1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giáo dục tư tưởng học sinh khi giảng dạy chương 9. hạt nhân nguyên tử, vật lý 12 nc theo phương pháp thực nghiệm

88 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nội dung của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã được khẳng định rõ trong nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng CSVN: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, kh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THEO PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

MSSV: 1100255 Lớp: SP Vật Lý K36

Cần Thơ, 5/2014

Trang 2

Lời cảm ơn

Sau một thời gian dài nghiên cứu em đã hoàn thành luận văn của

mình Đó là kết quả của sự cố gắng của bản thân; Sự hướng dẫn tận

tình của quý thầy cô trong những năm vừa qua

Để ghi nhớ công ơn trên em xin chân thành cảm ơn tất cả thầy cô

trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Sư Phạm và Bộ Môn Vật lý

Đặc biệt, em xin thành thật cảm ơn ThS-GVC Trần Quốc Tuấn

đã tận tình chỉ dẫn cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối lời, xin kính chúc quý thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe và

công tác tốt

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn chế

và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của quý

thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trân trọng Sinh viên thực hiện Nguyễn Văn Thanh

Trang 3

Nhận xét của giảng viên hướng dẫn

Cần Thơ, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài. 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3.Giả thuyết khoa học 2

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5.Phương pháp nghiên cứu. 2

6 Đối tượng nghiên cứu 2

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 2

8 Các chữ viết tắt trong luận văn 3

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCVẬT LÝ Ở THPT 4

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông. 4

1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 4

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học. 4

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học. 5

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều. 5

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS. 6

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 7

1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá

trình dạy học. 7

1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lý phổ thông. 8

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý cơ bản, phù hợp với những quan điểm

hiện đại. 8

1.3.2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng. 9

1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm. 9

1.4 Những định hướng đổi mới PP dạy học Vật lý theo chương trìnhTHPT mới 9

1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập. 9

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề. 10

1.4.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức Vật lý. 11

1.4.4 Tận dụng những phương tiện DH mới, trang thiết bị thí nghiệm mới, phát huy

tính sáng tạo của giáo viên trong việc làm, sử dụng đồ dùng dạy học. 11

1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học. 13

Trang 5

1.5.1 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học. 13

1.5.2 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 14

1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá. 15

1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá. 15

1.6.2 Các hình thức kiểm tra. 17

1.6.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá. 18

1.6.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra. 19

Chương 2 GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHO HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 20

2.1 Tầm quan trọng 20

2.2 Khái niệm về giáo dục tư tưởng. 21

2.3 Đặc điểm của giáo dục tư tưởng trong dạy học vật lý. 21

2.4 Giáo dục thế giới quan khoa học. 22

2.4.1 Nội dung thế giới quan khoa học trong giáo trình vật lý. 22

2.4.2 Phương pháp thực hiện nội dung giáo dục thế giới quan khoa học 26

2.5 Giáo dục nhân sinh quan. 27

2.5.1 Giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH và hợp tác quốc tế. 27

2.5.2 Giáo dục thái độ đối với lao động và môi trường 29

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 32

3.1 Tầm quan trọng của PPTN trong chương trình THPT mới 32

3.2 Phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học vật lý. 33

3.2.1 Vai trò của PPTN trong quá trình nhận thức sáng tạo của khoa học vật lý. 33

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 34

3.3 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý. 35

3.3.1 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý. 35

3.3.2 Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý 35

3.3.3 Hướng dẫn HS hoạt động trong mỗi giai đoạn của PPTN 36

3.3.4 Phối hợp PPTN và các PP nhận thức khác trong dạy học vật lý. 39

3.4 Áp dụng PPTN trong dạy học một số bài ở THPT 40

3.5 Tổ chức dạy học VL theo PPTN ở THPT 42

3.5.1 Các dạng hoạt động của HS trong khi áp dụng PPTN 42

3.5.2 Rèn luyện cho HS những kĩ năng cần thiết khi áp dụng PPTN 42

3.5.3 Quan hệ giữa bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS và rèn luyện áp dụng PPTN 43

3.5.4 Các mức độ áp dụng PPTN trong dạy học vật lý ở TPT 44

3.6 Những sự chuẩn bị cần thiết để áp dụng PPTN 44

Trang 6

Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONGCHƯƠNG 9 HẠT NHÂN

NGUYÊN TỬ, VẬT LÝ 12 NC 45

4.1 Đại cương về chương 9 Hạt nhân nguyên tử. 45

4.1.1 Mục đích. 45

4.1.2 Kiến thức kỹ năng. 45

4.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung. 46

4.2 Thiết kế một số giáo án bài học: 47

4.2.1 Bài 53 Phóng xạ. 47

4.2.2 Bài 54 Phản ứng hạt nhân. 55

4.2.3 Bài 56 Phản ứng phân hạch. 62

4.2.4 Bài 57 Phản ứng nhiệt hạch 70

Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74

5.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm. 74

5.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm. 74

5.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm. 74

5.4 Kế hoạch giảng dạy. 74

5.5 Tiến trình thực hiện các bài dạy. 74

5.5.1 Bài 53 Phóng xạ 74

5.5.2 Bài 54 Phản ứng hạt nhân 74

5.5.3 Bài 56 Phản ứng phân hạch 74

5.5.4 Bài 57 Phản ứng nhiệt hạch 74

5.6 Kết quả thực nghiệm 74

5.6.1 Đề kiểm tra. 74

5.6.2 Kết quả kiểm tra. 80

5.6.3 Nhận xét và đánh giá. 80

PHẦN KẾT 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang hội nhập cùng với cộng đồng quốc tế kéo theo

sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt: kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin,…Bên cạnh những thuận lợi to lớn ấy là sự cạnh tranh khóc liệt, phải đầy đủ bản lĩnh để có thể làm chủ đất nước trong tình hình mới Có thể khẳng định rằng: không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hóa Ý thức được

điều đó, Đảng ta đã thực sự coi “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Hội nghị TW4 khóa VII đã khẳng định “Giáo dục – Đào tạo là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai” Nghị quyết TW2 khóa VIII đã tiếp tục khẳng định “ Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại

hóa thắng lợi phải phát triển mạnh và bền vững” Đại hội đảng lần X (2006) tiếp tục nhấn

mạnh Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển

Bên cạnh đó, xuất phát từ những nhiệm vụ cơ bản của dạy học vật lý ở THPT là hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Làm cho HS hiểu rõ thế giới quan tự nhiên là vật chất, vật chất luôn trong trạng thái vận động và vận động theo quy luật Củng cố lòng tin ở khoa học, ở khả năng nhận biết ngày càng chính xác và khoa học và đầy đủ các quy luật tự nhiên của con người Góp phần giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần hợp tác quốc tế và thái độ đối với lao động, với môi trường học sinh Bồi dưỡng cho họ phẩm chất, nhân cách người lao động có tri thức, có đạo đức

Mục tiêu và nội dung của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đã được khẳng định

rõ trong nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng CSVN: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp

giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ vào phong trào tự học, tự đào tạo”.[5, tr 50]

Định hướng đổi mới PPDH Vật lý THPT bên cạnh việc truyền thụ kiến thức cơ bản chúng ta cần coi trọng việc giáo dục tư tưởng cho học sinh Đòi hỏi GV hướng dẫn hành động để HS khi ra trường có năng lực tiếp thu tự học, tự nghiên cứu sáng tạo giải quyết vấn đề thực tiễn

Bác đã dạy thế hệ thanh niên: “ có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Chúng ta đã thấy Bác đã coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ như thế nào

Trang 8

Vì vậy, là người GV vật lý trong tương lai, em đã nhận thức được rõ tầm quan trọng

của vấn đề trên nên em đã chọn đề tài: “ Giáo dục tư tưởng học sinh khi giảng dạy

chương 9 Hạt nhân nguyên tử, vật lý 12 nâng cao, theo phương pháp thực nghiệm.”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc giáo dục tư tưởng cho HS khi giảng dạy chương 9 Hạt nhân nguyên

tử, vật lý 12 nâng cao, theo phương pháp thực nghiệm

3 Giả thuyết khoa học

Vận dụng LLDH hiện đại, có thể áp dụng giáo dục tư tưởng cho HS khi giảng dạy chương 9 Hạt nhân nguyên tử, vật lý 12 nâng cao, theo phương pháp thực nghiệm

