Chỉ thị số 29/2001/CT – Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong Giáo dục và Đào tạo ở tấ
Trang 1Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thầy Vương Tấn Sĩ Nguyễn Kim Mý
MSSV : 1100232 Lớp : SP Vật Lí - K.36
Cần Thơ, 05/2014
Trang 2- -
Trong thời gian thực hiện đề tài luận văn “Thiết kế giáo án điện tử và Trắc
nghiệm Vật lí 12 Nâng cao sử dụng ngôn ngữ lập trình Adobe Flash CS3 Professional” tôi đã gặp rất nhiều khó khăn nhưng với sự cố gắng của bản thân, sự
hướng dẫn tận tình của quý thầy cô, sự đóng góp ý kiến chân thành của các bạn và
sự động viên của gia đình, tôi đã hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình Vì vậy, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến:
Thầy Vương Tấn Sĩ đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu, và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành đề tài luận văn của mình một cách tốt nhất
Quý thầy, cô trong Bộ môn Sư phạm Vật Lí, Khoa Sư Phạm, Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức, kĩ năng để tôi hoàn thành luận văn này Gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi và động viên tinh thần trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
Các bạn sinh viên lớp Sư phạm Lí K36 đã đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Thay lời cám ơn, tôi kính chúc quý thầy cô, gia đình, các bạn lời chúc sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Sinh viên thực hiện Nguyễn Kim Mý
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
MỤC LỤC
- -
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 10
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 10
1.1 Mục đích của đề tài: 11
1.2 Giới hạn của đề tài: 11
2 CÁC GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI: 11
3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 12
3.1 Phương pháp: 12
3.2 Phương tiện: 12
4 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 12
PHẦN 2 NỘI DUNG 14
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC THPT VÀ TIN HỌC HỖ TRỢ 14
1.1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT 14
1.1.1 Quan điểm dạy học (QĐDH) 14
1.1.2 Tiến trình dạy học (TTDH) 14
1.1.3 Phương pháp dạy học (PPDH) 14
1.1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 14
1.1.5 Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học 15
1.1.6 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 15
1.1.7 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 15
1.1.7.1 Yêu cầu chung 15
1.1.7.2 Yêu cầu đối với học sinh 15
1.1.7.3 Yêu cầu đối với giáo viên 16
1.1.8 Một số phương pháp dạy học tích cực 16
1.1.9 Một số hình thức dạy học theo hướng đổi mới 16
1.1.10 Một số kĩ thuật dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học 16
1.1.10.1 Huy động tư duy 16
1.1.10.2 Tham vấn bằng phiếu 16
1.1.10.3 Kĩ thuật phòng tranh 16
1.1.10.4 Thông tin phản hồi 17
1.1.10.5 Kĩ thuật điều phối 17
1.1.11 Thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học 17
1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 17
Trang 61.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 17
1.2.1.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 17
1.2.1.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu 18
1.2.1.3 Rèn luyện thành nếp sống tư duy sáng tạo của người học 18
1.2.1.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học 19
1.2.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở lớp 12 theo chương trình đổi mới 19
1.2.2.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự học, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 19
1.2.2.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề 20
1.2.2.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức Vật lí 21
1.2.3 Đổi mới thiết kế bài giảng 21
1.2.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án 21
1.2.3.2 Các bước xây dựng một giáo án 22
1.2.3.3 Nội dung của việc soạn giáo án 22
1.2.3.4 Một số hình thức trình bày một giáo án 22
1.3 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 23
1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm công nghệ thông tin và truyền thông23 1.3.1.1 Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin 23
a) Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện dạy học sau đây: 24
b) Dạy học vơi phương tiện dạy học hiện đại trên sẽ có những ưu thế sau: 24
1.3.1.2 Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học 24
1.3.2 Ứng dụng của máy vi tính trong dạy học Vật lí 25
1.3.2.1 Những ưu điểm của việc sử dụng máy vi tính trong dạy học 26
1.3.2.2 Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học Vật lí .28
1.3.2.3 Vai trò của máy vi tính đối với các nhiệm vụ dạy học 28
a) Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy 28
b) Rèn luyện kĩ năng thực hành 29
c) Giáo dục nhân cách người lao động mới 29
1.3.2.4 Vai trò của máy vi tính trong các giai đoạn của quá trình dạy học 29
a) Giai đoạn củng cố kiến thức và đặt vấn đề mới 30
b) Giai đoạn xây dựng kiến thức mới 30
c) Giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức mới 31
d) Giai đoạn tổng kết, hệ thống hóa kiến thức 31
Trang 7e) Giai đoạn kiểm tra trình độ, đánh giá kiến thức và các kĩ năng 31
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 33
2.1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 33
2.1.1 Khái niệm giáo án điện tử 33
2.1.2 Quy trình thiết kế giáo án điện tử 34
2.1.2.1 Xác định mục tiêu bài học 34
2.1.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy, xác định đúng những nội dung trọng tâm, trọng điểm của bài, cấu trúc các kiến thức cơ bản theo ý định bài dạy 35
2.1.2.3 Multimedia hóa kiến thức 37
2.1.2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu 37
2.1.2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể 37
2.1.2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện 38
2.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 38
2.2.1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử 38
2.2.2 Kĩ năng trình bày 38
2.2.3 Kĩ năng giảng bài 39
2.2.4 Đáp ứng tiêu chí tự học 39
2.2.5 Kĩ năng Multimedia 39
2.2.6 Soạn câu hỏi 39
2.2.7 Nguồn tư liệu 39
2.2.8 Từ khóa 39
CHƯƠNG III TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH ADOBE FLASH CS3 PROFESSIONAL 40
3.1 GIỚI THIỆU VỀ FLASH CS3 40
3.2 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG 40
3.2.1 Khởi động và thoát khỏi chương trình 40
3.2.2 Khởi tạo không gian làm việc 41
3.3 GIỚI THIỆU GIAO DIỆN VÀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA FLASH CS3 42
3.3.1.Thanh tiêu đề_Title bar (1) 42
3.3.2 Thanh Menu_Menu bar (2) 42
3.3.3 Thanh công cụ vẽ_Tool bar (3) 43
3.3.4 Vùng làm việc_Stage (4) 45
3.3.5 Bảng điều khiển Action (Action Panel) (5) 45
3.3.6 Bảng kiểm soát (Property Panel) (6) 46
3.3.7 Thanh thời gian Timeline (7) 46
3.3.8 Lớp Layer (8) 46
Trang 83.3.9 Cảnh (Scene) (9) 48
3.3.10 Biểu tượng sence (10) và ký tự symbol (11) 48
3.3.11 Bảng chứa đồ họa vectơ Library (12) 48
3.3.12 Bảng điều chỉnh màu (color) (13) 50
3.4 TÌM HIỂU KHUNG HÌNH (Frame) 51
3.4.1 Khung hình (frame) 51
3.4.2 Tốc độ khung hình 51
3.4.3 Các loại khung hình 52
3.5 TẠO HOẠT HÌNH BẰNG BIẾN HÌNH CHUYỂN ĐỘNG 53
3.6 TẠO HOẠT HÌNH DỌC THEO MỘT ĐƯỜNG DẪN 54
3.7 TẠO HOẠT HÌNH BẰNG BIẾN HÌNH CHUYỂN ĐỘNG TRONG PHIM FLASH 55
3.8 TẠO NÚT NHÂN TƯƠNG TÁC 57
3.9 THÊM CÁC HÀNH ĐỘNG FLASH 58
3.9.1 Thêm hành động cho khung hình 58
3.9.2 Thêm hành động cho nút nhấn 59
CHƯƠNG IV ỨNG DỤNG THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 60
4.1 KHỞI TẠO KHÔNG GIAN LÀM VIỆC 60
4.2 TẠO TRANG CHỦ 60
4.3 TẠO CÁC CHƯƠNG TRONG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ 62
4.4 TẠO CÁC BÀI TRONG MỘT CHƯƠNG 64
4.4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 12 NÂNG CAO (chương I – VI – VII ) 67
4.4.1 Thiết kế 67
Bài 1 CHUYỂN ĐỘNG QUAY CỦA VẬT RẮN QUANH MỘT TRỤC CỐ ĐỊNH 67
(Chương I) 67
4.4.2 Thiết kế 81
Bài 43 HIỆN TƯỢNG QUANG ĐIỆN NGOÀI CÁC ĐỊNH LUẬT QUANG ĐIỆN 81
(Chương VI) 81
4.4.3 Thiết kế 92
Bài 35 TÁN SẮC ÁNH SÁNG 92
(Chương 6) 92
CHƯƠNG V XÂY DỰNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM VẬT LÍ 12 NÂNG CAO DÙNG PHẦN MỀM ADOBE FLASH CS3 PROFESSIONAL 103
5.1 Khởi tạo không gian làm việc 103
5.2 Tiến hành xây dựng trắc nghiệm 103
5.2.1 Tạo trang chủ 103
Trang 95.2.2 Tạo các đề trắc nghiệm 105
5.2.2.1 Tạo đề thứ nhất 105
5.2.2.2 Tạo đề thứ hai 113
PHẦN 3 KẾT LUẬN 114
1 NHỮNG ĐIỀU ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 114
2 NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA ĐỀ TÀI 114
3 HƯỚNG MỞ RỘNG CỦA ĐỀ TÀI 114
Trang 10PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây việc đổi mới công tác giáo dục diễn ra rất sôi động trên thế giới và ở nước ta Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới đồng bộ cả mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
Cùng với sự tiến bộ của công nghệ và tri thức khoa học, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia Vì vậy hệ thống giáo dục Việt Nam phải đi theo hướng nâng cao tri thức, kĩ năng lao động, khả năng cạnh tranh Trước tình hình đó, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động và thực hiện phong trào đổi mới phương pháp dạy học Chỉ thị số 29/2001/CT – Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/07/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
