Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tín
Trang 1BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÝ
Cần Thơ, 5/2014
Trang 2Là một giáo viên tương lai thì việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Với niềm đam mê nghề nghiệp và ý chí phấn đấu em đã cố gắng hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô
đã truyền đạt kiến thức quý báu và tạo mọi điều để sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
thầy Ths – GVC Trần Quốc Tuấn Thầy đã tận tình
hướng dẫn từ cách thức nghiên cứu đến việc sử dụng tài liệu nghiên cứu và dành nhiều thời gian chỉnh sửa luận văn
để luận văn được hoàn thiện nhất
Do lần đầu thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học nên sẽ không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ quý thầy cô và các bạn
Em xin gửi lời chúc sức khỏe đến tất cả thầy cô và
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, Ngày Tháng … năm 2014
ThS – GVC Trần Quốc Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Giả thuyết khoa học 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đối tượng nghiên cứu 6
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 7
8 Các chữ viết tắt 7
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRUNG HỌC PT 8
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục Trung học phổ thông 8
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 8
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới 9
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 10
1.2.1 Khắc phục lối dạy học truyền thống 10
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS 11
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 12
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học 12
1.3 Mục tiêu của chương trình Vật lý Trung học phổ thông 13
1.3.1 Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống 13
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng 14
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm 14
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 10 theo chương trình THPT mới 15
1.5 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 11 theo chương trình THPT mới 15
1.6 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 12 theo chương trình THPT mới 15
1.6.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 15
1.6.2 Áp dụng rộng rãi kiểu học Phát hiện – Giải quyết vấn đề 16
1.6.3 Rèn luyện các phương pháp nhận thức Vật lý 17
Trang 51.6.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị mới, phát huy sáng tạo
của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học 17
1.6.5 Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm hay hợp tác 19
1.7 Đổi mới thiết kế bài học 20
1.7.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án 20
1.7.2 Một số hình thức trình bày kế hoạch bài học 21
1.7.3 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học 21
1.7.4 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 23
1.8 Đổi mới kiểm tra đánh giá 24
1.8.1 Quan điểm cơ bản về kiểm tra đánh giá 24
1.8.2 Các hình thức kiểm tra 25
1.8.3 Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá 26
1.8.4 Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 27
1.8.5 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận 29
Chương 2 TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THPT 30
2.1 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lý 30
2.2 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh 30
2.3 Các phương pháp dạy học tích cực hỗ trợ phát triển năng lực sáng tạo cho HS 32
2.3.1 Phương pháp dạy học nhóm hay hợp tác 32
2.3.2 Phương pháp tự học 36
2.3.3 Phương pháp thực nghiệm 39
2.3.4 Phương pháp giải quyết vấn đề 48
2.3.5 Phương pháp đọc sách 56
Chương 3 BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT 58
3.1 Khái niệm năng lực 58
3.2 Sự hình thành và phát triển năng lực 58
3.2.1 Yếu tố sinh học 58
3.2.2 Yếu tố hoạt động của củ thể 59
3.2.3 Yếu tố môi trường, xã hội 59
3.2.4 Vai trò của giáo dục trong việc hình thành các năng lực 60
Trang 63.3 Khái niệm năng lực sáng tạo 61
3.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sang tạo của học sinh 62
3.4.1 Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới 62
3.4.2 Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết 63
3.4.3 Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán 66
3.4.4 Giải các bài tập sáng tạo 68
Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 6 SÓNG ÁNH SÁNG, VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 69
4.1 Đại cương chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao 69
4.1.1 Vị trí, vai trò của chương 69
4.1.2 Mục tiêu về chuẩn kiến thức, kĩ năng 70
4.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 72
4.2 Thiết kế giáo án một số bài trong chương 73
4.2.1 Bài 35 Tán sắc ánh sáng 73
4.2.2 Bài 36 Nhiễu xạ ánh sáng Giao thoa ánh sáng 79
4.2.3 Bài 37 Khoảng vân – Bước sóng và màu sắc ánh sáng 81
4.2.4 Bài 39 Máy quang phổ - Các loại quang phổ 91
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 99
5.1 Mục đích thực nghiệm 99
5.2 Nội dung thực nghiệm 99
5.3 Đối tượng thực nghiệm 99
5.4 Kế hoạch giảng dạy 99
5.5 Kết quả thực nghiệm 99
5.5.1 Đề kiểm tra 1 tiết chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao 99
5.2.2 Kết quả kiểm tra 106
NHẬN XÉT, KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kĩ thuật và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của một quốc gia sẽ phụ thuộc lớn vào tiềm năng tri thức của dân tộc đó Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là nhân
tố quyết định tăng trư ng kinh tế và phát triển xã hội Sự bùng nổ công nghệ thông tin nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ dến từng lĩnh vực của đời sống xã hội Nó đòi hỏi chúng ta phải hội nhập và không ngừng phát triển để đi đến chân trời tri thức Khoa học giáo dục trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng đang coi trọng những nghiên cứu đổi mới dạy học trường phổ thông theo hướng đảm bảo được sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng khả năng tư duy, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn cuộc sống và với
sự phát triển của kinh tế tri thức
Thước đo quan trọng cho năng lực sáng tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc độ tư duy, khả năng biến đổi thông tin thành kiến thức, và từ kiến thức tạo ra giá trị Do đó, người giáo viên phải hướng tới việc bồi dưỡng cho học sinh những phương pháp nhận thức để họ có thể chiếm lĩnh tri thức trong quá trình tự học
Dạy học vật lý không chỉ truyền thụ kiến thức cơ bản mà điều quan trọng hơn là phải tạo cho học sinh tiếp cận với thực tiễn kĩ thuật trong nước và xây dựng tiềm lực để tiếp thu được các kĩ thuật hiện đại của thế giới Cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, tương đối có hệ thống, toàn diện về vật lý học, giúp học sinh phát triển
tư duy hoa học, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, lòng yêu nước
và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp Do đó, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh vừa là mục đích, vừa là phương tiện nghiên cứu và dạy học Vật lý trường trung học phổ thông
Để đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu và những thách thức của hội nhập và phát triển, cần phải đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giảng dạy mọi cấp học, ngành học Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trư ng
Bộ GD và ĐT đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận
Trang 8dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [15, tr 46]
Đồng thời, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa XI đã nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.” [16, tr 4].
Để có thể dạy tốt, tr thành người giáo viên thực thụ trong tương lai, chúng em phải biết vận dụng những kiến thức và phương pháp mà thầy cô đã truyền đạt, áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của
HS trong học tập, nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta, để tạo ra nguồn nhân lực có đầy đủ tài đức phục vụ cho nước nhà
Từ những lý do trên em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Tích cực hóa hoạt động nhận thức nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh khi giảng dạy Chương
6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tích cực hóa hoạt động nhận thức nhằm bồi dưỡng NLST của học sinh khi giảng dạy Chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 nâng cao
3 Giả thuyết khoa học
Có thể nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật
lý trung học phổ thông
Có thể đưa ra các biện pháp góp phần phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
Có thể áp dụng một số phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý vào giảng dạy
chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 NC theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận
thức của học sinh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lý THPT
Nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lý
Nghiên cứu việc luyện tập cho HS kỹ năng áp dụng một số PP học tập tích cực
Xây dựng quy trình áp dụng một số PPDH tích cực trong hoạt động dạy học VL
Nghiên cứu chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 NC, vận dụng các phương pháp nhận
Trang 9thức đặc thù của vật lý soạn giáo án một số bài trong chương 6:
Bài 35: Tán sắc ánh sáng
Bài 36: Nhiễu xạ ánh sáng – Giao thoa ánh sáng
Bài 37: Khoảng vân – Bước sóng và màu sắc ánh sáng
Bài 39: Máy quang phổ - Các loại quang phổ
Làm một số bản vẽ sẵn
Sử dụng CNTT
Thực nghiệm sư phạm
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu cơ s lí luận tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học bộ môn theo hướng bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh, sách giáo khoa Vật lý THPT, các giáo trình về phương pháp dạy học, các tài liệu bồi dưỡng giáo viên 10, 11, 12…
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước cùng với các chỉ thị của
Bộ giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay trường THPT
Nghiên cứu vai trò của các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý trong việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh
Phương pháp quan sát:
Quan sát thái độ học tập của học sinh thể hiện như thế nào khi chưa thực hiện mục tiêu của đề tài, khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài nhằm xác định tính khả quan và hiệu quả của đề tài
Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành thực nghiệm sư phạm trường THPT có đối chứng để kiểm tra tính khả thi của luận văn, cụ thể là làm nổi bật vai trò của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh nhằm phát triển năng lực sáng tạo trong giờ học môn Vật lý Tiến hành giảng dạy
một số bài trong chương 6 Sóng ánh sáng Vật lý 12 nâng cao, tiến hành kiểm tra 1 tiết, đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài
6 Đối tượng nghiên cứu:
Các hoạt động dạy và học Vật lý THPT của giáo viên và học sinh nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của của học sinh, luyện tập học sinh kỹ năng áp dụng một số phương pháp học tập tích cực khi giảng dạy chương 6 Sóng ánh sáng, Vật lý 12 NC
Trang 107 Các giai đoạn thực hiện đề tài
GĐ 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với Thầy hướng dẫn, nhận đề tài nghiên cứu
GĐ 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết
GĐ 3: Hoàn thành cơ s lý luận của đề tài
GĐ 4: Nghiên cứu nội dung và PP xây dựng chương 6 Sóng ánh sáng, VL 12 NC
GĐ 5: Tiến hành thực nghiệm SP THPT
GĐ 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng PowerPoint
GĐ 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp
8 Các chữ viết tắt trong đề tài
Công nghệ thông tin: CNTT
Phương tiện dạy học: PTDH
Giải quyết vấn đề: GQVĐ
Năng lực sáng tạo: NLST
Trắc nhiệm tự luận: TNTL
Kĩ năng: KN
Trang 11CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ THPT
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta
Quá trình toàn cầu hóa về các lĩnh vực đang diễn ra mạnh mẽ Hội nhập quốc tế, cách mạng KHCN, cách mạng thông tin truyền thông, nền kinh tế tri thức,…đã tạo ra cơ hội cho nền giáo dục Việt Nam tiếp cận các xu thế mới, tri thức mới, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục tiên tiến, hiện đại và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục Trước tình hình đó, đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nhằm đào tạo ra những người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại chổ trang bị cho HS những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội
nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhận loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn Bác Hồ” [16, tr 15]
Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp
HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập… Do đó đất nước đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới
Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không họat động, thụ động PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa tư duy của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học,tuy
Trang 12nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hư ng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDH tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả Phương pháp dạy học tích cực hàm chứa cả PP dạy và PP học
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới
PPDH truyền thống một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo những con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo dục nước ta đang chuyển dần từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một
hệ thống PPDH mới có khả năng thực hiện mục tiêu mới
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Để đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi GV không chỉ có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen truyền thống, làm quen với CNTT và những phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá, tiếp cận với những đòi hỏi mới về yêu cầu kiến thức, kĩ năng cũng như tâm lý của HS
Nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ
PP giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học…” [15, tr 45]
Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được B i chỉ có đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay chỉ có đổi mới phương pháp dạy học chúng ta mới góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Trang 131.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH Vật lý ở trường THPT
1.2.1 Khắc phục lối dạy học truyền thống
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các PPDH truyền thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới Giáo viên phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS trong những tình huống cụ thể
Trong lối dạy truyền thống, GV là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định tất cả, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kĩ năng, đánh giá kết quả học Trong cách dạy này, GV chỉ chú trọng đến nội dung kiến thức cần truyền tải mà không chú ý đến rèn luyện phương pháp tự học, thực hành và ứng dụng thực tiễn cho HS chưa chú ý đến việc phát triển các năng lực cần thiết cho HS trong xã hội hiện đại, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề, NLST và năng lực hoạt động xã hội Nếu dạy theo cách này thì HS sẽ bị dồn vào thế hoàn toàn thụ động, HS chỉ ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển kiến thức, thực hiện được những suy nghĩ mới mẽ của mình
Vì vậy, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà tr thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Bất kì đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề B i vậy, tổ chức, lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng khả năng tư duy và năng lực sáng tạo cho học sinh
Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa
và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo diều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh
Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua sự tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Xã hội hiện đại đang trong thời kì bùng nổ thông tin,
Trang 14những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng tr thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin, b i vì những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển rất nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đại Mặt khác, dù là học trên lớp hay học nhà, mỗi HS phải tự
lực động não để tiếp thu những điều cần học Vì vậy, trong những hoạt động cá nhân của
tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng PP tự học cho HS Chẳng hạn:
có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn học Giáo viên phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho học sinh tự tìm hiểu nhà Không cần chuyển tải tất cả nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho học sinh tự tìm hiểu nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học của các em
Trong công cuộc đổi mới ngày nay, những đều học được trong nhà trường thì rất ít và
là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực nào trong đời
Trang 15sống và sản xuất, để bắt kịp được sự phát triển mạnh mẽ của thời đại khoa học kĩ thuật thì
HS cần phải tự học thêm nhiều điều mới có thể làm việc được Ngay trên ghế nhà trường học sinh đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy duy sáng tạo cho người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó
mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống HT…
- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức
- Áp dụng rộng rãi PP phát hiện giải quyết vấn đề và các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý như phương pháp thực nghiệm, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp mô hình vào trong quá trình dạy học
PPDH tích cực này còn mới mẻ nước ta Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho HS niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số HS Việc học đối với các em tr thành niềm hạnh phúc, giúp các em tự khẳng định được mình
và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo
1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo HS Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lý thuyết thích nghi” của J.piaget và “lý thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có
sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có
hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng thông tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” [12, tr 38].
Trang 16Nhờ sự phát triển của KH kỹ thuật, quá trình DH đã sử dụng các phương tiện như:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor
- Công nghệ thông tin, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện, networking để dạy học
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, coi đó là phương tiện để nhận thức việc sử dụng phương tiện dạy học tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của học sinh trên tất cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan gián tiếp
1.3 Mục tiêu của chương trình VL THPT
VL học trường phổ thông chủ yếu là VL thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần:
1.3.1 Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống
Bao gồm:
Các bình diện của hoạt
động nhận thức
Các ví dụ về việc các phương tiện dạy học tạo điều
kiện cho hoạt động nhận thức của HS
Bình diện hành động đối
tượng- thực tiễn - Các thí nghiệm của HS với các thiết bị thí nghiệm
Bình diện trực quan trực tiếp
- Các phim hoạt họa
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý
- Các mô hình vật chất
- Các hình vẽ, sơ đồ
Bình diện nhận thức khái
niệm - ngôn ngữ
- Sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo
- Các phần mềm máy vi tính dùng cho việc ôn tập
Trang 17 Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng, và các quy tắc VL
Các định luật, định lý, các nguyên lý VL cơ bản
Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng trong đời sống và sản xuất
Các ứng dụng quan trọng nhất của VL
Các PP chung của nhận thức khoa học và những PP nhận thức đặc thù của VL, trước hết là PPTN, PP mô hình và PP tương tự
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng
Quan sát các hiện tượng và các quy tắc VL điều tra, sưu tầm, thu thập các thông
tin cần thiết cho việc HT VL
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của VL, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí
nghiệm VL đơn giản
Phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, quy tắc VL, đề xuất phương án TN để
KT dự đoán …
Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc VL, giải các bài tập
VL… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất
Sử dụng các thuật ngữ VL, biểu bảng…trình bày rõ ràng, chính xác kết quả…
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm
Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái
độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người lao động trên cơ s những kiến thức VL vững chắc
Hứng thú HT môn VL, yêu thích, tìm tòi KH, trân trọng đóng góp của VL học…
Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, có tinh thần học tập tốt
Có ý thức vận dụng những hiểu biết VL vào đời sống, bảo vệ môi trường
=> Các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện Ví dụ: kiến thức mà học sinh thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, học sinh không phải chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực tự lực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức Ngược lại, học sinh chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng
Trang 18tạo, khi có một vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa m rộng và phát hiện ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung hoàn chỉnh thêm vốn kiến thức của mình
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 10 theo chương trình mới
Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của giáo viên sang phương pháp nặng về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng
Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác
Coi trọng việc phương pháp tự học
Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức
Tăng cường làm thí nghiệm vật lý trong dạy học
Đổi mới cách soạn giáo án
1.5 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 11 theo chương trình mới
Dạy học phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động của học sinh
Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS
Dạy học phân hóa kết hợp với dạy học hợp tác
Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá
Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng vào thực tế
1.6 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý lớp 12 theo chương trình mới
1.6.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho
HS tự học, tham gia vào giải quyết vấn đề học tập
Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục nước ta là GV luôn chú ý giảng giải kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã viết trong SGK Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tư ng HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS
có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV
Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập Tuy ban đầu HS
Trang 19chưa quen với phương pháp học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép, nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ
tự tin và hào hứng Muốn vậy, GV cần phải biết phân chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài để
HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải quyết một vấn đề nào đó trong quá trình HT như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế Giáo viên cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của GV
1.6.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Hoạt động nhận thức của con người chỉ thật sự bắt đầu khi con người gặp phải các vấn đề mâu thuẫn…
Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề - bài toán là kiểu dạy học trong đó dạy cho học sinh thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề - bài toán theo cách của các nhà khoa học Trong kiểu DH này GV vừa tạo ra cho HS nhu cầu, hứng thú học tập, vừa rèn luyện cho họ khả năng tư duy sáng tạo
Trong quá trình dạy học có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tư ng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy nhũng kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi
Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lý thuyết
- Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra để kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
Trang 20- Phát biểu kết luận
Muốn thực hiện được các bước của phương pháp này, HS phải thực hiện việc thu thập thông tin, xử lý thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được luôn luôn kết hợp với những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Và sự kết hợp này được thực hiện thông qua các suy luận logic như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…
1.6.3 Rèn luyện cho HS các phương pháp nhận thức vật lý
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm ngẫu nhiên Đến lớp 12, HS đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động nhận thức và có nhiều cơ hội để làm quen với các phương pháp nhận thức khác nhau trong vật lí như: PP thực nghiệm, PP mô hình, PP giải quyết vấn
đề - bài toán
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chia một vấn đề học tập phức tạp thành những
bộ phận đơn giản để HS dễ tiếp thu và có thể vận dụng được các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý học
Bên cạnh đó trong quá trình giải quyết vấn đề, giáo viên cần cân nhắc việc gì HS làm được, việc gì cần trợ giúp, giảng giải cho HS phát hiện vấn đề và cần tìm ra một chỗ nào
đó trong bài học để cho HS tự lực hoạt động
1.6.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị thí nghiệm mới Phát huy sáng tạo của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học
Trong dạy học VL, ngoài việc sử dụng các dụng cụ dạy học quen thuộc như: vật thật, thiết bị thí nghiệm, bảng viết, tranh ảnh, bảng vẽ sẵn…có thể sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như: phim học tập, dao động kí điện tử, máy vi tính và các phần mềm máy
vi tính mô phỏng, minh họa…
a) Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị dạy học
Góp phần quan trọng đổi mới phương pháp dạy học, tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú học tập của HS, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm Sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học, giúp hình thành kiến thức, kĩ năng mới, không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp
Trang 21Sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị dạy học có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện dạy học, thiết
bị dạy học tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ s tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm
Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, sách giáo viên, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị dạy học và chuẩn bị phương tiện dạy học, thiết bị dạy học theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học
b) Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp học sinh có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm
Tận dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)
c) Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện dạy học, thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học
Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các phương pháp dạy học nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi phương pháp dạy học đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của giáo viên trong quá trình sử dụng công nghệ thông tin như phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của giáo viên mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của giáo viên trong quá trình dạy học có
sử dụng công nghệ thông tin
Trang 22Sử dụng CNTT như một phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, không phải chỉ để thực hiện dạy học với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học ngay cả trong điều kiện cơ s vật chất còn thấp
1.6.5 Tăng cường áp dụng PPDH nhóm hay hợp tác
Mục tiêu chính của phương pháp này là khuyến khích khả năng truyền đạt, trao đổi thông tin trong nhóm và trong lớp Nó cũng giúp động viên sự suy nghĩ và quyết định cũng như khuyến khích phân biệt những quan điểm, quan niệm Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình được tập thể uốn nắn, điều chỉnh phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, tạo không khí sinh động trong tiết học Giúp HS có được những kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp xã hội, tích cực hóa hoạt động học tập của HS… Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gây cấn, lúc xuất hiện những nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 học sinh Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm
vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trư ng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
Trang 23- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học tr thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này
bị hạn chế b i không gian chật hẹp của lớp học, b i thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới
1.7 Đổi mới việc thiết kế bài học
1.7.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của giáo viên sang thiết kế các hoạt động của học sinh là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người giáo viên Khi soạn giáo án, giáo viên phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức độ đến đâu?
Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
Giáo viên phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
Hành vi đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
Trang 241.7.2 Những nội dung của việc soạn giáo án
Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học
Xác định những nội dung kiến thức của bài học: Nó thuộc loại kiến thức nào (khái niệm, định luật, qui tắc…), bao gồm những kết luận nào?
Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần sử dụng
Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học Để làm tốt việc này GV cần xác định kiến thức cần xây dựng được diễn đạt như thế nào? Giải pháp nào giúp trả lời được câu hỏi này?
Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể
Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng
Soạn nội dung bài tập về nhà
Các nhóm bài học theo trình tự soạn giáo án:
Nhóm 1: Hoạt động nhằm KT, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới
Nhóm 2: Hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt
và nêu vấn đề
Nhóm 3: Hoạt động nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy
nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề
Nhóm 4: Tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào
giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống
Một số hình thức trình bày giáo án:
Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động của HS
Viết 3 cột: hoạt động của GV hoạt động của HS nội dung ghi bảng
Viết 4 cột: hoạt động của GV hoạt động của HS nội dung ghi bảng.; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
1.7.3 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học
Hoạt động: Kiểm tra kiến thức cũ
- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý trả lời, nhận xét đánh giá
Trang 25Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Hoạt động: Thu thập thông tin
- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu
- Yêu cầu HS hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu
- Giảng sơ lược nếu cần thiết
- Làm thí nghiệm biểu diễn
- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
- Chủ động về thời gian
Hoạt động: Xử lí thông tin
- Thảo luận theo nhóm hay làm việc cá
nhân
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về tính
qui luật của hiện tượng
- Trả lời các câu hỏi của GV
- Tranh luận với bạn bè trong nhóm
hoặc trong lớp
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những
thông tin thu được
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
Trang 26Hoạt động: Truyền đạt thông tin
- Trả lời câu hỏi
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo
Hoạt động: Củng cố bài học
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà
- Ghi những chuẩn bị cho bài sau
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
Có một số hoạt động chiếm vị trí hoàn toàn ổn định trong bài học như hoạt động hướng dẫn học tập nhà Các hoạt động khác không nhất thiết phải theo một trình tự thời gian chặt chẽ mà có thể thay đổi trật tự thời gian hoặc có thể xen kẽ với nhau Cấu trúc bài học này sẽ không quá cứng nhắc như cấu trúc năm bước mà chúng ta thường gặp hiện nay
1.7.4 Cấu trúc của Giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài: ………
Tiết: theo phân phối chương trình
a) Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ)
Kiến thức
Trang 27 HĐ 1: ( phút): Kiểm tra bài cũ
HĐ 2: ( phút): Đơn vị kiến thức, kĩ năng 1
HĐ 3: ( phút): Đơn vị kiến thức, kĩ năng 2
HĐ i: ( phút): Đơn vị kiến thức, kĩ năng k
HĐ n-1: ( phút): Vận dụng, củng cố
HĐ n: ( phút): Hướng dẫn học tập nhà
d) Rút kinh nghiệm:
Ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong
1.8 Đổi mới kiểm tra, đánh giá
1.8.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục có chức năng, khả năng điều khiển quá trình dạy và học, là động lự để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Kiểm tra, đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức
độ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy với mục tiêu đã được đề ra để xác định thực trạng điểm mạnh, điểm yếu của người học và kết quả là đề ra những quyết định kịp thời nhằm uốn nắn, điều chỉnh có hiệu quả đối với các hoạt động dạy
theo mục tiêu ấy, dành kết quả tối ưu.” (J.M.De ketele)
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với các môn học nói chung và môn vật lý nói riêng mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả giáo dục
HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng môn học, từng bài học, từng bài kiểm tra
Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của học sinh theo
Trang 28mục tiêu giáo dục Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian đảm bảo chính xác
Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và logic về nội dung
Từ thực trạng của việc đánh giá kết quả HT trường THPT còn nhiều nhược điểm nên việc đánh giá được đổi mới trên nhiều phương diện: hình thức, mục tiêu, nội dung
1.8.2 Các hình thức kiểm tra
Kiểm tra miệng:
Tính chất: Thuộc loại hình đánh giá định hình, bằng hình thức vấn đáp
Mục tiêu: Ngoài việc thực hiện mục tiêu chung của việc đánh giá kết quả HT của
HS, kiểm tra miệng còn có những mục tiêu riêng sau đây:
+ Thu hút sự chú ý của HS đối với bài học
+ Kích thích sự tham gia tích cực của HS vào bài giảng của GV
+ Giúp GV thu nhập kịp thời thông tin phản hồi về bài giảng của mình để có những điều chỉnh thích hợp Đây chính là một trong những mục tiêu chính của kiểm tra miệng và cũng là một trong những mục tiêu ít được GV quan tâm nhất
Những điều cần lưu ý khi thực hiện: để kiểm tra miệng có thể thực hiện được đầy đủ
và có hiệu quả các chức năng đánh giá của mình, khi thực hiện hình thức kiểm tra này cần lưu ý những điều sau đây:
+ Không nhất thiết phải tiến hành kiểm tra miệng vào đầu tiết học Nên kết hợp việc kiểm tra miệng với dạy bài mới để không nhữnng kiểm tra việc nắm bắt bài cũ mà còn kiểm tra được việc nắm bắt bài mới để có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời cho nội dung và PPDH, làm cho dạy bài mới có hiệu quả hơn
+ Không nên dừng lại mức độ “nhận biết”, chỉ yêu cầu HS nhắc lại các KT đã học như nhiều GV thường làm, mà cần yêu cầu HS “vận dụng” những KT này vào những
tình huống mới Việc ghi nhớ những KT đã học chỉ nên cho không quá 5 điểm, 5 điểm còn
lại dành cho việc đánh giá mức độ “thông hiểu” và “vận dụng” KT vào tình huống mới
+ Chỉ cho điểm kiểm tra miệng khi thấy các câu hỏi và các câu trả lời đã đủ để đánh giá kết quả HT của HS Nếu thấy chưa đủ thì cần đưa ra một lời nhận xét Tránh cho
Trang 29điểm một cách thiếu chính xác
+ Vì kiểm tra miệng là một hoạt động quan trọng của tiết học nên hoạt động này cần được ghi và chuẩn bị trước trong giáo án
Kiểm tra viết
Tính chất: Kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc kiểm tra kết quả của HS Nó có thể là đánh giá định hình hoặc đánh giá tổng kết, đánh giá theo chuẩn hoặc đánh giá theo tiêu chí
Mục tiêu: Các bài kiểm tra viết (15 phút, 1 tiết và trên 1 tiết), được tiến hành vào lúc kết thúc việc HT một hoặc một số vấn đề có liên quan với nhau, hoặc một số chương, cuối mỗi học kì, trong các kì thi tốt nghiệp cũng như thi tuyển chọn HS…, phải thực hiện toàn bộ các mục tiêu của đánh giá kết quả HT
Những điều cần lưu ý: Toàn bộ những nội dung về mục tiêu và chức năng của đánh giá, về các lĩnh vực đánh giá cũng như về các tiêu chí của công cụ đánh giá trình bày trong các phần trên đều là những điều cần lưu ý trong việc thực hiện các bài kiểm tra viết
Kiểm tra các hoạt động thực hành
Ngoài các bài kiểm tra thực hành quy định trong chương trình, giáo viên có thể cho một
số học sinh thực hiện một số hoạt động thực hành khác có liên quan đến nội dung của bài học để các em làm nhà, với những dụng cụ dễ kiếm, hoặc với những dụng cụ mà phòng thí nghiệm của nhà trường có thể cho mượn Các loại bài tập thực hành này có thể tiến hành theo nhóm HS và cũng cần được cho điểm như các bài thực hành khác Đối với thực hành có tính sáng tạo cao có thể được đánh giá ngang với một bài kiểm tra cuối chương hoặc cuối kì
1.8.3 Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá
Đảm bảo tính toàn diện : đánh giá được các mặt KT, kĩ năng, thái độ, hành vi của HS
Đảm bảo độ tin cậy : tính chính xác, trung thực, công bằng phản ánh được chất lượng thực của học sinh
Đảm bảo tính khả thi : nội dung, hình thức, phương tiện đánh giá phải phù hợp với
HS đặc biệt là phù hợp với mục tiêu theo từng môn học
Đảm bảo yêu cầu phân hóa: phân loại chính xác trình độ, năng lực HS, cơ s GD
Đảm bảo hiệu quả cao : đánh giá được tất cả các lĩnh vực, thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra, tác động tích cực vào quá trình DH
Trang 301.8.4 Xác định các bậc nhận thức trong đề kiểm tra
a) Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom
B.S.Blom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Blom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ :
Nhận biết: là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây nghĩa là một người
có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp
HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lý, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lý, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích) được khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố Các cụm từ để hỏi thường là: “Cái gì”, “Bao nhiêu”, “Thế nào”, “Hãy phát biểu…”…
Ví dụ: Thế nào là hiện tượng tán sắc ánh sáng? Nêu ví dụ
Thông hiểu: là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện
tượng, sự vật giải thích được, chứng minh được là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Các cụm từ để hỏi thường là: “Tại sao”, “Hãy phân tích”, “Hãy so sánh”, “Hãy liên
hệ”…Chú ý chỉ phân tích những điểm đơn giản, những yếu tố cơ bản
Ví dụ: Hãy phân tích thí nghiệm về giao thoa ánh sáng
Vận dụng: là khả năng sử dụng các KT đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới
vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra là khả năng đòi hỏi HS
phải biết vận dụng KT, biết sử dụng PP, ý tư ng để giải quyết một vấn đề nào đó
Đối với câu hỏi vận dụng việc đặt câu hỏi phải tạo ra tình huống mới khác với tình huống đã học Các cụm từ để hỏi thường là: “Làm thế nào…”, “Chỉ ra cách nào…”, …
Ví dụ : Bằng cách nào có thể nhận biết được ánh sáng nào là ánh sáng trắng?
Phân tích: là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ
sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn
Trang 31nhau giữa chúng
Ví dụ : Từ những kiến thức đã biết em hãy giải thích hiện tượng cầu vồng ?
Tổng hợp: là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài
liệu khác nhau và trên cơ s đó tạo lập nên một hình mẫu mới
b) Các mức độ hình thành kĩ năng theo Harrow
3 Làm chính xác Quan sát và thực hiện được chính
xác như hướng dẫn Làm được chính xác như mẫu
4 Làm biến hóa Thực hiện được các kĩ năng trong
hoàn cảnh, tình huống khác nhau
Làm được chính xác như mẫu trong các hoàn cảnh khác nhau
5 Làm thuần thục
Đạt trình độ cao về tốc độ, sự chính xác, ít cần sự can thiệp của
ý thức
Làm được chính xác như mẫu,
kĩ năng như bản năng
c) Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom
3 Có lí lẽ, lượng giá Tr thành có giá trị với
bản thân Tin và bảo vệ cái đúng
4 Được tổ chức hệ
thống
Xây dựng thành hệ thống có giá trị
Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột về giá trị
5 Hình thành đặc
trưng
Hình thành đặc trưng bản sắc riêng
Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen
Trang 321.8.5 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận
Trắc nghiệm để đánh giá kết quả HT của HS so với mục tiêu môn học Trắc nghiệm
là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người chấm Đổi mới phương pháp ra đề kiểm tra đánh giá kết quả HT của HS người ta thường dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm tự luận là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình
Trắc nghiệm khách quan là loại câu hỏi hoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì câu trả lời là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng
Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn VL:
Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra
Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)
- Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng
- Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)
Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra
Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận
Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm
Những điều cần lưu ý khi biên sọan đề kiểm tra:
Phải đảm bảo thể hiện được những mục tiêu cơ bản ghi trong chương trình
Có thể thay đổi tỉ lệ các câu trắc nghiệm tự luận và khách quan, nhưng trong mọi trường hợp thì đều phải cố gắng sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan
Để tránh việc HS hỏi nhau khi làm bài nên thay đổi thứ tự của các câu để tạo
ra những đề kiểm tra có nội dung như nhau nhưng có cấu tạo khác nhau
Để có thể sử dụng đề kiểm tra nhiều lần, không nên để HS làm bài vào tờ giấy
in đề kiểm tra mà làm bài ra một tờ giấy riêng có ghi rõ họ tên
Chú ý rèn luyện kĩ năng biên sọan câu hỏi Sáu kĩ năng để hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức theo hệ thống phân loại các mức độ câu hỏi của Bloom
Trang 33CHƯƠNG 2 TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT
2.1 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Vật lý
Tích cực hoá là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ của thầy giáo trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạy học hiện nay thì việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đề được đặc biệt quan tâm Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nhiều công trình luận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó học sinh chuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn Tích cực hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải hướng tới
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện những quan niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp để khắc phục những quan niệm
đó Vì thế việc khắc phục những quan niệm của học sinh có vai trò quan trọng trong nhà trường nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
2.2 Các biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có liên quan đến nhiều vấn đề, trong
Trang 34đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân, không khí dạy học…đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hư ng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài và thường xuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giai đoạn, là kết quả của sự phối hợp nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội
Để có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập chúng
ta cần phải chú ý đến một số biện pháp chẳng hạn như: Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp xây dựng động cơ hứng thú học tập cho học sinh giải phóng sự lo sợ học sinh…
B i chúng ta không thể tích cực hoá trong khi học sinh vẫn mang tâm lý lo sợ, khi các em không có động cơ và hứng thú học tập và đặt biệt là thiếu không khí dạy học Do đó với vai trò của mình, giáo viên phải là người góp phần quan trọng trong việc taọ ra những điều kiện tốt nhất để cho học sinh học tập, rèn luyện và phát triển Sau đây chúng ta đi vào một
số biện pháp cụ thể:
- Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học tập và phát triển của trẻ Trong môi trường đó học sinh dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình dạy học, vì khi đó tâm lý các em rất thoải mái
- Kh i động tư duy gây hứng thú học tập cho học sinh
Trước mỗi tiết học tư duy của học sinh trạng thái nghỉ ngơi Vì vậy, trước hết giáo viên phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ngay từ khâu đề xuất vấn đề học tập nhằm vạch ra trước mắt học sinh lý do của việc học và giúp các em xác định được nhiệm vụ học tập Đây là bước kh i động tư duy nhằm đưa học sinh vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôi kéo học sinh vào không khí dạy học Kh i động tư duy chỉ là bước m đầu, điều quan trọng hơn là lphải tạo ra và duy trì không khí dạy học trong suốt giờ học Học sinh càng hứng thú học tập bao nhiêu, thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực bấy nhiêu Muốn vậy cần phải chú ý đến việc tạo các tình huống có vấn đề nhằm gây sự xung đột tâm lý của học sinh Điều này rất cần thiết và cũng rất khó khăn, nó đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực và năng lực sư phạm của giáo viên Ngoài ra cũng cần chú ý tới lôgic của bài giảng Một bài giảng gồm các mắt xích nối với nhau chặt chẽ, phần trước là tiền đề cho việc nghiên cứu phần sau, phần sau bổ sung làm rõ phần trước Có như vậy thì
Trang 35nhịp độ hoạt động, hứng thú học tập và quá trình nhận thức của học sinh mới tiến triển theo một mạch liên tục không bị ngắt quãng
Khai thác và phối hợp các PPDH một cách có hiệu quả, đặc biệt chú trọng tới các PPDH tích cực Việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và điều khiển quá trình dạy học của GV B i vậy, trong tiến trình dạy học,
GV cần phải lựa chọn và sử dụng các PPDH hiệu quả, đặc biệt là các PPDH tích cực như:
PP nêu vấn đề PP phát triển hệ thống câu hỏi PPTN…có như vậy mới khuyến khích tính tích cực sáng tạo của học sinh trong học tập
Tổ chức cho HS hoạt động GV và HS là những chủ thể của quá trình dạy học, vì thế tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS phải do chính những chủ đề này quyết định Trong việc xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng chủ thể có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho chủ thể định hướng hoạt động của mình Trong giờ học GV không được làm thay
HS, mà phải đóng vai trò là người tổ chức quá trình HT của học sinh, hướng dẫn HS đi tìm kiếm KT mới Còn HS phải chuyển từ vai trò thụ động sang chủ động tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình HT tránh tình trạng ngồi chờ và ghi chép một cách máy móc Muốn vậy, cần phải tăng cường hơn nữa việc tổ chức cho HS thảo luận và làm việc theo nhóm
2.3 Các phương pháp dạy học tích cực hỗ trợ phát triển năng lực sáng tạo cho HS 2.3.1 Phương pháp dạy học hợp tác (dạy học theo nhóm)
Trang 36Không phải cá nhân nào cũng chịu trách
nhiệm về kết quả chung của nhóm
Không dạy kĩ năng hợp tác
Nhóm trư ng được thầy chỉ định
Thầy để các nhóm tự hoạt động
Mỗi cá nhân chịu trách nhiệm về kết quả chung của cả nhóm mình
Có dạy các kĩ năng hợp tác
Mỗi cá nhân có một nhiệm vụ
Thầy tổ chức, quan sát, có đánh giá
c) Ưu việt của học theo nhóm hợp tác
Làm việc hợp tác là phong cách làm việc của thời đại
Nguyên tắc học bằng hành động
Sự giúp đỡ lẫn nhau xen kẽ với sự lắp đầy những “lỗ hổng” cho nhau
Mọi HS đều làm việc thực sự và tích cực, đều có cơ hội làm việc như nhau
Không khí học tập sinh động (thảo luận, thay đổi nhóm…)
Các kiểu nhóm có tác dụng và ưu việt chung nhưng mỗi kiểu cũng có tác dụng riêng theo ý đồ của GV
Giảm lượng nói của thầy
Kiểu nhóm ghép 2 lần
- Số thành viên trong nhóm bằng số vấn đề giải quyết cùng lúc
Trang 37- Mỗi nhóm giải quyết một vấn đề không trùng nhau
- Sau khi giải quyết xong vấn đề, ghép nhóm lần thứ 2, mỗi HS là một “đại sứ” cho nhóm mới, truyền đạt lại những gì mà nhóm cũ đã giải quyết
Bài học sẽ được giải quyết trọn vẹn sau hai lần làm việc:
Tinh thần trách nhiệm (vai trò mỗi HS thật sự trong nhóm)
Rèn luyện lòng tự tin cho HS (khi làm việc nhóm sau)
- Có cơ hội hỏi nhiều người (mà không ngại ngùng)
Nội dung làm việc: Tự kiểm tra bảng trả lời câu hỏi (không làm được thì hỏi bạn) để kiểm tra, xác minh kết quả của mình
Trang 38e) Một số kiểu nội dung bài học có thể tổ chức học hợp tác
Thảo luận để đánh giá một qui trình làm việc
Kiến thức qui trình thường được cấu trúc thành các bước hoặc các giai đoạn Để HS theo dõi tốt và tự nhận thức qui trình, có thể ra nhiệm vụ cho các nhóm trao đổi Ví dụ, để biểu diễn một bài thí nghiệm GV sẽ tuần tự thực hiện 6 bước, GV chuẩn bị trước các bản photo để phát cho các nhóm trước khi làm thí nghiệm và dặn HS cách làm việc nhóm sau khi kết thúc thí nghiệm
Trao đổi trước giờ học
Một cuộc trao đổi đầu giờ học sẽ tạo cho HS một bầu không khí tâm lí thuận lợi trong suốt giờ học Có nhiều cách m đầu bài học để có bầu không khí như vậy, song cách này là 1 kiểu làm đặc biệt, với sự tham gia hào hứng của toàn thể HS
- Có thể HS trao đổi bằng sự tái hiện kiến thức cũ để làm cơ s cho bài mới Cũng như vậy nhưng các nhóm HS đi tìm những ví dụ thực tế trong cuộc sống hằng ngày mà những
ví dụ ấy sẽ là những ứng dụng cho bài học mới
- Có thể cho HS biết chủ đề bài học mới, các nhóm sẽ đón nhận nội dung cụ thể sẽ học hôm nay, đề xuất những yêu cầu mà các em muốn biết có liên quan đến đề tài bài học…
Về hình thức, các nhóm có thể liệt kê theo yêu cầu, vẽ sơ đồ suy nghĩ, vẽ hình mà các
em tư ng tượng Sau đó các ap-phic sẽ được treo lên tường, lưu lại suốt buổi học để thầy
sử dụng hoặc các em sẽ trình bày vào 1 lúc nào đó
Trong cách làm này thì những HS yếu sẽ hăng hái tham gia bài học, đôi khi các em có những bổ sung cho những HS khá về kiến thức thực tế của mình, những suy nghĩ đặc biệt của mình
Tìm sự tương ứng
Với các nội dung này các nhóm sẽ trao đổi, so sánh các sự kiện, ngữ nghĩa để sắp xếp lại cho đúng logic hoặc nội dung môn học Kiểu làm này rất hợp với các bài học ứng dụng, m đầu bài học mới hoặc bài ôn tập
Phân loại, so sánh
Cũng làm như trên nhưng với nội dung phân loại
Việc làm này mang ý nghĩa tư duy cao hơn là tìm sự tương ứng b i vì khi phân loại hoặc
so sánh bao giờ cũng yêu cầu HS phân tích hoặc giải thích hoặc trình bày trước lớp với những lí lẽ của mình
Trang 39 Dùng sơ đồ để tóm tắt nội dung bài học hoặc tìm ra kiến thức mới
Muốn HS làm điều này thì trước hết phải cho các em học và luyện tập biểu diễn một phần kiến thức bằng sơ đồ Các nội dung học cho cách thảo luận này là:
- Lập sơ đồ tóm tắt nội dung một chương, một phần hoặc một bài đã học
- Lập sơ đồ khái niệm
- Lập sơ đồ tư duy
- Cho sơ đồ cấu trúc một bài học với một số ô trống, HS đọc SGK rồi điền các nội dung vào các nội dung vào ô trống cho hợp lí
Phương pháp tích cực tự lực là gì?
Tính tự lực là một phẩm chất vốn có của con người, b i vì để tồn tại và phát triển con người phải luôn chủ động tích cực và tự lực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy hình thành và phát triển tính tự lực là một những nhiệm vụ trọng yếu của GD Tính tự lực trong học tập về thực chất là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng khát vọng hiểu biết, có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tự lực trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú nghiên cứu tìm tòi Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố hình thành tính tự lực của HS Tính tự lực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sự sáng tạo
Trang 40Tính tự lực thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
Làm theo mẫu hoạt động của thầy, của bạn…
Tìm tòi độc lập giải quyết vấn đề đưa ra, tìm cách giải quyết khác nhau về một
số vấn đề
Sáng tạo tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
Vai trò của việc đẩy mạnh phương pháp tự học ở HS
Lâu nay người ta thường quan niệm tự học là khi học nhà Nhưng sự thực việc tự học có phương pháp phải bắt đầu từ trên lớp học Không thể tách rời việc học lớp với việc học nhà Trên lớp học, học sinh phải biết chú ý lắng nghe lời thầy giảng, tập trung
tư tư ng theo dõi một cách không thụ động, biết đề xuất những thắc mắc, những chỗ chưa hiểu được rõ để thầy giải đáp, cùng với người thầy xây dựng bài giảng Thầy chú ý phát huy năng lực trí tuệ của trò, trò biết tự phát huy để hư ng ứng Trò là chủ thể không phải nhân vật thụ động, tiếp thu máy móc Nếu nói bí quyết để học giỏi cũng bắt đầu từ đây Đã
từ lâu, các thầy giáo giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học đạt yêu cầu này
Thời gian tự học nhà cũng rất quan trọng, đây là lúc HS có nhiều thời giờ suy ngẫm, đào sâu vấn đề, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thầy giải đáp, suy nghĩ liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế Việc học nhà còn phải làm tốt việc chuẩn bị trước theo yêu cầu của từng bài giảng Những HS xuất sắc thường phải học theo hướng này
Thay đổi phương pháp học của học sinh đòi hỏi sự nỗ lực, tâm huyết của giáo viên
và nhà trường và phải xây dựng động cơ HT đúng đắn cho các em, thì học mới say mê, thay đổi PP dạy và KT của GV nhất là đổi mới vấn đề thi cử, ra đề của các cấp có thẩm quyền vì người ta thưòng nói: dạy học, thi cử như thế nào thì HS học như thế Vì vậy những vấn đề trên phải làm đồng thời nhưng không thể chờ đợi, trông chờ làm xong vấn
đề này, mới làm vấn đề kia
Mục tiêu của phương pháp tự học
Mục tiêu dạy học không chỉ những kết quả học tập cụ thể, những kiến thức kỹ năng cần hình thành, mà điều quan trong hơn cả là bản thân việc học, khả năng tự tổ chức và thực hiện quá trình học tập có hiệu quả của HS
Mục tiêu dạy HS phương pháp tự học chỉ đạt hiệu quả khi bản thân HS chủ động, tích cực, tự lực hoạt động và chỉ đạt được sau 1 quá trình rèn luyện của HS