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới PPDH Vật lý ở trườngTHPT

Nghiên cứu cơ sở lí luận cũng như ý nghĩa và tầm quan trọng của việc GD tư tưởng cho HS

Vận dụng soạn giảng thử nghiệm một số bài trong chương 9 Hạt nhân nguyên tử, Vật

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu:

 Nghiên cứu các phương pháp trong các tài liệu về PPDH vật lý

Nghiên cứu cơ sở lý luận về lý luận dạy học vật lý

Thực nghiệm sư phạm

6 Đối tượng nghiên cứu:

Các hoạt động dạy học của GV và HS trong đó thể hiện các biện pháp thực hiện việc giáo dục tư tưởng của HS trong DHVL ở THPT

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài:

 GĐ 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với thầy HD nhận đề tài nghiên cứu

 GĐ 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết

 GĐ 3: Hoàn thành cơ sở lí luận của đề tài

Trang 9

GĐ 4: Nghiên cứu nội dung và PP xây dựng chương 9 Hạt nhân nguyên tử, VL

12NC

 GĐ 5: Tiến hành Thực nghiệm SP ở THPT

 GĐ 6: Hoàn chỉnh đề tài và chuẩn bị báo cáo bằng Power Point

 GĐ 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp

8.Các chữ viết tắt trong luận văn

 Công nghiệp hoá: CNH

 Hiện đại hoá: HĐH

Trang 10

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

VẬT LÝ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông

1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta

Mục tiêu của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập… Do đó đất nước đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức

mà công nghệ nhân loại đã tích lũy mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi

Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động PPDHTC hướng tới việc tích cực hóa hoạt động học tập của

HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy

Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDH tích cực nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho học sinh Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDH tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành

tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng nề về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải minh họa học trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo ra con người có tính tích cực cá nhân, tư duy sáng tạo khả năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới nền giáo dục nước ta chuyển từ trang bị cho học sinh kiến thức sang rèn luyện cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một phương pháp dạy học mới có khả năng thực hiện mục tiêu nói trên Nghị quyết TW2,

Trang 11

khóa III của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo

dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện tư duy sáng tạo của người

học…” [5, tr 50]

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết TW 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết TW 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999)

Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được các tác giả sách quán triệt vào quá trình lựa chọn nội dung SGK, vào việc trình bày SGK và sách giáo viên Giáo viên và cán

bộ quản lí trường trung học phổ thông cần nắm được những yêu cầu và quy trình đổi mới phương pháp dạy học Đặc biệt cán bộ quản lí chịu trách nhiệm trực tiếp việc này cần quan tâm và đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở đúng tầm của nó trong sự phối hợp với các hoạt động toàn diện của nhà trường Ban giám hiệu cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên và cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học thích hợp với môn học, đặc điểm học sinh, điều kiện dạy và học ở địa phương làm cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ngày càng được mở rộng và có hiệu quả hơn Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “ GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra,

đánh giá; còn học sinh thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại”

Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo

Trang 12

hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào

sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng

năng lực sáng tạo cho học sinh

Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của học sinh thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với học sinh Đối với Vật lý học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS

Thực tế cho thấy bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua hoạt động tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kỹ thuật là rất hiện đại của ngày hôm nay thì trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Ta có thể kể rất nhiều ví dụ: sự phát triển của máy tính điện tử, máy thu thanh, thu hình, máy ghi âm, điện thoại, máy ảnh…Do những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin bởi vì những điều học được trong nhà trường rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời phải tự học thêm nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đại Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải biết tự lực động não để tiếp thu những điều mình học Không ai có thể học thay ai Vì vậy, trong những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS Chẳng hạn:

- Tập cho học sinh phương pháp đọc sách

- Phát phiếu học tập ở nhà cho học sinh

- Tập cho HS làm quen với các phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp tương tự,…

Bên cạnh đó việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng năng và một bên là sự hạn hẹp về thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho HS tự

Trang 13

Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng thêm yếu Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho HS ở các lớp trên

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua

đó mà phát triển năng lực sáng tạo Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức

và phát triển được năng lực

1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học

Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm

và đã đạt được những kết quả khả quan

Theo hướng đổi mới ta nên quan tâm phát triển một số phương pháp sau:

Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề nào đó trước tập thể

 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề

Phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện,

Trang 14

đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời

và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh

 Dạy học với hình thức tổ chức hội thảo

Hình thức tổ chức hội thảo là người dạy tổ chức và điều khiển các thành viên trong lớp học trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về nội dung học tập, qua đó đạt được mục đích dạy học

Hai hoặc nhiều người trao đổi ý kiến với nhau, ta nói họ đang thảo luận Thảo luận có thể áp dụng với mọi hoạt động ở lớp học đòi hỏi có sự tham gia hợp tác để tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề được đặt ra trong bài học GV là người nêu vấn đề, khích lệ người học thảo luận nhằm đạt mục đích của bài học, do đó hình thức này cần sự tham gia tích cực của tất cả người học

 Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ

Dạy học với hình thức hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề đã nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ GV

1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lý phổ thông

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại

Các khái niệm về sự vật, hiện tượng và các quá trình thường gặp trong đời sống và sản

Trang 15

Các đại lượng, các định luật và nguyên lý vật lý cơ bản

Những nội dung chính của một số thuyết vật lý quan trọng nhất

Những ứng dụng phổ biến của vật lý trong đời sống và sản xuất

Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của vật lý, trước hết là PPTN và PPMH

1.3.2 Rèn luyện và phát triển kỹ năng

Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lý trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra; sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau

để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn vật lý

Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lý, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lý đơn giản

Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật

lý, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra

Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và các quá trình vật lý giải các bài tập vật lý và giải quyết các vấn đề vật lý đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức

Trang 16

đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí giáo viên nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng

Lúc đầu học sinh chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trong hơn là khi quen với cách học mới, học sinh sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu học sinh tự học ở lớp và ở nhà GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được kiên quyết không làm thay học sinh điều gì mà họ có thể

tự làm được trên lớp hay ở nhà

Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu học sinh cố gắng một chút là có thể hoàn thành được

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho học sinh thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, GV vừa tạo cho học sinh nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo; vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo

Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã có của mình không đủ để giải quyết

Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu học sinh tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả

Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:

 Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

 Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát

Trang 17

 Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

 Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới

 Phát biểu kết luận

1.4.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức Vật lý

Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên

Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho học sinh làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu học sinh đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn

Về phương pháp mô hình: Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học

Về phương pháp tương tự: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát

Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :

 Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối tượng đã biết định đem đối chiếu

 Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng Kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng đã biết

 Chuyển dấu hiệu khác biệt của đối tượng đã biết cho đối tượng nghiên cứu bằng suy luận tương tự

 Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận thu được (hoặc các hệ quả của chúng) bằng thực nghiệm ở chính đối tượng nghiên cứu

1.4.4 Tận dụng những phương tiện DH mới, trang thiết bị thí nghiệm mới, phát huy tính sáng tạo của giáo viên trong việc làm, sử dụng đồ dùng dạy học

- Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị DH

Trang 18

Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm

Sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ là minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp

Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường

Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện dạy học, thiết bị

DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm

Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị DH

- Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị DH:

Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biễu diễn được quá trình biến đổi

Tăng cường sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS

có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm

Tận dụng phương tiện DH, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập

Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện DH, thiết bị DH:

 Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH

 Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi PP

Trang 19

 Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT

 Sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH không phải nhằm thí điểm DH với CNTT mà còn góp phần DH về CNTT

 Sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH, không phải chỉ để thực hiện DH với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả trong điều kiện không có máy

1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học

1.5.1 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học

Hoạt động: Kiểm tra kiến thức cũ

- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá

Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Quan sát, theo dõi giáo viên đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Tạo tình huống học tập

- Trao nhiệm vụ học tập

Hoạt động: Thu thập thông tin

- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu

- Yêu cầu HS hoạt động

- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

Trang 20

Hoạt động: Xử lí thông tin

- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị …nhận xét về tính

quy luật của hiện tượng

- Trả lời các câu hỏi của GV

- Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc

- Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp

- Tổ chức hợp thức hóa kết luận

- Hợp thức về thời gian

Hoạt động: Truyền đạt thông tin

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn

đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

- Hướng dẫn mẫu báo cáo

Hoạt động: Củng cố bài giảng

- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Ghi câu hỏi bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị cho bài sau

- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

1.5.2 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập

Tên bài : ………

Trang 21

Tiết : ………theo phân phối chương trình

A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ )

Hoạt động 1 (…phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)

Hoạt động 2 (…phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1

Hoạt động 3 (…phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2

Hoạt động i (…phút): Đơn vị, kiến thứ kĩ năng i

Hoạt động n-1 (…phút): Vận dụng, củng cố

Hoạt động n (…phút): Hướng dẫn về nhà

D Rút kinh nghiệm

Ghi những nhận xét của giáo viên sau khi dạy xong

1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá

1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá

Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để

HS học tập ngày một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới PPDH được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng

Trang 22

Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó có hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò Đánh giá thực chất sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học

Chất lượng học được xem là sản phẩm đầu ra sau một quá trình tác động có chủ đích của hoạt động dạy học Tác động của quá trình dạy học bao gồm nhiều yếu tố dựa trên một

hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, chương trình sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên, quản lí dạy học…Từ đó sản phẩm được hình thành và tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo của quá trình giáo dục Không như chất lượng của các loại sản phẩm khác, sản phẩm của quá trình dạy học làm nên chất lượng học tập sau khi đã được xác nhận có thể thay đổi theo cả hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực

Trong quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi HS được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ Đánh giá chất lượng học tập các môn của HS thực chất là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà học sinh đã đạt được sau một giai đoạn học tập

Tham gia vào quá tình học tập, HS có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học định ra và yêu cầu HS phải đạt được Mức độ đạt được các tri thức đó so với yêu cầu tạo nên những giá trị của sản phẩm

mà quá trình dạy học đạt được Mục tiêu môn học đã đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ “Chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, yêu cầu thái độ” thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông và thể hiện qua sách giáo khoa Trong quá trình dạy học, GV phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đề ra Kiểm tra xem HS đạt được những yêu cầu về mặt mức độ so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu

Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức độ cao nhất thể hiện ở chất lượng đào tạo học sinh Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự điều chỉnh bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi học sinh Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lí giáo dục, các giáo viên và bản thân HS có

Trang 23

những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học

Đổi mới PPDH là điều kiện quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả dạy học Đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực học sinh

Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mọi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình Đánh giá ở những thời điểm cuối của mỗi giai đoạn sẽ trở thành điểm khởi của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với nhu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục

Đánh giá thường xuyên và định kì sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, từng cấp học Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá; khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho học sinh thói quen học đối phó, học tủ, học lệch, học không “tư duy”

 Trắc nghiệm đúng sai

 Trắc nghiệm điền khuyết

 Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)

Trang 24

 Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần thông tin

 Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông

 Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút

 Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần, môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có: kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm

1.6.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá

Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá

 Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học; kết quả kiểm tra, thi đủ độ tin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh

 Tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học

 Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học

 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá

 Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn, mỗi cấp học

 Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng

 Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót

 Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích HT của HS mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học

 Đánh giá kết quả học tập của học sinh, thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập Tạo điều kiện cho học sinh cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập

 Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hành chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì

 Từng bước nâng cao chất lượng đề kiểm tra, thi đảm bảo vừa đánh giá được đúng chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao

 Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương của các

đề thi

Trang 25

 Đa dạng hóa công cụ đánh giá; sử dụng tối đa công nghệ thông tin trong quy trình tổ chức, kiểm tra, đánh giá

Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá:

 Đảm bảo tính toàn diện

 Đảm bảo độ tin cậy

 Đảm thi tính khả thi

 Đảm bảo yêu cầu phân hóa

 Đảm bảo hiệu quả cao

1.6.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra

Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là: lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ

B.S Bloom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá

a Nhận biết (knowledge) là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây nghĩa là

một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu,

từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp

b Thông hiểu (comprehension) là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các

khái niệm, hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được

c Vận dụng (application) là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn

cảnh cụ thể mới: vận dụng, nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

d Phân tích (analysis) là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông

tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

e.Tổng hợp (synthesis) là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các

nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới

f Đánh giá (evaluation) là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận

định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức

Trang 26

Chương 2 GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG CHO HỌC SINH TRONG

DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Giáo dục tư tưởng, đạo đức luôn là nhiệm vụ hàng đầu của nhà trường phổ thông Nội dung chủ yếu của giáo dục tư tưởng bao gồm hai mặt: giáo dục thế giới quan và giáo dục nhân sinh quan Thế giới quan bao gồm những quan điểm về sự tồn tại và sự vận động của thế giới khách quan, còn nhân sinh quan là quan điểm, thái độ ứng xử của mỗi người trong cộng đồng xã hội Thế giới quan và nhân sinh quan sẽ chỉ đạo hành vi của mỗi người khi tiếp xúc với tự nhiên và xã hội Có thế giới quan đúng đắn, con người sẽ hành động phù hợp với quy luật tự nhiên, nên có thể làm cho hiện tượng tự nhiên diễn ra theo chiều hướng

có lợi cho con người Bản thân con người cũng là một thực thể khách quan vận động và phát triển có quy luật; cho nên, thế giới quan đúng đắn giúp cho thái độ ứng xử giữa con người với nhau đúng đắn Ngược lại, nhân sinh quan đúng đắn không chỉ dừng lại ở thái

độ ứng xử giữa con người với nhau mà còn định hướng cho con người trong việc khai thác

tự nhiên phục vụ lợi ích của người Mỗi môn học đều phải thực hiện cả hai mặt đó của giáo dục tư tưởng Tuy nhiên, do đặc điểm của mỗi môn học mà nội dung giáo dục và cách làm cụ thể khác nhau Môn vật lý ở TPT không có nhiều điều kiện thuận lợi để giáo dục thế giới quan khoa học cho học sinh, ta cần biết tận dụng khả năng đó

Nghị quyết Hội nghị thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển chiến lược giáo dục - đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã chỉ rõ: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát triển tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy

Trang 27

tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “ Hồng” vừa “Chuyên” như lời dặn của Bác Hồ

Hoạt động dạy học là một hoạt động có ý thức, có mục đích rõ rệt Nền giáo dục của chúng ta đào tạo học sinh phải có giác ngộ cách mạng, có tư tưởng chính trị vững vàng Có trình độ KH-KT và văn hóa cần thiết, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng và nhân dân giao cho

Nhiệm vụ của dạy học là phải bồi dưỡng, khắc sâu cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan CSCN, chủ nghĩa vô thần, lòng ham mê và cố gắng học tập… Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ này và đều có thế mạnh riêng trong việc thực hiện nó Tuy nhiên, môn VL có điều kiện và hiệu quả rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng HS và đó cũng là ưu thế của người giáo viên VL

2.2 Khái niệm về giáo dục tư tưởng

Tư tưởng là hệ thống quan điểm của con người về thiên nhiên và xã hội, là phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh Giáo dục tư tưởng cho học sinh chính là hình thành cho họ thế giới quan duy vật biện chứng, niềm tin vào khả năng nhận thức và cải tạo thế giới con người Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần hợp tác quốc tế, thái độ đối với lao động và thế giới xung quanh

2.3 Đặc điểm của giáo dục tư tưởng trong dạy học vật lý

Dạy học là một hoạt động có phương hướng, có mục đích, được tổ chức trong hệ thống các nhà trường, các lớp học nhằm đào tạo đội ngũ người lao động không những có tri thức, có tay nghề, năng động, sáng tạo mà còn thế giới quan, nhân sinh quan, có phẩm chất, nhân cách người công dân trong văn minh xã hội hiện đại Đó là một trong những nhiệm vụ, chức năng quan trọng của dạy học vật lý nói riêng, của quá trình dạy học và giáo dục nói chung