về tăng cường giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong Giáo dục và Đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo tính tích cực, sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập, giúp học sinh chiếm lĩnh được những kiến thức khoa học sâu sắc, vững chắc, đồng thời đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu của học sinh Và tất nhiên những điều này sẽ đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập Từ đó phát triển tư duy, năng lực sáng tạo và không chỉ nắm vững lí thuyết mà còn có khả năng vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn, hòa nhập cùng bạn bè thế giới Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thực vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Để làm được điều đó, đòi hỏi những nhà giáo không ngừng học hỏi, tìm tòi và sáng tạo ra các phương tiện dạy học công nghệ hiện đại nhằm phục vụ cho việc dạy học Đối với môn Vật lí, hiện nay có rất nhiều phần mềm chuyên hỗ trợ như: Crocodile physics, Interactive Physics, Maple, Flash, Tuy nhiên, một điều tôi luôn băn khoăn, trăn trở là khả năng sử dụng các phần mềm đó của người sử dụng chưa cao, điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giảng dạy Một tiết học muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng tốt các phương pháp và nếu có
sử dụng các phần mềm tin học hỗ trợ thì phải am hiểu về nó
Hiện nay, việc kiểm tra, đánh giá môn Vật lí cũng đã chuyển từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm Vấn đề đặt ra là phải làm sao đánh giá nhanh, chính xác và khách
Trang 11quan kết quả làm bài của học sinh Phần mềm Adobe Flash CS3 đáp ứng được các yêu cầu đó Vì thế, trong luận văn của mình, tôi cũng sử dụng Flash CS3 để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm Sau khi kết thúc bài học, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm này để đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh Học sinh cũng có thể tự kiểm tra kiến thức của mình một cách nhanh chóng thông qua
các câu hỏi trắc nghiệm này
Chính vì lẽ đó, sau khi đã tham khảo ý kiến của thầy cô, bạn bè, tôi đã quyết định
chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình là “ Thiết kế giáo án điện tử và trắc
nghiệm Vật lí 12 Nâng cao sử dụng phần mềm Adobe Flash CS3 Professional” 1.1 Mục đích của đề tài:
Áp dụng những kiến thức đã học về chương trình Flash vào việc thiết kế giáo
án điện tử và trắc nghiệm Vật lí 12 Nâng cao
Khắc phục phần nào việc thiếu dụng cụ thí nghiệm trong việc dạy và học Vật
lí
Ứng dụng những thành quả của công nghệ thông tin trong dạy học Vật lí Tạo sự hứng thú cho học sinh trong việc học môn Vật lí, tạo niềm tin ở học sinh về kiến thức Vật lí
Làm tài liệu tham khảo hỗ trợ thực hiện giáo án điện tử trong dạy học Vật lí
1.2 Giới hạn của đề tài:
Phần mềm Adobe Flash CS3 là một công cụ sáng tạo, cho phép tạo ra các thiết
kế, các ứng dụng có khả năng tương tác cao, cung cấp một hệ thống mạnh mẽ để tạo hình cho Web
Nghiên cứu về Flash, tôi nhận thấy Flash không phải là phần mềm chuyên dụng
để thiết kế giáo án điện tử và trắc nghiệm Vật lí nhưng nó có đủ tính năng để xây dựng bất cứ thí nghiệm nào ta muốn Với khả năng của mình và thời gian có hạn nên chỉ mới thiết kế được một số bài điển hình trong sách giáo khoa Vật lí 12 nâng cao và số lượng câu hỏi trắc nghiệm xây dựng cũng chưa nhiều
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nghiên cứu rất nhiều sách viết về Flash
Từ đó khái quát, chọn lọc những vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất của Flash để đưa vào bài viết, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận Flash hơn Ngoài ra, tôi cũng tìm kiếm thông tin trên mạng Internet Tất cả các tài liệu liên quan đến Flash CS3 đều là nguồn tư liệu quí báo cho đề tài này
2 CÁC GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hiện nay nước ta đã hoàn thành chương trình cải cách SGK, đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học nhằm đạt kết quả cao trong quá trình dạy và học Chương trình Vật lí phổ thông đã đưa vào rất nhiều thí nghiệm và đặt ra yêu cầu là
Trang 12Tuy nhiên, hầu hết các trường phổ thông vẫn chưa trang bị đủ dụng cụ thí nghiệm làm cho quá trình giảng dạy của giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, không gây được hứng thú trong học tập Bên cạnh đó, một số thí nghiệm hoặc hiện tượng Vật lí phức tạp không thể thực hiện trực tiếp ở môi trường ngoài làm hạn chế khả năng tư duy của học sinh Vì thế, việc sử dụng phần mềm tin học để mô tả lại các hiện tượng Vật
lí, các thí nghiệm và kết hợp vào bài giảng điện tử đó là điều cần thiết Một tiết dạy
sẽ trở nên sinh động hơn nếu người giáo viên biết kết hợp hoài hòa giữa việc dạy kiến thức và sử dụng các mô phỏng thí nghiệm Vấn đề là sử dụng phần mềm nào
và sử dụng như thế nào để mô tả các hiện tượng Vật lí cho hiệu quả Adobe Flash CS3 đáp ứng được yêu cầu đó
Việc sử dụng Flash cho quá trình dạy và học cũng không phải một điều dễ dàng bởi nó là một phần mềm có mã lệnh Vì thế, trong đề tài này tôi sẽ trình bày chi tiết về giao diện, các thành phần và cách sử dụng Flash CS3 Sau đó, dựa vào những kiến thức tích lũy được, tôi sẽ thiết kế bài giảng điện tử và xây dựng câu hỏi trắc nghiệm dưới dạng các đề
Tiếp cận đề tài này, người đọc sẽ nhận thấy sự hữu ích của Flash CS3, và sự cần thiết phải tìm hiểu về Flash CS3 để phục vụ cho quá trình Dạy – Học
3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3.1 Phương pháp:
Thu thập các dữ liệu, thông tin có liên quan đến đề tài: Giáo trình Macromedia Flash 8.0, tìm kiếm hình ảnh, cơ sở lí thuyết Vật lí, câu hỏi trắc nghiệm…
Phân tích các dữ liệu, thông tin thu thập được và lựa chọn cho phù hợp
Nghiên cứu, tìm hiểu rõ về các thành phần, cách sử dụng Flash CS3 và hệ thống hóa kiến thức cơ bản trọng tâm có chọn lọc
Tổng hợp tất cả các yêu cầu của đề tài, các ý kiến đóng góp để xây dựng đề tài hoàn chỉnh về nội dung lẫn hình thức
3.2 Phương tiện:
Máy tính cá nhân
Phần mềm Adobe Flash CS3 Professional và một số phần mềm hỗ trợ
Các loại sách chuyên ngành Vật lí và tin học
Internet
4 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nhận đề tài
Xây dựng đề cương tổng quát
Thu thập, tìm kiếm dữ liệu có liên quan đến đề tài
Trang 13Tìm hiểu các thành phần và cách sử dụng phần mềm Adobe Flash CS3
Thiết kế bài giảng điện tử
Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm
Viết đề tài
Nộp bản thảo cho thầy hướng dẫn và xin ý kiến
Điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện nội dung đề tài
Báo cáo luận văn
Trang 14PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO
DỤC THPT VÀ TIN HỌC HỖ TRỢ 1.1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT
1.1.1 Quan điểm dạy học (QĐDH)
Là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện, hình thức tổ chức dạy học, những định hướng vai trò của giáo viên
1.1.2 Tiến trình dạy học (TTDH)
Tiến trình dạy học mô tả cấu trúc của quá trình dạy học theo một trình tự xác định của các bước dạy học, quy định tiến trình thời gian, tiến trình logic hành động Tiến trình dạy học hay còn gọi là các bước dạy học hay tiến trình lí luận dạy học, tiến trình phương pháp dạy học
1.1.3 Phương pháp dạy học (PPDH)
Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học
1.1.4 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học với định hướng:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
- Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của trường
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra đánh giá, kết quả dạy – học
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu
ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
Trang 151.1.5 Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập
1.1.6 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của học sinh
- Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của giáo viên với đánh giá của bạn, với tự bản thân đánh giá
- Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng thực tế, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất
- Đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong học tập cho học sinh đạt kết quả cao
1.1.7 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
1.1.7.1 Yêu cầu chung
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác
- Dạy học thể hiện quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, năng lực, tăng cường thực hành và gắn bó nội dung bài học vào thực tiễn
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học,
tự nghiên cứu
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học
- Dạy học chú trọng đến việc đa nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá
và tăng cường hiệu quả việc đánh giá
1.1.7.2 Yêu cầu đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá
và lĩnh hội kiến thức
- Tích cực sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng học tập
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm các nhân
Trang 161.1.7.3 Yêu cầu đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả linh hoạt
1.1.9 Một số hình thức dạy học theo hướng đổi mới
- Dạy học với hình thức tổ chức hội thảo
- Dạy học với hình thức hợp tác, thảo luận theo nhóm nhỏ
- E – Learning
- Dạy học theo dự án
1.1.10 Một số kĩ thuật dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học 1.1.10.1 Huy động tư duy
Là hình thức học tập đặc biệt nhằm tìm ra vấn đề để giải quyết
Bốn nguyên tắc của hoạt động tư duy:
- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành
1.1.10.3 Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật phòng tranh giúp thu thập, phát triển ý tưởng, chủ kiến về một vấn đề, một nội dung quan tâm của một nhóm người
Trang 17Tất cả các thành viên phác họa những ý nghĩ đầu tiên về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa, rồi dính lên bàn tay hay lên tường
1.1.10.4 Thông tin phản hồi
Thông tin phản hồi trong dạy học là giáo viên và học sinh cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập
Phản hồi bằng kĩ thuật “ Tia chớp” là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhanh, nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và cải thiện không khí lớp học thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng ý kiến của mình về tình trạng vấn đề
1.1.10.5 Kĩ thuật điều phối
Sử dụng khi điều khiển sự làm việc triển khai theo chương trình, SGK nói chung
1.1.11 Thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học
- Sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học
- Đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ thống và có chất lượng cao của thiết bị dạy học
- Chú trọng thiết bị thực hành giúp học sinh tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm
- Cần tính tới việc thiết kế các thiết bị dạy học mới bằng cách giáo viên tự làm
- Hỗ trợ giáo viên biết sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả, đặc biệt là phương tiện dạy học mới
1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT
1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “ Giáo viên độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn học sinh thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại” Nói một cách khác, giáo viên là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, giáo viên quyết định tất cả, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức, kĩ năng, đánh giá kết quả học tập
Theo cách dạy đó giáo viên trình bày, giảng dạy các kiến thức cần truyền thụ cho học sinh một cách rõ ràng, chính xác đầu đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công, đúng như đã nói trong lí thuyết hay đúng những mong muốn cần
Trang 18đạt được Giáo viên chỉ quan tâm đến việc dạy của mình sao cho hoàn mĩ, còn học sinh hiểu được, làm được, phát triển được hay không là trách nhiệm của học sinh Cách dạy đó rõ ràng là dồn học sinh vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình, còn giáo viên trở thành nhân vật đầy quyền uy khiến học sinh phải sợ hãi và cha mẹ học sinh phải kính nể Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của giáo viên Những giáo viên tâm huyết với nghề, hết lòng yêu thương học sinh thì sẵn sàng hy sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho học sinh vị trí chủ động trong học tập Nhưng không ít giáo viên còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới
Chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng chỉ đạo bao trùm là
tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Bất kì ở đâu, nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh
Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của học sinh thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với học sinh Đối với Vật lí học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm Sách giáo khoa và thiết
bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học
1.2.1.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu
Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học bằng hình thức giao nhiệm vụ học tập cho học sinh như phát phiếu học tập ở nhà cho học sinh, đọc tài liệu trước…
1.2.1.3 Rèn luyện thành nếp sống tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất
là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn
đề học tập, qua đó phát triển năng lực sáng tạo Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động, say mê hứng thú, chứ không phải ép buộc
Vai trò của giáo viên không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực
Trang 19Phương pháp dạy học tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Có rất nhiều điều cần phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho học sinh niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số trẻ em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các
em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Bởi thế, việc dạy học tích cực này được đa số học sinh hưởng ứng nhiệt liệt
1.2.1.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ
XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bậc là “ lí thuyết thích nghi” của J.Piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan
Sử dụng các phương tiện hiện đại: mô phỏng, minh họa một cách trực quan các hiện tượng, quá trình vật lí Sử dụng máy vi tính hỗ trợ các thí nghiệm, hỗ trợ phân tích băng video các quá trình Vật lí thực
1.2.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở lớp 12 theo chương trình đổi mới
1.2.2.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng dạy, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự học, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là giáo viên luôn chú ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho học sinh ngay cả khi những điều giáo viên nói đã viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí giáo viên nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng Có những kiến thức học sinh đọc hay làm theo sách giáo khoa vẫn có thể hiểu được nhưng giáo viên vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở học sinh và nguy hại hơn nữa là không cho học sinh có cơ hội suy nghĩ, càng không có điều kiện để học sinh đề xuất những ý kiến các nhân khác với sách giáo khoa, hay khác với ý kiến giáo viên Nhiều giáo viên cho rằng sách viết dài, không giảng giải thì không thể truyền đạt hết kiến thức cho học sinh Thực tế là những kiến thức đó, học sinh có thể tự đọc và hiểu được, nhưng giáo viên thường không để cho học sinh tự đọc mà giảng giải trình bày hết tất cả
Lúc đầu học sinh vẫn chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn học theo cách
cũ, chờ giáo viên giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, học sinh tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà học sinh phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn thời gian chờ đợi giáo viên giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, học sinh sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công,
Trang 20càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được những thành công lớn hơn Giáo viên cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu học sinh tự học ở lớp và ở nhà Giáo viên chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được, kiên quyết không làm thay học sinh điều gì mà họ có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà
Muốn cho học sinh hoạt động tự lực thành công thì giáo viên cần phải biết phân chia vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu học sinh
cố gắng một chút là có thể hoàn thành được
Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, có rất nhiều việc phải làm như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế v.v…Giáo viên cần tính toán xem với trình độ học sinh cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của giáo viên, việc gì giáo viên phải giảng giải để cung cấp thêm hiểu biết cần thiết cho việc giải quyết vấn đề
Trong mọi bài học giáo viên đều có thể tìm ra một, hai chỗ trong bài mà học sinh
có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian 10 đến 20 phút
1.2.2.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong
đó, dạy cho học sinh thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, giáo viên vừa tạo cho học sinh nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo; vừa rèn luyện cho họ kĩ năng sáng tạo
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã
có của mình không đủ để giải quyết
Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu học sinh tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ để giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát
từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh
mẽ hơn cả
Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lý thuyết, tổng quát
+ Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
Trang 21+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng lại dự đoán mới
+ Phát biểu kết luận
Muốn thực hiện được các khâu của phương pháp này, học sinh phải thực hiện việc thu thập thông tin, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này lại có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Sự kết hợp đó được thực hiện thông qua các suy luận logic như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa v v…
Đối với Vật lí học thì quan sát thấy gì mới chỉ là một nữa, chỉ mới là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài và điều này không quá khó khăn Điều khó khăn và quan trọng hơn là thực hiện các phép suy luận để rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng Cần phải tập cho học sinh phát biểu ý kiến của họ thành lời mới biết được học có hiểu hay không Bởi vậy, cần kiên trì tạo điều kiện cho học sinh phát biểu, tranh luận
1.2.2.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức Vật lí
Một trong những nét đặc trưng trong tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên Có các phương pháp sau:
Phương pháp thực nghiệm: tùy tình hình cụ thể mà giáo viên và học sinh có thể tiến hành thí nghiệm kiểm tra hay thí nghiệm xây dựng đại lượng cần khảo sát Phương pháp mô hình: nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh ngoài
mô hình hình ảnh, hay phổ biến là mô hình toán học
Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học, trong đó sử dụng tương tự và phương pháp suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
1.2.3 Đổi mới thiết kế bài giảng
1.2.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của giáo viên sang thiết kế các hoạt động của học sinh là yêu cầu nổi bậc với việc soạn giáo án của người giáo viên
Khi soạn giáo án giáo viên phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
- Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức
độ đến đâu?
Trang 22- Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của học sinh sẽ diễn ra theo con đường nào? Học sinh cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức cá nhân hay làm việc nhóm?
- Giáo viên phải chỉ đạo thế nào để đảm bảo cho học sinh chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
- Hành vi ở đầu ra mà học sinh cần thể hiện được sau khi học là gì?
1.2.3.2 Các bước xây dựng một giáo án
- Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình
- Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan để:
+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh
+ Xác định trình tự logic của bài học
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng học sinh đã có và cần có
+ Dự kiến những khó khăn, tình huống có thể nảy sinh và phương án giải quyết
- Lựa chọn phương pháp dạy học; thiết bị dạy học; hình thức tổ chức dạy học
và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tự học
- Xây dựng kế hoạch bài học: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh
1.2.3.3 Nội dung của việc soạn giáo án
Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ
Xác định những nội dung kiến thức của bài học
Xác định công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh, các phương pháp dạy học cần sử dụng
Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học
Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng
Soạn nội dung bài tập về nhà
1.2.3.4 Một số hình thức trình bày một giáo án
Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự tuyến tính từ trên xuống dưới
Trang 23Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh
Viết 3 cột: hoạt động của giáo viên, hoạt động của học sinh, nội dung ghi bảng hoặc tiêu đề nội dung chính
Viết 4 cột: hoạt động của giáo viên, hoạt động của học sinh, nội dung ghi bảng hoặc tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
Phân chia hệ thống các hoạt động thành 5 nhóm hoạt động theo trình tự kế hoạch bài học:
Nhóm 1: hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới
Nhóm 2: hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt và nêu vấn đề
Nhóm 3: hoạt động nhằm để học sinh tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, qui nạp, suy diễn để tìm ra kết quả giải quyết vấn đề
Nhóm 4: Rút ra kết luận, tổng kết, hệ thống kết quả hoạt động và đưa ra kết luận giải quyết vấn đề
Nhóm 5: tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống
1.3 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN GÓP PHẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo quan niệm công nghệ thông tin và truyền thông
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa phương tiện dạy học, thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học
1.3.1.1 Dạy và học theo quan điểm công nghệ thông tin
Theo quan điểm công nghệ thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả
Thông tin được hiểu càng có giá trị nếu nó gây ra được sự bất ngờ càng lớn Trong khoa học người ta đã lượng hóa thông tin theo quan điểm này Người học như một máy thu có nhiều cửa vào, phải biết tiếp nhận thông tin qua nhiều cửa, phải biết tách thông tin hữu ít ra khỏi nhiễu, phải biết biến đổi, lưu trữ, ghi nhớ thông tin trong nhiều bộ nhớ khác nhau, mỗi cửa vào này tiếp nhận một loại thông tin mã hóa
Trang 24riêng biệt Ta cần tận dụng tất cả các phương tiện để đưa thông tin vào các cửa này, cần sử dụng các trang thiết bị hiện đại nhằm chuyển đổi, mã hóa, chế biến thông tin
để việc truyền tin đạt hiệu quả nhất
Nếu nội dung bài học chỉ được truyền tới người học dưới dạng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú Nếu chỉ truyền tin theo một chiều, không có sự
hỏi đáp thì thông tin thu được của người học có thể phiến diện, không đầy đủ hoặc
bị biến dạng, có khi dẫn đến việc hiểu sai nội dung
Theo quan điểm công nghệ thông tin, để đổi mới phương pháp dạy học, người
ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”
a) Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, quá trình dạy học đã sử dụng phương tiện dạy học sau đây:
Phim chiếu để giảng với đèn chiếu Overhead
Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector
Phần mềm dạy học giúp học sinh học trên lớp và ở nhà
Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy vi tính
Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để dạy học
b) Dạy học với phương tiện dạy học hiện đại trên sẽ có những ưu thế sau:
Giáo viên chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần
Các phần mềm dạy học có thể thực hiện các thí nghiệm ảo, sẽ thay thế giáo viên giảng dạy thực hành, tăng tính năng động cho người học, cho phép học sinh theo khả năng
Các phương tiện dạy học hiện đại sẽ tạo ra khả năng giáo viên trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật và thích nghi với sự thay đổi nhanh của khoa học hiện đại
Các phương tiện dạy học sẽ hỗ trợ chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp
Học sinh học không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy nghĩ và điều quan trọng hơn là nhiều học sinh được dự và nghe giảng bài của nhiều giáo viên giỏi
1.3.1.2 Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học cần đảm bảo các yêu cầu:
Trang 25Sử dụng như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các phương pháp dạy học nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi phương pháp dạy học đều có chỗ mạnh và chỗ yếu, ta cần phát huy chỗ mạnh, hạn chế chỗ yếu của từng phương pháp
Phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng công nghệ thông tin như phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
Không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của người thầy trong quá trình dạy học có sử dụng công nghệ thông tin Chẳng hạn, sử dụng công nghệ thông tin thay giáo viên trong một số khoảng thời gian, do giải phóng khỏi việc dạy học đồng loạt cho cả lớp, giáo viên có thể đi sâu giúp những học sinh các biệt (cả cá biệt yếu và các biệt giỏi) với thời gian dài hơn so với dạy học không sử dụng công nghệ thông tin
Sử dụng công nghệ thông tin như phương tiện dạy học, thiết bị dạy học không phải chỉ nhằm thí điểm dạy học với công nghệ thông tin mà còn góp phần dạy học
về công nghệ thông tin
Hiệu quả của việc sử dụng máy vi tính ngay trong quá trình dạy học có tác dụng gây động cơ học tập những nội dung tin học Bên cạnh đó, chính bản thân những ứng dụng của tin học và công cụ của tin học cũng là một trong những nội dung tin học cần truyền thụ
Để phát huy tác dụng tích cực của việc sử dụng công nghệ thông tin như là một ứng dụng của tin học ở những lúc thích hợp (không nhất thiết là ngay khi dạy học trên máy tính), giáo viên có thể bình luận về hiệu quả của máy vi tính, về vai trò của con người thể hiện trong việc lập trình
Sử dụng công nghệ thông tin như một thiết bị dạy học không phải chỉ để thực hiện dạy học với trang thiết bị của công nghệ thông tin mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học ngay cả trong điều kiện không có máy
1.3.2 Ứng dụng của máy vi tính trong dạy học Vật lí
Dạy học là một hoạt động phức hợp, trong đó có những yếu tố mang tính nghệ thuật của người giáo viên, đồng thời cũng có những yếu tố mang tính kĩ thuật, mà theo đó có thể xây dựng thành công nghệ dạy học Một trong những nét nổi bậc của tiến trình đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học Vật lí nói riêng, là việc áp dụng những thành tựu khoa học, kĩ thuật công nghệ vào quá trình dạy học, nhờ đó chất lượng dạy học được nâng lên một cách rõ rệt
Dựa trên cơ sở về tâm lí học, lí luận dạy học, cơ sở thực tiễn và những chức năng của máy vi tính, các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể
sử dụng máy vi tính trong quá trình dạy học với tư cách như một phương tiện dạy học hiện đại
Trang 26Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức Vật lí đều gắn với kiến thức thực tiễn, nên việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và máy vi tính nói riêng vào dạy học Vật lí là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Nhờ các chương trình mô phỏng, minh họa, máy vi tính làm tăng tính trực quan, kích thích hứng thú học tập và tạo sự chú ý ở mức cao đối với học sinh, giúp cho giáo viên giảm thời gian thuyết trình, không mất nhiều thời gian vào việc biểu diễn, thể hiện thông tin trong giờ học Với các thí nghiệm có tính nguy hiểm đối với con người, hoặc các thí nghiệm có thời gian diễn ra rất nhanh (hoặc rất chậm) thì việc thay thế chúng bằng những thí nghiệm ảo trên máy vi tính là một cách làm tối ưu…Có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng máy vi tính với tư cách là một phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí có rất nhiều ưu điểm nổi trội, nó có thể được ứng dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xây dựng tình huống học tập, nghiên cứu giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức…Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, máy vi tính không phải là một phương tiện vạn năng, có thể thay thế toàn bộ các phương pháp dạy học truyền thống khác; máy vi tính dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thay thế toàn bộ cho người giáo viên, mà giáo viên luôn là người có vai trò tổ chức, thiết kế quá trình dạy học, là người quyết định lựa chọn phương tiện, lựa chọn thời điểm sử dụng, hình thức sử dụng và phạm vi sử dụng máy vi tính nhằm đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động dạy học
1.3.2.1 Những ưu điểm của việc sử dụng máy vi tính trong dạy học
Máy vi tính với tư cách là một phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng nó một cách hợp lý trong dạy học có nhiều ưu điểm
Nhờ các chương trình mô phỏng và minh họa được cài đặt sẵn, máy vi tính có thể xây dựng nên các mô phỏng tĩnh hoặc động với chất lượng cao, thể hiện ở độ trung thực của màu sắc, các vận động tuân theo qui luật khách quan của hiện tượng
mà người lập trình đã đưa vào làm tăng tính trực quan trong dạy học, tăng hứng thú học tập và tạo sự chú ý học tập của học sinh ở mức cao Máy vi tính có khả năng lặp lại nhiều lần, thậm chí vô hạn lần ở cùng một vấn đề, giúp giáo viên và học sinh có thể nghe lại, xem lại những tình huống, những hiện tượng hoặc những thông tin mà
họ chưa kịp nhận biết ở lần quan sát đầu tiên Điều này rất khó thực hiện ở người giáo viên
Giao tiếp giữa người với máy vi tính trong quá trình dạy học là hoàn toàn chủ động theo sự điều khiển của giáo viên và học sinh Việc sử dụng máy vi tính trong dạy học tạo cơ hội để chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả những con đường nắm vững kiến thức, hoạt động trí tuệ của học sinh, vì thế có thể điều khiển được quá trình dạy học Giáo viên có thể xây dựng bài giảng bằng cách lắp ráp các môđun có sẵn Để thực hiện tốt bài giảng theo kiểu này thì đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị bài giảng một cách công phu, thông qua đó, có thể khẳng định rằng
Trang 27máy vi tính không thể thay thế người giáo viên mà chính là vai trò của người giáo viên được đề cao và đóng vai trò người tổ chức quá trình học tập Nhờ có máy vi tính mà hoạt động dạy học của giáo viên có thể được tự động hóa ở mức cao
Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận là việc sử dụng máy vi tính trong việc dạy học có tác dụng giảm thiểu thời gian cho việc biểu diễn, thể hiện thông tin của giáo viên trong giờ lên lớp Máy vi tính còn cho phép củng cố ngay tức thời và thường xuyên hơn so với dạy học truyền thống, đồng thời việc kế thừa, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung bài giảng,… từ kết quả của các hoạt động dạy học trước
đó là rất thuận lợi và không mất quá nhiều thời gian
Việc sử dụng máy vi tính trong dạy học còn có tác dụng rất lớn đối với học sinh, trong đó, cá thể học tập của học sinh ở mức cao Học sinh có thể học tập theo nhịp độ riêng của mình phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân, tạo cơ hội để học sinh có thể tự học một cách tốt hơn Với những chương trình đã được cài đặt sẵn (trắc nghiệm, đố vui,…) máy vi tính có thể đưa ra lời khen ngợi mỗi khi thực hiện tốt một nội dung học tập, và cũng có thể phê phán một cách nhẹ nhàng mỗi khi các em làm không tốt nhiệm vụ của mình Vì thế, học sinh thấy được tôn trọng, được cư xử công bằng và khách quan, giúp các em tự tin hơn vào chính bản thân mình Thông qua đó rèn luyện cho học sinh tính tự lập, tự chủ và sáng tạo Học tập thông qua máy vi tính đòi hỏi học sinh phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ, đó cũng là những nét nhân cách cần thiết phải hình thành ở học sinh
Một ưu điểm khác của việc sử dụng máy vi tính trong dạy học là khả năng đánh giá kết quả học tập một cách công bằng, khách quan, điều đó giúp học sinh đánh giá đúng khả năng học tập của mình Nhờ có máy vi tính mà kết quả học tập của học sinh được lưu lại trong các tệp số liệu, giúp giáo viên có thể so sánh, đánh giá, nhận xét quá trình học tập của học sinh một cách nhanh chóng, chính xác
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng, các thí nghiệm
tự động hóa có sự trợ giúp của máy vi tính được thực hiện một cách nhanh chóng với độ chính xác cao; các số liệu thực nghiệm được xử lí, đánh giá và trình bày dưới dạng biểu bảng, đồ thị hay các tệp số liệu, có thể lưu trữ trên các thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính, điều đó giúp giáo viên và học sinh dễ dàng trong việc khảo sát và
xử lí thông tin
Việc sử dụng máy vi tính trong dạy học cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy các hình thức dạy học cũng từ đó mà được cải tiến, hoàn thiện theo hướng linh hoạt và phong phú hơn Các phương pháp dạy học tích cực cũng có thể được hoàn thiện, bổ sung và sử dụng rộng rãi hơn, nhất là phương pháp dạy học chương trình hóa, mô hình hóa
Trang 28Máy vi tính có một ưu thế nổi trội khác là khi kết nối vào mạng máy tính, nó tạo điều kiện để tiến hành dạy học từ xa một cách thuận tiện và hiệu quả Giáo viên có thể điều khiển quá trình học tập cùng lúc cho nhiều học sinh ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể rất xa nhau về mặt vị trí địa lí Cũng nhờ hệ thống mạng máy tính mà giáo viên, học sinh và các nhà quản lí giáo dục có thể cùng tham gia các cuộc thảo luận, có thể chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất Ngoài ra, thông qua mạng Internet, giáo viên có thể cập nhật được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung dạy học để bổ sung, hoàn thiện bài giảng một cách có chất lượng nhất
1.3.2.2 Một số chức năng cơ bản của máy vi tính có thể ứng dụng trong dạy học Vật lí
Sử dụng máy vi tính làm phương tiện nghe nhìn và lưu trữ thông tin
Sử dụng máy vi tính để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí nghiệm
Sử dụng máy vi tính để tự động hóa các thí nghiệm Vật lí
Sử dụng máy vi tính để tích hợp với các phương tiện dạy học hiện đại
Sử dụng máy vi tính kết hợp với Multimedia
Vai trò hỗ trợ của máy vi tính trong quá trình dạy học Vật lí
1.3.2.3 Vai trò của máy vi tính đối với các nhiệm vụ dạy học
a) Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói riêng, có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng máy vi tính hợp lý sẽ giúp cho quá trình truyền thụ tri thức được thuận lợi và hiệu quả hơn, sự phát triển tư duy của học sinh cũng tốt hơn Điều này đạt được là nhờ vào khả năng khai thác và truyền thụ tri thức về các hiện tượng tự nhiên và xã hội của máy vi tính dưới sự điều khiển của giáo viên Máy vi tính có thể
mô phỏng và minh họa bằng hình vẽ các hiện tượng và các quá trình tự nhiên và xã hội,…
Trong dạy học Vật lí, máy vi tính có thể giúp ta tiến hành các thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp và có thể được tiến hành một cách sinh động, đáp ứng mọi yêu cầu của quá trình dạy học Máy vi tính còn có mặt mạnh khác là có thể biểu diễn các hiện tượng và quá trình tự nhiên trong sự phối hợp với màu sắc, âm nhạc hoặc lời giải thích của giáo viên Do đó, máy vi tính có sức cuốn hút học sinh, có khả năng kích thích hứng thú học tập, đặt học sinh vào vị trí chủ thể của quá trình học tập Chính vì lí do này mà hiệu quả của bài giảng và chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh được nâng lên một cách đáng kể
Việc sử dụng máy vi tính trong dạy học đã tạo cho giáo viên có nhiều điều kiện
và cơ hội phát triển tư duy cho học sinh Với các hình ảnh, mô hình, hình vẽ, hoặc
Trang 29các video clip về các hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội Giáo viên có thể hình thành và rèn luyện cho học sinh cách quan sát, khả năng mô tả, diễn đạt và óc liên tưởng,…Với những thí nghiệm được tiến hành nhờ sự hỗ trợ của máy vi tính, ngoài khả năng phát triển các thao tác tư duy, giáo viên còn có điều kiện để rèn luyện cho học sinh năng lực so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa
b) Rèn luyện kĩ năng thực hành
Trong dạy học ở trường phổ thông, máy vi tính không những được dùng làm phương tiện biểu diễn mà còn có thể được dùng làm công cụ thực hành cho học sinh Sử dụng máy vi tính để xử lí thông tin, học sinh được rèn luyện những chức năng cơ bản, tư duy thuật toán, kĩ năng lập trình,…Nhờ đó học sinh có khả năng thích ứng nhanh chóng với mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội có trang bị máy vi tính Xét về mặt xã hội, việc sử dụng máy vi tính làm phương tiện dạy học trong nhà trường là một trong những biện pháp tích cực, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội
c) Giáo dục nhân cách người lao động mới
Trong quá trình học tập với công cụ máy vi tính, học sinh được rèn luyện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao độ Máy vi tính không tỏ thái độ phê phán gay gắt trực tiếp học sinh khi trả lời sai, nhưng cũng không khoan nhượng đối với những sai sót mắc phải, buộc học sinh phải bằng mọi cách sửa chữa triệt để những sai sót đó Chỉ khi nào học sinh trả lời đúng những câu hỏi đặt ra hoặc giải quyết xong nhiệm
vụ được giao, máy vi tính mới cho phép tiếp tục nghiên cứu những kiến thức sau
đó, điều này khắc phục được tình trạng hổng kiến thức trong học sinh hiện nay Ngoài ra, để có thể “hội thoại” đạt kết quả với máy vi tính, học sinh bắt buộc phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ
Việc sử dụng máy vi tính để kiểm tra kiến thức của học sinh luôn bảo đảm được tính chính xác cao, và sự công bằng trong đánh giá Máy vi tính rất “ trung thực, không vị nể” khi đánh giá, buộc học sinh phải suy nghĩ, lựa chọn dứt khoát câu trả lời trong thời gian đã định Nhờ đó, tính trung thực của học sinh cũng được rèn luyện
Khi học sinh thực hành với máy vi tính, những chuẩn đạo đức cũng đòi hỏi khắt khe, vì máy vi tính chỉ thực hiện theo câu lệnh đúng, không thể buộc nó theo ý người sử dụng Muốn giao cho máy những câu lệnh đúng thì người sử dụng chỉ còn cách kiên trì học tập, nghiêm túc với những quy định đã được thỏa thuận trong hệ lệnh, tự tin vào bản thân và trung thực cao độ
1.3.2.4 Vai trò của máy vi tính trong các giai đoạn của quá trình dạy học
Theo lí luận dạy học hiện đại thì một quá trình dạy học nói chung hay một quá trình dạy học cơ sở (một tiết dạy trên lớp) gồm các giai đoạn: củng cố trình độ kiến
Trang 30thức, kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức và các kĩ năng của học sinh Đây vừa là những chức năng lí luận dạy học của quá trình dạy học và đồng thời cũng là những giai đoạn chính của quá trình dạy học Trong từng giai đoạn khác nhau, máy vi tính
có những vai trò hỗ trợ khác nhau, nhưng nói chung, sự hỗ trợ của máy vi tính trong các giai đoạn của quá trình dạy học là hết sức cần thiết và nhờ có nó mà chất lượng dạy học được nâng lên đáng kể
a) Giai đoạn củng cố kiến thức và đặt vấn đề mới
Bất kỳ một tiết học nào, khi muốn dẫn dắt đến vấn đề thì giáo viên phải tìm cách mở đầu bài học hướng học sinh biết được nội dung chính của bài học cần đề cập đến Cách mở đầu bài học có thể là một thí nghiệm, có thể là một câu chuyện, cũng có thể là sự liên tưởng ở các bài học trước,… Vấn đề cơ bản là giáo viên phải lôi cuốn được người học ngay từ đầu, tạo sự hưng phấn, tính tò mò cho học sinh ngay ở giây phút đầu tiên của tiết học
Với việc sử dụng máy vi tính, cách mở đầu bài học đã có những thuận lợi nhất định Trong giai đoạn này, giáo viên có thể sử dụng máy vi tính hỗ trợ trong việc tóm tắt kiến thức đã học ở bài trước, đưa ra các hình ảnh, các đoạn phim, về các hiện tượng Vật lí một cách trực quan và yêu cầu học sinh giải thích các hiện tượng
đó Giáo viên cũng có thể sử dụng máy vi tính hỗ trợ trong việc đưa ra các hiện tượng mới cần nghiên cứu, đặt ra những tình huống có vấn đề đối với học sinh Mặc
dù trong giai đoạn này, thời gian sử dụng là không nhiều, song hiệu quả lại rất cao,
vì chỉ với một thời lượng ngắn ngủi, có thể truyền tải được lượng thông tin khá nhiều và hình thức truyền tải thông tin khá hấp dẫn đối với học sinh, có thể đặt học sinh vào trạng thái tập trung cao độ, chuẩn bị cho các giai đoạn tiếp theo của tiết học
b) Giai đoạn xây dựng kiến thức mới
Có thể nói ngay rằng, trong giai đoạn xây dựng kiến thức mới, máy vi tính có vai trò lớn, việc sử dụng máy vi tính hợp lý trong giai đoạn này sẽ mang lại những hiệu quả rất cao Bằng việc vận dụng những phần mềm mô phỏng hay minh họa các hiện tượng, các quá trình Vật lí, kết hợp với phương pháp đàm thoại, học sinh dễ dàng nhận biết, so sánh và phân tích hiện tượng Việc tiến hành thí nghiệm với sự
hỗ trợ của máy vi tính sẽ vừa là nguồn cung cấp kiến thức, vừa là phương tiện để cung cấp những kiến thức mới Thông tin dưới dạng văn bản, hình đồ họa, phim video và âm thanh xuất hiện trên màn hình chính là những đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu mà học sinh có thể thu nhận được, phân tích và xử lí tốt hơn, vì các dữ liệu trên màn hình của máy vi tính hỗ trợ tốt cho các hoạt động quan sát, mô tả của học sinh, dẫn đến sự hình thành những biểu tượng hay quan niệm mới về vấn đề đang nghiên cứu Đây cũng là hình thức hữu hiệu, tạo điều kiện để tư duy học sinh phát triển theo hướng khái quát hóa, quy nạp, từ đó xây dựng kiến thức mới một cách chắc chắn
Trang 31Ngoài ra, việc mô phỏng, minh họa các hiện tượng hay các quá trình Vật lí trên màn hình còn làm nổi rõ mối quan hệ giữa các sự kiện đang khảo sát với các sự kiện
đã biết, từ đó có thể dẫn dắt học sinh suy luận để đi đến kiến thức mới
c) Giai đoạn ôn luyện và vận dụng kiến thức mới
Trong tiết học Vật lí, thời lượng dành cho việc ôn luyện và vận dụng kiến thức
đã học vào thực tế cho học sinh là khá ít ỏi (chỉ trong khoảng 5 đến 7 phút), với khoảng thời gian này, nếu không có sự hỗ trợ của máy vi tính thì giáo viên khó có thể hoàn thành công việc một cách đầy đủ
Sự hỗ trợ của máy vi tính trong giai đoạn này là hết sức cần thiết và rất có hiệu quả Có thể giao cho học sinh độc lập sử dụng chương trình ôn tập đã cài sẵn trên máy vi tính Có thể kết hợp sự biểu diễn của giáo viên với việc giao nhiệm vụ cho học sinh, yêu cầu học sinh giải quyết nhiệm vụ để ôn tập và vận dụng kiến thức đã lĩnh hội
d) Giai đoạn tổng kết, hệ thống hóa kiến thức
Việc sử dụng máy vi tính trong tổng kết và hệ thống hóa tri thức sẽ có nhiều thuận lợi Có thể sử dụng phần mềm xây dựng chương trình tổng kết, đảm bảo việc
hệ thống hóa có tính logic cao về mặt nội dung Với phần mềm ôn tập thì học sinh
có thể lựa chọn nội dung ôn tập với số lần thích hợp, không hạn chế và dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung khác nhau
e) Giai đoạn kiểm tra trình độ, đánh giá kiến thức và các kĩ năng
Khi sử dụng máy vi tính, nếu chúng ta xây dựng được những chương trình phù hợp thì máy vi tính sẽ là một phương tiện có tác dụng tốt trong việc giám sát chất lượng học tập của học sinh Sử dụng máy vi tính làm công tác kiểm tra, đánh giá sẽ giảm đi rất nhiều thời gian nhờ khả năng thống kê và xử lí kết quả nhanh chóng của
hệ thống Ngoài khả năng cho biết nhanh chóng kết quả đánh giá, thì tính khách quan, tính chính xác của các kết quả xử lý bằng máy vi tính, khả năng cho phép việc kiểm tra đánh giá trên nhiều nội dung kiến thức bằng các loại câu trắc nghiệm đa dạng khác nhau là một đặc tính riêng của máy vi tính Biết tận dụng những khả năng này của máy vi tính trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thì giáo viên có thể chủ động củng cố kiến thức cho học sinh ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình dạy học Điều này có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm Do đó, có nhiều thế mạnh đối với việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh Việc sử dụng máy vi tính làm phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học Vật lí tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh làm quen, tìm hiểu nguyên lí của các ứng dụng trong các hệ thống thiết bị điều khiển tự động có trong thực tế sản xuất
Trang 32Vậy, việc sử dụng máy vi tính vào quá trình dạy học có cơ sở khoa học và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay
Máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại có sự trợ giúp của máy vi tính góp phần kích thích động cơ học tập tích cực của học sinh Các phần mềm dạy học, các hình ảnh mô phỏng, minh họa,…giúp tăng cường tính trực quan trong học tập làm cơ sở cho việc phát triển tư duy của học sinh Việc dạy học với máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại tạo ra cho học sinh tinh thần học tập ở mức cao, kích thích và luôn duy trì mức độ tập trung cao của học sinh trong quá trình học tập
Trang 33
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
Trong những năm gần đây, bài giảng giáo án điện tử được sử dụng tương đối phổ biến ở nhiều bộ môn Giáo án điện tử có thể được thiết kế bằng bất kì ngôn ngữ lập
trình nào tùy theo trình độ có được về công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa
vào các phần mềm trình diễn có sẵn như: Powerpoint, LectureMaker, Frontpage, Publisher,…Trong đó, thiết kế bài giảng với Microsoft Powerpoint là đơn giản và
dễ sử dụng nhất đối với đa số giáo viên
2.1.1 Khái niệm giáo án điện tử
Giáo án điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường multimedia do máy tính tạo
ra
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới dạng: văn bản (text), đồ họa (graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)
Đặc trưng cơ bản nhất của giáo án điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên đều được multimedia hóa
Cần phân biệt khái niệm sách giáo khoa điện tử, giáo trình điện tử, giáo án điện
tử và bài giảng điện tử
Sách giáo khoa hay giáo trình điện tử là tài liệu giáo khoa, mà trong đó kiến thức được trình bày dưới nhiều kênh thông tin khác nhau như: văn bản, đồ họa, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, âm thanh,…Đặc điểm quan trọng của sách giáo khoa điện
tử kiến thức được khai thác theo nhiều phương án khác nhau: trọng tâm, đơn giản hoặc chi tiết…thuận tiện cho người học tra cứu và tìm kiếm nhanh thông tin Ngày nay, sách giáo khoa điện tử còn cho phép kết nối và cập nhật thêm thông tin mới từ các trang web mà địa chỉ đã có sẵn trong sách giáo khoa điện tử
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được qui định bởi cấu trúc của bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử Chính vì vậy, xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử
Trang 342.1.2 Quy trình thiết kế giáo án điện tử
- Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước:
- Xác định mục tiêu bài học
- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm
- Multimedia hóa từng đơn vị kiến thức
- Xây dựng thư viện tư liệu
- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc phần mềm dễ trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước
2.1.2.1 Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu là các đích cần phải đạt được sau mỗi bài học, do chính giáo viên đề ra
để định hướng chính hoạt động dạy học Mục tiêu giống mục đích ở chỗ đều là cái
đề ra nhằm đạt tới, nhưng chúng khác nhau cơ bản:
- Mục đích (aim) là mục tiêu khái quát, dài hạn
Ví dụ: mục đích của chương trình trung học phổ thông
- Mục tiêu (objective) là mục đích ngắn hạn, cụ thể
Ví dụ: mục tiêu của một bài dạy
Xác định mục tiêu đúng, cụ thể mới có căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học khoa học và đánh giá khách quan, lượng hóa kết quả dạy học Trong dạy học, hướng tập trung vào học sinh, thông thường mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học sinh đạt được cái gì Ở đây là mục tiêu học tập (learning objective) chứ không phải
là mục tiêu dạy học (teaching objective)
Mỗi mục tiêu cụ thể nên diễn đạt bằng một động từ để xác định rõ mức độ học sinh cần phải đạt được bằng hành động, tránh viết chung chung như: “nắm được”,
“hiểu được” Để viết mục tiêu cụ thể, nên dùng các động từ như: phân tích, so sánh, liên hệ, tổng hợp, chứng minh, đo đạt, tính toán, quan sát, lập được, vẽ được, thu thập, áp dụng,…
Mục tiêu được đề ra nhằm vào việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ Liên quan với
3 nhiệm vụ cơ bản của lý luận dạy học, bài học thường có các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ
Trang 35Phân tích
Biết Hiểu Vận dụng
Tổng hợp Đánh giá Theo Bloom, nhóm mục tiêu nhận thức có 6 mức từ thấp đến cao:
- Biết: nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, định nghĩa khái niệm
- Hiểu: thông báo, thuyết minh, tóm tắt, thông tin, giải thích, suy rộng
- Áp dụng: vận dụng kiến thức vào tình huống mới
- Phân tích: nhận biết các bộ phận của một tổng thể, so sánh, phân tích, đối chiếu, phân loại
- Tổng hợp: tập trung các bộ phận thành một tổng thể thống nhất, lập kế hoạch, dự đoán
- Đánh giá: khả năng đưa ra ý kiến về một vấn đề
2.1.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy, xác định đúng những nội dung trọng tâm, trọng điểm của bài, cấu trúc các kiến thức cơ bản theo ý định bài dạy
Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông được chọn lọc từ khối tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, sắp xếp theo logic khoa học và logic
sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình Tuy nhiên trong thực tế quá trình dạy học, đã có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa:
- Khối lượng tri thức phong phú và thời gian tiết lên lớp có hạn (45 phút) với nhiều nhiệm vụ đa dạng
- Yêu cầu đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh
- Yêu cầu đảm bảo sự lãnh hội kiến thức vững chắc với sự phát triển toàn diện những năng lực nhận thức của học sinh,…
Nhiều giáo viên đã rơi vào hai cực của việc dạy học: một số tham lam, ôm đồm kiến thức, làm cho tiết học nặng nề đối với học sinh, ngược lại một số khác rơi vào cực kia - quá tóm lược sách giáo khoa, không đảm bảo truyền thụ đủ cho học sinh kiến thức cần thiết Kiến thức cơ bản là những kiến thức vạch ra được bản chất của
sự vật hiện tượng
Trang 36Chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy là công việc khó, phức tạp Để chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy, cần phải quan tâm đến các điểm sau:
- Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn Do tính tổng hợp cao của khoa học bộ môn mà nội dung tri thức liên quan đến hàng loạt ngành khoa học khác
- Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tất yếu vì sách giáo khoa là tài liệu dạy học và học tập chủ yếu; chương trình
là pháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội quy dạy học trong toàn quốc Mặt khác, các kiến thức trong sách giáo khoa đã được quy định để dạy cho học sinh Do đó, chọn các kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải là ở các tài liệu khác
- Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, ngoài nắm vững nội dung từng chương, từng bài, giáo viên phải có cái nhìn khái quát chung toàn bộ chương trình
và mối liên hệ “móc xích” giữa chúng để thấy tất cả các mối liên hệ và sự kế tiếp
Do đó, mới xác định đúng đắn những vấn đề, khái niệm,…cần giảng kỹ, cần đi sâu, cần bổ sung hoặc giảm bớt đi được mà không có hại đến toàn bộ hệ thống kiến thức, trên cơ sở đó chọn lọc các kiến thức cơ bản
Tuy nhiên, để xác định đúng đắn kiến thức cơ bản mỗi bài thì cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần dạy học và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản Đồng thời “ muốn chọn lọc cái không nhiều, cái quan trọng thường cần phải học tập rất nhiều (hầu như tất cả mọi thứ) và không phải chỉ học tập mà còn phải hiểu biết khá sâu sắc” Điều đáng chú ý là khi nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, giáo viên không chỉ dừng lại ở nội dung bài học mà phải nghiên cứu các bản số liệu thống kê, tranh ảnh, câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa với tư cách là một thành phần của nội dung bài giảng
- Phải hết sức quan tâm đến trình độ học sinh (tức là chú ý đến đối tượng dạy học) Cần phải biết học sinh đã nắm vững cái gì, dựa vào kiến thức của các em để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài giảng, xem kiến thức nào cần bổ sung, cải tạo hoặc cần phát triển, đi sâu hơn
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bậc các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, từ đó làm rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được Cũng cần chú ý cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơ bản của bài
mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng
Trang 372.1.2.3 Multimedia hóa kiến thức
Đây là bước quan trọng nhất của việc thiết kế bài giảng điện tử, là nét đặc trưng
cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các bài giảng truyền thống hoặc các bài giảng có sự hỗ trợ một phần của máy vi tính Việc Multimedia hóa kiến thức được thực hiện qua các bước:
Dữ liệu hóa thông tin kiến thức
Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ họa, ảnh tĩnh, phim, âm thanh,…Kiến thức cho một bài lên lớp thường rất nhiều, hình thức tổ chức hoạt động dạy học rất phong phú và đa dạng Giáo viên cần chọn nội dung kiến thức nào được trình bày dưới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, video, clip,…Những hình ảnh, sơ đồ, video clip đó được trình bày dưới dạng nguồn tri thức hỗ trợ cho học sinh hoạt động học tập chứ không chỉ minh họa đơn thuần Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn dữ liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ Internet, Encarta,…hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video, bằng các phần mềm đồ họa chuyên dụng như Macromedia Flash,… Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết
Xử lí các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẫm mỹ và ý đồ sư phạm
2.1.2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu
Sau khi có được đầy đủ các tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa này sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác
2.1.2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể
Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử
Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các Slide (trong PowerPoint) hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho các trang (hoặc các Slide) Tùy theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/Slide có thể là văn bản,
đồ họa, tranh ảnh, âm thanh, video clip,…
Trang 38Văn bản cần trình bày ngắn gọn cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổ biến, đơn giản, màu chữ được dùng thống nhất tùy theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi mở, dẫn dắt hoặc giảng giải, giải thích, ghi nhớ, câu trả lời,…Khi trình bày nên sử dụng sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấu trúc logic của những nội dung cần trình bày
Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (background) thống nhất cho các trang/Slide, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau
Không nên lạm dụng các hiệu ứng trình diễn theo kiểu “bay nhảy” thu hút sự tò
mò không cần thiết của học sinh , phân tán chú ý trong học tập, mà cần chú ý làm nổi bậc các nội dung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tìm ẩn bên trong các đối tượng trình diễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy của học sinh Cái quan trọng không chỉ là đối tượng trình diễn không chỉ để thầy tương tác với máy tính mà chính là hỗ trợ một cách hiệu quả sự tương tác thầy – trò, trò – thầy
Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, logic lên các đối tượng trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết Nhờ sự liên kết này mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu
2.1.2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai soát, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện Kinh nghiệm cho thấy không nên chạy thử từng phần trong quá trình thiết kế
2.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
2.2.1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử
- Giúp người học hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn
- Đề cao tính có thể tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập
- Giúp người học có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc, trên mọi thiết bị
2.2.2 Kĩ năng trình bày
- Màu sắc không lòe loẹt
- Không có âm thanh ồn ào
- Chữ đủ to, rõ, không quá nhỏ
- Không ghi nhiều chữ chi chít
- Mỗi slide nên có chủ đề (title)
- Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn
Trang 392.2.3 Kĩ năng giảng bài
- Tránh không thao thao bất tuyệt từ đầu đến cuối
- Hãy đặt câu hỏi trao đổi, khuyến khích người học phát biểu
- Trước khi giảng bài, cần tìm hiểu đối tượng nghe giảng, tâm lí và mong muốn của họ Cố gắng hãy nói cái họ cần hơn là nói cái mình có
- Có video ghi giáo viên giảng bài
- Có hình ảnh, video clip minh họa về chủ đề bài giảng
- Công nghệ: chuẩn SCORM, AICC, công cụ dễ dàng, có thể online hay offline…(giải quyết vấn đề mọi lúc mọi nơi)
2.2.6 Soạn câu hỏi
Các câu hỏi ở đây không phải là để thi cử, lấy điểm Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động Có những nội dung không nên giảng luôn,
mà chuyển sang thảo luận, trả lời câu hỏi gợi ý
2.2.7 Nguồn tư liệu
Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học Tài liệu, website tham khảo
để người đọc tự chủ đọc thêm Tuy nhiên, cũng nên tránh việc trích dẫn tràn lan
Trang 40CHƯƠNG III TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH ADOBE FLASH CS3
PROFESSIONAL
3.1 GIỚI THIỆU VỀ FLASH CS3
Flash là phần mềm cung cấp các công cụ sáng tạo, cho phép tạo ra các thiết
kế, các ứng dụng có khả năng tương tác cao, thú vị Bạn có thể tạo ứng dụng Flash với nhiều kiểu tương tác khác nhau thông qua hình ảnh, âm thanh, video và các hiệu ứng đặc biệt Flash đạt được điều này nhờ vào việc sử dụng đồ họa vectơ
Để xây dựng một ứng dụng, bạn có thể tạo hình đồ họa bằng các công cụ vẽ của Flash và đưa các phần tử truyền thông khác vào hồ sơ Flash Sau đó bạn định nghĩa cách thức và thời điểm sẽ sử dụng các phần tử này để tạo ra ứng dụng mong muốn
Tuy nhiên Flash không phải là phần mềm chuyên dụng để thiết kế các mô phỏng, các thí nghiệm Vật lí nhưng với những tín năng ưu việt của Flash bạn có thể tạo ra ứng dụng đa dạng mà bạn mong muốn
3.2 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
3.2.1 Khởi động và thoát khỏi chương trình
Để khởi động chương trình sử dụng một trong hai cách sau:
- Cách1: Vào Start > All Program > Adobe Master Collecttion CS3 > Adobe Flash CS3 Professional