Chính vì thế việc phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo cho HS trong DH là một yêu cầu có tính nguyên tắc, phải dạy cho HS không những nắm kiến thức mà còn vận dụng được các PPNTĐT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
MSSV: 1100234 Lớp: SP Vật Lý K36
Cần Thơ, 5/2014
Trang 2
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Giả thuyết khoa học 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đối tượng nghiên cứu 6
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 7
8 Các chữ viết tắt 7
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRUNG HỌC PT 8
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục Trung học phổ thông 8
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 8
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới 9
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 10
1.2.1 Khắc phục lối dạy học truyền thống 10
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS 11
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 12
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học 12
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lý Trung học phổ thông 13
1.3.1 Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống 13
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng 14
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm 14
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 10 theo chương trình THPT mới 15
1.5 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 11 theo chương trình THPT mới 15
1.6 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 12 theo chương trình THPT mới 15
1.6.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 15
1.6.2 Áp dụng rộng rãi kiểu học Phát hiện – Giải quyết vấn đề 16
1.6.3 Rèn luyện các phương pháp nhận thức Vật lý 17
1.6.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị mới, phát huy sáng tạo
Trang 3của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học 17
1.6.5 Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm hay hợp tác 19
1.7 Đổi mới thiết kế bài học 20
1.7.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án 20
1.7.2 Một số hình thức trình bày kế hoạch bài học 21
1.7.3 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học 21
1.7.4 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 23
1.8 Đổi mới kiểm tra đánh giá 24
1.8.1 Quan điểm cơ bản về kiểm tra đánh giá 24
1.8.2 Các hình thức kiểm tra 25
1.8.3 Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá 26
1.8.4 Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 27
1.8.5 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận 29
Chương 2 TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THPT 30
2.1 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lý 30
2.2 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh 30
2.3 Các phương pháp dạy học tích cực hỗ trợ phát triển năng lực sáng tạo cho HS 32
2.3.1 Phương pháp dạy học nhóm hay hợp tác 32
2.3.2 Phương pháp tự học 36
2.3.3 Phương pháp thực nghiệm 39
2.3.4 Phương pháp giải quyết vấn đề 48
2.3.5 Phương pháp đọc sách 56
Chương 3 BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT 58
3.1 Khái niệm năng lực 58
3.2 Sự hình thành và phát triển năng lực 58
3.2.1 Yếu tố sinh học 58
3.2.2 Yếu tố hoạt động của củ thể 59
3.2.3 Yếu tố môi trường, xã hội 59
3.2.4 Vai trò của giáo dục trong việc hình thành các năng lực 60
3.3 Khái niệm năng lực sáng tạo 61
3.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sang tạo của học sinh 62
Trang 4
3.4.1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới 62
3.4.2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết 63
3.4.3 Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán 66
3.4.4 Giải các bài tập sáng tạo 68
Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 6 SÓNG ÁNH SÁNG, VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 69
4.1 Đại cương chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao 69
4.1.1 Vị trí, vai trò của chương 69
4.1.2 Mục tiêu về chuẩn kiến thức, kĩ năng 70
4.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 72
4.2 Thiết kế giáo án một số bài trong chương 73
4.2.1 Bài 35 Tán sắc ánh sáng 73
4.2.2 Bài 36 Nhiễu xạ ánh sáng Giao thoa ánh sáng 79
4.2.3 Bài 37 Khoảng vân – Bước sóng và màu sắc ánh sáng 81
4.2.4 Bài 39 Máy quang phổ - Các loại quang phổ 91
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 99
5.1 Mục đích thực nghiệm 99
5.2 Nội dung thực nghiệm 99
5.3 Đối tượng thực nghiệm 99
5.4 Kế hoạch giảng dạy 99
5.5 Kết quả thực nghiệm 99
5.5.1 Đề kiểm tra 1 tiết chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao 99
5.2.2 Kết quả kiểm tra 106
NHẬN XÉT, KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, viễn cảnh sôi động, tươi đẹp, nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi ngành
GDĐT có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới
và khu vực, sự nghiệp GDĐT phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng trí tuệ khoa học,
năng lực sáng tạo cho thế hệ trẻ, muốn vậy chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm
của các nước tiên tiến mà còn phải biết áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo,
tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đất nước Định hướng này
đã được xác định trong Nghị quyết TW2, khóa VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của
người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy
và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh ”
Ngày nay, KH GD trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang coi trọng những
nghiên cứu đổi mới DH ở trường PT theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực sáng
tạo của HS, phát huy tính tích cực, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải
quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn cuộc sống và với sự phát triển của kinh tế tri
thức
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm do đó xuất phát từ mục đích của việc giảng
dạy VL trong trường PT không thể chỉ hạn chế ở việc truyền thụ kiến thức đơn thuần mà
điều quan trọng hơn là phải tạo ra cho HS tiềm lực để họ có thể đi xa hơn những gì mà nhà
trường đã cung cấp cho họ Chính vì thế việc phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo
cho HS trong DH là một yêu cầu có tính nguyên tắc, phải dạy cho HS không những nắm
kiến thức mà còn vận dụng được các PPNTĐT của VL (PPTN, PPTT, PPMH), và trong quá
trình dạy học cần từng bước hướng dẫn HS tập vận dụng các phương pháp này
Xuất phát từ mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang bị bằng việc nghiên
cứu giảng dạy Trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, sửa chữa sai sót trao đổi với thầy cô hướng
dẫn phương pháp ngay khi còn trên giảng đường Đại Học
Bên cạnh đó, hiện nay các bộ sách thí điểm đã được biên soạn thành bộ chuẩn và bộ
nâng cao với yêu cầu phải dạy theo phương pháp dạy học tích cực
Trang 6
Chính vì vậy tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Phát huy tính tích cực và sáng
tạo của HS khi giảng dạy chương 2 Dao động cơ, Vật Lý 12 NC theo tinh thần áp
dụng PPGQVĐ”
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu vấn đề phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS khi giảng dạy chương 2
dao động cơ theo tinh thần áp dụng PPGQVĐ
3 Giả thuyết khoa học:
Vận dụng lí luận dạy học hiện đại có thể nghiên cứu: Phát huy tính tích cực và sáng
tạo của HS khi áp dụng PPGQVD GD chương 2 Dao động cơ, VL 12 NC
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận: Phương pháp DHVL
Nghiên cứu chương 2 Dao động cơ, VL 12 NC: mục tiêu, sơ đồ, cấu trúc nội dung
Vận dụng và soạn giảng thử nghiệm một số bài nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo
cho HS
Thiết kế một số bài trong chương trình:
Bài 6: Dao động điều hòa
Bài 7: Con lắc đơn Con lắc vật lý
Bài 8: Năng lượng trong dao động điều hòa
Bài 10: Dao động tắt dần và dao động duy trì
Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như: Overhead, máy trình chiếu…
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở THPT
Sử dụng máy tính cầm tay ở dạng số phức để tính nhanh tổng hợp dao động
5 Phương pháp nghiên cứu của PPDH vật lý:
Nghiên cứu lí luận: Các tài liệu về PPDHVL, các tài liệu bồi dưỡng GV10, 11, 12
Quan sát sư phạm
Tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết, rút kinh nghiệm của những cá nhân, tập thể đi
trước
Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành giảng dạy một số bài trong chương 2, VL 12 NC ở
THPT, tiến hành kiểm tra 1 tiết, đánh giá kết quả
Trang 76 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trong đó thể hiện các biện pháp
thực hiện theo hướng nghiêm cứu của đề tài: Phát huy tính tích cực và sáng tạo của
HS khi áp dụng PPGQVD GD chương 2 Dao động cơ , VL lớp 12 NC
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài
Giai đoạn 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với thầy hướng dẫn nhận đề tài nghiên
cứu
Giai đoạn 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết, đảm bảo khoa học, logic,…
Giai đoạn 3: Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài
Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung và phương pháp xây dựng chương 2 Dao động cơ
học, VL 12 NC
Giai đoạn 5: Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở THPT
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng Powerpoint
Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp trước hội đồng
8 Các chữ viết tắt trong Luận Văn
- Phương pháp giải quyết vấn đề: PPGQVD
- Giáo dục: GD - Học sinh: HS
- Giáo viên: GV - Vật lý: VL
- Sách giáo khoa: SGK - Nâng cao: NC
- Trung học phổ thông: THPT - Trung Ương: TW
- Công nghiệp hóa: CNH - Hiện đại hóa: HDH
- Phương pháp giáo dục: PPGD - Thực nghiệm sư phạm: TNSP
- Dạy học vật lý: DHVL - Bồi dưỡng giáo viên: BDGV
Trang 8
CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục ở trung học phổ thông
1.1.1 Mục tiêu mới của nền giáo dục nước ta
Văn bản chương trình GD cấp THPT đã trình bày mục tiêu cấp học theo Luật GD
quy định : “ Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của GD
THCS, nhằm hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và
hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục
học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.”
Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu cụ thể của cấp THPT được xây
dựng, thể hiện qua yêu cầu HS học cấp THPT phải đạt được ở các mặt GD: tư tưởng, đạo
đức lối sống; học vấn kiến thức phổ thông: hiểu biết kỹ thuật và hướng nghiệp, kỹ năng học
tập và vận dụng kiến thức; về thể chất và xúc cảm thẩm mỹ
Những yêu cầu này đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của GD là “ đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện” Song để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng GD toàn
diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu quê hương và gia đình; tinh
thần tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa; lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật; tinh
thần hiếu học, chí tiến thủ lập thân, lập nghiệp ngoài những giá trị truyền thống cần được kế
thừa và phát triển như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng nhân ái, thái độ quý trọng
và nhiệt tình lao động, ý thức trách nhiệm, các kỹ năng cơ bản,…còn có những giá trị mới
xuất hiện trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế có sự chi
phối của cơ chế thị trường, từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế
tri thức như: tư duy phê phán và khả năng sáng tạo: năng lực tổng hợp, chuyển đổi và ứng
dụng thông tin vào hoàn cảnh mới để giải quyết các vấn đề đặt ra, để thích ứng với những
thay đổi trong cuộc sống, năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả: năng lực chuyển đổi
nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động; năng lực quản lý v.v…
Do đó trong nội dung của mục tiêu cụ thể của giáo dục THPT có một số điểm mới cần được
lưu ý như sau:
- Sống lành mạnh, tự tin, tự tôn dân tộc, có chí lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn
- Có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường, có khả năng ứng
dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông trong giải quyết công
việc
Trang 9- Phát triển và nâng cao các kỹ năng học tập chung, kỹ năng vận dụng kiến thức vào
các tình huống học tập mới vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình,
cộng đồng
Quán triệt mục tiêu GD cấp THPT là yêu cầu đầu tiên trong quá trình xây dựng lại
chương trình, biên soạn lại SGK các môn học Các điểm mới của mục tiêu GD cấp học đã
được tác giả chương trình SGK phân tích kỹ lưỡng và triển khai vào mục tiêu, nhiệm vụ và
nội dung từng môn học
1.1.2 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới
Rút kinh nghiệm từ những lần thay sách trước đây, việc đổi mới chương trình, SGK
lần này đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học Chỉ có sự đổi mới căn bản
phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong GD, mới có
thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh
nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã dược xác định trong nghị quyết
Trung Ương 4 khóa VII (1- 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII ( 12-1996), được
thể chế hóa trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999)
- Luật Giáo dục điều 28.2, đã ghi “phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
- Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động,
chống lại thói quen học tập thụ động
- Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được các tác giả sách quán triệt vào quá
trình lựa chọn vào nội dung SGK, vào việc trình bày SGK và sách giáo viên Giáo viên và
cán bộ quản lý trường THPT cần nắm được những yêu cầu và quy trình đổi mới các
phương pháp dạy học
Trang 10
Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học tập của học sinh
+ Trong phương pháp tổ chức, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng
thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo
viên tổ chức và chỉ đạo,thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không
phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình
huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải
quyết vấn đề đặt ra theo suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kỹ năng mới, vừa nắm được
phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có,
được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
+ Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn
hướng dẫn hành động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết
hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một
biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
+ Trong xã hội đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật,
công nghệ phát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến
thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp Tiểu học
và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng
+ Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng
ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên
gấp bội Vì vậy ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học,
nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động, đặt vấn đề phát
triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự
học cả trong tiết học có sự hướng dẩn của giáo viên
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
+ Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng
đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về
cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành
một chuỗi công tác độc lập
Trang 11+ Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ ngày càng cao thì sự phân hóa ngày
càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng
yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
+ Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy –
trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội
dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc
lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học được nâng mình lên một trình độ mới Bài
học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
+ Trong nhà trường phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp
hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4
đến 6 người
+ Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên
quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn
bị cho học sinh
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
+ Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
+ Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV
phải hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với
điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh
giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc
sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
+ Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người
năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng
lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí
thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
+ Với sự giúp đỡ của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một
công việc năng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều
chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Trang 12
+ Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn
các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ
động đạt các
mục tiêu kiến thức, kỹ năng thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động
là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn GA, GV đã phải đầu tư công
sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai
trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào
hứng, tranh luận sôi nổi của HS GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư
phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi
diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lý của GV
Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Dạy
HS cách tìm ra chân lý
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo Học để đối phó
với thi cử Sau khi thi xong
những điều đã họ thường bị bỏ
quên hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thức các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học
Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
Nội dung Từ SGK+SGV
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu
Trang 13của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi
trường địa phương
- Những vấn đề HS quan tâm
Phương
pháp Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải
quyết vấn đề dạy học tương tác
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng
thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm,
cả lớp đối diện với GV
Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở THPT
- Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học
truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc được đào tạo trong
trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỷ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực
Các sách lý luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức thì các phương pháp thực
hành là “ tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan thì “ tích
cực” hơn các phương pháp dùng lời
- Muốn thực hiện dạy học tích cực thì cần phát triển các phương pháp thực hành, các
phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi
dạy các môn khoa học thực nghiệm
- Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ
thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để GD từng bước tiến lên vững chắc Theo
hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây
+ Vấn đáp tìm tòi:
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời,
hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được bài học
Có ba phương pháp (mức độ ) vấn đáp : vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh
họa và vấn đáp tìm tòi
Trang 14
+ Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt,
thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng
lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra
và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình
và cộng
đồng không chỉ có ý nghĩa ở PPDH mà phải đặt như một mục tiêu GD và đào tạo Trong
dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được
phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một
năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề
nảy sinh Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH,
nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ
thống nhất với PPDH
+ Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số GV Ở những trường từng tham gia
các dự án GD dân số, GD môi trường, phòng chống HIV/AIDS, lạm dụng ma túy, GV đã
được làm quen với phương pháp này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn
PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm
của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ,
mỗi người có trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm
những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận
thụ động từ GV
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì
vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương
pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng HS với sự việc chung của cả lớp Trong
hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý quan trọng của phương
pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần
tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là
dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH
càng đổi mới
Trang 15+ Dạy theo dự án
Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế - xã hội, đặc
trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án Khái niệm
dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục
tiêu, thời gian, phương tiện hành chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần được thực
hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có
tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của GV
nhiều môn học
Dạy học theo dự án là hình thức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ HT
phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực
hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là
những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương
trình hành động cụ thể,…
Những phương pháp gợi ý trên đây là chung cho nhiều môn học ở trường phổ thông
Tùy từng môn học có thể vận dung một số phương pháp đặc thù khác
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH vật lý ở trường THPT
1.2.1 Khắc phục cách học truyền thống (lối truyền thụ một chiều)
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các PPDH truyền thống, tuy
nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới GV phải lựa chọn PPDH theo một chiến
lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong
những tình huống cụ thể
Từ những nhược điểm cơ bản của kiểu dạy học cũ là GV độc thoại, giảng giải, kiểm
tra, đánh giá, còn HS thì học một cách thụ động, cố ghi nhớ, nhắc lại kiến thức, làm theo
mẫu Chiến lược DH này xuất phát từ quan niệm về nhiệm vụ của giáo dục chỉ là một sự
truyền đạt đơn giản những kiến thức, kinh nghiệm xã hội như những sản phẩm hoàn chỉnh
đã được thử thách Theo kiểu dạy học này, trung tâm chú ý là nội dung các kiến thức cần
dạy Song, nếu chỉ quan tâm tới bản thân nội dung kiến thức được trình bày thì dù tốt đến
đâu vẫn chưa phải là sự xác định một cách cụ thể HS cần đạt được những khả năng gì trong
hoặc sau khi học, và bằng cách nào đảm bảo cho HS đạt được các khả năng đó Chính vì
Trang 16
vậy nó hạn chế chất lượng và hiệu quả dạy học Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một
chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại
đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề, hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng
hi sinh đặc quyền của mình,
tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong
HT Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không
thích ứng được với đòi hỏi mới
Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò
đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung HT, chủ động đạt
các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
HS tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống học tập…Trên lớp,
HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV đã
phải
đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện
bài lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài” trong
các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS, GV phải có trình độ chuyên môn
sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của
HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
Bên cạnh đó việc đổi mới SGK, thiết bị thí nghiệm, áp dụng các phương pháp chung
của nhận thức khoa học, những PP NTĐT của VL, tăng cường sử dụng các phương tiện DH
hiện đại… cũng đóng vai trò quan trọng không kém góp phần kích thích HS chủ động, hứng
thú tham gia vào hoạt động học tập
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Thực tế cho thấy bất cứ một việc HT nào đều phải thông qua hoạt động tự học của
người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, một đặc trưng quan
trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kỹ thuật là rất hiện đại
của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Ta có thể kể rất
nhiều thí dụ: sự phát triển của máy tính điện tử, máy thu thanh, thu hình, máy ghi âm, điện
thoại, máy ảnh…Do những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi
con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin bởi vì những điều học được
Trang 17trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào
một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm
nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển
rất nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đai Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi
HS phải tự lực động não
để tiếp thu những điều cần học Không ai có thể học thay ai Vì vậy, trong những hoạt động
cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng PP tự học cho HS Chẳng hạn:
- Tập cho HS PP đọc sách
- Phát phiếu HT ở nhà cho HS
- Tập cho HS làm quen với các PP NTĐT của VL: PPTN, PPMH, PPTT
Tăng cường DH theo nhóm, DH hợp tác…góp phần làm cho việc HT cá nhân có hiệu
quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh
nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Theo lý thuyết về
vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác thầy- trò và trò- trò trong lớp học có thể
giúp cho HS vượt qua được những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những
thảo
luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó
nhũng hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa, mặt khác trong việc
HT theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của
mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng
thú HT của HS
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải
quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn học
GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu ở
nhà Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một
phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học của các em
Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học
tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên
cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình
Trang 18
trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những học sinh ở các lớp
trên
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học
Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê, hứng thú, chứ
không phải bị ép buộc Chính vì vậy vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa
mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công
các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng
lực.Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống HT…
- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức
Áp dụng rộng rãi phương pháp phát hiện GQVĐ và các phương pháp nhận thức của
VL như PPTN, vào trong quá trình dạy học
1.2.4 Áp dụng phương pháp tiên tiến, các phương tiện DH hiện đại vào quá trình DH
Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các
hoạt động nhóm
Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn
là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách
chứng minh bằng quy nạp
Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí
nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết
bị DH của nhà trường
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện DH, thiết bị
DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức
thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm
Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn
danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH, thiết bị DH theo một số yêu cầu để có
thể phát huy vai trò của thiết bị DH
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được:
quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản
ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Trang 19 Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, phải coi đó là phương tiện để
nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp
HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét,
dẫn đến hình thành khái niệm
Tận dụng phương tiện DH, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát
động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT
vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương
tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH
Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH
nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh
và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như
phương tiện DH, thiết bị DH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trí lại còn
phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình DH có sử dụng CNTT
Sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH không phải chỉ nhằm thí điểm DH
với CNTT mà còn góp phần DH về CNTT
Sử dụng CNTT như một phương tiện DH, thiết bị DH, không phải chỉ để thực hiện
DH với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả
trong điều kiện không có máy
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật Lý THPT nâng cao
Mục tiêu tổng quát của chương trình Vật lý là góp phần thực hiện mục tiêu của GD
phổ thông Đó là: Phát triển kết quả giáo dục THCS; hoàn thiện học vấn phổ thông; chuẩn
bị cho HS tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề thuộc các lĩnh
vực khác nhau; tạo tiềm lực để nếu không tiếp tục học lên, HS có thể tham gia vào các lao
động hoặc dịch vụ thích hợp và thích ứng với cuộc sống trong xã hội công nghiệp hiện đại
Vật lý học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần:
Trang 20
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức Vật Lý cơ bản, phù hợp với quan điểm hiện
đại
Chương trình Vật lý ban cơ bản có mục tiêu hoàn thiện cho HS hệ thống kiến thức
phổ thông, cơ bản, ở trình độ tú tài về vật lý,cần thiết để đi vào các ngành khoa học, công
nghệ thích hợp và hòa nhập được với cuộc sống trong xã hội công nghiệp hiện đại Đó là:
- Những khái niệm tương đối chính xác về các sự vật, hiện tượng và quá trình
vật lý thường gặp trong đời sống sản xuất
- Những định luật và nguyên lý vật lý cơ bản được trình bày phù hợp với năng
lực toán học và năng lực suy luận logic của HS
- Những nét chính của các thuyết vật lý quan trọng nhất
- Những hiểu biết cần thiết về PP thực nghiệm và PP mô hình trong vật lý học
- Những nguyên tắc cơ bản của những ứng dụng quan trọng của vật lý trong
đời sống sản xuất
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng: quan sát, sử dụng các dụng cụ thí nghiệm,