Vật lý và triết học có mối quan hệ chặt chẽ, triết học được soi sáng bởi những thành tựu của vật lý học, đồng thời vật lý học vận dụng và chịu ảnh hưởng sâu sắc phương pháp luận, nhận thức luận của triết học Môn vật lý với đặc điểm nội dung, tư tưởng và phương pháp cụ thể có khả năng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh

Giáo dục là một hoạt động cộng đồng của giáo viên và học sinh trong môi trường cụ thể, nhân tố quan trọng có tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của học sinh trong quá

Trang 28

trình dạy học là trình độ trí tuệ và niềm tin khoa học của giáo viên Như vậy, chỉ có bằng vốn hiểu biết khoa học, hiểu biết thực tiễn sâu sắc, bằng tấm lòng nhiệt tình và với hệ thống biện pháp thích hợp, chúng ta mới có thể hình thành cho học sinh quan niệm đúng đắn về thế giới, về con người và rèn luyện những phẩm chất cần thiết ở họ

Giáo dục tư tưởng là một quá trình liên tục, một công việc không thể gượng ép cưỡng bức mà phải bằng con đường tri thức khoa học, những lí giải, minh họa tin cậy; Bằng niềm tin, sự cảm hóa và đức tính kiên nhẫn

2.4 Giáo dục thế giới quan khoa học

2.4.1 Nội dung thế giới quan khoa học trong giáo trình vật lý

Thế giới quan khoa học hiện đại thực chất là thế giới quan duy vật biện chứng, bao gồm các vấn đề về sự tồn tại của vật chất, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức và các quy luật tổng quát của của sự vận động của vật chất Trong dạy học vật lý ở trường phổ thông,

ta không đưa ra dạng tường minh những khái niệm, quan niệm triết học về các vấn đề trên, nhưng có nhiều cơ hội để đưa ra các cơ sở thực tiễn của những quan niệm trên, làm cho học sinh cảm nhận được và tin tưởng ở sự đúng đắn của các bằng chứng thực tiễn, góp phần hình thành những quan niệm trên

a) Thế giới vật chất tồn tại khách quan

Vật lý học là một môn khoa học nghiên cứu về tự nhiên Việc đầu tiên là phải quan sát

tự nhiên, nhận biết sự tồn tại của thế giới tự nhiên bằng các giác quan của mình Tiếp theo

là phải xây dựng những khái niệm vật lý để phản ánh những thuộc tính bản chất của thế giới khách quan Khoa học vật lý xây dựng trên những khái niệm đó Nhưng các khái niệm vật lý đều có tính chất khái quát và trù tượng Bởi vậy, ngay từ khi học những khái niệm đầu tiên về vật lý, phải chú ý làm sáng tỏ thực tiễn, nguồn gốc thực chất của các khái niệm

Ví dụ: khi xây dựng khái niệm “lực”, cần luôn luôn chú ý làm nổi bật ý “ lực là đại lượng đặc trưng tương tác giữa vật này với vật khác” Khi nói rằng: có một lực tác dụng lên vật A thì có nghĩa rằng chắc chắn có vật B (một thực tế vật chất) thực hiện tác dụng đó Trong mọi trường hợp khi nói có lực tác dụng, ta đều phải chỉ ra được “vật tác dụng” đó Điều này sẽ làm cho học sinh ngày càng tin tưởng rằng là: không có lực phi vật chất

Ngày nay, nhờ có các phương tiện hiện đại, ta có thể quan sát thấy những thực thể vật

lý mà trước đây ta chỉ phỏng đoán về sự tồn tại của chúng Ví dụ kính hiển vi điện tử, ta trông thấy phân tử của nhiều chất

b) Sự phát hiện ra một dạng tồn tại thứ hai của vật chất

Trang 29

Điều này sẽ gặp khó khăn hơn, bởi vì ta không nhận biết được trường trực tiếp bằng các giác quan Ta chỉ có thể căn cứ vào một số tính chất đặc biệt của trường mà phán đoán

sự tồn tại của nó

Ví dụ: căn cứ vào lực tác dụng lên một điện tích tại một điểm trong không gian mà nhận rằng nhận biết tại điểm đó, có tồn tại một điện trường, hoặc là một hạt điện tích đặt trong một điện trường sẽ chuyển động và thu được năng lượng Năng lượng đó là do điện trường truyền cho nó Năng lượng gắn liền với vật chất, là một biểu thị sự tồn tại của vật chất

c) Vật chất tồn tại không ngừng

Vật lý học khảo sát các hiện tượng trong tự nhiên Có thể chỉ cho học sinh biết rằng: mọi hiện tượng vật lý đều do sự chuyển động và tương tác của các phân tử vật chất mà sinh ra Không có vật nào tuyệt đối đứng yên, chuyển động vốn là thuộc tính cố hữu, luôn gắng liền với vật thể Ngay cả khi ta thấy mặt nước trong chậu yên lặng thì thực ra nó đang diễn ra một sự biến đổi qua lại giữa nước và hơi nước, luôn luôn có sự chuyển động hai chiều trái ngược nhau của các phân tử nước qua mặt thoáng của nước

d) Sự vận động có quy luật của thế giới vật chất

Sự vận động của thế giới vật chất tuy có đa dạng, mới thoạt nhìn có vẻ hỗn độn, ngẫu nhiên, nhưng thật ra đều tuân theo những quy luật xác định và rất đơn giản Hầu hết các hiện tượng nghiên cứu trong giáo trình vật lý đều dẫn đến các định luật vật lý hay dẫn đến các nhận xét có tính quy luật khách quan

Ví dụ: hiện tượng rơi của các vật quanh ta xảy ra rất phức tạp và rất khác nhau như hòn đá, cái lá, cái nút chai, giọt mưa,…Thế nhưng, tất cả các vật rơi lại tuân theo một định luật rất đơn giản: khi sức cản của môi trường không khí không đáng kể so với trọng lượng của vật thì ở cùng một nơi, các vật đó rơi cùng một gia tốc

Các định luật vật lý do con người xây dựng nên để phản ánh các quy luật của tự nhiên

Sự phản ánh đó đúng đến đâu, chính xác đến đâu là do trình độ con người Bởi vậy, quy luật của tự nhiên tồn tại vĩnh viễn, trong khi những định luật do con người xây dựng lên thì

có thể thay đổi để phản ánh đúng hơn quy luật của tự nhiên, ngày càng tiến dần đến chân lí khách quan

e) Nhiều hiện tượng vật lý là những biểu hiện cụ thể của những quy luật biện chứng của sự vận động và phát triển của thế giới vật chất

Trước hết, trong giáo trình vật lý, có nhiều dịp để chỉ cho học sinh thấy rằng: các hiện tượng vật lý luôn có liên quan và phụ thuộc lẫn nhau Trong một hiện tượng vật lý thực,

Trang 30

không chỉ có một dạng chuyển động của vật chất, một quy luật chi phối mà thường có nhiều dạng chuyển động cùng tồn tại, nhiều mối quan hệ, nhiều định luật cùng tác động

Do đó, các định luật vật lý thường rất đơn giản nhưng biểu hiện của chúng trong thực tế lại rất phức tạp Chẳng hạn như: hiện tượng nhiệt có liên quan đến sự cọ xát của các vật vĩ mô chuyển động nhưng thực chất, nguyên nhân sâu xa của hiện tượng nhiệt là do chuyển động của các phân tử tạo thành vật, chuyển động của các phân tử cũng là một loại chuyển động

cơ học Trong hiện tượng giãn nở vì nhiệt, chuyển động hỗn loạn của các phân tử lại chuyển hóa thành chuyển động theo một hướng xác định của vật thể Cũng chính trong hiện tượng giãn nở đó, một chất khí vừa tuân theo theo định luật áp suất, vừa tuân theo định luật về tăng thể tích của lượng khí Thực ra, những biến đổi đó luôn xảy ra đồng thời, chúng ta đã tách ra từng mặt cho dễ nghiên cứu mà thôi

Những biến đổi về các tính chất của vật chất vừa có giai đoạn ổn định chỉ biến đổi về lượng, vừa có giai đoạn đột biến về chất Trong dạy học vật lý ở trường phổ thông, giáo viên có nhiều cơ hội để chỉ cho học sinh bằng chứng về quy luật những biến đổi dần dần

về số lượng dẫn đến những biến đổi nhảy vọt về chất lượng

Ví dụ: trong quá trình nhiệt, sự tăng nhiệt độ dần dần làm cho vật nóng lên, đến một mức độ nào đó dẫn đến kết quả làm thay đổi trạng thái cấu tạo (sôi, đông đặc) Trong thang sóng điện từ, sự giảm dần về độ dài của bước sóng, đến một thời hạn nào đó, sóng điện từ sẽ có một tính chất khác hẳn (Ví dụ: từ ánh sáng thấy được chuyển sang không trông thấy được, nhưng lại có khả năng đâm xuyên rất mạnh)

Quy luật mâu thuẫn - thống nhất cũng thể hiện rất rõ trong nhiều hiện tượng vật lý: cực bắc và cực nam có những tính chất trái ngược nhau nhưng lại luôn tồn tại trong một thanh nam châm Điện tích dương và điện tích âm luôn tồn tại trong cùng một nguyên tử Lực và phản lực tuy ngược nhau nhưng xuất hiện đồng thời trong mỗi tương tác…Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể chỉ cho học sinh thấy rằng: sự đấu tranh giữa hai mặt đối lặp trong mâu thuẫn là động lực thúc đẩy sự phát triển của hiện tượng

Ví dụ: ở nhiệt độ nóng chảy, có hai quá trình độc lập cùng tồn tại: nóng chảy và đông đặc Nếu ta cung cấp thêm nhiệt độ cho vật thể thì quá trình nóng chảy sẽ chiếm ưu thế và vật rắn sẽ chuyển sang trạng thái lỏng; ngược lại, nếu tạo điều kiện cho nhiệt độ tỏa ra bên ngoài, vật sẽ trở về trạng thái rắn Như vậy, con người bằng tác động của mình có thể tạo điều kiện để mặt này hay mặt kia của mâu thuẫn chiếm ưu thế, làm cho hiện tượng xảy ra theo chiều hướng có lợi cho con người

Trang 31

Định luật này chiếm một vị trí quan trọng trong thế giới khoa học hiện đại Định luật

có tính chất tổng quát, áp dụng cho mọi quá trình biến đổi trong tự nhiên Đó là một trong những cơ sở đầu tiên để đánh giá sự đúng đắn của những phát minh vật lý mới Định luật này cũng phản ánh sự thống nhất của các dạng chuyển động khác nhau của vật chất

Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng được hình thành dần dần trong nhiều giai đoạn của giáo trình vật lý Tư tưởng của định luật này được phát triển một cách tuần

tự qua việc khảo sát các hiện tượng thuộc nhiều lĩnh vực Trong dạy học vật lý, đặc biệt cần nhấn mạnh đến hai khía cạnh cơ bản sau:

Định luật này là biểu hiện của đặc tính không tự sinh ra và không tự mất đi của chuyển động vật chất, chỉ có sự chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác Mỗi năng lượng đều gắng với một dạng chuyển động của vật chất

Sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác không mất đi của nó là biểu hiện của sự bảo toàn vật chất Định luật này biểu hiện trong mọi tương tác của các phần tử vật chất, trong mọi hiện tượng tự nhiên

g) Hình thành quan điểm về tính có thể nhận thức được thế giới vật chất

Đây là một vấn đề rất quan trọng, tạo ra lòng tin vững chắc ở những tính chất và quy luật của tự nhiên mà con người phát hiện ra Thiếu lòng tin đó thì khó có thể tiếp tục con đường nghiên cứu tự nhiên mà loài người đang theo đuổi, cũng như khó có thể sử dụng những quy luật đã tìm ra được để cải tạo tự nhiên, phục vụ lợi ích của con người Để hình thành quan điểm này cho học sinh, cần phải dần dần làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Thực tiễn là nguồn gốc tri thức của chúng ta, đồng thời cũng là tiêu chí đánh giá xem những tri thức trừu tượng mà chúng ta thu được có phải là chân lí không Những quy luật của tự nhiên tác động không phụ thuộc vào ý muốn của con người (có tính khách quan), nhưng con người có thể nhận thức được những tính chất và quy luật của tự nhiên bằng tư duy của mình Chỉ có một cách duy nhất để biết xem sự nhận thức đó có đúng không bằng cách đối chiếu, vận dụng kiến thức thu được vào thực tiễn

- Nhận thức là một quá trình không ngừng chuyển từ chỗ chưa đầy đủ đến chỗ đầy đủ hơn, từ một chân lí tương đối (trong một phạm vi hẹp) sang một chân lí khác rộng hơn, đầy

đủ hơn, tiến dần đến chân lí tuyệt đối của tự nhiên Một khái niệm, định luật vật lý do con người xây dựng lên đều chỉ phản ánh một mặt nào đó của tự nhiên, trong giới hạn hiểu biết hiện nay của con người Thế giới tự nhiên là vô tận, không bao giờ ta đi đến chân lí cuối cùng Tuy nhiên, những điều mà khoa học hiện nay đạt được là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn ta đang sống và vì thế nó có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc sống của con người

Trang 32

Tuy nhiên, khoa học vật lý thực sự chỉ được hình thành trong khoảng 400 năm nay, đó là một thời gian rất ngắn so với lịch sử loài người và so với tương lai lâu dài Do đó sự hiểu biết của chúng ta về tự nhiên còn nhiều hạn chế, còn nhiều hiện tượng mà ta chưa hiểu biết được nguyên nhân của chúng, quy luật của chúng và cũng có cả các hiện tượng mà ta chưa quan sát, nhận biết được do có sự hạn chế của các giác quan của chúng ta Những phương tiện, dụng cụ kỹ thuật mới do con người chế tạo ra giúp ích làm tăng rất nhiều khả năng quan sát nhận biết của chúng ta, sẽ giúp phát hiện ra nhiều điều mà hiện nay còn được coi

là bí ẩn

- Nhận thức luôn luôn là một quá trình có mục đích và được quy định bởi những nhu cầu của xã hội Quá trình này không kết thúc ở chỗ phát hiện được những tính chất, những quy luật của tự nhiên để thỏa mãn sự tò mò, muốn hiểu biết của con người Sự nhận biết khoa học nào cũng nhằm áp dụng kết quả của nó vào đời sống, vào kỹ thuật sản xuất vào các mặt hoạt động đa dạng của con người, để làm biến đổi thế giới khách quan cho phù hợp với nhu cầu con người Theo ý nghĩa đó, vật lý học cũng như các môn khoa học khác

có ý nghĩa lớn lao, trở thành một lực lượng sản xuất trong đời sống

2.4.2 Phương pháp thực hiện nội dung giáo dục thế giới quan khoa học

a) Thế giới quan khoa học phải được rút ra từ chính quá trình nghiên cứu những kiến thức vật lý

Những kết luận thu được trong khi nghiên cứu vật lý chính là những trường hợp riêng làm tài liệu, làm cơ sở để khái quát hóa thành những thành phần của thế giới quan Ví dụ: nghiên cứu một vài định luật vật lý thì chưa đủ để cho học sinh nhận thức được tính quy luật của những hiện tượng tự nhiên, nhưng sau khi đã khảo sát hàng chục hiện tượng khác nhau trong thời gian dài nhiều năm ở bậc trung học, học sinh sẽ nhận thức được đặc tính này của thế giới khách quan Đến một lúc thích hợp, khi học sinh đã được tích lũy được tương đối đủ kiến thức vật lý và kinh nghiệm, giáo viên có thể giúp họ khái quát lên thành một nhận xét chung về tính quy luật đó và vận dụng cho các lĩnh vực nghiên cứu mới

b) Thế giới quan không chỉ là sự hiểu biết mà còn là niềm tin

Muốn làm cho học sinh tin ở những quan điểm duy vật biện chứng thì không phải là giảng giải, thông báo cho họ những quan điểm trừu tượng đó mà tốt nhất là để cho học sinh bằng những hành động của mình mà phát hiện những biểu hiện cụ thể của những quan điểm đó trong mỗi hiện tượng vật lý Sự chứng kiến tận mắt những hiện tượng vật lý diễn

ra không phụ thuộc vào ý muốn của mình mà luôn tuân theo những quy luật xác định sẽ

Trang 33

quan cũng là một phẩm chất tâm lí ở con người, được hình thành, phát triển cùng với hoạt động con người

Học sinh biết rằng: giáo viên là người nắm vững tính chất vật lý, những định luật vật

lý Cho nên, trong trường hợp giáo viên vận dụng một định luật vật lý để dự đoán một hiện tượng nhưng hiện tượng lại xảy ra không đúng dự đoán mà không hiểu nguyên nhân vì sao, thì dẫn đến kết quả tai hại là: làm giảm lòng tin ở học sinh ở tính phổ biến, khách quan của định luật đó

c) Thế giới quan là kết quả của một quá trình nhận thức khái quát và trừu tượng ở mức

độ cao hơn đối với việc nhận thức các tính chất và định luật vật lý

Bởi vậy, muốn làm cho học sinh tin tưởng ở thế giới quan như tin tưởng ở một chân lí khách quan thì giáo viên luôn cần tận dụng những trường hợp cụ thể trong quá trình nghiên cứu vật lý để chứng tỏ thế giới quan đó phù hợp với khách quan Trong những trường hợp cụ thể, bằng cách kể chuyện lịch sử để chứng tỏ các nhà khoa học nhờ có thế giới khách quan đúng đắn mà đạt được những thành tựu rực rỡ trong nghiên cứu công tác khoa học

Ví dụ: để học sinh tin tưởng rằng hiện tượng tự nhiên tuy xảy ra rất phức tạp, đa dạng nhưng vẫn tuân theo những định luật nhất định, giáo viên khi hướng dẫn học sinh bắt đầu nghiên cứu một hiện tượng mới, thì trước hết nên để cho học sinh quan sát hiện tượng trong thực tế với tất cả những sự phức tạp của nó; sau đó mới tìm cách phân tích ra những hiện tượng đơn giản hơn, xảy ra trong những điều kiện khống chế được, để xác định nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng đó Nếu ngay từ đầu, giáo viên đã chọn cho học sinh quan sát hiện tượng trong một hiện tượng trong một trường hợp đơn giản tạo ra ở phòng thí nghiệm thì khó có thể cho họ tin tưởng ở tính khái quát của kết luận

2.5 Giáo dục nhân sinh quan

Nếu như thế giới quan khoa học gắn chặt với nội dung khoa học của kiến thức vật lý, được hình thành và phát triển trong quá trình xây dựng những kiến thức vật lý đó, thì nhân sinh quan lại là một kết quả gián tiếp thông qua việc sử dụng những kiến thức đó nhằm phục vụ lợi ích của con người Vì vậy vật lý học có rất nhiều ứng dụng trong mọi hoạt động của con người nên có nhiều cơ hội để góp phần giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, thái độ đối với lao động, đối với môi trường

2.5.1 Giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH và hợp tác quốc tế

a) Giáo dục lòng yêu nước

Trang 34

Trong lòng yêu nước của học sinh bắt nguồn ngay từ sự gắng bó với làng xóm, quê hương, từ tình yêu đối với người thân quen ở địa phương mình trong suốt tuổi thiếu niên cùng chia sẽ những niềm vui hay những lo lắng về đời sống xã hội, từ lòng khao khát xây dựng đất nước quê hương giàu đẹp, từ lòng tự hào về những thành tựu lao động, chiến đấu bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việc gắng liền kiến thức vật lý với đời sống, chỉ ra cho học sinh thấy có thể đem những kiến thức vật lý mới tiếp thu được cải thiện cuộc sống gia đình, của địa phương mình sẽ làm cho học sinh thấy ý nghĩa đẹp đẽ của việc học tập vật lý, thấy gắn bó với địa phương

Ví dụ: đất nước ta còn nghèo, lao động chân tay còn phổ biến thì việc sử dụng các máy móc đơn giản để làm giảm nhẹ sự vất vã và mệt nhọc là rất có ý nghĩa Việc áp dụng những kiến thức về thủy tinh học vào việc tưới tiêu nước trên ruộng đồng, khai thác và phân phối nước sạch trong sinh hoạt ở nông thôn, miền núi; việc sắp đặt mạng lưới điện hợp lí trong nhà, trong xóm vừa đảm bảo an toàn, vừa chống hao phí thất thoát, tiết kiệm nguồn nguyên liệu quý giá đó Không những giúp học sinh phát triển trí tuệ mà còn làm nảy sinh tình cảm với quê hương, lòng khao khát đem kiến thức của mình làm đẹp cho cuộc sống ngay trên địa phương mình ở

Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc đưa các ứng dụng kĩ thuật của vật lý vào phục vụ sản xuất và đời sống đã diễn ra ở tốc độ nhanh ở khắp nơi trên đất nước, ở nhiều mặt trong một thời gian ngắn đã theo kịp sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới Điều đó chứng tỏ tinh thần lao động cần cù, sức sáng tạo mới mẻ của con người Việt Nam, trong đó có thế hệ trẻ là những con người được đào tạo cẩn thận để làm chủ khoa học kĩ thuật Những thông tin về sự phát triển công nghiệp, đưa công nghiệp mới vào sản xuất như điện khí hóa, phát triển hệ thống nhà máy thủy điện, phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, phủ sóng truyền hình khắp đất nước có thể tìm thấy hằng ngày qua những phương tiện thông tin đại chúng Việc đưa chúng kịp vào các bài học vật lý sẽ làm tăng thêm lòng tự hào về dân tộc mình, để thế hệ trẻ Việt Nam đang đem kiến thức khoa học bảo vệ đất nước

Cũng cần và có thể giáo dục cho học sinh biết xót thương, căm ghét những hành động hoặc không hiểu biết kiến thức vật lý hoặc cố tình áp dụng kiến thức vật lý để chăm lo cho lợi ích riêng của mình, làm tổn hại đến lợi ích chung Chẳng hạn như: việc chặt phá rừng bừa bãi làm cho nước mưa từ trên núi đổ xuống với tốc độ lớn, gây lũ lụt làm thiệt hại nghiêm trọng về người và của; đào xới chân đe để khai thác cát, làm lò gạch, xây nhà, có

Trang 35

sản làm hủy diệt môi trường sinh thái Việc sử dụng các thành tựu vật lý để sản xuất vũ khí giết người hàng loạt trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa trên thế giới và chiến tranh xâm lược nước ta trước đây cần phải nhắc đến trong bài học vật lý về kiến thức liên quan đến những vũ khí đó Bài học về vụ ném bom nguyên tử xuống Hirosima và Naradaki ở Nhật Bản năm 1945 cần phải làm cho thanh thiếu niên mãi mãi ghi nhớ để luôn cảnh giác, đấu tranh ngăn chặn việc tương tự

b) Hình thành ý thức và thói quen vận dụng kiến thức vật lý vào thực tiễn

Cho học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng vật lý kĩ thuật, giải các bài toán có nội dung thực tế Không chỉ có tác dụng củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn hình thành ý thức, thói quen vận dụng tri thức khoa học vào sản xuất và đời sống Ví dụ: kinh nghiệm kê đá tảng ở chân cột nhà, đưa nước lên cao nhờ chính năng lượng của dòng nước, cải tiến phương pháp đúc ống bằng phương pháp quay li tâm, cải tiến hệ thống truyền tải chuyển động Việc cho học sinh làm các thí nghiệm thực hành, chế tạo dụng cụ học tập, sinh hoạt các nhóm ngoại khóa tham quan học tập tại các xưởng trường, nhà máy, cơ sở nghiên cứu Sẽ đạt được hứng thú học tập, làm phong phú vốn tri thức thực tế, có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm và phẩm chất nhân cách của người lao động mới

c) Giáo dục tinh thần hợp tác quốc tế

Việc giới thiệu một cách có ý thức những thành tựu lớn về vật lý kĩ thuật, phân tích tính ưu việt, tinh thần hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sự phát triển kinh tế xã hội giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các quốc gia, dân tộc sẽ góp phần đắt lực cho việc giáo dục lòng yêu chế độ Xã hội chủ nghĩa, tinh thần hợp tác quốc tế Tinh thần đó ngày càng được mở rộng trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền hai bên cùng có lợi nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển của mỗi nước Trong xu thế chung của thời đại, cần giáo dục học sinh ý chí tự cường vươn lên đạt đến đỉnh cao trí tuệ loài người, đồng thời đấu tranh chống lại âm mưu phá hoại, gây chiến tranh hủy hoại môi trường sống và sự tiến bộ của nhân loại

