1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tích và lễ hội đình làng hạ bì hạ với việc phát triển du lịch văn hóa

70 865 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ HUYỆN THANH THỦY- PHÚ THỌ .... Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN

DU LỊCH VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI MINH ĐỨC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn: TS Bùi Minh Đức đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em xin cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trang bị cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý giá trong quá trình học tập tại trường, nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện

đề tài này

Em cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cũng như sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã cung cấp tài liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, do trình độ kỹ năng của bản thân còn nhiều hạn chế cho nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ với việc

phát triển du lịch văn hóa” là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo

viên hướng dẫn TS Bùi Minh Đức Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được ai công bố trên bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây

Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Đóng góp của khóa luận 3

9 Bố cục khóa luận 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ (HUYỆN THANH THỦY- PHÚ THỌ) 4

1.1 Khái quát về xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, Tỉnh Phú Thọ 4

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 4

1.1.2 Đặc điểm xã hội 5

1.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ) 7

1.2.1 Truyền thuyết thần tích, thần sắc 7

1.2.2 Di tích đình làng Hạ Bì Hạ 19

1.2.3 Hiện vật trong di tích 20

1.2.4 Diễn trình lễ hội 21

1.3 Giá trị di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ 34

1.3.1 Giá trị lịch sử 34

1.3.2 Giá trị văn hóa, tư tưởng truyền thống 35

Trang 6

1.3.3 Giá trị kiến trúc - nghệ thuật 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ 39

2.1 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật 39

2.1.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 39

2.1.2 Cơ sở hạ tầng 43

2.2 Về doanh thu 43

2.3 Về nguồn nhân lực 44

2.4 Về khách du lịch 44

2.5 Về sản phẩm du lịch 45

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ 46

3.1 Giữ gìn, bảo tồn và phát triển các giá trị của tài nguyên du lịch 46

3.2 Quy hoạch đồng bộ khu di tích 48

3.3 Đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 49

3.4 Nâng cao nghiệp vụ nguồn nhân lực 49

3.5 Xúc tiến tuyên truyền quảng bá du lịch 50

3.6 Nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch 51

3.7 Công tác bảo vệ môi trường cảnh quan và đảm bảo trật tự an toàn giao thông phát triển du lịch bền vững tại di tích 51

3.8 Đa dạng hóa các loại hình du lịch 53

KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Huyện Thanh Thủy là một mảnh đất có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa

cách mạng vô cùng phong phú và đa dạng, là minh chứng hùng hồn về đời sống văn hóa giàu bản sắc, cũng như truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nguười dân địa phương Trong đó có di tích đình làng Hạ Bì Hạ thuộc xã Xuân Lộc

là một di sản văn hóa có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và bảo tồn những nét đẹp truyền thống của dân ta trong việc ghi nhớ công ơn của người anh hùng đã có công đánh giặc cứu nước Đồng thời, di tích cũng có ảnh hưởng lớn trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân trong xã Xuân Lộc nói riêng và huyện Thanh Thủy nói chung

Di tích đình làng Hạ Bì Hạ là nơi thờ các vị anh hùng có công chống giặc cứu nước của dân tộc Đình Hạ Bì mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa tâm linh vô cùng đặc sắc Nó được hòa với không gian lễ hội độc đáo mang tính truyền thống và gắn với tín ngưỡng bản địa hết sức tự nhiên, nhuần nhĩ đã tạo nên sức sống tiềm tàng cho di tích

Những tiềm năng giá trị ấy là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa

Song trên thực tế hiện nay việc phát triển du lịch tại di tích và lễ hội đình làng

Hạ Bì Hạ còn rất nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của di tích

1.2 Là một sinh viên ngành Việt Nam học việc nghiên cứu, đánh giá phát triển

du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ một cách cụ thể, có hệ thống sẽ tích lũy thêm cho mình những kiến thức về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng,… mà di sản mang lại Đồng thời vạch ra những giải pháp cụ thể cho việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản nhằm phục vụ việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tại di tích Đó là việc làm mang lại tính thực tiễn, phù hợp, cần thiết và có ý nghĩa

Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ với việc phát triển du lịch văn hóa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn giới thiệu, quảng bá và phát triển các tiềm năng du lịch văn hóa tại di tích đình làng Hạ

Bì Hạ nói riêng và huyện Thanh Thủy nói chung

Trang 8

Lưu Thị Phát (2003), Lý lịch di tích đình Hạ Bì Hạ, thôn Hạ Bì, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Sở văn hóa TT - TT Phú Thọ Cuốn sách viết dưới dạng khảo tả di tích đình Hạ Bì Hạ, mang tính liệt kê, khái quát chứ chưa

đi vào chiều sâu

Thực tế cho thấy, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập tới việc khảo cứu, đi sâu vào truyền thuyết hình thành nên di tích và khảo tả một cách khái quát di tích,… mà chưa có định hướng nghiên cứu rõ ràng và cụ thể đến việc phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ

Vì vậy, kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu cuả các tác giả đi trước, khóa luận “Di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ với việc phát triển du lịch văn hóa”, xin giới thiệu cụ thể, toàn diện, hệ thống về di tích cũng như lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ nhằm phát triển du lịch văn hóa cho di sản này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài góp phần nghiên cứu, điều tra về tiềm năng, đánh giá thực trạng, giá trị của di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ xã Xuân Lộc, Huyện Thanh Thủy, Tỉnh Phú Thọ

Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội trong không gian văn hóa của huyện Thanh Thủy, Phú Thọ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu quá trình hình thành di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ Khảo sát

cụ thể các giá trị lịch sử, văn hóa lễ hội tại di tích di tích lịch sử đình làng Hạ Bì Hạ

Đồng thời đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại di tích như: cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, doanh thu, nguồn nhân lực, khách du lịch,…

Trang 9

Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thiết yếu nhằm phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ

5 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, khảo sát về tiềm năng, thực trạng du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

6 Phạm vi nghiên cứu

Du lịch văn hóa tại khu di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ

7 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện dựa trên một số các phương pháp như:

- Phương pháp truy vấn thông tin qua Internet;

- Phương pháp điền dã, khảo sát, nghiên cứu thực địa;

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn;

- Phương pháp thư viện;

- Phương pháp liên ngành

8 Đóng góp của khóa luận

Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá về thực trạng của di tích và lễ hội đình làng Hạ

Bì Hạ, đề tài nhằm đưa ra các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa tại di tích này

9 Bố cục khóa luận

Khóa luận gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận

Phần 1: MỞ ĐẦU

Phần 2: NỘI DUNG

Trong phần nội dung gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng

Hạ Bì Hạ (huyện Thanh Thủy- Phú Thọ)

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ)

Chương 3: Biện pháp phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng

Hạ Bì Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ)

Phần 3: KẾT LUẬN

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI

ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ (HUYỆN THANH THỦY- PHÚ THỌ)

1.1 Khái quát về xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, Tỉnh Phú Thọ

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Xuân Lộc nằm ngay bên tả ngạn sông Đà, thuộc vùng hạ huyện Thanh Thủy Phía Đông Nam Xuân Lộc giáp xã Tòng Bạt, huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc thành phố Hà Nội);

Phía Đông Bắc giáp xã Hồng Đà;

Phía Bắc giáp xã Thượng Nông, huyện Tam Nông;

Phía Tây Bắc giáp xã Đào Xá; phía Tây Nam giáp xã Thạch Đồng, huyện Thanh Thủy

Đình làng Hạ Bì Hạ được xây dựng ngay sát chân đê sông Đà (phía ngoài đê), thuộc thôn Hạ Bì, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Đình làng Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc nằm cách thủ đô Hà Nội 62 km, cách trung tâm huyện lỵ Thanh Thủy 7 km về phía Tây - Nam, cách cầu Trung Hà 3 km

về phía Đông - Nam Du khách đến thăm quan đình Hạ Bì Hạ có thể đi bằng các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy đều thuận lợi:

* Đường bộ:

Du khách từ Hà Nội lên, qua Sơn Tây đi cầu Trung Hà theo đường quốc lộ

316 (đê sông Đà) đi khoảng 3 km là tới làng Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Liền kề phía ngoài đê là cụm di tích đình - đền, nơi hiện đang phụng thờ vua Hùng Nghị Vương thứ 17 cùng Đức Thánh Tản Viên và thành hoàng làng Lý Dực Công Nhìn qua sông Đà về phía Nam, là ngọn núi Ba Vì uy linh soi bóng; thấp thoáng phía bắc theo đường chim bay chừng ngót hai chục cây số là trung tâm Nghĩa Lĩnh, cố đô Văn Lang xưa, nơi Vua Hùng lập ra Nhà nước đầu tiên của cư dân Việt - Mường cổ

Trang 11

Du khách từ Việt Trì lên, qua thị trấn Lâm Thao, qua cầu Phong Châu, tới thị trấn Hưng Hóa theo chỉ dẫn đi khoảng 7 km tới cầu Trung Hà và đi tiếp khoảng 3

1.1.1.3 Khí hậu

Khí hậu mang những đặc điểm chung của khí hậu toàn huyện, cũng như những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc nước ta là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Ngoài những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc, thì vùng cũng có một số đặc điểm riêng về khí hậu đó là trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt:

Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ tương đối cao trung bình

C Gió thịnh hành là gió đông nam

Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11, kết thúc vào tháng 3 năm sau Đặc điểm mùa này là do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên khí hậu ẩm ướt, trời lạnh (nhiệt

độ khoảng 190 C)

1.1.1.4 Thủy văn

Xã Xuân Lộc có nguồn nước phong phú do có sông Đà chảy qua, lượng nước sông Đà chảy qua hàng năm rất lớn tạo điều kiện thuận lợi cho Xuân Lộc hàng năm có một lượng phù sa bồi đắp thường xuyên cho đồng ruộng Đồng thời, đây cũng là con sông đảm nhận tưới tiêu chủ yếu không chỉ riêng cho xã Xuân Lộc mà cho tất cả 15 xã của huyện Thanh Thủy

Trang 12

1.1.2.2 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Xuân Lộc là một xã được hình thành từ rất lâu, có truyền thống văn hóa lâu đời, dấu ấn còn để lại qua việc thờ các tướng lĩnh thời Hùng Vương dựng nước Đặc biệt Xuân Lộc còn là xã có truyền thống cách mạng, yêu nước, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, bảo vệ xóm làng trong cuộc khởi nghĩa Nguyễn Thái Học

Ngược dòng lịch sử tìm hiểu địa danh làng xã qua các thời kỳ lịch sử, Xuân Lộc thuộc những khu vực hành chính sau:

Thời Hùng Vương, Xuân Lộc thuộc Bộ Văn Lang

Đời Trần, Xuân Lộc thuộc châu Đà Giang, lộ Tam Giang

Cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, Xuân Lộc thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây Đến năm 1898, Xuân Lộc thuộc tổng Hạ Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Hưng Hóa Năm 1903 tỉnh lỵ Hưng Hóa chuyển lên Phú Thọ thì Đào Xá thuộc tổng Hạ

Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương của chính phủ hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn, xóa bỏ cấp tổng, 5 làng La Hòa, Võng La, Hạ

Bì, Bì Châu và Xuân Dương được hợp nhất thành một xã lấy tên là Xuân Lộc và mỗi làng cũ thành một thôn Tên Xuân Lộc có từ đó thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Tháng 3 năm 1968, hợp nhất 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thì xã Xuân Lộc thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Tháng 7 năm 1977, huyện Tam Nông và Thanh Thủy sát nhập thành huyện Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú

Tháng 1 năm 1997, tỉnh Phú Thọ được tái lập, xã Xuân Lộc thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ

Tháng 9 năm 1999, huyện Tam Thanh được tách làm 2 huyện cũ, xã Xuân Lộc lúc này thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Dù tên gọi địa danh làng xã thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, song vị trí tên gọi cụm di tích đình làng Hạ Bì Hạ vẫn không thay đổi và có địa chỉ: thôn Hạ Bì, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Trang 13

1.2 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì

Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ)

1.2.1 Truyền thuyết thần tích, thần sắc

Giữa một vùng đồi núi thấp xen kẽ những cánh ruộng trũng canh tác lúa nước bao đời, ẩn chứa trong từng gò đống, bờ ao, đại thụ cũng như các ngôi đền, đình cổ kính là một thế giới huyền thoại, trong đó hư ảo truyền về các biểu tượng chân dung của đức vua Hùng cùng các tướng lĩnh đương thời, những nhân vật được coi là ân nhân, giúp dân, cứu nước và người dân ngưỡng vọng, tôn vinh qua các đời Dấu vết từ quá khứ xa xăm hàng nghìn năm, trong tâm thức các thế hệ con cháu khắp vùng đất này, luôn được coi là một thứ “lịch sử” đích thực, nơi gửi gắm niềm tin và ý tưởng tri ân của chính những thế hệ cháu con làng Hạ Bì Hạ nói riêng, cộng đồng dân chúng đất Trung châu nói chung đối với lớp người có công khai phá, mở đường cho sự hiện tồn của dân tộc trên tiến trình lịch sử nước Việt

Đình Hạ Bì hạ thờ vua Hùng Nghị Vương thứ 17 cùng Tản Viên Sơn thánh

và Lý Dực Công, là người dân làng Hạ Bì đã có công giúp nước cứu dân thời vua Hùng Duệ Vương thứ 18

Theo “Ngọc Phả Cổ Ghi Chép Sự Tích Vị Đương Cảnh Thành Hoàng Hùng

Đoán Phù Quốc Đại Vương Công Thần” ghi chép lại, trải qua 17 đời vua Hùng

Nghị Vương, đóng đô ở Bạch Hạc Việt Trì, dựng nước gọi là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu Vua Nghị Vương đại lược hùng tài, cái thế thánh minh, đời đời xứng bậc vua sáng vậy

Khi đó, đời truyền rằng ở phủ Ái Châu nước ta có ông tên Sùng, họ Lý và vợ

họ Trần, tên Bạch, tổ tiên nối đời làm nghề thuốc, cứu được nhiều người bệnh nặng nổi tiếng khắp thiên hạ Các gia đình nghèo, người già yếu đều được ông bà cho thuốc, không ai bị bệnh mà không được ông đem thuốc đến tận nhà chăm nom chu đáo Người bệnh đến bốc thuốc khá đông, nên gia đình cũng có phần sung túc Tuy

vợ chồng song toàn, nhưng hiềm một nỗi vẫn chưa có điềm sinh con nối dõi Ông thường than thân rằng: phúc ấm gia tiên để lại thế ào mà nay tuổi tác đã cao, mà nay tuổi đã ngoài 50 mà vẫn chưa có con, sau này biết dựa vào đâu mà hương khói Vì

Trang 14

thế nên ông hết lòng làm việc thiện, để ắt có ngày trời cao biết đến Còn người vợ,

là người giỏi đạo tề gia, tam tòng tứ đức đều đủ cả, năm nay đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa thấy mộng sinh con trai Một hôm vợ chồng ông bà rủ nhau đi thăm người gì ruột ở phủ Lạng Giang đang bị ốm nặng, trên đường đi bỗng thấy một người con gái nằm chết bên đường, không người chôn cất Ông bà vô cùng thương xót không nỡ