đặt biệt là các kĩ năng thực hiện tiến trình khoa học
Trong việc dạy học vật lý phải chú ý rèn luyện cho HS những lỹ năng sau:
- Các kỹ năng thu lượm thông tin về vật lý từ quan sát thực tế, thí nghiệm,…
- Các kỹ năng xử lý thông tin về vật lý như : xây dựng bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút ra
kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận tương tự khái quát hóa…
- Các kỹ năng truyền đạt thông tin về vật như: trình bày kết quả quan sát, báo cáo thí
nghiệm…
- Kỹ năng vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng và giải các bài tập vật lý phổ
thông
- Kỹ năng thực hành vật lý, bao gồm kỹ năng sử dụng các dụng cụ đo lường vật lý
đơn giản, kỹ năng lắp đặt các thí nghiệm vật lý đơn giản
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm của HS: phát huy tính tích cực và
sáng tạo
Trong việc dạy học vật lý cần chú ý bồi dưỡng cho HS những tình cảm, thái độ và tác
phong mà môn vật lý có nhiều ưu thế để thực hiện đó là:
- Sự hứng thú học tập môn Vật lý, nói rộng hơn là lòng yêu thích khoa học
Trang 21- Ý thức sẵn sàng áp dụng những hiểu biết về vật lý của mình vào các hoạt động trong
gia đình và xã hội để cải thiện điều kiện sống và bảo vệ môi trường
- Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ
- Tính trung thực trong khoa học
- Tinh thần nỗ lực phấn đấu cá nhân, kết hợp chặt chẽ với tinh thần hợp tác trong lao
động học tập và nghiên cứu Ý thức tự học cũng như học hỏi người khác
1.4 Những định hướng đổi mới PPDHVL 12 theo chương trình trường THPT
Mục tiêu đổi mới
- Đối với HS:
+ Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với những
quan điểm hiện đại
+ Rèn luyện và phát triển các kĩ năng: quan sát các hiện tượng, quá trình vật lí trong
tự nhiên, sử dụng các dụng cụ vật lí,…
+ Hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm, có hứng thú học VL, tìm tòi khoa học
thông qua vận dụng các PPNT đặc thù VL trong quá trình HT
- Đối với GV:
+ Biết nội dung cơ bản của việc đổi mới PP DHVL ở trường THPT, các yêu cầu và
nội dung của việc thiết kế bài học
+ Có kĩ năng soạn giáo án vận dụng kiểu dạy học theo phương pháp dạy học tích
cực
1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức
cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành
tựu quan trọng Tuy nhiên PP đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa,
trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK
cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng
ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện
Trang 22
để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV Nhiều GV
thường nói là bài dài Thực ra nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS tự đọc
mà cũng hiểu được, nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng giải trình
bày tất cả
Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa của, tăng
cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT Tuy ban đầu HS
chưa quen với PP học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép, nhưng sau một
thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả
là nếu tính
tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồ i
cố ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng
Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần
biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp hay ở nhà GV chỉ giảng giải khi HS tự đọc
không thể hiểu được, kiên quyết không làm thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên
lớp hay ở nhà Muốn vậy, GV cần phải biết phân chia một vấn đề HT phức tạp thành những
bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thề hoàn thành được
Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài để
HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải
quyết một vấn đề nào đó trong quá trình HT như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí
thông
tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế…GV cần tính toán xem với trình độ
HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của
GV
1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề - bài toán là kiểu DH trong đó dạy cho HS thói
quen tìm tòi giải quyết vấn đề - bài toán theo cách của các nhà KH Trong kiểu DH này GV
vừa tạo ra cho HS nhu cầu, hứng thú HT, vừa rèn luyện cho họ khả năng tư duy sáng tạo
Trong quá trình DH có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất
là đưa ra một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời
Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện
Trang 23tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển
kiến thức kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả
đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lý thuyết
- Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù
hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán
mới
- Phát biểu kết luận
Muốn thực hiện được các bước của PP này, HS phải thực hiện việc thu thập thông
tin, xử lý thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này hiện tượng
thực tế cụ thể quan sát được luôn luôn kết hợp với những kết luận trừu tượng phản ánh thực
tế đó Và sự kết hợp này được thực hiện thông qua các suy luận logic như: phân tích, tổng
hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…
1.4.3 Rèn luyện cho HS các phương pháp nhận thức Vật Lý
Một trong những nét đặt trưng của tư duy KH là phải biết PP hành động rồi mới hành
động, chứ không hành động mò mẫm ngẫu nhiên Đến lớp 12 HS đã có nhiều kinh nghiệm
hoạt động nhận thức và có nhiều cơ hội để làm quen với các PPNT khác nhau trong vật lý
như: PPTN, PPMH, PPTT, PP phát hiện và giải quyết vấn đề - bài toán
Trong quá trình DH, GV cần chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận
đơn giản để HS dễ tiếp thu và có thể vận dụng được các PPNT đặc thù của vật lý học
Bên cạnh đó trong quá trình giải quyết vấn đề, GV cần cân nhắc việc gì HS làm
được, việc gì cần trợ giúp, giảng giải cho HS phát hiện vấn đề và cần tìm ra một chỗ nào đó
trong bài học để cho HS tự lực hoạt động
1.4.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị thí nghiệm mới; phát
huy tính sáng tạo của GV trong việc làm và sử dụng đồ dùng DH
Trang 24
- Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động,
sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc
các hoạt động nhóm
- Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy
mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một
cách chứng minh bằng quy nạp
- Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực
hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú
thêm thiết bị DH của nhà trường
- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện DH,
thiết bị DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến
thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm
- Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả
được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi
(phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
- Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, phải coi đó là phương tiện
để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng
giúp
HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét,
dẫn đến hình thành khái niệm
- Tận dụng phương tiện DH, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp
Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)
+ Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại
hóa phương tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH
+ Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ
mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp
1.4.5 Tăng cường áp dụng PPDH theo nhóm, hợp tác
Trang 25 PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ là mới với đa số GV Ở những trường từng tham gia
các dự án giáo dục dân số, giáo dục môi trường phòng chống HIV/AIDS, lạm dung ma túy,
GV đã được làm quen với PP này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn
PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm
của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ,
mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học
hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự
tiếp nhận thụ động từ GV
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì
vậy PP này còn được gọi là PP cùng tham gia, nó như một PP trung gian giữa làm việc độc
lập của từng HS với sự việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của
HS phải được phát huy và ý quan trọng của PP này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các
thành viên trong tổ chức lao động Cần trách khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm
dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt
động nhóm càng nhiều thì càng chứng tỏ PPDH càng đổi mới
a Lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 đến 6 HS Nhóm được duy
trì ổn định hay thay đổi theo từng tiết học, các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc nhiệm
vụ khác nhau Trong mỗi nhóm có nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân chia công việc cho
các
thành viên Mỗi nhóm sẽ trình bày sản phẩm trước toàn lớp và các nhóm có thể trao đổi,
tranh luận với nhau
b Tiến trình dạy học theo nhóm gồm những bước:
GV làm việc chung với lớp
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cu thể
- Hướng dẫn tiến trình hoạt động của các nhóm
HS làm việc theo nhóm
- Nhóm trưởng phân công nhiệm vụ
- Trao đổi ý kiến trong nhóm
- Cử đại diện trình bày sản phẩm
Trang 26
Thảo luận, tổng kết trước lớp
- Các nhóm báo cáo kết quả
- Các nhóm trao đổi, thảo luận
- GV nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận cuối cùng
Tuy nhiên, việc tổ chức cho HS học tập theo nhóm ngay tại lớp thường bị hạn chế bởi
không gian chật hẹp, bởi thời gian hạn định của một tiết học nên GV phải biết tổ chức hợp lí
mới có kết quả Cần lưu ý, trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của HS phải được phát
huy và ý nghĩa quan trọng của nó là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học
1.5.1 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học
Hoạt động 1 : Kiểm tra kiến thức cũ
Hoạt động 2 : Tiếp nhận nhiệm vụ HT
Hoạt động 3: Thu thập thông tin
- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá
- Quan sát, theo dõi giáo viên đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ HT
- Tạo tình huống HT
- Trao nhiệm vụ HT
- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu
- Yêu cầu HS hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu
- Giảng sơ lược nếu cần thiết
- Làm TN biểu diễn
- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm TN lấy số
Trang 27Hoạt động 4: Xử lí thông tin
Hoạt động 5: Truyền đạt thông tin
Hoạt động 6: Củng cố bài giảng
Ho
ạt độn
g 7:
Hư
liệu
- Chủ động về thời gian
- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị …nhận xét về tính
quy luật của hiện tượng
- Trả lời các câu hỏi của GV
- Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc
trong lớp
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những
thông tin thu được
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
- Trả lời câu hỏi
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
- Vận dụng vào thực tiễn
- Ghi chép những kết luận cơ bản
- Giải bài tập
- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc
cá nhân hoặc theo nhóm
- Hướng dẫn trả lời
- Ra bài tập vận dụng
- Đánh giá, nhận xét giờ dạy
Trang 28 HĐ1: (……phút) Kiểm tra kiến thức cũ (nếu cần)
HĐ2: (……phút) Đơn vị kiến thức, kỹ năng
HĐ3: (……phút) Đơn vị kiến thức, kỹ năng 2
HĐi: (……phút) Đơn vị kiến thức, kỹ năng k
HĐ(n-1): (… phút) Vận dụng củng cố
HĐn: (… phút) hướng dẫn học tập ở nhà
d Rút kinh nghiệm ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong
1.6 Đổi mới việc kiểm tra đánh giá
1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình
GD; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới PPDH,
góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu GD
- Ghi câu hỏi bài tập về nhà
- Ghi những chuẩn bị cho bài sau
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
Trang 29 Đánh giá kết quả HT là quá trình thu nhập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng
thực hiện mục tiêu HT của HS về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở
cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để HS học tập ngày
một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới
PPDH được chú trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới PPDH được chú trọng để đáp ứng
những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo
hướng phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh
hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm
xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng
đồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa
thể phát triển dạy và học tích cực
Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển Xác nhận đòi hỏi độ tin
cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời hai chức năng sẽ góp phần
nâng cao chất lượng GD Đánh giá chất lượng GD gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ
bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò Đánh giá
thực chất sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học
Chất lượng học được xem xét là sản phẩm đầu ra sau mỗi quá trình tác động có chủ
đích của hoạt động dạy học Tác động của quá trình dạy học bao gồm nhiều yếu tố dựa trên
một hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, đội ngũ GV, quản lý
dạy học…từ đó sản phẩm được hình thành và tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo
của
quá trình GD Không như chất lượng của các loại sản phẩm khác, sản phẩm của quá trình
dạy học làm nên chất lượng học tập sau khi đã được xác nhận có thể thay đổi theo hai chiều
hướng
tích cực hoặc tiêu cực Chất lượng học tập của HS đối với mỗi môn học thể hiện số lượng
đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà HS nắm được ở các mức độ nhận thức (nhận
biết, thông
hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá).Ngoài ra, chất lượng học tập cũng biểu hiện ở
cả kỹ năng và thái độ của HS sau khi có những vốn kiến thức môn học
Trong quá trình hình thành hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi HS được trải qua quá
trình GD bao gồm các mặt GD trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ Đánh giá chất lượng học
Trang 30
tập các môn học cho HS thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu GD đã đặt ra cho
quá trình GD ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà
HS đã đạt được sau một giai đoạn HT
Tham gia vào quá trình HT, HS có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học
mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học định ra và yêu cầu HS phải đạt
được Mức độ đạt được các tri thức đó so với yêu cầu tạo nên giá trị của sản phẩm mà quá
trình dạy học đạt được Mục tiêu môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ “
Chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, yêu cầu thái độ” thể hiện trong Chương trình GD phổ
thông và thể hiện cụ thể qua SGK Trong quá trình dạy học, GV phải đặt ra những kế hoạch
để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đề ra Kiểm tra xem HS đạt được
những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được
đến đâu
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời
nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện chất lượng học tập của HS Dạy học căn cứ
kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được
xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự
điều chỉnh bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất
lượng học tập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi HS Việc kiểm tra chất lượng HT
sẽ giúp cho các nhà quản lý GD, các GV và bản thân HS có những thông tin xác thực, tin
cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm
trong quá trình dạy học
Đổi mới PPDH là điều quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả dạy học
Đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo
niềm tin, năng lực tự học cho HS thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng
lực HS
Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học,
từng hoạt động GD, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu GD
1.6.2 Các hình thức kiểm tra
Trang 31 Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản là
trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm)
Trắc nghiệm để đánh giá kết quả HT của HS so với mục tiêu môn học Trắc nghiệm
là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người
chấm Đổi mới phương pháp ra đề kiểm tra đánh giá kết quả HT của HS người ta thường
dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Tự luận: là hình thức kiểm tra mà trong đó đề kiểm tra gồm các câu hỏi hoặc bài tập
mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình
Trắc nghiệm – Các hình thức trắc nghiệm
Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường gồm nhiều
câu hỏi hoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì
câu trả lời là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng
Trắc nghiệm gồm các dạng sau:
Trắc nghiệm đúng sai
Trắc nghiệm điền khuyết
Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần
thông tin ([12]tr 14)
Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút
Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần,
môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có : kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên,
kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm ([12], tr 15)
Những ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:
Cải thiện tính hợp thức, tính trung thực, tính nhạy cảm của bài kiểm tra; là phương
tiện thu nhận và chứa số lớn các câu trả lời trong thời gian ngắn
Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian ngắn
Sự phân phối điểm trên một phổ rất rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng trình độ
của HS
Trang 32
Cho phép đánh giá một cách hệ thống, chính xác ở mức cao Bài kiểm tra có rất nhiều
câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức và kĩ năng, tránh
được tình trạng học tủ, dạy tủ
Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài, phân tích kết quả kiểm tra
Những nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:
Khó khăn trong việc đánh giá một số kĩ năng: kĩ năng trình bày và viết ra những
điều suy nghĩ, kĩ năng đưa ra các giải pháp trả lời mới và thậm chí là khả năng tự viết lại
những điều trong trí nhớ có liên quan đến bài kiểm tra
Đưa ra các giải pháp sai cho HS Không có khả năng dẫn dắt việc đưa ra các câu trả
lời
Biên soạn câu hỏi khó, tốn nhiều thời gian
Có thể có trường hợp HS tìm ra cách trả lời hay hơn nên họ không thỏa mãn với
phương án đã lựa chọn Hạn chế trong việc ĐG khả năng sáng tạo của HS
Khó khăn trong việc truyền đạt miệng nội dung một câu hỏi trắc nghiệm KQ
Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn Vật Lí:
Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra
Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)
Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng
Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết,
thông hiểu, vận dụng)
Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra
Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận
Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm
1.6.3 Đổi mới kiểm tra đánh giá
Kiểm tra, đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với
người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá “Đánh giá có nghĩa là xem
xét mức độ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy với mục
tiêu đã được đề ra để xác định thực trạng điểm mạnh, điểm yếu của người học và kết quả là
đề ra những quyết định kịp thời nhằm uốn nắn, điều chỉnh có hiệu quả đối với các hoạt động
dạy theo mục tiêu ấy, dành kết quả tối ưu.” (J.M.De ketele)
Trang 33 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với các môn học nói chung và môn vật lý nói
riêng ở mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả giáo dục
HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng
môn học, từng bài học, từng bài kiểm tra
Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của học sinh
theo mục tiêu giáo dục
Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trắc
nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của
bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá
Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian
đảm bảo chính xác
Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo
dục, tính khoa học và logic về nội dung
Từ thực trạng của việc đánh giá kết quả học tập ở trường THPT còn nhiều nhược điểm
nên việc đánh giá được đổi mới trên nhiều phương diện: hình thức, mục tiêu, nội dung đánh
giá
1.6.4 Xác định mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là : lĩnh vực về nhận thức,
lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ
a Nhận biết: là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là một người
có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự
kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định
luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa
các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố
Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các
động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao nhiêu
Trang 34
Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định
nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp HS ôn lại được những gì đã học,
đã đọc hoặc đã trải qua
b Thông hiểu: là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện
tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là
mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các
mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các
động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại sao?”, “nghĩa là
gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu
Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra
được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
c Vận dụng: là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới
: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ; là khả năng đòi hỏi HS
phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết
một vấn đề nào đó
Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu
hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích
(trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện,
các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các
câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa
chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng phương án này vào thực tiễn
d Phân tích: là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin nhỏ
sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau
giữa chúng
Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các
động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại câu hỏi này
nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối qua hệ
Trang 35hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả
năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận
e Tổng hợp: là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài
liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ thể hóa mức độ
tổng hợp bằng các động từ :
- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể
- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban
đầu
Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa
ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những ý tưởng,
giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của loại câu hỏi này
nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả
lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em
phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung
f Đánh giá: là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định
