Từng b ớc p dụng c c PP tiên tiến, PP hiện đại vào qu trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học, ph t triển mạnh mẽ phong trào tự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM
ớ SP Khóa: 36
Giảng viên hướng dẫn:
ThS-GVC Trầ Q ốc T ấ
Trang 2ỜI CẢM ƠN
Là một GV tương lai thì việc sử dụng một số thí nghiệm biểu diễn
nhằm hỗ trợ việc rèn luyện HS kỹ năng áp dụng một số PPNT khoa học là
điều không thể thiếu Đối với bản thân em, đây là một quá trình nghiên
cứu đầy hấp dẫn và có ý nghĩa sâu sắc Với niềm đam mê nghề nghiệp và
ý chí phấn đấu học tập, rèn luyện em đã hoàn thành đề tài luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô đã truyền đạt cho chúng
em những kiến thức và kinh nghiệm vô giá Đặc biệt em xin gửi lời tri ân
đến thầy ThS-G C Trầ Q ốc T ấ Thầy đã tận tình hướng dẫn từ
cách nghiên cứu đến việc sử dụng tài liệu nghiên cứu và dành nhiều thời
gian để chỉnh sửa bài luận văn để kết quả đạt được hoàn thiện nhất
Do lần đầu thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học nên tất nhiên
không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, thực sự rất mong nhận được ý
kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Cuối lời, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, bạn bè đã đồng hành
cùng em dưới mái trường Đại Học Em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành
công đến tất cả mọi người
Em xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Si vi ực iệ
P T ị Mỹ C i
Trang 3NH N XÉT CỦA GIẢNG IÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Giả vi ớ dẫ
ThS- GVC Trầ Q ốc T ấ
Trang 4MỤC ỤC
MỞ ĐẦU 3
C ơ 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC T Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT 6
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 6
1.1.2 Đổi mới PPDH thực hiện mục tiêu mới 7
1.1.3 Mục đích của việc đổi mới PPDH 7
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 8
1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 8
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học tự nghiên cứu của HS 8
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của HS 10
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện trong quá trình DH góp phần phát triển tối ưu nhân cách HS 10
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lí THPT 10
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lí phổ thông cơ bản, phổ biến theo quan điểm hiện đại 10
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng 11
1.3.3 Hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm cho HS 11
1.4 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí ở lớp 12 theo chương trình THPT mới 12
1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy minh họa của GV, tăng cường tổ chức cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề để học tập 12
1.4.2 Áp dụng tích cực kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề 13
1.4.3 Rèn luyện các phương pháp nhận thức Vật lí 13
1.4.4 Tận dụng phương tiện DH mới, trang thiết bị mới của GV trong việc làm và sử dụng đồ dùng DH 14
1.4.5 Tăng cường áp dụng PPDH nhóm hợp tác 15
1.5 Đổi mới việc soạn giáo án 16
1.5.1 Các yêu cầu đối với việc sọan giáo án 16
1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án 16
1.5.3 Quy trình soạn một giáo án 17
1.5.4 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học 17
1.5.5 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 19
1.6 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 20
1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá 20
1.6.2 Các hình thức kiểm tra 22
1.6.3 Các định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá 24
1.6.4 Các mức độ nhận thức của Bloom trong đề thi, kiểm tra 25
1.6.5 Quy trình thiết kế đề thi, kiểm tra 29
C ơ 2 TH NGHIỆM BI U DI N TRONG DẠY HỌC T 30
2.1 Sơ lược về thí nghiệm Vật lí 30
2.2 Tổng quan về thí nghiệm trong dạy học Vật lí 31
2.2.1 Khái niệm TN Vật lí 31
2.2.2 Chức năng của TN trong DH Vật lí 31
2.3 Sự phân loại thí nghiệm 34
2.3.1 Thí nghiệm biểu diễn 34
Trang 52.3.2 Thí nghiệm thực tập 35
2.4 Yêu cầu về kỹ thuật và phương pháp dạy học trong việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn 36
2.4.1 Những yêu cầu chung khi sử dụng TN 36
2.4.2 Những yêu cầu đối với việc sử dụng TN biểu diễn 37
2.5 Vai trò và nhiệm vụ của giáo viên trong việc tổ chức thí nghiệm trong DH 39
C ơ 3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NH N THỨC KHOA HỌC ÁP DỤNG TRONG DẠY HỌC T 41
3.1 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học Vật lí 41
3.1.1 PP thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học Vật lí 41
3.1.2 PP thực nghiệm trong DH Vật lí 44
3.2 Phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí 48
3.2.1 Khái niệm PP giải quyết vấn đề 48
3.2.2 Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học 48
3.2.3 Đặc điểm và quá trình HS giải quyết vấn đề trong học tập 49
3.2.4 Các pha của tiến trình DH giải quyết vấn đề 50
3.2.5 Tổ chức tình huống học tập 50
3.2.6 Các kiểu hướng dẫn HS giải quyết vấn đề 51
3.3 Phương pháp mô hình trong dạy học Vật lí 53
3.3.1 Các mô hình trong DH Vật lí 53
3.3.2 PP mô hình trong Vật lí học 54
3.3.3 Các giai đoạn của PP mô hình 55
3.3.4 PP mô hình trong DH Vật lí 56
3.4 PP tương tự trong dạy học Vật lí 57
3.4.1 Định nghĩa phương pháp tương tự 57
3.4.2 Các giai đoạn của PP tương tự 58
3.4.4 PP tương tự trong nghiên cứu Vật lí 58
3.4.5 PP tương tự trong DH Vật lí 59
C ơ 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 6 CHẤT KHÍ, T 10 NÂNG CAO 60
4.1 Đại cương về chương 60
4.1.1 Mục tiêu của chương 60
4.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương 60
4.2 Thiết kế một số bài trong chương 61
C ơ 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
5.1 Mục đích thực nghiệm 85
5.2 Nội dung thực nghiệm 85
5.3 Đối tượng thực nghiệm 85
5.4 Kế hoạch giảng dạy 85
5.5 Tiến hành thực hiện các bài học 85
5.6 Kết quả thực nghiệm 85
5.6.1 Đề kiểm tra 1 tiết 85
5.6.2 Kết quả thực nghiệm 90
NH N XÉT À KẾT U N 91
TÀI IỆU THAM KHẢO 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do c ọ đề i
Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Và trong đó, con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thắng lợi, để đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu và những thách thức của thời kỳ hội nhập và phát triển, cần phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giảng dạy ở mọi cấp học, ngành học
Định hướng này đã được xác định trong Nghị quyết TW2, khóa VIII: “Đổi mới
mạnh mẽ ph ng ph p gi o dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp t duy s ng tạp của ng ời học Từng b ớc p dụng c c PP tiên tiến, PP hiện đại vào qu trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học, ph t triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo.”[5, tr 50]
Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của dạy học Vật lí ở trường phổ thông là không những truyền thụ kiến thức mà còn phải rèn luyện kỹ năng học tập Vật lí cho
HS, kỹ năng áp dụng các PPNT khoa học Khoa học giáo dục trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang coi trọng những nghiên cứu về việc đổi mới PPDH
ở trường phổ thông theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực sáng tạo của
HS, bồi dưỡng tư duy khoa học, năng lực tự tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn cuộc sống và với sự phát triển của kinh tế tri thức
Vì thế, yêu cầu đổi mới PPDH Vật lí ở THPT là một yêu cầu vô cùng cấp bách
và khẩn thiết Việc đổi mới cần tiến hành để phù hợp với trình độ tri thức và nhịp độ phát triển tri thức ngày càng cao của nhân loại, để pháp huy tính tự học hỏi, tự tìm tòi của HS, phải để HS tham gia hành động để tự tìm ra và lĩnh hội tri thức đó
Tuy nhiên thực tế thì việc giảng dạy Vật lí ở THPT còn mang nặng lối truyền thụ một chiều, HS chỉ tiếp thu kiến thức lí thuyết từ GV truyền thụ mà không thể tự tiến hành các thao tác thực hành, quan sát các thí nghiệm để tự mình rút ra các kiến thức GV chỉ truyền thụ và bắt HS phải thừa nhận những kiến thức đã được đưa ra
đó, việc rèn luyện cho HS các kỹ năng áp dụng các PPNT khoa học chưa được quan tâm đúng mức Để công tác giáo dục đạt hiệu quả cao thì bên cạnh truyền thụ kiến thức việc rèn luyện HS kỹ năng áp dụng các PPNT khoa học là rất cần thiết
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Vì thế, việc lồng ghép các thí nghiệm vào việc giảng dạy Vật lí là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần tích cực vào hoạt động dạy học Vật lí Thí nghiệm là phương
Trang 7tiện của việc thu nhận tri thức và kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã thu được Bên cạnh đó, thí nghiệm còn là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn,…
Là một GV trong tương lai, tôi nhận định được vai trò và trách nhiệm của mình
là cần phải bồi dưỡng và phát triển năng lực giảng dạy Vật lí để đáp ứng yêu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta Chính vì những lí do trên tôi quyết
định chọn đề tài nghiên cứu: “S d ng th nghiệm i u di n hỗ trợ việc áp d ng
các PPNT khoa học khi giảng dạy chương 6 Chất kh , Vật 10 NC”
2 Mục đ c i cứ
Nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn hỗ trợ việc áp dụng các PPNT khoa học trong dạy học Vật lí ở THPT khi dạy chương 6 Chất khí, Vật lí 10 NC
3 Giả ế k oa ọc
Vận dụng những lí luận hiện đại, có thể sử dụng thí nghiệm biểu diễn hỗ trợ việc
áp dụng các PPNT khoa học khi giảng dạy chương 6 Chất khí, Vật lí 10 NC
4 N iệ vụ i cứ
Nghiên cứu cơ sở lí luận về: phương pháp dạy học (PPDH) Vật lí ở THPT
Nghiên cứu cơ sở lí luận về: Đổi mới PPDH Vật lí ở THPT
Nghiên cứu lí thuyết về thí nghiệm biểu diễn
Nghiên cứu cơ sở các PPNT khoa học trong DH Vật lí; Xây dựng quy trình áp dụng các PPNT khoa học trong hoạt động DH Vật lí
Nghiên cứu việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn hỗ trợ việc áp dụng các PPNT khoa học trong DH Vật lí ở THPT
Nghiên cứu chương 6 Chất khí, Vật lí 10 NC Vận dụng soạn giáo án các bài: + Bài 1: Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ot
+ Bài 2: Định luật Sác-lơ Nhiệt độ tuyệt đối
+ Bài 3: Phương trình trạng thái của khí lí tưởng Định luật Guy- Luy-Xac + Bài 4: Phương trình Cla-pê-rôn – Men- đê-lê-ép
Tiến hành TNSP, đưa giáo án vào thực tế giảng dạy, thống kê lại kết quả từ các phiếu đánh giá Từ đó rút ra kết quả của đề tài
5 P ơ á i cứ
Nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu về chuyên ngành PPDH Vật lí, SGK và sách GV Vật lí 10 NC, tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình SGK Vật lí 10 NC, tài liệu bồi dưỡng GV thực hiện chương trình SGK Vật lí 11, hướng dẫn thức hiện chương trình Vật lí 12
Trang 8 Tổng kết kinh nghiệm: tổng kết, rút kinh nghiệm từ thầy cô và các anh chị đi trước và các bạn
7 Các iai đo ực iệ đề i
GĐ 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với thầy hướng dẫn về đề tài nghiên cứu
GĐ 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết
GĐ 3: Hình thành cơ sở lí luận cho đề tài
GĐ 4: Nghiên cứu chương 6 Chất khí, Vật lí 10 NC
GĐ 5: Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
GĐ 6: Hoàn chỉnh đề tài và chuẩn bị báo cáo bằng PowerPoint
GĐ 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp
8 Các c ữ viế ắ
giáo viên: GV khoa học kĩ thuật: KHKT
thí nghiệm: TN
Trang 9CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC T Ở
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 N ữ vấ đề c về đổi ới iáo dục THPT
1.1.1 M c tiêu mới của giáo d c nước ta
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người có những phẩm chất mới toàn diện hơn Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức khoa học mà nhân loại đã tích lũy được mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động, cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị Ban
chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ c bản
của gi o dục là nhằm xây dựng con ng ời và thế hệ thiết tha gắn bó với lí t ởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong s ng, có ý chí kiên c ờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn và ph t huy c c gi trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, ph t huy tiềm năng của dân tộc và con ng ời Việt Nam, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có t duy s ng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tính tổ chức kỉ luật cao,
có sức khỏe, là những ng ời kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên nh lời căn dặn B c Hồ” [5, tr 49]
Mục tiêu của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng
tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập… Do đó đất nước đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới
PPDH tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không họat động, thụ động PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa tư duy của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDH tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đế n
Trang 10phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDH tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
1.1.2 Đổi mới PPDH thực hiện m c tiêu mới
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, DH là một quá trình tương tác (GV – HS, HS – HS, HS – GV, HS với những người hiểu biết hơn…) Trong đó, “học” là một hoạt động trung tâm Và người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những kiến thức do GV sắp đặt Để đạt được điều ấy, trong quá trình DH, người thầy cần phải thức tỉnh trong tâm hồn các em tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực Vì thế, việc đổi mới PPDH để
HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được Bởi chỉ có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng
ta mới góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
PPDH là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo PPDH truyền thống không còn phù hợp Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo dục của nước ta đang chuyển dần từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một PPDH mới có khả năng thực hiện mục tiêu trên Nghị quyết TW2 khóa
VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ PP gi o dục và đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp t duy s ng tạo của
ng ời học Từng b ớc ứng dụng c c PP tiên tiến, PP hiện đại vào qu trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học, ph t triển mạnh mẽ phong trào tự học tự đào tạo.” [5, tr 50]
1.1.3 M c đ ch của việc đổi mới PPDH
Mục tiêu của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang DH theo “PP DH tích cực” nhằm giúp HS phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin,….tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lí Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở
Trang 11chỗ trang bị cho HS những kiến thức mà công nghệ nhân loại đã tích lũy mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi
1.2 P ơ ớ c iế ợc đổi ới PPDH
1.2.1 Khắc ph c ối truyền th một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu DH đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn” Nói một cách khác,
GV là nhân vật trung tâm của quá trình DH, GV xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kĩ năng, đánh giá kết quả học Theo cách dạy đó GV trình bày, giảng giải các kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách
rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các TN một cách thành công, đúng như
đã nói trong lí thuyết hay đúng như những mong muốn cần đạt được GV chỉ quan tâm đến đến việc dạy của mình sao cho hoàn mĩ, còn HS có thể hiểu được, làm được, phát triển được hay không là trách nhiệm của HS Cách dạy đó rõ ràng là dồn
HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình
Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với PP thực nghiệm Ở THPT cần phải tiếp tục phát triển tư duy đó để hình thành cho HS những
kĩ năng hoạt động học tập vững chắc, tạo một sự chuyển biến về chất trong PP học tập của HS Bởi vậy tổ chức lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn
đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS
Để thực hiện PPDH mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực,
tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện
làm việc phù hợp với HS “Đối với Vật lí học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu gi o
khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu DH” [5, tr 51]
1.2.2 Đảm ảo thời gian tự học tự nghiên cứu của HS
Thực tế cho thấy bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua hoạt động tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kỹ thuật là rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Vì thế, mỗi chúng ta phải biết tự cập nhật thông tin bởi vì những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa
đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn
Trang 12phải tự học thêm nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển rất nhanh của KHKT hiện đại Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải tự lực động não để tiếp thu những điều cần học Do
đó, trong mỗi tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng cho HS một số PP tự học Chẳng hạn như:
- PP đọc sách
- Phát phiếu học tập ở nhà cho HS chuẩn bị bài
- Tập cho HS làm quen với việc tự lực tham gia giải quyết các vấn đề học tập Bên cạnh đó, việc tăng cường DH theo nhóm, DH hợp tác…góp phần làm cho việc học tập của cá nhân có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Theo lí thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác thầy - trò và trò - trò trong lớp học có thể giúp cho HS vượt qua được những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua
đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa, mặc khác trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp
ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao
về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu ở nhà Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học của các em
“ èn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua tự học của ng ời học thì mới có thể có kết quả sâu sắc
và bền vững Trong công cuộc đổi mới ngày nay, những điều học đ c trong nhà
tr ờng thì rất ít ch a đi sâu vào một lĩnh vực nào cả, để bắt kịp đ c sự ph t triển mạnh mẽ của thời đại khoa học kĩ thuật thì HS cần phải tự học thêm nhiều điều thì mới có thể làm đ c Ngay trên ghế nhà tr ờng HS đã đ c rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức” [5, tr 51]
Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen với việc học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải
Trang 13nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những HS ở các lớp trên
1.2.3 Rèn uyện thành nếp tư duy sáng tạo của HS
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn
đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của
GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực
Thực tế thì PPDH tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại niềm vui sướng, hào hứng phù hợp với đặc tính ưa hoạt động, tìm tòi học hỏi của trẻ em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các
em tự khẳng định mình, thể hiển mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo của các em Do đó, việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt
1.2.4 Áp d ng các PP tiên tiến, các phương tiện trong quá trình DH góp phần phát tri n tối ưu nhân cách HS
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “PP làm tăng giá trị
lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” Nhờ sự phát
triển của KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector
- Công nghệ thông tin, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình Vật lí thường gặp trong đời sống, khoa học và sản xuất
Trang 14- Các đại lượng, các định luật và nguyên lí Vật lí cơ bản
- Những nội dung chính của một số thuyết Vật lí quan trọng
- Những ứng dụng của Vật lí trong đời sống, khoa học và trong sản xuất
- Những PP chung của nhận thức khoa học và những PP đặc thù của Vật lí, trước hết là PP thực nghiệm và PP mô hình
1.3.2 Rèn uyện và phát tri n các kỹ năng
Quan sát các hiện tượng và các quá trình Vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập Vật lí
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến và các thiết bị tương đối hiện đại của Vật lí, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các TN Vật lí
Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luậ n, đề ra các
dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình Vật
lí, cũng như đề xuất phương án TN để kiểm tra dự đoán đã đề ra
Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng Vật lí, giải các bài tập Phát hiện và giải quyết các vấn đề Vật lí ở mức phổ thông trong khoa học, đời sống và sản xuất
Sử dụng thuật ngữ Vật lí, các biểu bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin
1.3.3 Hình thành và rèn uyện thái độ, tình cảm cho HS
Có hứng thú học tập Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của Vật lí học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học đã tìm ra những đóng góp vĩ đại đó
Có thái độ khách quan, trung thực và có tinh thần hợp tác trong học tập cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được
Có ý thức vận dụng những hiểu biết Vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
Tóm lại, các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà phải luôn gắn liền với
nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện
Ví dụ: kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức
Trang 151.4 Đị ớ đổi ới PPDH ở ớ 12 theo c ơ rì THPT ới
1.4.1 Giảm đến tối thi u việc giảng dạy minh họa của GV, tăng cường tổ chức cho HS tự ực tham gia vào giải quyết các vấn đề đ học tập
Một thói quen đã tồn tại lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn chú trọng giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã được viết đầy đủ trong sách giáo khoa Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tự tin ở HS và càng nguy hiểm hơn nữa là không cho HS cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK hay khác với
ý kiến của GV Sách viết dài là để cho HS tự đọc mà cũng có thể hiểu được, người
GV cần thiết phải cho HS tự học ở nhà hay ở lớp
PPDH truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên PP đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV Nhiều GV thường nói là bài dài Thực ra nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS tự đọc mà cũng hiểu được, nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng giải trình bày tất cả
Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa của mình, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập Tuy ban đầu HS chưa quen với PP học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép, nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn
và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra
để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp hay ở nhà GV chỉ giảng giải khi HS tự đọc không thể hiểu được, kiên quyết không làm thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà Muốn vậy, GV cần phải biết phân chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thề hoàn thành được
Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài để HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải quyết một vấn đề nào đó trong quá trình học tập như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực
Trang 16tế…GV cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của GV
1.4.2 Áp d ng t ch cực ki u DH nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề (từ trước đến nay vẫn quen gọi là DH nêu vấn đề) là kiểu DH trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học Trong kiểu DH này GV vừa tạo ra cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo; vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã
có của mình không đủ để giải quyết
Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có chưa đủ giải thích hiện tượng
PP tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
- Nêu câu trả lời dự đoán (giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát
- Từ dự đoán suy ra hệ quả lôgic có thể kiểm tra trong thực tế
- Tổ chức TN kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
- Phát biểu kết luận
Tóm lại: Muốn thực hiện được các bước của PP này, HS phải thực hiện việc thu
thập, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Và sự kết hợp này được thực hiện thông qua các suy luận logic như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa,… Đối với Vật lí học, HS quan sát các dấu hiệu bên ngoài của hiện tượng từ đó suy luận rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng Điều này GV rất khó nắm bắt, cần phải tập cho HS phát biểu ý kiến của họ thành lời mới biết được
họ hiểu hay không Bởi vậy, GV cần tạo điều kiện cho HS phát biểu, tranh luận
Trang 17quả nên dành cho HS làm Ở khâu TN kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án TN kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm TN biểu diễn
- Về PP mô hình : Nhờ PP mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học
- Về PP tương tự : PP tương tự là PPNT khoa học, trong đó sử dụng sự tương
tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
1.4.4 Tận d ng phương tiện DH mới, trang thiết ị mới của GV trong việc àm và
s d ng đồ dùng DH
a Vai trò, vị trí của ph ng tiện, thiết bị DH
Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy
mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp
Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành,
TN Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện DH, thiết
bị DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm TN
Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH, thiết bị DH theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị DH
b Yêu cầu sử dụng ph ng tiện, thiết bị DH
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm
Tận dụng phương tiện DH, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)
Trang 18c Công nghệ thông tin với vai trò ph ng tiện DH, thiết bị DH
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH
Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi PP
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trí lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình DH có sử dụng CNTT
Sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH không phải chỉ nhằm thí điểm
Theo cách dạy này, lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 đến 6 HS Tùy vào mục đích sư phạm và vấn đề học tập mà GV phân chia nhóm cho thích hợp Nhóm được duy trì ổn định hoặc thay đổi theo từng tiết học, các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc giao những nhiệm vụ khác nhau Trong mỗi nhóm có nhóm trưởng, nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân chia công việc cho các nhóm viên thực hiện một phần công việc của nhóm Trong thực hiện công việc, các thành viên trong nhóm làm việc tích cực và tạo không khí thi đua với các nhóm khác GV cần có biện pháp để tạo ra không khí thi đua này Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả lớp Mỗi nhóm sẽ trình bày kết quả của mình trước toàn lớp và các nhóm có thể trao đổi tranh luận với nhau về kết quả của nhóm khác cũng như kết quả của nhóm mình
Với PPDH hợp tác nhóm, cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ kinh nghiệm và những hiểu biết cho nhau, cũng như những vướng mắc, những băn khoăn suy nghĩ của bản thân Nhờ sự trao đổi, thảo luận giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm giúp cho HS dễ hiểu và dễ nhớ bài hơn Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV
Trang 19Tuy nhiên, việc tổ chức cho HS học tập theo nhóm ngay tại lớp bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học nên GV phải biết tổ chức hợp lí mới có kết quả Không nên lạm dụng các hoạt động nhóm và cần
đề phòng xu hướng hình thức Ở trường THPT, mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ 1 đến 2 hoạt động nhóm đối với những câu hỏi, vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Cần lưu ý, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của nó là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động
1.5 Đổi ới việc so n giáo án
1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV
Khi soạn giáo án, GV phải đặt cho mình những vấn đề sau:
- Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức
độ đến đâu?
- Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của HS diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
- GV phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
- Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án
Trang 201.5.3 Quy trình soạn một giáo án
Khi thực hiện soạn thảo một giáo án cho tiết dạy có thể chia thành 7 bước:
- Bước 1: Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kĩ năng của bài học
- Bước 2: Chia bài học thành những đơn vị kiến thức
- Bước 3: Hoạch định các hoạt động của HS ứng với từng đơn vị kiến thức
- Bước 4: Tìm những kiến thức học tập phù hợp
- Bước 5: Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ HS ứng với từng hoạt động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí
- Bước 6: Xác định thời gian cho mỗi hoạt động
- Bước 7: Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ DH
1.5.4 Một số hoạt động phổ iến trong một tiết học
Theo quan điểm mới về việc DH, vai trò chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS Hoạt động học của HS rất đa dạng, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến trình giải quyết các vấn đề có tính khoa học ta có thể chia thành các hoạt động sau:
- Hoạt động kiểm tra kiến thức cũ
- Hoạt động tiếp nhận nhiệm vụ DH
- Hoạt động thu thập thông tin
- Hoạt động xử lí thông tin
- Hoạt động truyền đạt thông tin
- Hoạt động củng cố bài học
Sau đây là hình thức trình bày bài học theo mẫu 2:
Hoạt động: Kiể ra kiế ức cũ
- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi
của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý trả lời, nhận xét đánh giá
Hoạt động: Tiế iệ vụ ọc
- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Trang 21 Hoạt động: Thu ô i
- Nghe giáo viên giảng Nghe
bạn phát biểu
- Đọc và tìm hiểu một số vấn đề
trong SGK
- Tìm hiểu bảng số liệu
- Quan sát hiện tượng tự nhiên
hoặc trong thí nghiệm
- Làm thí nghiệm, lấy số liệu…
- Tổ chức hướng dẫn
- Yêu cầu HS hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu Giảng sơ lược (nếu cần thiết)
- Thảo luận theo nhóm hay làm
việc cá nhân
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét
về tính qui luật của hiện tượng
- Trả lời các câu hỏi của GV
- Tranh luận với bạn bè trong
nhóm hoặc trong lớp…
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ
những thông tin thu được
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
- Trả lời câu hỏi
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết
luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo
Trang 22 Hoạt động: Củ cố b i ọc
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
- Vận dụng vào thực tiễn
- Ghi chép những kết luận cơ bản
- Giải bài tập
- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc
cá nhân hoặc theo nhóm
- Hướng dẫn trả lời
- Ra bài tập vận dụng
- Đánh giá, nhận xét giờ dạy
Hoạt động: H ớ dẫ ọc ở
- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà
- Ghi những chuẩn bị cho bài sau
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
1.5.5 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài: ………
Tiết: ………theo phân phối chương trình
A Mục i (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)
- Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)
- Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1
- Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2
- Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i
Trang 231.6 Đổi ới kiể ra, đá iá
1.6.1 Quan đi m cơ ản về đánh giá
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực
để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu nhập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS về tác động và nguyên nhân của tình hình
đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để HS học tập ngày một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới PPDH được chú trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới PPDH được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của
HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Khi nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực
Đánh giá với hai chức năng cơ bản là x c nhận và điều khiển Xác nhận đòi hỏi
độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời hai chức năng
sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy và đánh giá chất lượng học của trò Đánh giá một cách chính xác, khách quan sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học
Chất lượng học được xem xét là sản phẩm đầu ra sau mỗi quá trình tác động có chủ đích của hoạt động DH Tác động của quá trình DH bao gồm nhiều yếu tố dựa trên một hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, đội ngũ
GV, quản lí DH…từ đó sản phẩm được hình thành và tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo của quá trình giáo dục Không như chất lượng của các loại sản phẩm khác, sản phẩm của quá trình DH làm nên chất lượng học tập sau khi đã được xác nhận có thể thay đổi theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Chất lượng học tập của HS đối với mỗi môn học thể hiện số lượng đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà HS nắm được ở các mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) Ngoài ra, chất lượng học tập cũng biểu hiện ở
cả kỹ năng và thái độ của HS sau khi có những vốn kiến thức môn học
Trong quá trình hình thành hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi HS được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm
Trang 24mỹ Đánh giá chất lượng học tập các môn học cho HS thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho quá trình giáo dục ở các môn học, trong
đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà HS đã đạt được sau một giai đoạn học tập
Tham gia vào quá trình học tập, HS có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học định ra và yêu cầu
HS phải đạt được Mức độ đạt được các tri thức đó so với yêu cầu tạo nên giá trị của sản phẩm mà quá trình DH đạt được Mục tiêu môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ “chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, yêu cầu thái độ” thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông và thể hiện cụ thể qua SGK Trong quá trình
DH, GV phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đề ra Kiểm tra xem HS đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào
so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu
Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện chất lượng học tập của HS DH căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự điều chỉnh bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi HS Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lí giáo dục, các GV và bản thân HS có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình DH Đổi mới PPDH là điều quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả DH: Đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho HS thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của HS
Đánh giá là một quá trính, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục
Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong
cả quá trình Đánh giá ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong
cả một quá trình giáo dục
Việc đánh giá phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch Cần phối hợp một cách hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra đánh giá Khắc phục
Trang 25tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho học sinh thói quen học đối phó, học tủ, học lệch, học không “tư duy”
Thống nhất với quan điểm đổi mới đánh giá như trên, việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc giám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng cấp, lớp Các câu hỏi, bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định
1.6.2 Các hình thức ki m tra
Mỗi hình thức thi, kiểm tra đều có mặt tích cực và hạn chế Để đánh giá kết quả học tập của HS đòi hỏi người GV phải biết phối hợp các hình thức thi, kiểm tra Cụ thể như sau:
- Đa dạng hóa các loại hình, các đề thi, kiểm tra cần phối hợp một cách hợp lí hình thức trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận, hình thức kiểm tra lí thuyết với kiểm tra thực hành, hình thức kiểm tra vấn đáp với kiểm tra viết, hình thức kiểm tra của GV với tự kiểm tra của HS… nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách toàn diện và hệ thống kết quả học tập của HS
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài kiểm tra và xử lí kết quả thi, kiểm tra sao cho vừa nhanh, vừa chính xác, đảm bảo được tính khách quan và sự công bằng, hạn chế được tiêu cực trong việc đánh giá kết quả học tập của HS
Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:
- Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của học sinh ngay trên lớp, dạng vấn đáp
- Kiểm tra TN thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả
- Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kì Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả học tập của HS
- Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm HS phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các
HS giỏi
Trong đó, kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả học tập của HS Nó có thể đánh giá định hình hoặc đánh giá tổng kết, đánh giá theo tiêu chuẩn hoặc đánh giá theo tiêu chí Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường gồm nhiều câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách của riêng mình Đây chính là loại hình câu hỏi và bài tập lâu nay
Trang 26chúng ta vẫn quen dùng để ra các đề kiểm tra viết Loại trắc nghiệm này có những
ưu điểm và nhược điểm sau đây:
- Ưu điểm:
+ Đề thi được dàn trải trong nhiều câu và tập trung vào các kiến thức quan trọng của chương trình học Như vậy, sẽ đảm bảo đánh giá được sự hiểu biết kiến
thức cơ bản trong chương trình quy định
+ Đánh giá được một số kỹ năng như viết, kỹ năng dùng từ chuyên môn, kỹ năng lập luận logic, kỹ năng tính toán, lỗi chính tả và những vấn đề khác như việc
dùng đơn vị, tính cẩn thận … Qua đó, ý thức học tập của HS cũng được lộ rõ
+ Trong một thời lượng kiểm tra tương đối dài, chúng ta có thể cấu trúc để
có thể đánh giá khá đầy đủ các bậc nhận thức Bloom của người học
+ Việc soạn đề thi, kiểm tra sẽ dễ hơn và mất ít thời gian hơn so với soạn đề
tiêu cực của HS khi làm bài khó có thể tránh khỏi
+ Một nhược điểm phổ biến nữa là vấn đề người chấm Nếu hai người cùng chấm chung một bài thì việc lệch điểm hầu như luôn xảy ra Loại trừ những thiếu sót khi chấm bài (chấm sai, chấm sót do bài quá dài, do sức khỏe của người chấm bài…), các quan điểm khác nhau của GV về sự hoàn chỉnh, tính logic, quan niệm về
“lỗi” (chữ viết đẹp, xấu; lỗi chính tả nhiều ít, cách hành văn…) khó có thể trùng hợp nhau ở các GV chấm bài Điều này thường xảy ra ở các bài làm có thời lượng nhiều
và các bài ở các môn khoa học xã hội
+ Việc chấm bài khó khăn mất nhiều thời gian
Những hạn chế trên có thể dẫn đến kết quả tiêu cực trong việc học như học tủ, học lệch, quay cóp,…và việc dạy như dạy tủ, đối xử thiên vị trong kiểm tra…
Trắc nghiệm khách quan: là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu học sinh phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ có duy nhất một cách viết đúng Trắc nghiệm này được gọi là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm
- Trắc nghiệm gồm các dạng sau:
+ Trắc nghiệm đúng sai
+ Trắc nghiệm điền khuyết
+ Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
Trang 27+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn)
Sự phân bố điểm của các bài kiểm tra bằng trắc nghiệm khách quan được trải trên một phổ rộng hơn nhiều Nhờ đó có thể phân biệt được rõ ràng hơn các trình độ học tập của học sinh thu được thông tin phản hồi đầy đủ hơn về quá trình dạy và học
+ Nh c điểm:
Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của HS cũng như không cho thấy quá trình suy nghĩ của HS để trả lời một câu hỏi hoặc giải bài tập Do đó nếu chỉ sử dụng hình thức trắc nghiệm này trong kiểm tra, đánh giá thì việc kiểm tra, đánh giá có thể trở thành yếu tố có tác dụng hạn chế việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt của HS
Việc biên soạn và kiểm tra rất khó khăn và mất nhiều thời gian
1.6.3 Các định hướng đổi mới ki m tra, đánh giá
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập đối với các môn học nói chung và môn Vật lí nói riêng ở mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng môn học, từng bài học, từng bài kiểm tra
Việc thay đổi nội dung và PPDH kéo theo việc thay đổi kiểm tra, đánh giá Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của HS theo mục tiêu giáo dục
Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian, đảm bảo chính xác
Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và logic về nội dung
Trang 28Từ thực trạng của việc đánh giá kết quả học tập ở trường THPT còn nhiều nhược điểm nên việc đánh giá được đổi mới trên nhiều phương diện: hình thức, mục tiêu và nôi dung đánh giá
- Đổi mới về mục tiêu:
+ Việc đánh giá kết quả học tập của HS vẫn được chủ yếu tiến hành thông qua các hình thức kiểm tra với những mục đích cụ thể sau đây:
+ Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục: Đây là yêu cầu cơ bản nhất và quan trọng nhất của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
+ Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện: Yêu cầu này thực ra chỉ là sự nhấn mạnh vào một số nội dung của yêu cầu trên vì hệ thống và toàn diện vốn là những thuộc tính cơ bản của các mục tiêu được xác định trong chương trình
+ Đảm bảo tính khách quan
+ Đảm bảo tính công khai để thực hiện sự công bằng, dân chủ
+ Đảm bảo tính khả thi: các đề kiểm tra vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của giáo dục, vừa phải tính đến các điều kiện cụ thể về trình độ GV, HS, về
cơ sở vật chất của nhà trường
- Về nội dung, các đề kiểm tra cần đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây: + Đánh giá được một cách toàn diện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng mà
HS cần đạt dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng
+ Đặt trọng tâm vào những yêu cầu mới trong việc hình thành nhân cách HS nói chung và trong công việc giảng dạy Vật lí nói riêng
- Về hình thức kiểm tra cần có những định hướng sau đây: Đa dạng hóa các loại hình, các đề kiểm tra cần phối hợp một cách hợp lí giữa trắc nghiệm khách và trắc nghiệm tự luận, kiểm tra lí thuyết với kiểm tra thực hành, nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách toàn diện và hệ thống kết quả học tập của HS
1.6.4 Các mức độ nhận thức của B oom trong đề thi, ki m tra
a Nh n biết: là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là một người
có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng.Có thể cụ thể mức độ nhận biết bằng
các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố
Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao
Trang 29nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
VD: - Chuyển động là gì?
- Phát biểu Định luật I, II, III Newton
b Thông hiểu: là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện
tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào .hoặc các từ hỏi “tại sao?”,
“nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học VD: Dùng Định luật II Newton giải thích tại sao vật có khối lượng càng lớn thì càng
khó thay đổi vận tốc của nó
c V n dụng: là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể
mới : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề trong thực tiễn
VD: Liên hệ thực tế, khi chèo thuyền muốn cho thuyền tiến hoặc lùi ta phải làm như thế nào? Tại sao phải làm như thế?
d Phân tích: là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin nhỏ
sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối qua hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận VD: Hãy so sánh sự giống và khác nhau của cặp lực trực đối và cặp lực cân bằng ?
Trang 30e Tổng hợp: là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài
liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ :
- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể
- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu
Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa
ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các
em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung VD: Tóm tắt nguyên lý hoạt động của pin quang điện
f Đá iá là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định
được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định
Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng
VD: Giải thích kết quả thí nghiệm về sự giao thoa ánh sáng và rút ra kết luận về bản chất ánh sáng
Trang 31Sau đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và th i độ
Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom
Làm được chính xác như mẫu
4 Làm biến hóa Thực hiện được các kĩ năng trong
các hoàn cảnh và tình huống khác nhau
Làm được chính xác như mẫu trong mọi hoàn cảnh
5 Làm thuần
thục
Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính xác, ít cần sự can thiệp của ý thức
Làm được chính xác như mẫu,
kĩ năng như bản năng
6 Đánh giá Vận dụng nguyên lý vào các trường hợp
để đưa ra các giải pháp mới và so sánh
nó với các giải pháp đã biết
Thiết kế được phương án mới
Trang 32Các cấ độ ì ái độ theo Bloom
3 Có lí lẽ,
lượng giá Trở thành có giá trị với bản thân
Tin và bảo vệ cái đúng
4 Được tổ chức
hệ thống
Xây dựng thành hệ thống có giá trị
Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột về giá trị
5 Hình thành
đặc trưng
Hình thành đặc trưng bản sắc riêng Phối hợp trong các nhóm hoạt
động hình thành thói quen
1.6.5 Quy trình thiết kế đề thi, ki m tra
Quy trình thiết kế một đề kiểm thi, kiểm tra môn Vật lí:
- Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra
- Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu DH)
+ Xác định kiến thức, kỹ năng
+ Các kiến thức, kỹ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)
- Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra
- Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận
- Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm
Trang 33CHƯƠNG 2 THÍ NGHIỆM BI U DI N TRONG DẠY HỌC T
2.1 Sơ ợc về iệ
Hiện nay, giáo dục nước ta đang gặp phải một trở ngại lớn làm ảnh hưởng đến chất lượng HS phổ thông nước ta chưa ngang bằng với các nước trong khu vực, đó chính là tình trạng HS thụ động, học “vẹt” để “trả bài”, để “thi cử” chứ không phải học để tìm tòi khám phá, nghiên cứu phát triển bản thân nữa Vì vậy, việc chán nản trong học tập là một điều tất yếu xảy ra mà hầu hết các trường phổ thông gặp phải
HS chán học nên kết quả học tập yếu kém, lưu ban có thể dẫn đến việc HS ham chơi, trốn học, thậm chí hậu quả còn tồi tệ hơn nữa là các em sẽ nghĩ học Hằng năm, ngành giáo dục đều tổ chức chương trình vận động HS bỏ học trở lại lớp, hỗ trợ khuyến học khuyến tài cho các em có điều kiện kinh tế để đến lớp, nhưng lại ít
có biện pháp để tạo niềm say mê hứng thú học tập cho các em, làm các em không còn chán học (là nguyên nhân chính dẫn đến việc các em HS bỏ học) thì các em sẽ không bỏ học nữa Do đó vấn đề tạo môi trường học tập sinh động lôi cuốn HS là mục tiêu quan trọng cần đạt được trong quá trình đổi mới PPDH
Một vấn đề nữa mà ngành giáo dục mắc phải là vấn đề thực hành thí nghiệm trong giảng dạy của các môn khoa học nói chung và môn Vật lí nói riêng ở các trường phổ thông Trước đây do nền kinh tế đất nước còn khó khăn nên việc đầu tư cho giáo dục cũng còn nhiều thiếu thốn, nhất là việc trang bị các phòng thí nghiệm cho các trường còn rất sơ sài với vài dụng cụ cho có hình thức, đôi lúc các dụng cụ chưa xài đã bị xuống cấp GV Vật lí thì cũng ít ai quan tâm đến việc làm thí nghiệm biểu diễn trên lớp cho HS quan sát, chỉ có làm một vài thí nghiệm thực hành để lấy
số liệu mà thôi, có thể nói dường như thí nghiệm đã bị bỏ quên trong hoạt động DH Vật lí Thí nghiệm Vật lí là dụng cụ hỗ trợ đắc lực trong giảng dạy Vật lí, nó giúp người học hiểu rõ vấn đề cần xét đến là gì, xây dựng những khái niệm mới, những định luật mới cũng như minh chứng lại được lí thuyết qua việc quan sát các hiện tượng và thu thập số liệu thí nghiệm và đặc biệt hơn nữa là trong quá trình DH, thí nghiệm có tác dụng kích thích tò mò tạo hứng thú cho HS khám phá tri thức Ngày nay, tình hình kinh tế đất nước đã phát triển hơn và ngành giáo dục đã nắm bắt được vấn đề đó nên đã cố gắng đầu tư trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm cho hầu hết các trường THPT, do đó trong quá trình đổi mới PPDH chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng các thí nghiệm trong DH Vật lí
Trang 342.2 Tổ q a về iệ trong d ọc
2.2.1 Khái niệm về TN Vật
TN Vật lí là một bước trong PP khoa học Vật lí, là sự tác động có chủ định, có
hệ thống của con người thực hiện dùng để xây dựng, kiểm chứng lại hoặc phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết vào đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thể thu nhận được tri thức mới
Đặc điểm của TN Vật lí:
- Các điều kiện của TN phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua TN, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết Mỗi TN có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: đối tượng cần nghiên cứu, phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đạc để thu nhận các kết quả của sự tác động
- Các điều kiện của TN có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa hai đại lượng, trong khi các đại lượng khác được giữ không đổi
- Các điều kiện của TN phải được khống chế, kiểm soát đúng như dự định nhờ sử dụng các thiết bị TN có độ chính xác ở mức độ cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm tối đa ảnh hưởng của các nhiễu (nghĩa là loại bỏ tối đa một số điều kiện để không làm xuất hiện các tính chất, các mối quan hệ không được quan tâm)
- Đặc điểm quan trọng nhất của TN là tính có thể quan sát được các biến đổi của đại lượng nào đó do sự biến đổi của các đại lượng khác Điều này đạt được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát, đo đạc
- Có thể lặp lại được TN Điều này có nghĩa là: với các thiết bị TN, các điều kiện TN như nhau thì khi bố trí lại hệ TN, tiến hành lại TN, hiện tượng, quá trình
Vật lí phải diễn ra trong TN giống như ở các lần TN trước
2.2.2 Chức năng của TN trong DH Vật
a Theo quan điểm của lí luận nhận thức
Theo quan điểm của lí luận nhận thức trong DHVL ở trường phổ thông, TN có các chức năng sau:
- TN là phương tiện của việc thu nhận tri thức (nguồn trực tiếp của tri thức)
- Vai trò của TN trong mỗi giai đoạn của quá trình nhận thức phụ thuộc vào vốn hiểu biết của con người vào đối tượng cần nghiên cứu Nếu HS hoàn toàn chưa
có hoặc có ít hiểu biết về vấn đề cần nghiên cứu thì TN được sử dụng để phân tích hiện thức khách quan và thông qua quá trình thiết lập nó một cách chủ quan để thu nhận tri thức khách quan
Trang 35- Trong DH Vật lí, nhất là ở các lớp dưới và giai đoạn đầu của quá trình nhận thức một hiện tượng, quá trình Vật lí nào đó thì TN được dùng để cung cấp cho HS những dữ liệu cảm tính (các biểu tượng, các số liệu đo đạc) về hiện tượng, quá trình Vật lí này Các dữ liệu trên, tạo điều kiện cho HS đưa ra những giả thuyết, là cơ sở cho những khái quát hóa về tính chất hay mối liên hệ, có tính quy luật của các đại lượng Vật lí trong hiện tượng, quá trình Vật lí được nghiên cứu
- TN là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức mà HS đã thu được trước đó Trong nhiều trường hợp, kết quả của TN phủ nhận tính đúng đắn của tri thức đã biết, đòi hỏi phải đưa ra những giả thuyết khoa học mới và kiểm tra lại ở những TN khác Nhờ vậy, thường ta sẽ thu được những tri thức có tính khái quát hơn, bao hàm các tri thức đã biết trước đó Bên cạnh đó, có một số kiến thức được rút ra bằng suy luận logic chặt chẽ từ các kiến thức đã biết Trong những trường hợp này, ta cần phải tiến hành TN kiểm tra tính đúng đắn của chúng
- TN là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn
- Trong việc vận dụng lí thuyết vào việc thiết kế, chế tạo các thiết bị kỹ thuật, người ta thường gặp nhiều khó khăn do tính trừu tượng của tri thức cần sử dụng, tính phức tạp chịu sự chi phối bởi nhiều định luật của các thiết bị cần chế tạo hoặc
do lí do về mặt kinh tế hay những nguyên nhân về mặt an toàn Khi đó, TN được sử dụng như là phương tiện tạo cơ sở cho việc vận dụng các tri thức đã thu được vào thực tiễn
Ví dụ: để thiết kế các phương tiện giao thông như tàu thủy, máy bay, ô tô,… các nhà kỹ thuật tiến hành TN với các mô hình vật chất thu nhỏ trên các kênh nước
và các luồng gió…
- Lịch sử phát triển của Vật lí cũng cho thấy các TN cơ bản không chỉ dẫn đến hình thành những thuyết Vật lí mới mà còn làm xuất hiện nhiều ngành kỹ thuật mới
- Chương trình Vật lí ở trường phổ thông đề cập đến một loạt các ứng dụng của Vật lí trong đời sống và sản xuất Việc tiến hành TN tạo cơ sở để HS hiểu được các ứng dụng của những kiến thức đã học trong thực tiễn
- TN là một bộ phận của các PPNT Vật lí
Việc bồi dưỡng cho HS các PPNT được dùng phổ biến trong nghiên cứu Vật lí (PP thực nghiệm và PP mô hình) là một trong những nội dung của việc hình thành những kiến thức Vật lí cơ bản ở trường phổ thông TN đóng vai trò quan trọng ở cả hai PPNT Vật lí này
+ Vai trò của TN trong PP thực nghiệm:
TN đóng vai trò quan trọng ở giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của PP thực nghiệm Ở giai đoạn đầu, đa số các thông tin về đối tượng cần nghiên cứu thường
Trang 36được thu nhận trong các TN Đặc biệt ở giai đoạn cuối của PP thực nghiệm, việc kiểm tra tính đúng đắn của hệ quả rút ra phải thông qua việc xây dựng và thực hiện phương án TN (nếu kết quả TN phù hợp với kết quả đã rút ra thì giả thuyết là chân thực, nếu không phù hợp thì phải đề xuất giả thuyết mới) để nghiên cứu một hiện tượng, một mối quan hệ đã được loại bỏ các yếu tố không quan tâm nên thường không có trong tự nhiên
+ PP mô hình gồm 4 giai đoạn sau:
Thu thập các thông tin về đối tượng gốc
Xây dựng mô hình
Thao tác trên mô hình để suy ra các hệ quả lí thuyết
Kiểm tra hệ quả trên đôi tượng gốc
Ở giai đoạn đầu của PP mô hình, các thông tin về đối tượng gốc thường được thu thập nhờ TN Thông qua TN, nhờ việc chủ động loại bỏ những yếu tố không quan tâm, tác động lên đối tượng, bố trí các dụng cụ quan sát, thu thập và xử lí số liệu, ta mới có thể tìm ra các thuộc tính, các mối quan hệ của đối tượng gốc, để đưa
ra được mô hình phản ánh các mối quan hệ chính mà ta quan tâm Ở giai đoạn 3 cho
mô hình vận động (thao tác trên mô hình), đối với mô hình vật chất, người ta phải tiến hành các TN thực với nó Ở giai đoạn 4, thông qua TN trên vật gốc, đối chiếu kết quả thu được từ mô hình với những kết quả thu được trực tiếp trên vật gốc, ta kiểm tra được tính đúng đắn cỉa mô hình và rút ra giới hạn của mô hình
b) Theo quan điểm lí luận DH
Chức năng của TN theo quan điểm lí luận DH:
- TN Vật lí có thể được sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình DH: đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết vấn đề, củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng, kĩ xảo của HS
- Việc sử dụng TN trong DH góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện những phẩm chất và năng lực của HS, đưa đến sự phát triển toàn diện cho người học
- Qua tiến hành TN, học sinh có cơ hội trong việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, góp phần thiết thực vào việc giáo dục tổng hợp cho học sinh TN còn là điều kiện học sinh để rèn luyện những phẩm chất của người lao động mới như: đức tính cẩn thận, kiên trì, trung thực…
- TN là phương tiện gây hứng thú, là yếu tố kích thích tò mò ham hiểu biết của HS học tập, nhờ đó làm cho các em tích cực và sáng tạo hơn trong quá trình nhận thức
- TN là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc độc lập hay tập thể, qua
đó góp phần bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của HS Qua TN đòi hỏi HS phải làm
Trang 37việc tự lực hoặc phối hợp tập thể, nhờ đó có thể phát huy vai trò cá nhân hoặc tính cộng đồng trách nhiệm trong công việc của các em
- TN Vật lí góp phần làm đơn giản hóa các hiện tượng, tạo trực quan sinh động nhằm hỗ trợ cho tư duy trừu tượng của HS, giúp cho HS tư duy trên những đối tượng cụ thể, những hiện tượng và quá trình đang diễn ra trước mắt họ TN Vật lí làm nổi bật những khía cạnh cần nghiên cứu của từng hiện tượng và quá trình Vật lí, giúp HS dễ quan sát, dễ theo dõi và dễ tiếp thu bài
- Ngoài ra, TN Vật lí còn là một trong những PPDH Vật lí ở trường phổ thông Đó là cách thức hoạt động của thầy và trò, giúp cho trò tự chiếm lĩnh kiến thức kĩ năng, kĩ xảo, đặc biệt là kĩ năng kĩ xảo thực hành Thêm vào đó, TN còn có tác dụng giúp cho việc DH Vật lí tránh được tính chất giáo điều hình thức đang phổ biến trong DH hiện nay
- TN Vật lí còn góp phần củng cố niềm tin khoa học nhằm hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho HS
2.3 Sự â o i iệ ổ ô
2.3.1 Th nghiệm i u di n
Thí nghiệm biểu diễn được GV tiến hành ở trên lớp, trong các giờ học nghiên cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của HS Căn cứ vào mục đích lí luận DH của TN biểu diễn trong quá trình nhận thức của HS, TN biểu diễn gồm những loại sau:
- Thí nghiệm mở đầu là TN nhằm giới thiệu cho HS biết qua về hiện tượng sắp nghiên cứu, để tạo tình huống có vấn đề, tạo nhu cầu hứng thú học tậpcủa HS , lôi cuốn HS vào hoạt động nhận thức
- Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng là TN nhằm xây dựng nhằm kiểm chứng lại kiến thức mới, được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu kiến thức mới TN nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
+ Thí nghiệm nghiên cứu khảo sát là TN cung cấp những số liệu thực nghiệm để khái quát hóa quy nạp để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả rút ra từ giả thuyết đã đề xuất ở đầu giờ học để từ đó xây dựng kiến thức mới
+ TN nghiên cứu minh họa là TN nhằm kiểm chứng lại kiến thức đã được xây dựng bằng con đường lí thuyết dựa trên những phép suy luận logic
- Thí nghiệm củng cố là TN nêu lên những biểu hiện của kiến thức đã học trong tự nhiên, đề cập các ứng dụng của kiến thức này trong sản xuất và đời sống, đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức đã học để dự đoán hoặc giải thích hiện tượng hay cơ chế hoạt động của các thiết bị, dụng cụ kỹ thuật Thông qua đó, GV cũng có thể kiểm tra được mức độ nắm được mức độ nắm vững kiến thức của HS
Trang 38TN củng cố có thể được sử dụng không chỉ trong các tiết học nghiên cứu kiến thức mới mà còn trong những giờ luyện tập và hệ thống hóa kiến thức đã học
- Tùy vào mục đích sử dụng, TN trực diện có thể là TN mở đầu, TN nghiên cứu hiện tượng được tiến hành dưới dạng nghiên cứu khảo sát hay nghiên cứu minh họa và cũng có thể là TN củng cố
- Thí nghiệm trực diện có thể được tổ chức dưới hình thức TN đồng loạt (GV chia HS trong lớp thành các nhóm, tất cả các nhóm HS cùng một lúc làm các TN như nhau với dụng cụ giống nhau để giải quyết cùng một nhiệm vụ) nhưng cũng có thể dưới hình thức TN cá thể (các nhóm HS cùng một lúc tiến hành các TN khác nhau thường với cùng một dụng cụ nhằm giải quyết các nhiệm vụ bộ phận, để đi đến một nhiệm vụ tổng quát)
b Thí nghiệm thực hành
Thí nghiệm thực hành là loại TN do HS thực hiện trên lớp hay trong phòng
TN mà sự tự lực làm việc cao hơn so với TN trực diện HS dựa vào tài liệu in sẵn
mà tiến hành TN, rồi viết báo cáo TN
- Thí nghiệm thực hành Vật lí có thể có nội dung định tính hay định lượng, song chủ yếu là kiểm nghiệm lại các định luật, các quy tắc đã học và xác định các đại lượng Vật lí mà nội dung này không có điều kiện thực hiện ở dạng TN trực diện
- Do được tiến hành sau khi HS đã học xong một chương hay một phần của chương nên TN thực hành Vật lí thường có nội dung phong phú, mỗi bài TN thực hành từ 1 đến 2 tiết liền và đòi hỏi thiết bị hoàn chỉnh, phức tạp hơn so với TN trực diện Ở TN thực hành, yêu cầu đối với HS cũng cao hơn ở TN trực diệ n, HS phải tự lực thực hiện các giai đoạn của quá trình TN, thực hiện nhiều thao tác, tiến hành nhiều phép đo, xử lí nhiều số liệu định lượng mới có thể rút ra các kết luận cần thiết
- Thí nghiệm thực hành có thể được tổ chức dưới một trong hai hình thức: TN thực hành đồng loạt và TN thực hành cá thể với nhiều phương án khác nhau Và mỗi hình thức tổ chức trên đều có thuận lợi và khó khăn riêng Ở hình thức tổ chức thí nghiệm thực hành đồng loạt, ưu điểm nổi bật của nó là phát huy được tác dụng
Trang 39của sự tương tác lẫn nhau giữa các nhóm HS, việc chỉ đạo của GV đơn giản hơn nhưng lại gặp khó khăn về việc trang bị đồng loạt cùng dụng cụ TN cho tất cả các nhóm HS Ngược lại, ở hình thức tổ chức TN thực hành cá thể, tuy khắc phục được khó khăn này nhưng GV lại khó bao quát lớp, khó giúp đỡ kịp thời các nhóm HS khi gặp khó khăn
và sử dụng các dụng cụ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được GV giao cho
Ngoài ra, loại TN này đòi hỏi ở HS sự kết hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, giữa hoạt động trí óc và hoạt động chân tay
Với các đặc điểm nêu trên, TN và quan sát Vật lí ở nhà có tác dụng trên nhiều mặt đối với sự phát triển nhân cách của HS như: quá trình tự lực thiết kế phương án
TN, lập kế hoạch TN, chế tạo hoặc lựa chọn dụng cụ, bố trí và tiến hành TN, xử lí kết quả TN thu được góp phần vào việc phát triển năng lực hoạt động, trí tuệ - thực tiễn của HS Việc thực hiện và hoàn thành các công việc trên sẽ làm tăng rõ rệt hứng thú học tập của HS
Khi sử dụng loại TN nghiệm này trong DH Vật lí, GV cần bố trí thời gian để HS báo cáo trước toàn lớp các kết quả đã đạt được, giới thiệu sản phẩm của mình, nhận được sự đánh giá của GV và tập thể cũng như động viên, khen thưởng kịp thời Trong đề tài này, tôi nghiên cứu việc sử dụng TN biểu diễn hỗ trợ việc áp dụng các PPNT khoa học Sau đây tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu TN biểu diễn
2.4 Y cầ về kỹ v ơ á d ọc ro việc sử dụ thí
iệ biể diễ
2.4.1 Những yêu cầu chung khi s d ng TN
- Xác định rõ logic của tiến trình DH, trong đó việc sử dụng TN phải là bộ phận của quá trình DH, nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể trong tiến trình nhận thức Trước mỗi TN, phải đảm bảo cho HS ý thức được sự cần thiết của TN, hiểu rõ mục đích TN
Trang 402.4.2 Những yêu cầu đối với việc s d ng TN i u di n
Để có thể phát huy tốt vai trò của TN biểu diễn trong DH Vật lí, GV cần phải quán triệt các yêu cầu sau đây trong khi tiến hành TN:
- TN là một khâu trong tiến trình DH do đó nó phải luôn gắn liền hữu cơ với
bài giảng, phải là một yếu tố tất yếu trong quá trình DH Nếu TN biểu diễn không
gắn liền hữu cơ với bài giảng thì không thể phát huy tốt vai trò của nó trong giờ học Muốn TN biểu diễn gắn liền hữu cơ với bài giảng, trước hết TN phải xuất hiện đúng lúc trong tiến trình DH, đồng thời kết quả TN phải được khai thác cho mục đích DH một cách hợp lí, logic và không gượng ép
- Do thời gian của một tiết học chỉ 45 phút, trong khi đó TN là một khâu trong tiến trình DH, nếu kéo dài thời gian làm TN sẽ ảnh hưởng đến các khâu khác, tức là ảnh hưởng đến tiến trình DH chung, vì vậy TN biểu diễn phải ngắn gọn hợp
lí Bởi vậy, phải căn cứ vào từng TN cụ thể để GV quyết định thời lượng cho hợp lí
- TN biểu diễn nhất định phải thành công, như vậy HS mới tin tưởng, TN mới
đủ sức thuyết phục đối với HS Ngoài ra, cần chú ý rằng, từ kết quả của TN lập luận
đi đến kết luận phải logic và tự nhiên, không miễn cưỡng và gượng ép, không bắt
HS phải công nhận Cần phải giải thích cho HS nguyên nhân khách quan và chủ quan của những sai số trong kết quả TN
- Phải bố trí TN đảm bảo cho cả lớp quan sát được và phải tập trung được chú
ý của HS vào những chi tiết chính, quan trọng Muốn vậy, GV cần chú ý từng khâu lựa chọn dụng cụ TN đến việc bố trí sắp xếp dụng cụ sao cho hợp lí Nếu cần có thể
sử dụng các phương tiện kĩ thuật như: camera, đèn chiếu, máy chiếu, máy vi tính…để hỗ trợ
- Trong khi tiến hành TN biểu diễn không được để TN gây ảnh hưởng đến sức khỏe của HS TN phải an toàn, tránh gây cho HS cảm giác lo sợ mỗi khi tiến hành TN