bỏ đi, tuy trong người chỉ có 7 đồng bạc tiền tiêu đi đường, nhưng đưa cả cho người dân địa phương nhờ mua hộ cỗ quan tài chôn cất người xấu số thiệt phận Xong việc, ông bà lên đường, đi tới chùa Nhị Thanh thì trời bắt đầu tối, ông bà bèn nghỉ lại trong chùa Khoảng nửa canh ba, ông bỗng mơ thấy có người mặc áo trắng, đến trước mặt ông bảo: “Thiên đình sai ta giáng xuống, triệu ông lên sân rồng” [1, tr.21] Ông bèn theo sau, người đó dắt ông đi qua rất nhiều lầu rồng gác phượng, điện ngọc cửa vàng nơi hoàng thành tầng tầng lớp lớp Vào đến cửa trời, trèo lên chín bậc thì thấy Ngọc Hoàng đang ngồi chính giữa bệ ngọc, hàng trăm quan văn võ đứng trầu hai bên Long ly quy phượng, lừa ngựa kêu vang thềm dưới Người mặc áo trắng dẫn ông đến sân ngoài điện, đã nghe bên trong nội điện sai một viên quan áo mũ chỉnh

tề, từ trong bước ra ngồi xuống long sàng, báo với ông rằng: “Nhà khanh phúc dày, thấu đến Hoàng thiên Nay thấy hồn quỷ nữ tâu lên nhà người có thiện tâm, cứu giúp người bị nạn trên đường, chôn cất người quỷ nữ tránh xương giá thân hình; lại giúp đỡ nhân dân chữa bệnh, không màng đến tiền tài Mọi việc ấy Hoàng thiên đều

rõ cả, người có tâm tích thiện tất được báo đáp, nên sai một viên nội các Long quan giáng xuống trần gian làm con” [2, tr.21] Nói xong, ông hành lễ bái tạ Bỗng thấy một người áo mũ chỉnh tề giơ hai tay ra ôm lấy vai ông Ông cầm tay dắt về Đang

mơ bỗng ông tỉnh giấc, biết đó là mộng báo bền đem sự việc kể lại cho Thái bà nghe Thái bà vui mừng đáp: “Tâm ông tích thiện thấu đến trời xanh, nên trời ban phúc giáng mộng, tất phải có sự tốt lành Vả lại đạo trời khó đoán mà mộng mị thường biến hóa, chẳng dám phỏng đoán nhiều, đành chờ đợi vậy” [3, tr.21] Nói xong, hai vợ chồng ông lại tiếp tục đi thăm người dì ốm Rồi sau đó trở về quê cũ,

từ đó Thái bà quả nhiên có mang Đến ngày mùng 8 tháng 3 năm Canh Thân sinh hạ được một người con trai, trong lúc lâm bồn cả gian phòng bỗng nhiên bừng sáng

Trang 15

huy hoàng, bốn bề mây trời vờn bay, hương hoa thơm phức, khí lành bay quanh, đất trời mát mẻ Đứa trẻ sinh ra có tướng mạo rất là kỳ vĩ, thân thể trắng tựa ngọc, hình dung cao lớn đường đường, khí độ thần uy lẫm liệt Sau khi sinh được 100 ngày, cha mẹ đặt tên là Dực Công, ông bà hết lòng yêu thương chăm sóc rất chu đáo Được đầy năm thì ông đã biết nói; lên 5, 6 tuổi đã hiểu rõ đạo lý việc đời, thiên tư trí tuệ thông minh, con người thanh cao tuấn tú Năm lên 8 tuổi đã tìm thầy để theo học, hơn 2 năm mà văn học đã tinh thông, không ai sánh kịp, tài năng xuất thế có một không hai Khi lên 10 tuổi, bỗng cha mẹ cùng qua đời một lúc (ngày 15 tháng 2) Ông bèn làm lễ an táng, cũng bái đủ 49 ngày hết lòng hiếu kính đến nỗi gia tư hết sạch

Từ đó côi cút đói nghèo không nơi nương tựa nhưng ông vẫn không thay đổi đạo hiếu Một hôm ông làm bài thơ rằng:

“Trời đã sinh nhân tất dưỡng nhân,

Hoàng thiên sai giáng, há ưu phiền

Bốn bề gió thổi, chẳng người vấn,

Đến lúc thành danh hưởng vạn dân” [4, tr.22]

Khi đó trong ấp có nhà lệnh tộc họ Trần, sinh được một người con gái xinh đẹp vô cùng, tuổi tròn 13 Thấy ông là người hiếu đễ lại có khí khái nên muốn gả con gái và nuôi nấng ông luôn, nhưng ông không nhận lời Nhà họ Trần hết sức tức giận, bèn chửi mắng hết sức ô nhục, khiến ông vô cùng uất hận Nhưng vì thế cô sức yếu khó chống lại nên ông bỏ quê ra đi tha hương cầu thực

Trải qua bao nhiêu ngày gian lao vất vả, ngủ trọ nhờ dân Một hôm, ông đi tới chợ ở xã Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, chợ đang họp đông, ông ngồi nghỉ bên cổng chợ, bỗng thấy một bà lão tuổi chừng 70 quần áo tươm tất, mặt mũi phương phi đức độ Ông bèn lên tiếng hỏi: “Cụ người ở đâu mà đi chợ này?” [5, tr.22] Lão bà đáp: “Già vốn là người Đào Xá đến chơi chợ này; Cháu còn nhỏ tuổi sao đến chợ này mà hỏi ta như vậy?” [6, tr.22] Ông đáp: “Cháu vốn mồ côi, không cha không mẹ, lưu lạc tìm chốn dung thân, mà chưa thấy có nhà nào làm phúc cả?” [7, tr.23] Lão bà nghe xong, ngẫm nghĩ đây chẳng phải là con nhà thường dân, chắc phải có điều gì khuất tất bên trong Bà bèn bảo: “Lão thấy cháu

Trang 16

còn nhỏ, trong lòng rất thương mến Việc này tất do ý trời sắp đặt, cháu hãy theo về làm con nuôi ta được không?” [8, tr.23] Ông liền đi theo bà lão ra về đến nhà thì trời đã khuya; vào khoảng canh ba, lão bà đang thiu thiu ngủ bỗng mơ thấy có hàng trăm binh mã tiến đến trước mặt báo rằng: “Hôm nay Vương quan đến trú ở nhà lão, sao dám thất lễ Vả lại, nhà lão phúc mỏng không xứng được nuôi dưỡng Vương quan, chớ có coi thường nhận làm con nuôi được đâu” [9, tr.23] Lão bà giật mình tỉnh giấc, biết là mộng báo nên không dám có ý giữ ông lại nuôi dưỡng, bèn xin ông

đi tìm nơi khác để sinh sống Ông từ biệt lão bà lên đường, làm bài thơ rằng:

“Trời đã sinh ta há hư vô, Mặt mũi thông minh, đúng nam nhi

Một năm phiêu bạt nên hiểu rõ, Lợi thời thì tiến, sau sẽ vinh” [10, tr.23]

Ngâm xong bài thơ, ông thẳng tiến tới trang Hạ Bì, huyện Bất Bạt, Phủ Đà Giang Thấy một ngôi quán nhỏ bên sông, ông liền vào đó nghỉ chân, làm bài thơ rằng:

“Dừng chân quán nhỏ ở bên sông, Bốn bề quang đãng một trời xanh

Cung sở nơi đây sẽ của ta, Chẳng người dám nhận đây dân ta” [11, tr.23]