được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là một bước
mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng,
sự vật, hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định
Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và
đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích
tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả
năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng
trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy
nghĩ Sau khi
HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu
trả lời chưa đúng
Dưới đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và thái độ
a Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom
Trang 363.Vận dụng VDNL các nguyên lí và các trường
hợp riêng biệt
TK được PA khi có đủ các thông số cần thiết
4.Phân tích
VDNL vào các trường hợp phức hợp
TK được PA khi phải tìm các thông số cần
thiết
5.Tổng hợp VDNL vào các trường hợp phức
hợp để trình bày một giải pháp mới
Tìm được lỗi trong các
PA
6.Đánh giá
VDNL vào các trường hợp để đưa
ra các giải pháp mới và SS nó với các giải pháp đã biết khác
Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột
Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen
1.7 Sử dụng CNTT (Microsoft Power Point…… )
Trang 371.7.1 Giới thiệu phần mềm
Microsoft PowerPoint
MS PowerPoint là một phần mềm thuộc nhóm MS Office, có chức năng hỗ trợ
việc thiết kế, soạn thảo và định dạng nội dung tài liệu, rất thuận tiện cho việc trình bày
trong giảng dạy, thuyết trình
MS PowerPoint có các đặc trưng của nhóm MS Office, cũng như Word, Excel: kết
quả hiển thị theo cấu trúc màn hình trình chiều + Giao diện và công cụ rất thân thiện,
dễ dùng và linh hoạt + Các công cụ cơ bản về MS PowerPoint[như: Text, Drawing,
Picture, Chart định dạng đối tượng ] hoàn toàn như trong Word, Excel
Việc Chuyển đổi từ Văn bản của Word sang MS PowerPoint rất dễ dàng Do
vậy, việc nắm vững Word sẽ hỗ trợ công tác giảng dạy rất nhiều
Violet 1.7
Phần mềm Violet 1.7 ra mắt ngày 10/5/2010, là phiên bản hoàn chỉnh các
chức năng soạn thảo trình chiếu, đồng thời mở rộng chức năng Công cụ của Violet cho
các phần mềm khác, ví dụ ngay trong Powerpoint cũng sẽ có Tạo bài tập trắc nghiệm,
Vẽ đồ thị, Lập trình mô phỏng, v.v
Đặc biệt Violet 1.7 sẽ bắt đầu được triển khai theo hình thức mã nguồn mở,
trước mắt là sẽ mở một số module mới và chuẩn hóa các lệnh cơ bản, để giáo viên
không chỉ sử dụng mà còn có thể viết thêm chức năng cho Violet Violet 1.7 cũng hỗ
trợ thêm một số lệnh giao tiếp với các hệ thống LMS để người dùng có thể phát triển
dễ dàng các module E-learning theo chuẩn SCORM
Adobe Presenter
Adobe Presenter giúp chuyển đổi các bài trình chiếu powerpoint sang dạng
tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có thể câu hỏi tương tác (quizze)
và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt chương trình (animation), và
tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp
Điều khẳng định là Adobe Presenter tạo ra bài giảng điện tử tương thích với
chuẩn quốc tế về eLearning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004
Nếu dùng thêm với Adobe Connect, là phần mềm họp và học ảo, có thể tạo ra
môi trường học tập mọi lúc, mọi nơi (any where, any time), trên mọi thiết bị (any
Trang 38
devices) miễn là thiết bị có nối mạng với trình duyệt web và phần mềm Flash player là
đủ
Crocodile Physics
Crocodile Physics là phần mềm thí nghiệm ảo về Cơ, Quang, Điện, Sóng đang
được ứng dụng rộng khắp ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh
Một số tính năng nổi trội của phần mềm Crocodile Physics như có nhiều mô
hình thí nghiệm mẫu, hướng dẫn sử dụng phần mềm và có các công cụ trợ giúp thiết kế
thí nghiệm, bài giảng khá đầy đủ và dễ sử dụng
1.7.2 Khả năng hỗ trợ của phần mềm vi tính nhằm tích cực hóa HĐNT của HS
Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy phải luôn hướng vào mục tiêu đào tạo và
phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, phải góp phần đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, phát triển tư duy độc lập của học sinh
Giữa thiết bị thật và thí nghiệm ảo có sự phù hợp nhất định, đặc biệt về yêu cầu
sư phạm Những thiết bị, dụng cụ thí nghiệm căn bản có thể hỗ trợ bằng CNTT
Các mô hình kỹ thuật, các quá trình vật lý diễn ra quá nhanh mà con người khó
nhận biết kịp, nhận biết không chính xác, đầy đủ, các hiện tượng vật lý trong thế giới
vi mô, các hiện tượng vật lý có thể gây nguy hiểm,… sẽ rất thích hợp với công nghệ
mô phỏng
Một số học liệu có thể kết hợp với thiết bị công nghệ hoặc được thay thế bằng
tài liệu số hóa như: các mô hình, mẫu vật có kích thước, khối lượng lớn, những mô
hình dễ gãy vỡ khi di chuyển hoặc lắp ráp phức tạp mất nhiều thời gian, các quá trình
vật lý, các quan hệ và chuyển động phức tạp trong không gian… có thể chuyển thành
bản đồ số hóa, đồ họa mô phỏng trong các phần mềm
Một số tranh, ảnh minh họa, các bảng số liệu bằng giấy in hay vải có thể chuyển
thành file đồ họa hoặc ảnh số, tạo thành bộ sưu tập trong CD-ROM hoặc dữ liệu số
Để một tiết dạy bằng bài giảng trên máy tính thành công, để công nghệ thông tin
thực sự là công cụ đắc lực phục vụ cho việc dạy và học và để nâng cao chất lượng dạy
và học thì đòi hỏi giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, trình độ sử dụng vi tính, phải thường xuyên cập nhật thông tin, tìm kiếm tư liệu,
cập nhật các phần mềm mới hỗ trợ việc soạn giảng bằng máy tính Giáo viên phải làm
Trang 39chủ công nghệ, làm chủ bài giảng và quan trọng nhất giáo viên phải có năng lực
chuyên môn vững vàng bởi hiệu quả của tiết học vẫn phụ thuộc vào vai trò của người
thầy Hơn nữa CNTT chỉ là một trong những phương tiện hổ trợ cho việc đổi mới
phương pháp dạy học, truyền đạt kiến thức đến học sinh chứ không phải là phương tiện
duy nhất Phương pháp dạy học ứng dụng CNTT cần có sự hổ trợ của những phương
tiện nghe nhìn hiện đại ( máy vi tính, máy chiếu 3D, projetor,… )
CHƯƠNG 2 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
2.1 Cơ sở lí luận chung về phát huy tính tích cực của học sinh
2.1.1 Hoạt động nhận thức vật lý
Trang 40
Kiến thức VL là kết quả phản ánh trong đầu óc con người về các tính chất, các mối
liên hệ quy luật của các sự vật, hiện tượng VL, và về cách thức con người nhận thức và vận
dụng các tính chất và các mối liên hệ quy luật đó
Có thể phân biệt ba loại kiến thức cơ bản:
+ Kiến thức về các tính chất các mối liên hệ quy luật của các sự vật hiện tượng VL
Trong nội dung kiến thức VL ở trường phổ thông, đó là: các khái niệm về hiện tượng VL,
khái niệm VL, các định luật VL, các thuyết VL
+ Kiến thức về các phương pháp nhận thức khoa học của vật lý học như: Phương
pháp
thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp quy nạp – suy diễn v.v… Các kiên thức
về các phương pháp nhận thức khoa học của VL hình thành trong quá trình dạy học gắn liền
với sự hình thành các kiến thức về khái niệm, các đại lượng, các định luật và thuyết VL
+ Kiến thức về các ứng dụng của VL: Đó là kiến thức về sự ứng dụng các định luật
và
thuyết VL trong thực tiễn sản xuất và đời sống, trong việc tạo ra các dụng cụ, thiết bị, máy
móc và các quy trình công nghệ khác nhau
2.1.2 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ của
thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy
học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì
việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đề được đặc biệt quan tâm
Trong đó học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích
cực tham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai
trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm cho mối
quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện những quan
niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp để khắc phục những quan niệm
đó
Vì thế việc khắc phục những quan niệm của học sinh có vai trò quan trọng trong nhà trường
nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh