời kỳ và theo sát các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng là một tiêu chuẩn không kém phần quan trọng
Chức năng phân bổ nguồn lực của TCNN là chức năng được đề cập với
sự quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh kinh tế của sự phân phối Phân bổ nguồn lực tài chính qua TCNN mà Nhà nước là chủ thể phải nhằm đạt tới các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là hiệu quả, ổn định và phát triển
Nhằm đạt những mục tiêu kể trên, phân bổ nguồn lực tài chính của TCNN phải chú ý xử lý mối quan hệ giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân Những tỷ lệ hợp lý trong phân bổ nguồn lực tài chính sẽ đảm bảo nâng cao tính hiệu quả trên cả hai khía cạnh thuế khoá và chi tiêu của Nhà nước, từ
đó, có tác dụng vừa thúc đẩy tập trung vốn vào tay Nhà nước, vừa thúc đẩy tích
tụ vốn ở các đơn vị cơ sở; vừa thúc đẩy tăng tiết kiệm trong khu vực Nhà nước, vừa thúc đẩy tăng tiết kiệm và tăng đầu tư trong khu vực tư nhân
+ Chức năng tái phân phối thu nhập
Trang 3931
Chức năng phân phối và tái phân phối thu nhập của TCNN là khả năng khách quan của TCNN mà nhờ vào đó TCNN được sử dụng vào việc phân phối, phân phối lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phân phối và hưởng thụ kết quả của sản xuất xã hội
Trong chức năng này, chủ thể phân phối là Nhà nước chủ yếu trên tư cách là người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân phối là các nguồn tài chính đã thuộc sở hữu nhà nước hoặc đang là thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà Nhà nước tham gia điều tiết
Công bằng trong phân phối biểu hiện trên 2 khía cạnh là công bằng về mặt kinh tế và công bằng về mặt xã hội Như đã biết, công bằng về kinh tế là yêu cầu nội tại của nền kinh tế thị trường Do giá cả thị trường quyết định mà việc đưa các yếu tố vào (chi tiêu) và việc thu nhận các yếu tố (thu nhập) là tương xứng với nhau, nó được thực hiện theo sự trao đổi ngang giá trong môi trường cạnh tranh bình đẳng Chẳng hạn, việc phân phối vật phẩm tiêu dùng cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc phân phối theo lao động, trong đó, cá nhân bằng việc bỏ ra lao động mà có được thu nhập, nhưng thu nhập mà họ nhận được (thù lao cho lao động) là tương xứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ bỏ ra Đó là sự công bằng về kinh tế
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, do những yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế hoặc các cá nhân không giống nhau, do sự không giống nhau về sức khoẻ, độ thông minh bẩm sinh, hoàn cảnh gia đình…
mà thu nhập của các chủ thể kinh tế hoặc của các cá nhân có sự chênh lệch Sự chênh lệch thu nhập này vượt quá giới hạn nào đó sẽ dẫn đến vấn đề không công bằng xã hội Như vậy, công bằng xã hội là yêu cầu của xã hội trong việc duy trì sự chênh lệch về thu nhập trong mức độ và phạm vi hợp lý thích ứng với từng giai đoạn mà xã hội có thể chấp nhận được
Trong lĩnh vực này, tài chính Nhà nước, đặc biệt là Ngân sách Nhà nước, được sử dụng làm công cụ để điều chỉnh lại thu nhập mà các chủ thể trong xã hội đang nắm giữ Sự điều chỉnh này được thực hiện theo hai hướng là điều tiết bớt các thu nhập cao và hỗ trợ các thu nhập thấp Đối với những thu nhập do thị
Trang 4032
trường hình thành như tiền lương của người lao động, lợi nhuận doanh nghiệp, thu nhập về cho thuê, thu nhập về tài sản, thu nhập về lợi tức cổ phần… thì chức năng của tài chính Nhà nước là thông qua việc phân phối lại để điều tiết Những nhu cầu như y tế, bảo vệ sức khoẻ, phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội… thì tài chính Nhà nước thực hiện sự phân phối tập trung, hỗ trợ thu nhập từ nguồn tài chính đã được tập trung trong tay Nhà nước (cùng với việc thực hiện
xã hội hoá và đa dạng hoá các nguồn tài chính cho các hoạt động này)
Những phân tích kể trên cho thấy tái phân phối thu nhập trở thành một đòi hỏi khách quan của xã hội Kết quả của việc thực hiện chức năng này của tài chính Nhà nước chính là nhờ vào nó có thể điều chỉnh để có được một khoảng cách hợp lý về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư nhằm hướng tới mục tiêu công bằng xã hội cho mọi thành viên xã hội
Khác với chức năng phân bổ nguồn lực, chức năng tái phân phối thu nhập của tài chính Nhà nước được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn tới khía cạnh xã hội của sự phân phối
+ Chức năng điều chỉnh và kiểm soát
Chức năng điều chỉnh và kiểm soát của TCNN là khả năng khách quan của TCNN để có thể thực hiện việc điều chỉnh lại quá trình phân phối các nguồn lực tài chính và xem xét lại tính đúng đắn, tính hợp lý của các quá trình phân phối đó trong mọi lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân
Đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của TCNN trước hết là quá trình phân
bổ các nguồn lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước Nói khác đi, đó là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ mà Nhà nước nắm giữ Tuy nhiên cần nhận rõ rằng, việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước lại luôn có mối liên hệ hữu cơ với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của mọi chủ thể kinh tế - xã hội khác và được tiến hành trên cơ sở các chính sách, chế độ do Nhà nước quy định Do đó, đối tượng điều chỉnh và kiểm soát của TCNN không chỉ là bản thân quá trình phân phối của TCNN mà còn là các quá trình phân phối các nguồn tài chính ở mọi chủ thể kinh tế xã hội theo các yêu cầu đặt ra của các chính sách thu, chi tài chính