2.5.2 Giáo dục thái độ đối với lao động và môi trường:

a) Giáo dục thái độ đối với lao động

Thái độ lao động đối với mỗi cá nhân góp phần xây dựng cộng đồng là một trong những tiêu chuẩn phẩm hạnh của con người trong xã hội mới

Trước hết là tính tích cực cá nhân, tinh thần trách nhiệm trong lao động Điều cần được thường xuyên rèn luyện trong quá trình học tập, bằng cách tăng cường hoạt động tự

Trang 36

lực của học sinh, khuyến khích sự suy nghĩ sáng tạo, sự kiên trì, nhẫn nại khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập

Việc phân công công việc, phối hợp hành động trong các nhóm học tập, nhóm thí nghiệm và đôn đốc lẫn nhau để thực hiện phần việc của mỗi người là một biện pháp có hiệu quả để giáo dục tinh thần cộng đồng trách nhiệm trong lao động, rất cần để chuẩn bị cho học sinh tham gia vào các quá trình sản xuất hiện đại

Việc giới thiệu cho học sinh những ứng dụng mới của kiến thức vật lý để chế tạo ra những máy móc, thiết bị hiện đại, làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm lên nhiều lần là một cách nhắc nhở học sinh rằng: thế kỉ XXI là thế kỉ của trí tuệ, của chất xám Sang thế kỉ XXI, không thể lao động sản xuất có hiệu quả, có năng suất cao, nếu không làm chủ được kiến thức khoa học

Gương lao động quên mình của các nhà khoa học Việt Nam trong chiến tranh cứu nước, cũng như trong xây dựng hòa bình, luôn luôn khắc phục khó khăn, phát huy sáng tạo, sử dụng các thành tựu của vật lý học vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta có tác dụng khích lệ rất lớn đối với học sinh, khắc phục tâm lí tự ti trong hoạt động khoa học

Bản thân giáo viên vật lý cũng phải luôn luôn gương mẫu trong lao động dạy học của mình, luôn tìm tòi sáng tạo, say mê với công việc, hết lòng vì học sinh, vì tương lai của đất nước để lôi cuốn các em say mê học tập

b) Giáo dục thái độ đối với môi trường

Vật lý học có mối quan hệ mật thiết với nhiều ngành khoa học, gắn kết với kĩ thuật, công nghệ và có những ứng dụng trong mọi mặt hoạt động của con người, đó là cơ sở bồi dưỡng nhân sinh quan và giáo dục thái độ đối với môi trường cho học sinh Việc liên hệ kiến thức vật lý với đời sống giải bài toán có nội dung thực tế-kỹ thuật chỉ ra cho học sinh thấy khả năng đem kiến thức vật lý phục vụ lợi ích của bản thân, của gia đình và của cộng đồng xã hội Đồng thời thông qua các hoạt động tham quan ngoại khóa, xê-mi-na Để giáo dục thái độ trân trọng đối với khoa học, với lao động của đồng loại và đối với môi trường Việc giới thiệu các ứng dụng của vật lý vào phục vụ sản xuất, sự phát triển của công nghệ mới, kỹ thuật cao nhằm tăng năng suất lao động, giảm thiểu ô nhiễm môi trường có tác dụng tạo hứng thú, bồi dưỡng thái độ tích cực, tinh thần trách nhiệm cho học sinh trong việc đem kiến thức phục vụ cuộc sống và bảo vệ môi trường Ví dụ: sử dụng bộ xử lí xúc tác làm giảm nồng độ độc hại khí thải, ống xả giảm tiếng ồn trước khi khí thoát ra không khí của động cơ ô tô, xe máy, khi nghiên cứu các bài nguyên tắc hoạt động của động cơ

Trang 37

Cần giáo dục cho học sinh biết căm ghét, lên án những hành động lợi dụng khoa học làm tổn hại đến lợi ích chung, phá hoại môi trường Ví dụ: sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học trong chiến tranh, khủng bố sử dụng điện, hóa chất độc hại trong đánh bắt hải sản Đồng thời, nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan, giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp bằng hành động cụ thể như: thu gom phế thải độc hại (pin, ăc-quy, hóa chất ) vào nơi quy định; Không tùy tiện gây tiếng ồn, sử dụng thiết bị, vật liệu gây ảnh hưởng, tác hại đến môi trường xung quanh

Trang 38

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG

DẠY HỌC VẬT LÝ

3.1 Tầm quan trọng của phương pháp thực nghiệm trong chương trình trung học phổ thông mới

3.1.1 Mục tiêu chung của chương trình THPT mới

 Phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở

 Hoàn thiện học vấn trung học phổ thông chuẩn bị cho học sinh tiếp tục đại học, trung học chuyên nghiệp, học nghề thuộc những lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, văn hóa và dịch vụ khác nhau

 Tạo tiềm lực để nếu không tiếp tục học lên, học sinh có thể tham gia vào các lao động có kĩ thuật và thích ứng với cuộc sống trong xã hội hiện đại

3.1.2 Mục tiêu của chương trình vật lý trung học phổ thông

 Mục tiêu kiến thức: Hoàn thiện cho học sinh hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản ở trình độ tú tài về vật lý, cần thiết để đi vào ngành khoa học, kỹ thuật và để sống trong một

xã hội hiện đại Đó là:

- Những khái niệm tương đối chính xác về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời sống và sản xuất

- Những định luật và nguyên lý vật lý cơ bản được trình bày phù hợp với năng lực toán học và năng lực suy luận logic của học sinh

- Những nét chính của các thuyết vật lý quan trọng nhất

- Những hiểu biết cần thiết về PPTN và phương pháp mô hình (PPMH) trong vật lý học

- Những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của vật lý trong đời sống

- Các kỹ năng xử lí thông tin về vật lý học như: xây dựng bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút

ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận tương tự, khái quát hóa…

- Các kỹ năng truyền đạt thông tin về vật lý như: thảo luận khoa học, báo cáo viết…

- Kỹ năng vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng và giải các bài tập vật lý phổ thông

- Kỹ năng thực hành vật lý, bao gồm kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường vật lý đơn giản, kỹ năng lắp đạt các thí nghiệm vật lý đơn giản

- Khả năng đề xuất dự đoán khoa học và phương án thí nghiệm kiểm tra

 Mục tiêu tình cảm, thái độ, tác phong:

Trong dạy học vật lý cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm, thái độ và tác phong mà môn vật lý có nhiều ưu thế để thực hiện, đó là:

- Sự hứng thú trong học tập môn vật lý, nói rộng hơn là lòng yêu thích khoa học

- Ý thức sẵn sàng áp dụng những hiểu biết về vật lý của mình vào các hoạt động trong gia đình và xã hội để cải thiện điều kiện sống và bảo vệ môi trường

- Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận và tỉ mỉ

Trang 39

- Tính trung thực trong khoa học

- Tinh thần nỗ lực phấn đấu cá nhân, kết hợp chặt chẽ với tinh thần hợp tác trong lao động học tập và nghiên cứu Ý thức tự học cũng như học hỏi người khác

3.1.3 Tầm quan trọng của PPTN trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học vật lý

ở THPT

Một trong những điều quan trọng của phương hướng cải cách chương trình vật lý phổ thông là “ Chương trình phải bao gồm những kiến thức vật lý cơ bản” Ngoài việc cung cấp kiến thức, việc xây dựng và phát triển các năng lực tư duy cho một học sinh là một yêu cầu có tính nguyên tắc Muốn vậy, làm cho học sinh không những nắm vững được kiến thức mà còn hiểu rõ được con đường dẫn đến kiến thức, hiểu rõ các phương pháp nhận thức khoa học

Đối với môn vật lý, PPTN là một trong những phương pháp nhận thức cơ bản quan trọng Vì vậy, trong chương trình cải cách vật lý phổ thông cần phải coi trọng áp dụng PPTN của khoa học vật lý trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, cần làm cho

HS hiểu được PPTN trong nghiên cứu vật lý và từng bước hướng dẫn học sinh tập vận dụng PPTN của vật lý học trong khi nghiên cứu các kiến thức theo chương trình và sách giáo khoa

Để có thể vận dụng được PPTN của vật lý học trong quá trình dạy học ta cần làm rõ hai vấn đề sau:

1 Thứ nhất là: PPTN trong quá trình sáng tạo khoa học vật lý, với tư cách là một

phương pháp nhận thức của khoa học vật lý, là gì? Nó bao gồm những giai đoạn nào?

2 Thứ hai là: PPTN trong dạy học vật lý, với tư cách là một phương pháp dạy học (là

sự vận dụng PPTN của khoa học vật lý vào dạy học vật lý, nhằm rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức của vật lý học) được thực hiện theo các bước dạy học như thế nào khi hình thành một kiến thức cụ thể cho học sinh?

3.2 Phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học vật lý

3.2.1 Vai trò của phương pháp thực nghiệm trong quá trình nhận thức sáng tạo của khoa học vật lý

Sơ đồ ngắn gọn của quá trình nhận thức nói chung đã được Lênin nêu lên: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức thực tế khách quan”

Phù hợp với quá trình nhận thức vật lý nói chung mà lênin đã chỉ ra, quá trình sáng tạo của khoa học vật lý là quá trình đi từ sự khái quát hóa những sự kiện thực tế xuất phát đến xây dựng mô hình trừu tượng của hiện tượng (Đề xuất giả thuyết), rồi từ mô hình dẫn đến

Trang 40

việc rút ra các hệ quả lý thuyết và từ các hệ quả lý thuyết dẫn đến sự kiểm tra chúng bằng thực nghiệm và ứng dụng chúng trong thực tiễn Trong quá trình sáng tạo khoa học này, nhà nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học, trong đó đặt biệt là PPTN

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm

Để có thể khái quát các sự kiện thực tế và xây dựng các giả thuyết khoa học về hiện tượng nghiên cứu, nhà khoa học phải tổ chức và tiến hành thí nghiệm để khảo sát hiện tượng trong những điều kiện xác định và dựa trên kết quả của thí nghiệm đó để thu được những tài liệu thực tế làm cơ sở xuất phát cho sự hoàn thành giả thuyết Để kiểm tra sự đúng đắn của các kết luận lý thuyết thu được nhờ sự suy luận logic từ mô hình giả thuyết (và cũng là để kiểm tra sự đúng đắn của chính bản thân giả thuyết) lại phải tiến hành thí nghiệm để có thể đối chiếu lại kết quả của thí nghiệm với thí nghiệm như thế gọi là PPTN Vậy, PPTN là một phương pháp nhận thức khoa học được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm, nhằm dựa trên kết quả của thí nghiệm để xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó

Cần lưu ý rằng, PPTN nói ở đây là nói về phương pháp nhận thức trong quá trình sáng tạo khoa học, không phải đơn thuần chỉ là cách thức tiến hành một thí nghiệm có sẵn Quá trình nhận thức này đòi hỏi tư duy sáng tạo Khi áp dụng PPTN nhà nghiên cứu phải tìm tòi thiết kế phương án thí nghiệm Trong việc đề xuất phương án thí nghiệm để có thể kiểm tra được giả thuyết đã nêu ra hoặc cho phép thu được những thông tin cần thiết cho việc xác lập giả thuyết, tư duy sáng tạo có vai trò quan trọng

3.2.3 Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm:

Phương pháp thực nghiệm của quá trình nghiên cứu khoa học vật lý gồm các giai đoạn chính sau đây:

 Nhận biết các sự kiện khởi đầu, phát hiện vấn đề (nêu câu hỏi)

 Xây dựng giả thuyết (Câu trả lời dự đoán)

 Từ giả thuyết suy ra một hệ quả có thể kiểm tra trong thực tế (có thể quan sát, đo lường được)

 Bố trí thí nghiệm kiểm tra

 Kết luận (thí nghiệm xác nhận hay bác bỏ giả thuyết)

Ngày đăng: 12/10/2015, 17:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Phước Lộc, Trần Quốc Tuấn, Bùi Đức Thắng, Bùi Quốc Bảo.Giáo trình lí luận dạy học Vật lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận dạy học Vật lý
Tác giả: Lê Phước Lộc, Trần Quốc Tuấn, Bùi Đức Thắng, Bùi Quốc Bảo
[2] Lê Phước Lộc. Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Phước Lộc
[3] Nguyễn Đức Thâm…Phương pháp dạy Vật lý ở trường phổ thông. NXB Đại Học Sư Phạm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Thâm
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm 2002
[4] Nguyễn Đức Thâm- Nguyễn Ngọc Hưng. Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong DHVL ở trường phổ thông. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Thâm- Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội 1999
[5] Nguyễn Trọng Sửu, Nguyễn Hải Châu,…Hướng dẫn thực hiện chương trình, SGK Vật lý 12. Bộ GD – ĐT. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Sửu, Nguyễn Hải Châu
[6] Phạm Hữu Tòng. Lí luận dạy học Vật lí ở trường trung học.NXB giáo dục 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB giáo dục 2001
[7] Phạm Hữu Tòng. Dạy học Vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học. NXB Đại Học Sư Phạm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2004
[8] Phạm Quý Tư (chủ biên) … Tài liệu bồ dưỡng GV thực hiện chương trình SGK Vật lý 10 nâng cao.NXBGD 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXBGD 2006
[9] Trần Quốc Tuấn. Bài giảng chuyên đề PPDH Vật lí nâng cao.Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề PPDH Vật lí nâng cao
Tác giả: Trần Quốc Tuấn
Nhà XB: Đại Học Cần Thơ
[10] Trần Quốc Tuấn. Bài giảng phân tích chương trình Vật lý phổ thông.Đại Học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Tuấn
[11] Trần Quốc Tuấn. Bài giảng lí luận DH Vật lí ở THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Tuấn
[12] Trần Quốc Tuấn. Bồi dưỡng PPTN cho HS trong DHVL ở THPT. Tài liệu bồi dưỡng GV Vật lý THPT chu kì 3. Đại Học Cần Thơ 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Tuấn
[13] Trần Quốc Tuấn. Đổi mới PPDH Vật lý lớp 12. Tài liệu BDGV cốt cán Vật lý lớp 12 một số tỉnh ĐBSCL Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Quốc Tuấn
[14] Phạm Quý Tư. Tài liệu BDGV lớp 12 Ban Khoa Học Tự Nhiên. Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quý Tư
[15] Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. SGK Vật lý 12 CB.NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Vật lý 12 CB
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXBGD
[16] Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. SGK Vật lý 12 NC.NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Vật lý 12 NC
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXBGD
[17] Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Hướng dẫn thực hiện chương trình thay sách giáo khoa lớp 12 môn Vật lý.NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: NXBGD

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.1.3. Sơ đồ cấu trúc nội dung. - giáo dục tư tưởng học sinh khi giảng dạy chương 9. hạt nhân nguyên tử, vật lý 12 nc theo phương pháp thực nghiệm
4.1.3. Sơ đồ cấu trúc nội dung (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w