Ngày nay, khoa học giáo dục trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang coi trọng những nghiên cứu đổi mới dạy học ở trường phổ thông theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÍ
Giảng viên hướng dẫn: SV thực hiện:
ThS- GVC Trần Quốc Tuấn Sơn Thị Thương Liên
MSSV: 1100225
Lớp: SP Vật Lí K36
Cần Thơ, tháng 5/2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đối tượng nghiên cứu 3
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 3
8 Những viết tắt trong đề tài 4
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT 5
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 5
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới 5
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 5
1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 5
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS 6
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 7
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào QTDH 7
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lí THPT 7
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại 7
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng 8
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm 8
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở lớp 12 theo CT THPT mới 9
1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 9
1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 9
1.4.3 Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức vật lí 11 1.4.4 Tận dụng những phương tiện DH mới, trang thiết bị TN mới; phát huy tính
Trang 31.4.5 Tăng cường áp dụng PPDH theo nhóm hợp tác 13
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học 14
1.5.1 Một số hình thức trình bày kế hoạch bài học 14
1.5.2 Một số hoạt động phổ biến 14
1.5.3 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 16
1.6 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 17
1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá 17
1.6.2 Các hình thức kiểm tra 17
1.6.3 Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT 19
1.6.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá 19
1.6.5 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 20
1.6.6 Vai trò của đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc thi và kiểm tra 24
Chương 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
VẬT LÍ Ở THPT 25
2.1 Khái niệm tư duy 25
2.1.1 Định nghĩa tư duy 25
2.1.2 Đặc điểm của tư duy 25
2.2 Quá trình tư duy 27
2.2.1 Các giai đoạn của một quá trình tư duy 27
2.2.2 Các thao tác của quá trình tư duy 28
2.2.3 Các loại tư duy 31
2.2.4 Các biện pháp phát triển tư duy 34
2.2.5 Vai trò của việc phát triển tư duy trong quá trình dạy học Vật lí 38
Chương 3 HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở THPT 39
3.1 Khái niệm phương pháp giải quyết vấn đề 39
3.2 Cấu trúc của phương pháp giải quyết vấn đề 39
3.3 Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học 40
3.4 Đặc điểm của quá trình học sinh giải quyết vấn đề trong học tập 41
3.4.1 Về động cơ, hứng thú, nhu cầu 41
3.4.2 Về năng lực giải quyết vấn đề 41
Trang 43.4.4 Về điều kiện phương tiện làm việc 41
3.5 Tổ chức tình huống học tập giải quyết vấn đề 42
3.5.1 Những đặc điểm của tình huống học tập trong kiểu dạy học GQVĐ 42
3.5.2 Các kiểu tình huống học tập 42
3.5.3 Tổ chức tình huống học tập 43
3.6 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 44
3.6.1 Hướng dẫn tìm tòi quy về kiến thức, phương pháp đã biết 44
3.6.2 Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần 45
3.6.3 Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát 45
3.7 Các pha của phương pháp giải quyết vấn đề 46
3.7.1 Pha thứ 1: Đề xuất vấn đề- bài toán 46
3.7.2 Pha thứ 2: Suy đoán giải pháp, thực hiện giải pháp 46
3.7.3 Pha thứ 3: Kiểm tra vận dụng kết quả 47
3.8 Vai trò và ý nghĩa của phương pháp giải quyết vấn đề 47
Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 2
DAO ĐỘNG CƠ, VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 48
4.1 Phân tích chương “Dao động cơ “ VL 12 nâng cao 48
4.1.1 Mục tiêu của chương 48
4.1.2 Sơ đồ câu trúc nội dung của chương 49
4.2 Thiết kế một số bài học trong chương 50
4.2.1 Bài 6 Dao động điều hòa 50
4.2.2 Bài 7 Con lắc đơn Con lắc vật lí 61
4.2.3 Bài 8 Năng lượng trong dao động điều hòa 69
4.2.4 Bài 10 Dao động tắt dần và dao động duy trì 75
4.2.5 Bài 11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng 81
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
5.1 Mục đích thực nghiệm 88
5.2 Nội dung thực nghiệm 88
5.3 Đối tượng thực nghiệm 88
5.4 Kế hoạch giảng dạy 88
5.5 Tiến trình thực hiện các bài học 88
5.6 Kết quả thực nghiệm 88
5.6.1 Đề kiểm tra: Đề kiểm tra theo đánh giá Bloom (6 mức) 88
Trang 55.6.2 Kết quả kiểm tra 95
KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, viễn cảnh sôi động, tươi đẹp, nhưng cũng nhiều thách thức
đòi hỏi ngành giáo dục đào tạo có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, ngang tầm với
sự phát triển chung của thế giới và khu vực, sự nghiệp giáo dục đào tạo phải góp phần quyết định vào việc phát triển tư duy tích cực, năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ, muốn vậy chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến mà còn phải biết áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đất nước
Ngày nay, khoa học giáo dục trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang coi trọng những nghiên cứu đổi mới dạy học ở trường phổ thông theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn cuộc sống và với sự phát triển của kinh tế tri thức Nên vấn đề đặt ra ở các trường THPT là không ngừng đổi mới cả về nội dung và PPDH Việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, ngành giáo dục rất quan tâm Đặc biệt, riêng đối với Vật lí thì phát triển tư duy học sinh được xem là một trong những nhiệm vụ dạy học cơ bản ở THPT
Theo tinh thần Nghị quyết TW2 của Đảng và nhà nước ta về đổi mới phương pháp dạy học là rất quan trọng Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã
nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học
; rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác ; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú
và trách nhiệm học tập cho học sinh” [20, tr 5]
Đồng thời, trong quá trình giảng dạy Vật lí THPT người GV không chỉ truyền đạt kiến thức cho HS mà còn dạy HS phương pháp nhận thức khoa học trong dạy học Vật lí để phát huy tính tư duy, sáng tạo và tích cực của HS trong quá trình học tập Một trong những phương pháp cơ bản dạy học Vật lí đó là phương pháp giải quyết vấn đề, nghĩa là mỗi GV tạo được những tình huống có vấn đề để kích thích sự
Trang 7luyện cho HS ý thức sự tìm tòi, khám phá cái mới nhằm tạo sự đam mê cho HS trong học tập theo hướng tính tích cực, tư duy của HS Để giúp HS có thể bằng hoạt động của bản thân mình mà tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức Vật lí một cách sâu sắc
và vững chắc thì trong quá trình dạy GV nên chọn PPGQVĐ theo hướng phát triển
tư duy của HS
Xuất phát từ mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang bị bằng việc nghiên cứu giảng dạy Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, sửa chữa sai sót trao đổi với thầy cô hướng dẫn phương pháp ngay khi còn trên giảng đường Đại học
Bên cạnh đó, hiện nay các bộ sách thí điểm đã được biên soạn thành bộ chuẩn
và bộ nâng cao với yêu cầu phải dạy theo phương pháp dạy học tích cực
Chính vì vậy tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển tư duy của
học sinh khi áp dụng PPGQVĐ GD chương 2, Dao động cơ 12 nâng cao”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu việc phát triển tư duy của HS khi áp dụng PPGQVĐ trong quá trình giảng dạy chương 2, Dao động cơ, Vật lí 12 nâng cao
3 Giả thuyết khoa học
Vận dụng lí luận dạy học Vật lí hiện đại có thể phát triển tư duy của học sinh
khi áp dụng PPGQVĐ trong quá trình giảng dạy chương 2, Dao động cơ.12 NC
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về LLDHVL và đổi mới PPDH Vật lí ở trường
THPT
Nghiên cứu về phương pháp phát triển tư duy HS trong dạy học Vật lí
Nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như ý nghĩa, tầm quan trọng của một số
PPGQVĐ đặc thù của VL trong trường phổ thông
Nghiên cứu chương 2, Dao động cơ VL 12 NC về: mục tiêu, sơ đồ cấu trúc nội dung, phương pháp xây dựng,…
Vận dụng thiết kế một số bài trong chương 2, Dao động cơ VL 12 NC:
Bài 6: Dao động điều hòa
Bài 7: Con lắc đơn Con lắc vật lý
Bài 8: Năng lượng trong dao động điều hòa
Bài 10: Dao động tắt dần và dao động duy trì
Bài 11: Dao động cưỡng bức Cộng hưởng
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu:
Các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
Tâm lí học, giáo dục học, lí luận dạy học Vật lí
Phân tích chương trình Vật lí trung học phổ thông
Chuyên đề phương pháp giáo dục
Sách giáo khoa và sách giáo viên Vật lí 10, 11,12
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Vật lí trung học phổ thông
Tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi học tập kinh nghiệm từ các thầy cô, anh chị
và các bạn
Thực nghiệm sư phạm: sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học để giảng dạy kết hợp với sử dụng các dụng cụ thí nghiệm sẵn có; Ứng dụng CNTT để hỗ trợ nghiên cứu, thiết kế giáo án và hoàn thành đề tài
6 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dạy học của GV và HS trong việc phát triển tư duy khi áp dụng PPGQVĐ trong quá trình GD chương 2, Dao động cơ Vật lí 12 Nâng cao
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài
Giai đoạn 1: Tìm hiểu đề tài và trao đổi với thầy hướng dẫn Thầy đồng ý đề
tài
Giai đoạn 2: Viết đề cương nghiên cứu
Giai đoạn 3: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung và thiết kế một số bài học trong chương 2,
Dao động cơ Vật Lý 12 NC
Giai đoạn 5: Thực nghiệm sư phạm
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng Powerpoint
Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn trước hội đồng
Trang 9
8 Những viết tắt trong đề tài
● Giảng dạy: GD ● Hiện đại hóa: HĐH
● Giáo án: GA ● Công nghiệp hóa: CNH
● Giáo viên: GV ● Sách giáo khoa: SGK
● Điều kiện: ĐK ● Quá trình dạy học: QTDH ● Học sinh: HS ● Lí luận dạy học: LLDH
● Kiến thức: KT ● Vật lí phổ thông: VLPT
● Nâng cao: NC ● Khoa học Vật lí: KHVL
● Vật lí: VL ● Phương pháp: PP
● Học tập: HT ● Thiết bị dạy học: TBDH
● Thí nghiệm: TN ● Trung học phổ thông: THPT
● Hoạt động: HĐ ● Phương pháp dạy học: PPDH
● Sách giáo viên: SGV ● Phương tiện dạy học: PTDH
● PPTN: phương pháp thực nghiệm ● Thực nghiệp sư phạm : TNSP
● Phương pháp giải quyết vấn đề: PPGQVĐ
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 101.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho học sinh những kiến thức mà công nghệ nhân loại đã tích lũy mà còn phải rèn luyện cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng cộng sản Việt
Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con
người và thể chế thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
….” [6, tr 49]
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới
Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng nề về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải minh họa học trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo ra con người có tính tích cực cá nhân, tư duy sáng tạo khả năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới nền giáo dục nước ta chuyển
từ trang bị cho học sinh kiến thức sang rèn luyện cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một phương pháp dạy học mới có khả năng thực hiện mục tiêu nói trên Nghị quyết TW2, khóa III của Đảng cộng sản Việt Nam
đã ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều và rèn luyện tư duy sáng tạo của người học…” [6, tr 50]
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH
1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại
Theo cách dạy đó GV trình bày, giảng giải các kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công, đúng như đã nói trong lí thuyết hay đúng những mong muốn cần đạt được GV chỉ quan tâm đến việc dạy của mình sao cho hoàn mĩ, còn HS có hiểu được, làm được, phát triển được hay không là trách nhiệm của HS Cách dạy đó rõ ràng là dồn HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển ý
Trang 11thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình, còn GV thì trở thành nhân vật đầy
quyền uy khiến HS phải sợ hãi và cha mẹ HS phải kính nể Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói
quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong học tập Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới
Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản
để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS
Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu sách giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo diều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc HT
nào đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Ngay trên ghế nhà trường học sinh đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức
Hơn nữa trong cuộc đổi mới của con người ở thời đại hiện nay, những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều mới có thể làm việc được, mới theo kịp sự phát triển rất nhanh của khoa học kĩ thuật hiện đại Bởi vậy, ngay trên ghế nhà trường học sinh đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức Vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen HT thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ
mỉ, kĩ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kĩ năng tự học đã yếu
Trang 12lại còn yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho những HS ở các lớp trên
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn
đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả
là giành được kiến thức và phát triển được năng lực
PPDH tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Có rất nhiều điều cần phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho
HS niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số trẻ
em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào QTDH
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ
XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết
về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là lí thuyết thích nghi của J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lí THPT
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại
Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời
sống sản xuất là:
Các đại lượng, các định luật và nguyên lý cơ bản
Những nội dung chính của một số thuyết vật lý quan trọng nhất
Những ứng dụng phổ biến của vật lý trong đời sống và sản xuất
Trang 13 Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của vật lý, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng
Trong việc dạy học vật lí ngoài việc cung cấp kiến thức cho HS thì GV cần phải chú ý rèn luyện cho HS những kĩ năng sau:
Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm, điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các
nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập VL
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến và các thiết bị tương đối hiện đại của VL, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL
Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình VL, cũng như đề ra phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
Vận dụng kiến thức để mô tả, giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải các bài tập vật lí
Phát hiện và giải quyết vấn đề vật lí ở mức độ phổ thông trong khoa học, đời sống và sản xuất
Sử dụng các thuật ngữ vật lí, các biểu bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm
Trong việc dạy học vật lí ngoài việc giúp HS đạt được những kiến thức cơ bản của chương trình, rèn luyện và phát triển các kĩ năng thì cần chú ý bồi dưỡng cho HS những tình cảm, thái độ tác phong mà môn vật lí có nhiều ưu thế để thực hiện đó là:
Có hứng thú học vật lý, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp vật lý học cho sự tiến bộ xã hội và đối với công lao của các nhà
khoa học
Có thái độ khách quan trung thực, có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và
có tinh thần hợp tác trong việc học tập vật lý, cũng như áp dụng các hiểu biết
Trang 14 Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lý vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở lớp 12 theo CT THPT mới
1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn chú
ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng
Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ
GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng công thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS
sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu học sinh tự học, chỉ giảng giải những chỗ HS không thể hiểu được ở lớp và ở nhà
“GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được kiên quyết không
làm thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà
Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn
đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được
Trong quá trình giải quyết VĐHT, GV cần cân nhắc việc gì HS làm được, việc
gì cần trợ giúp, giảng giải phát hiện VĐ Trong mọi bài học, GV tìm ra một số chỗ
để HS tự lực hoạt động” ([7], Tr 52)
1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Kiểu dạy học nêu và GQVĐ (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi GQVĐ theo cách của các nhà khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú HĐ sáng tạo; vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã
có của mình không đủ để giải quyết
Trang 15Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không
đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ HĐ xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả
Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp tìm tòi nghiên cứu GQVĐ một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát
+ Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
+ Phát biểu kết luận
Muốn thực hiện được các khâu của phương pháp này, HS phải thực hiện việc thu thập thông tin, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này lại có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Sự kết hợp đó được thực hiện thông qua các suy luận lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa v.v…
Đối với Vật lí học thì quan sát thấy gì mới chỉ là một nữa, chỉ mới là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài và điều này không quá khó khăn Điều khó khăn và quan trọng hơn là thực hiện các phép suy luận để rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng Điều thứ hai này GV rất khó nắm bắt Cần phải tập cho
HS phát biểu ý kiến của họ thành lời mới biết được họ có hiểu hay không Bởi vậy, cần kiên trì tạo điều kiện cho HS phát biểu, tranh luận
1.4.3 Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức vật lí
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp
Trang 16Về PPTN: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc củng cố bảng
số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn
Về PP mô hình: Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản
chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học
Về PP tương tự: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học,
trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :
+ Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối tượng đã biết định đem đối chiếu
+ Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng Kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng đã biết
+ Chuyển dấu hiệu khác biệt của đối tượng đã biết cho đối tượng nghiên cứu bằng suy luận tương tự
+ Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận thu được (hoặc các hệ quả của chúng) bằng thực nghiệm ở chính đối tượng nghiên cứu
1.4.4 Tận dụng những phương tiện DH mới, trang thiết bị TN mới; phát huy tính sáng tạo của GV trong việc làm và sử dụng đồ dùng DH
a Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị dạy học
Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Sử dụng PTDH, TBDH không chỉ là PT của việc dạy mà còn là PTcủa việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp
Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường
Trang 17 Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của PTDH, TBDH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm.
Trong quá trình biên soạn chương trình SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH, thiết bị DH theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị DH
b Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị DH
Cần sử dụng PT, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Tăng cường sử dụng PTDH, TBDH, phải coi đó là PT để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm
Tận dụng PTDH, TBDH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)
c Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện DH, thiết bị DH
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH
Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của mỗi PP
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH, TBDH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy
mà ngược lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của GV trong QTDH có sử dụng CNTT
Sử dụng CNTT như PTDH, TBDH không phải chỉ nhằm thí điểm DH với CNTT mà còn góp phần DH về CNTT
Trang 18 Sử dụng CNTT như một PTDH, TBDH, không phải chỉ để thực hiện DH với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả trong điều kiện không có máy
1.4.5 Tăng cường áp dụng PPDH theo nhóm hợp tác
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức bên ngoài của PPDH, được thiết lập theo những cấu trúc xác định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
a Dạy học với hình thức tổ chức hội thảo
Hình thức hội thảo là người dạy tổ chức và điều khiển các thành viên trong lớp học trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về nội dung học tập, qua đó đạt được mục đích dạy học
Hai hoặc nhiều người trao đổi ý kiến với nhau, ta nói họ đang thảo luận Thảo luận có thể áp dụng với mọi hoạt động của lớp học đòi hỏi có sự tham gia hợp tác để tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề được đặt ra trong bài học GV là người nêu vấn
đề, khích lệ người học thảo luận nhằm đạt mục đích của bài học, do đó hình thức này cần sự tham gia tích cực của tất cả mọi người
b Dạy học với hình thức hợp tác, thảo luận theo nhóm nhỏ
Dạy học với hình thức hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV
c E-learning
Học tập (Learning) là gì? Là việc xử lí những thông tin mà người học thu được, nó được tạo nên sự thay đổi hoặc làm tăng kiến thức và khả năng, năng lực của người học
E-learning là việc thực hiện các chương trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng thông qua các phương tiện điện tử E-learning liên quan tới việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trong một phương diện nào đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng
d Dạy học theo hình thức tổ chức thực hiện Dự án
Trang 19Dự án là một dự định, một kế hoạch, trong đó xác định rõ mục tiêu, thời gian, tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và các hoạt động phải thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu
là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học
1.5.1 Một số hình thức trình bày kế hoạch bài học
Viết hệ thống các hoạt động (HĐ) theo thứ tự tuyến tính từ trên xuống dưới Viết hệ thống các HĐ theo 2 cột: HĐ của GV và HĐ của HS
Viết 3 cột: HĐ của GV, HĐ của HS, nội dung ghi bảng, hoặc tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
Viết 4 cột: HĐ của GV, HĐ của HS, nội dung ghi bảng, tiêu dề nội dung chính
và thời gian thực hiện
1.5.2 Một số hoạt động phổ biến
* Hoạt động : Kiểm tra kiến thức cũ
*Hoạt động : Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
-Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Quan sát, theo dõi giáo viên đặt vấn đề
-Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
-Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Trang 20* Hoạt động : Xử lí thông tin
* Hoạt động : Truyền đạt thông tin
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu
-Yêu cầu HS hoạt động
-Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu
-Giảng sơ lược nếu cần thiết
-Làm thí nghiệm biểu diễn
-Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
luật của hiện tượng
-Trả lời các câu hỏi của GV
-Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc
trong lớp
-Rút ra nhận xét hay kết luận từ những
thông tin thu được
-Đánh giá nhận xét, kết luận của HS -Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS -Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị và rút ra nhận xét, kết luận
-Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp -Tổ chức hợp thức hóa kết luận
-Hợp thức về thời gian
Hoạt động của HS Hoạt động của GV -Trả lời câu hỏi
-Giải thích các vấn đề
-Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận
-Báo cáo kết quả
-Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
-Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
-Hướng dẫn mẫu báo cáo
Trang 21* Hoạt động : Hướng dẫn học tập ở nhà
1.5.3 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài:
Tiết: theo phân phối chương trình
A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)
Hoạt động 1 (…phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)
Hoạt động 2 (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng 1
Hoạt động 3 (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng 2
Hoạt động i (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng k
Hoạt động n-1 (…phút): Vận dụng, củng cố
Hoạt động n (…phút): Hướng dẫn về nhà
D Rút kinh nghiệm
Ghi những nhận xét của giáo viên khi dạy xong
Hoạt động của HS Hoạt động của GV -Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
-Vận dụng vào thực tiễn
-Ghi chép những kết luận cơ bản
-Giải bài tập
-Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc
cá nhân hoặc theo nhóm
-Hướng dẫn trả lời
-Ra bài tập vận dụng
-Đánh giá, nhận xét giờ dạy
Hoạt động của HS Hoạt động của GV -Ghi câu hỏi bài tập về nhà
-Ghi những chuẩn bị cho bài sau
-Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
-Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
Trang 221.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Đổi mới PPDH là ĐK quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả DH
Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình: đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá; khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho HS thói quen học đối phó, học tủ, học lệch, học không “tư duy”
HS người ta thường dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi gồm các câu
hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình
Trắc nghiệm – Các hình thức trắc nghiệm
- Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường gồm nhiều câu hỏi hoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì câu trả lời là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng
- Trắc nghiệm gồm các dạng sau:
+ Trắc nghiệm đúng sai
+ Trắc nghiệm điền khuyết
+ Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
Trang 23+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn)
và phần thông tin (12, trang 14)
- Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
+ Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút
+ Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương,
phần, môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có: kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm (12, trang 15)
Những ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Cải thiện tính hợp thức, tính trung thực, tính nhạy cảm của bài kiểm tra; là
phương tiện thu nhận và chứa số lớn các câu trả lời trong thời gian ngắn
- Có thể tiến hành KT đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian ngắn
- Sự phân phối điểm trên một phổ rất rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng
trình độ của HS
- Cho phép đánh giá một cách hệ thống, chính xác ở mức cao Bài kiểm tra có
rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức
và kĩ năng, tránh được tình trạng học tủ, dạy tủ
- Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra
Những nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Khó khăn trong việc đánh giá một số kĩ năng: kĩ năng trình bày và viết ra những điều suy nghĩ, kĩ năng đưa ra các giải pháp trả lời mới và thậm chí là khả
năng tự viết lại những điều trong trí nhớ có liên quan đến bài kiểm tra
- Đưa ra các giải pháp sai cho HS Không có khả năng dẫn dắt việc đưa ra các câu trả lời
- Biên soạn câu hỏi khó, tốn nhiều thời gian
- Có thể có trường hợp HS có thể tìm ra cách trả lời hay hơn nên họ không thỏa mãn với phương án đã lựa chọn Hạn chế trong việc đánh giá khả năng sáng tạo của
HS
- Khó khăn trong việc truyền đạt miệng nội dung một câu hỏi trắc nghiệm KQ
Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn Vật Lí:
Trang 24- Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)
+ Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng
+ Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)
- Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra
- Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận
- Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm
1.6.3 Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT
Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đối với mỗi môn học và cấp học có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra năng lực cũng như kịp thời giúp HS cải thiện những mặt yếu kém Và có hai hình thức như sau:
a Kiểm tra thường xuyên: gồm kiểm tra vấn đáp và kiểm tra 15 phút
Kiểm tra vấn đáp được tiến hành trước, trong và sau khi học bài mới để kiểm tra kiến thức, thái độ HS ngay trong lớp học Nó giúp GV thu được những thông tin phản hồi nhanh chóng có tác dụng thúc đẩy HS tích cực học tập một cách thường xuyên Đồng thời kích thích sự tham gia của HS vào bài giảng của GV
Kiểm tra 15 phút thường được sử dụng khi kết thúc một bài học hay một số bài nhằm củng cố, ôn lại kiến thức cho HS
b Kiểm tra định kì
Là hình thức kiểm tra được sử dụng khi kết thúc một chương hay kết thúc một số chương nhằm đánh giá được kết thúc, kĩ năng của HS về những vấn đề tương đối hoàn chỉnh trong phạm vi đã học
1.6.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy với mục tiêu đã được đề ra để xác định thực trạng điểm mạnh, điểm yếu của người học và kết quả là đề ra những quyết định kịp thời nhằm uốn nắn, điều chỉnh có hiệu quả đối với các hoạt động dạy theo mục tiêu ấy, dành kết quả tối ưu.”
(J.M.De ketele)
Trang 25Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với các môn học nói chung và môn vật
lý nói riêng ở mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả giáo dục HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng môn học, từng bài học, từng bài kiểm tra
Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của học sinh theo mục tiêu giáo dục
Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trắc nghiệm từ luận và trắc nghiệm khác quan
Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian đảm bảo chính xác
Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và logic về nội dung
Từ thực trạng của việc đánh giá kết quả học tập ở trường THPT còn nhiều nhược điểm nên việc đánh giá được đổi mới trên nhiều phương diện: hình thức, mục
tiêu, nội dung đánh giá
1.6.5 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là : lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ
Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là một
người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu,
từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố
Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện,
Trang 26số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh
ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện
tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng
là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại sao?”, “nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể
mới : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng
áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng phương án này vào thực tiễn
Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin nhỏ
sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối qua hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận
Trang 27Tổng hợp là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn
tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ :
- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể
- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu
Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những
ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể
bổ sung cho nội dung
Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác
định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây
là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định
Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến
và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để
HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét,
động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng
Sau đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và thái độ:
Trang 28a Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom
b.Các mức độ hình thành kĩ năng theo Harrow
Làm được chính xác như mẫu trong các hoàn cảnh khác nhau
5 Làm thuần
thục
Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính xác, ít cần sự can thiệp của ý thức
Làm được chính xác như mẫu,
kĩ năng như bản năng
Mức độ Định nghĩa Sự thực hiện
1.Nhậnbiết Nhắc lại sự kiện Nhắc lại định lý, công thức
2.Thông hiểu Trình bày hoặc hiểu được ý nghĩa
của các sự kiện
Tìm được một trong các đại lượng liên quan công thức
3.Vận dụng Vận dụng các nguyên lí và các
trường hợp riêng biệt
Thiết kế được phương án khi
có đủ các thông số cần thiết 4.Phân tích
Vận dụng nguyên lý vào các trường hợp phức hợp
Thiết kế được phương án khi phải tìm các thông số cần
Trang 29c Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom
1.6.6 Vai trò của đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc thi và kiểm tra
Đối với GV: giúp cho GV đánh giá được kết quả dạy của bản thân và kết quả học cuả HS, qua đó có thể rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp dạy học nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học trong trường phổ thông
Đối với HS: giúp cho chính bản thân HS tự đánh giá được kết quả của chính mình, rèn luyện cho HS khả năng tự lực đặt và giải quyết các vấn đề, phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt trước những tình huống “có vấn đề”, khả năng lí giải các vấn
đề tư duy logic…đồng thời rèn luyện cho HS tính kĩ luật, thúc đẩy việc HT của HS Đối với các nhà quản lí giáo dục, kết quả thi và kiểm tra là những căn cứ pháp
lí cơ bản để đánh giá GV và HS, là những thông tin rất quan trọng làm cơ sở cho việc điều hành, chỉ đạo quá trình đào tạo trong nhà trường
lượng giá Trở thành có giá trị với bản thân Tin và bảo vệ cái đúng
4 Được tổ
chức hệ thống Xây dựng thành hệ thống có giá trị
Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột về giá trị
5 Hình thành
đặc trưng
Hình thành đặc trưng bản sắc riêng
Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen
Trang 30Chương 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC VẬT LÍ Ở THPT
2.1 Khái niệm tư duy
2.1.1 Định nghĩa tư duy
Theo M N sacdacop: “ Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật
và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản
chất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật và hiện tượng
mới, riêng lẻ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận
được”
I.N Tônxtôn đã viết: “ Kiến thức chỉ thật sự là kiến thức khi nào nó là thành
quả của cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ” Như vậy, trong quá trình
học thì cái mà HS lĩnh hội được chính là cách tư duy, cách tư duy sẽ còn lại trong
mỗi người học trong khi kiến thức có thể bị quên đi trong trí nhớ Hay nói cách khác
HS chỉ lĩnh hội được tri thức chỉ khi họ thật sự tư duy
Hiểu một cách khác theo tâm lí học thì tư duy là một quá trình tâm lý phản
ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính qui luật bên trong
của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Tư duy
là hình thức cao nhất của sự phản ánh, là mức độ nhận thức mới về chất so với cảm
giác và tri giác
Tóm lại, trong vật lí có thể hiểu tư duy là một quá trình nhận thức khái quát
và gián tiếp những sự vật hiện tượng của các hiện thực trong những dấu hiệu, những
thuộc tính bản chất của chúng, những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng,
đồng thời cũng là vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những
dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng quan hệ mới
2.1.2 Đặc điểm của tư duy
a Tư duy phản ánh hiện thực khách quan
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu, những nguyên tắc hay
nguyên lí chung, những khái niệm hay vật tiêu biểu và phản ánh khái quát tính phổ
biến của đối tượng Bởi vậy, tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính, sử
dụng những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm thực tế, những cơ sở trực quan
sinh động và giúp con người nhận thức hiện thực một cách toàn diện hơn
Trang 31
b Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ rời rạc của một sự vật, hiện tượng mà tư duy có khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách khái quát Có nghĩa là tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù
Ví dụ: dấu hiệu bản chất của kim loại là có tính dẫn nhiệt và dẫn điện… Nói cách khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát và nhờ điều này tư duy có thể cho phép ta đi sâu vào bản chất và mở rộng phạm vi nhận thức sang cả những sự vật, hiện tượng cụ thể mới trước đây mà ta chưa biết
c Tính gián tiếp
Nhận thức cảm tính chỉ phản ánh bản thân sự vật một cách trực tiếp Tư duy
giúp chúng ta hiểu biết những gì tác động trực tiếp, không cảm giác và quan sát được, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp Tư duy giúp quá trình hoạt động nhận thức của con người nhanh chóng thoát khỏi những sự vật cụ thể cảm tính và cho ta khả năng hiểu biết được những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất mà cảm giác tri giác không phản ánh được Đồng thời sử dụng những khái niệm để biểu đạt chúng, thay thế những sự vật cụ thể bằng những kí hiệu, bằng ngôn ngữ
Mặt khác nhờ có tính gián tiếp của tư duy mà con người đã nhận thức thế giới một cách sâu sắc hơn và mở rộng không giới hạn khả năng nhận thức của mình, con người không chỉ phản ánh những gì diễn ra trong hiện tại mà còn phản ánh được cả quá khứ và tương lai
d Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
Trong nhận thức cảm tính dù có ngôn ngữ hay không thì quá trình cảm giác,
tri giác vẫn diễn ra Nhưng nếu không có ngôn ngữ thì không có một quá trình tư duy nào vì ngôn ngữ là một phương tiện, là hình thức biểu đạt của tư duy Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy, nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy Không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không thể sử dụng được Đồng thời nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là một chuỗi âm vô nghĩa,
Trang 32Do đó tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là mối liên hệ giữa nội dung và hình thức
e Tính có vấn đề
Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ tuy còn cần thiết song không đủ sức giải quyết
Hoạt động tư duy chỉ nảy sinh trong hoàn cảnh có vấn đề nà con người quan tâm, đã nhận thức một cách đầy đủ và có nhu cầu giải đáp bằng những hiểu biết của mình hay chuyển thành nhiệm vụ của tư duy để giải quyết vấn đề đó, nghĩa là gặp phải tình huống có vấn đề
2.2 Quá trình tư duy
2.2.1 Các giai đoạn của một quá trình tư duy
Tư duy là một hành động trí tuệ, là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào
đó nảy sinh trong quá trình nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn Quá trình đó gồm các giai đoạn sau:
a Xác định vấn đề
Tư duy chỉ nảy sinh khi con người nhận thức được tình huống Tình huống là điều kiện quan trọng của tư duy Song không phải tình huống nào cũng nảy sinh tư duy Chỉ có những tình huống mà con người nhận thức rằng “có vấn đề” và cần phải giải quyết nó để thỏa mãn nhu cầu thì trong tình huống đó tư duy mới nảy sinh Mỗi người sẽ nhìn nhận vấn đề một cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu cá nhân Một người càng có nhiều kinh nghiệm trong một lĩnh vực nào đó càng dễ dàng nhìn ra một cách đầy đủ các mâu thuẫn Và nhu cầu của mỗi người cũng rất quan trọng Nếu người nào có nhu cầu cao trong vấn đề đó thì sẽ nhìn nhận vấn đề sâu sắc hơn những người có nhu cầu cơ bản
Trong giai đoạn này cần chú ý tránh xác định lệch hướng vấn đề Nếu xác đinh sai sẽ ảnh hưởng đến những bước sau và có thể không tìm ra phương pháp giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng của quá trình tư duy
b Xuất hiện các liên tưởng – huy động các tri thức, kinh nghiệm
Chủ thể tư duy huy động các tri thức, kinh nghiệm liên quan đến các vấn đề cần giải quyết từ đó xuất hiện các liên tưởng Sau khi xác định vấn đề chủ thể tư duy bắt tay vào việc tìm kiếm tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau và tập hợp những kinh
Trang 33nghiệm của bản thân hoặc kinh nghiệm học hỏi từ những người đi trước có liên quan đến vấn đề, từ đó liên tưởng trong đầu những nội dung có liên quan đến vấn đề
c Sàng lọc các liên tưởng hình thành giải quyết
Các tri thức kinh nghiệm thoạt đầu mang tính chất rộng rãi, bao trùm nên cần được sàng lọc cho phù hợp với nhiệm vụ tư duy Chủ thể tư duy tìm kiếm thông tin
từ nhiều phía nên lượng thông tin thu được rất lớn nhưng không phải thông tin nào cũng chính xác, cần phải lựa chọn những thông tin phù hợp và đáng tin cậy để đưa vào giải quyết vấn đề
d Kiểm tra giả thuyết
Nên trải qua một quá trình kiểm tra trước khi thực hiện các giả thuyết Cần kiểm tra xem giả thuyết nào tương ứng với điều kiện và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất Nếu:
Giả thuyết được khẳng định thì sẽ đi đến giải quyết vấn đề bằng giả thuyết đó
Giả thuyết bị phủ định thì hình thành một quá trình tư duy mới tìm ra giả thuyết mới phù hợp hơn để giải quyết vấn đề
Trong giai đoạn này sau khi kiểm tra các phương án đôi khi chủ thể tư duy sẽ phát hiện ra một số nhiệm vụ mới cần giải quyết
e Giải quyết vấn đề
Là khâu cuối cùng trong quá trình tư duy Khi giả thuyết đã được kiểm tra và khẳng định thì sẽ được thực hiện, nghĩa là đi đến câu trả lời cho vấn đề được đặt ra Sau khi giải quyết vấn đề đôi khi một số vấn đề mới lại nảy sinh Lúc đó, một quá trình tư duy mới lại bắt đầu
2.2.2 Các thao tác của quá trình tư duy
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm Hầu hết các khái niệm, các định luật vật
lý đều được xây dựng trên cơ sở phân tích các hiện tượng xảy ra trong thực tế và trong các thí nghiệm Trong quá trình này, HS phải thực hiện các thao tác trí tuệ nhất là các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa…
a Thao tác phân tích
Phân tích là quá trình con người dùng trí óc để phân chia các sự vật hiện tượng, trong quá trình hình thành mặt này hay mặt kia, thuộc tính này hay thuộc tính kia để nhận thức từng mặt hay từng thuộc tính của sự vật hiện tượng Đây là việc phân tích trong trí óc đối tượng nhận thức thành các bộ phận thành phần Xuất phát
Trang 34từ góc độ phân tích các hoạt đông tư duy đi sâu vào bản chất thuộc tính của bộ phận
đó đi tới những giả thuyết và những kết luận khoa học
b Thao tác tổng hợp
Tổng hợp là quá trình con người dùng trí tuệ để hợp nhất các thành phần của
sự vật hiện tượng qua phân tích thành một chỉnh thể Phân tích và tổng hợp là hai quá trình ngược nhau nhưng thống nhất với nhau, đan xen lẫn nhau, sự phân tích được tiến hành theo hướng của tổng hợp Còn tổng hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích Sự phân tích sâu sắc, phong phú là điều kiện quan trọng để tổng hợp được chính xác, trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ làm tiền đề quan trọng cho sự phân tích Phân tích và tổng hợp giúp ta hiểu sự vật và hiện tượng đầy đủ và sâu sắc hơn Thao tác phân tích và tổng hợp là hai thao tác cơ bản của hoạt đông trí tuệ và được chứa đựng trong mọi thao tác trí tuệ khác
c Thao tác so sánh
So sánh là dùng trí tuệ đặt các đối tượng cần so sánh như sự vật, hiện tượng, quá trình cạnh nhau để xác định cái giống nhau, cái khác nhau, cái tương tự giữa chúng So sánh có vai trò rất quan trọng trong qua trình nhận thức, so sánh là cơ sở của sự hiểu biết và tư duy Nhờ có sự so sánh các sự vật, hiện tượng khác nhau mà
ta có thể lĩnh hội các tài liệu với tính đa dạng độc đáo và phức tạp của chúng Sự so sánh có thể xảy ra ở những mức độ khác nhau: Có thể so sánh toàn phần hoặc so sánh trong một giới hạn nào đó Vì vậy, khi so sánh người ta phải xác định tiêu chuẩn để so sánh Đây là điều GV phải chú ý khi yêu cầu HS so sánh trong giờ học vật lí
d Thao tác trừu tượng hóa
Trừu tượng là một bộ phận của toàn bộ, tách ra khỏi toàn bộ, nó cố lập ra khỏi các mối liên hệ của các bộ phận mà nó giữ lại những thuộc tính cơ bản và loại
bỏ những thuộc tính không cơ bản
Thao tác trừu tượng hóa là quá trình gạt bỏ những liên hệ, những yếu tố, những thuộc tính thứ yếu, thuộc tính không cần thiết, căn bản, chỉ giữ lại những yếu
tố cần thiết để tư duy Trừu tượng hóa là sự nhấn mạnh các đặc điểm bản chất theo một quan niệm nhất định
Trang 35e Tháo tác khái quát hóa
Khái quát hóa là sự tổng hợp các đặc điểm chung của một loại sự vật hiên tượng Vì thuộc tính chung có thể là bản chất và cũng có thể không là bản chất Nhưng khái quát hóa bao giờ cũng là sự tổng kết các đặc điểm chung bản chất theo một quan điểm nhất định Vì vậy, giữa trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau Trừu tượng hóa tạo điều kiện cho khái quát hóa còn trong khái quát hóa các thuộc tính bản chất được nhấn mạnh thêm Trong thực tế nhiều khi khó tách bạch hai thao tác này
f Thao tác cụ thể hóa
Ngoài những thao tác trên thao tác cụ thể hóa cũng đóng vai trò không kém, đó
là vận dụng những khái niệm, định luật, quy tắc đã được khái quát hóa vào thực tiễn
để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể
Để cho HS có thể tự lực hoạt động nhận thức có kết quả và hoạt động với tốc
độ ngày càng nhanh thì GV phải luôn luôn có kế hoạch rèn luyện cho HS Chính trong quá trình hình thành các khái niệm phát hiện các định luật VL, HS phải thực hiện các thao tác Nhưng thao tác tư duy lại diễn ra trong đầu HS, cho nên GV không thể quan sát được mà uốn nắn trực tiếp Mặt khác HS cũng không thể quan sát được hành động của GV mà bắt chước Bởi vậy, GV có thể sử dụng những cơ sở định hướng sau đây để giúp HS có thể tự lực thực hiện các thao tác tư duy đó:
GV tổ chức quá trình HT sao cho ở từng giai đoạn hành động nhận thức xuất hiện những tình huống bắt buộc HS phải thực hiện các thao tác tư duy, mới có thể giải quyết được vấn đề và hoàn thành được nhiệm vụ HT
GV đưa ra những câu hỏi để định hướng cho HS tìm những thao tác tư duy hay PP suy luận hành động trí tuệ thích hợp
GV phân tích câu trả lời của HS, chỉ ra chỗ sai của họ trong khi thực hiện các tháo tác tư duy và hướng dẫn cách sửa chữa
GV giúp HS khái quát hóa kinh nghiệm thực hiện các suy luận logic dưới dạng những quy tắc đơn giản
Trang 362.2.3 Các loại tư duy
Dựa theo những dấu hiệu khác nhau thì có nhiều cách phân biệt tư duy Đối với dạy học vật lí, người ta quan tâm những loại tư duy chủ yếu dưới đây:
a Tư duy kinh nghiệm
Tư duy kinh nghiệm là một loại tư duy chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cảm tính
và sử dụng PP “ thử và sai” Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó, thử mò mẫn thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công, sau đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao Kiểu tư duy này đơn giản, không cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hằng ngày
để giải quyết mọi số vấn đề trong phạm vi hẹp Ví dụ đứng trước một máy thu hình
có nhiều nút bấm, một HS bấm thử tất cả các nút Sau một số lần bấm, em đó nhận ra rằng ấn nút thứ nhất thì có hình ảnh, ấn nút thứ hai thì có tiếng mà không biết tại sao Kinh nghiệm này không áp dụng cho các loại máy thu hình khác, trong đó không có nút bấm mà có núm xoay hoặc cần gạt
b Tư duy lí luận
Tư duy lí luận là một loại tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lí luận Đặc trưng của loại tư duy này là:
Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng quy tắc, quy luật chung ngày một sâu rộng hơn
Tự định hướng hành động, suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động
Luôn sử dụng các tri thức khái quát đã có để lí giải, dự đoán những sự vật, hiện tượng cụ thể
Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lí luận, xác định được phạm vi ứng dụng với mỗi lí thuyết
Tư duy lí luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có được Nhờ có tư duy lí luận, con người mới có thể đi sâu được vào bản chất của sự vật hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng những tri thức khái quát đó để cải tạo bản thân và làm biến đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình
Trang 37c Tư duy logic
Tư duy logic là tư duy tuân theo các nguyên tắc, quy luật của logic học một cách chặt chẽ, chính xác, không phạm phải các sai lầm trong cách lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức được đúng đắn chân lí khách quan
Logic học là một khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặt hình thức logic của chúng và xây dựng những nguyên tắc, quy luật mà việc tuân theo chúng là điều kiện cần để đạt tới chân lí trong quá trình suy luận Con người bằng kinh nghiệm của mình đã suy nghĩ theo những quy luật nhất định rất lâu trước khi nhũng quy luật được khoa học logic khám phá ra Những quy luật của logic học mà mỗi người sử dụng trong quá trình hoạt động tư duy không phải là con người tự ý tái tạo ra mà là sự phản ánh những mối liên hệ và quan hệ khách quan của sự vật và hiện tượng quanh ta Bởi thế dù chưa biết logic học nhưng con người bằng kinh nghiệm sống của mình đã có thể trao đổi tư tưởng với nhau, thông hiểu nhau và thống nhất được với nhau trong một số lập luận, phán đoán Tuy nhiên điều kiện đó chỉ xảy ra trong một số trường hợp đơn giản, còn khi những trường hợp phức tạp thì khó có thể thông hiểu lẫn nhau, hoặc khó phân biệt đúng hay sai, nếu không nắm vững và vận dụng đúng đắn những quy tắc, quy luật logic học VD: HS có thể dễ dàng tin rằng lập luận sau đây là đúng, dù không hiểu lí do tại sao:
Tất cả kim loại đều dẫn điện
Vật này là kim loại:
Vậy: Vật này dẫn điện
Nhưng họ có thể biết rằng lập luận dưới đây là đúng hay sai:
Tất cả kim loại đều dẫn điện
Vật này dẫn điện
Vậy: Vật này là kim loại
Tuy nhiên, đối với HS ở trường phổ thông, không thể dạy cho họ logic học để sau đó, họ mới vận dụng các quy tắc, và quy luật logic để suy nghĩ, lập luận Trái lại,
ta có thể thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích lũy dần kinh nghiệm mà đến một lúc nào đó sẽ tự tổng kết thành những quy tắc đơn giản thường dùng
Tư duy logic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức, cho nên phải thường xuyên rèn luyện cho HS cách tư duy logic
Trang 38d Tư duy Vật lí
Ta hiểu tư duy VL là sự quan sát các hiện tượng VL, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và các đại lượng VL, dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và
áp dụng những KT khái quát vào thực tiễn
Các hiện tượng VL trong tự nhiên rất phức tạp, nhưng những định luật chi phối chúng thường lại rất đơn giản, vì mỗi hiện tượng bị nhiều yếu tố tác động chồng chéo lên nhau hoặc nối tiếp nhau mà ta chỉ quan sát được kết quả tổng hợp cuối cùng Bởi vậy, muốn nhận thức được những đặc tính bản chất và quy luật của tự nhiên thì việc đầu tiên là phải phân tích được hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, những giai đoạn bị chi phối bởi một số ít nguyên nhân, bị tác động bởi một số
ít yếu tố, tốt nhất là một nguyên nhân, một yếu tố Có như thế ta mới xác lập được những mối quan hệ bản chất, trực tiếp, những sự phụ thuộc định lượng giữa những đại lượng VL dùng để đo lường những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Muốn biết những kết luận khái quát thu được có phản đúng hiện thực khách quan không, ta phải kiểm tra lại trong thực tiễn Để làm việc đó, ta phải xuất phát từ những kết luận khái quát, suy ra những hệ quả, dự đoán những hiện tượng mới có thể quan sát được trong thực tiễn Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng mới đúng như dự đoán thì kết luận khái quát ban đầu mới được xác nhận là chân lý Mặt khác, việc vận dụng những KT VL khái quát vào thực tiễn tạo điều kiện cho con người cải tạo thực tiễn, làm cho các hiện tượng VL xảy ra theo hướng có lợi cho con người, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăng của con người
Trong quá trình nhận thức VL như trên, con người sử dụng tổng hợp, xen kẽ nhiều hình thức tư duy, trong đó có hình thức tư duy chung như tư duy lí luận, tư duy logic và hình thức đặc thù của VL học như thực nghiệm, mô hình hóa…
VD: Quan sát hiện tượng các vật nổi hay chìm trong nước, ta thấy rất phức tạp Thông thường vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi, nhưng cũng có trường hợp vật nặng thì nổi và vật nhẹ lại chìm Hai vật nặng cùng thả trong nước nhưng vật thì nổi, vật kia lại chìm Hình như cả trọng lượng, hình dạng, kích thước, bản chất của vật, của chất lỏng đều ảnh hưởng đến hiện tượng này Sự quan sát trực tiếp những hiện tượng đa dạng đó trong tự nhiên khó có thể rút ra được điều gì chung , khó mà phát hiện được quy luật chi phối hiện tượng Ta phải phân tích xem có yếu tố nào ảnh
Trang 39hưởng đến hiện tượng nổi và xem xét từng yếu tố một Chẳng hạn vật nhúng trong nước chịu tác dụng của hai lực: trọng lượng kéo vật xuống và nước đẩy vật lên Lực đẩy của nước lên vật cũng là một hiện tượng phức tạp, phụ thuộc vào cả vật và cả chất lỏng: phụ thuộc vào thể tích của vật và vào trọng lượng riêng của chất lỏng Cuối cùng thì hiện tượng nổi của một vật nhúng trong chất lỏng rất đa dạng và phức tạp lại bị chi phối bởi một loạt những tính chất, quy luật đơn giản sau:
2.2.4 Các biện pháp phát triển tư duy
a Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tò mò, ham muốn hiểu biết của HS
Tư duy là quá trình tâm lý diễn ra trong đầu HS Tư duy chỉ thật sự có hiệu quả khi HS tự giác mang hết sức mình để thực hiện Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu HS xuất hiện một câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết nhiệm
vụ đó, cần phải xây dựng KT mới, tìm giải pháp mới Lúc đó HS vừa ở trạng thái tâm lý hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khao khát vượt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được một trình độ cao hơn trên con đường nhận thức Ta nói
rằng: HS được đặt vào “tình huống có vấn đề”
Có thể tạo ra nhu cầu, hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài, chẳng hạn: khen thưởng, sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn một tương lai tươi đẹp, thực tế xây dựng quê hương đất nước…Những sự kích thích này không được thường xuyên, bền vững và phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh của mỗi HS
Nhu cầu, hứng thú có thể nảy sinh ngay trong quá trình HT, nghiên cứu một môn học, một bài học, nghĩa là từ nội bộ môn học, từ mâu thuẫn nội tại của quá trình nhận thức
Những tình huống điển hình hay gặp trong dạy học VL là:
Trang 40HS đứng trước một vấn đề mới chỉ được giải quyết một phần, một bộ phận, trong một phạm vi hẹp, cần phải được tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang những phạm vi mới, lĩnh vực mới Phát triển hoàn thiện vốn KT của mình luôn là niềm khát khao của tuổi trẻ Ngoài ra, như Risa Fâyman nói đó cũng là con đường phát triển của khoa học Quá trình phát triển, hoàn thiện vốn KT sẽ đem lại những kết quả mới (KT mới, KN mới, PP mới) nhưng trong quá trình đó, vẫn có thể sử dụng những KT, KN và PP đã biết cho đến lúc gặp mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng vốn hiểu biết cũ
HS đứng trước một hiện tượng lạ có những nét đặc biệt lôi cuốn sự chú ý của
họ mà họ chưa thấy bao giờ
Chú ý rằng với cùng một hiện tượng VL, GV có thể tạo ra tình hướng này hay tình huống khác, tùy theo cách chuẩn bị cho HS, nghĩa là đưa HS đến chỗ nhận ra mâu thuẫn bằng cách nào
b Xây dựng một logic nội dung phù hợp với đối tượng HS
VL học đưa vào DH ở trường phổ thông không phải là VL học được trình bày dưới dạng hiện đại nhất của khoa học, bởi nếu như vậy thì nhiều khi HS không hiểu được Hơn nữa, ta lại yêu cầu HS phải tự lực hoạt động để xây dựng, để chiếm lĩnh
KT Bởi vậy, GV phải tìm một con đường thích hợp vừa với trình độ HS để họ có thể