Đêm đó ông vào nghỉ trong quán, dân phường Thủy Kỳ (tức phường sông) đang cắm sào bên bến (bến Hạ Bì) phía trước quán Đêm hôm đó thấy trên quán văng vẳng có tiếng chuông trống réo rắt; người dân phường Thủy Kỳ thấy phía sau quán có mây ngũ sắc bay trên địa phận ấp nội (tức trang Hạ Bì) Lại thấy quân lính ở đâu rầm rập tiến vào cùng 4, 5 trăm người chen nhau chạy đến bên quán,

hô to rằng: “Hôm nay Vương quan đến địa phương này, dân chúng (tức trang Hạ Bì) đang ở nơi đây sao lại vô lễ, không ra đón chào Vì thế, quân lính nhập vào dân gian trách lỗi” [12, tr.23] Nói xong thì tất cả biến mất Nhân dân vào trong quán xem xét chỉ thấy ông đang nằm một mình ở chính giữa quán; nhìn thể diện hình hài kỳ dị khác hẳn người thường, họ trộm nghĩ chẳng phải là thần đồng giáng thế thì cũng là thiên

Trang 17

tướng sinh ra Dân chúng đến bên ông hỏi han nguyên cớ: “Sĩ tử ở nơi nào đến đây, tuổi còn thiếu niên, mà thể dạng kỳ khôi như vậy?” [13, tr.23] Ông ngồi xếp chân trong quán không buồn đứng dậy, cười lớn mà nói rằng: “Chớ nên nói vậy Ta là một nho sinh nghèo, đi qua thấy quán trống thì vào ở nhờ” [14, tr.24] Nói xong bèn đọc thơ rằng:

“Trời sinh ta ra cho làm người,

Trên thờ vua hiền, dưới nhờ dân

Hà tất đến đây mà hỏi vậy,

Dân ấp sau này thần tử ta” [15, tr.24]

Dân chúng nghe xong lời thơ như vậy, rất lấy làm kinh sợ, kéo nhau ra về đến làng thì mọi người trong làng đều mắc bệnh cả Các phụ lão trong làng thấy sự

lạ, bèn làm lễ rước ông vào làng sống với dân ấp, mọi bệnh tật tự nhiên biến mất

Từ đó dân làng vô cùng kính phục ông, tôn ông làm Sư trưởng của làng (tức trang

Hạ Bì) Ông thường dạy bảo dân làng, giáo hóa trẻ con, tỏ rõ tài văn võ song toàn, dạy dân thuần phong mỹ tục, hiếu đễ trung tín Tất cả đều nhờ vào công lao dạy dỗ của ông Có bài thơ rằng:

“Đường dài ngày trước chỉ một thân, Ngày nay được hưởng lộc của dân

Anh hùng suy, thịnh là thường sự, Sau tất thành danh, hưởng vạn dân” [16, tr.24]

Khi đó, vua Nghị Vương đang mùa đi săn, thuyền rồng ngự đến bến Hạ Bì, hôm đó (vào ngày mùng 10 tháng 2) nhân dân làm lễ chúc mừng vua thì trời đã tối, nên cho dừng thuyền nghỉ lại bên sông Nửa đêm, đang ngự trong thuyền rồng, nhà vua mơ thấy khoa thi mở tưng bừng, sĩ tử đến thi rất đông, trong đó thấy có một người tên là Dực Công tuổi mới 22 là thi đỗ Cập Đệ văn võ kiêm toàn, anh hùng đệ nhất Nhà vua biết đây chẳng phải người thường, nên có ý gả Đế nữ Đệ thất Tiên Cung công chúa, cho ông làm Phò mã Đô đốc tướng quân, xưng là người dân gốc Hạ

Bì Đang mơ màng, bỗng thấy gió thổi mạnh lay động cả thuyền, khiến nhà vua tỉnh giấc, ngài thầm nghĩ chắc có Thiên sứ báo mộng cho ta Bèn sai triệu các vị phụ lão

Trang 18

trang Hạ Bì đến hỏi: “Dân chúng trong ấp nội, ai tên là Lý Dực Công?” [17, tr.25] Nhân dân phụ lão tâu: “Đó chính là vị Sư trưởng của dân làng, tên đúng là Dực Công” [18, tr.25] Nhà vua truyền gọi đến thi tài Ông đến bái yết trước thuyền, thấy ông dung mạo phi thường, hơn hẳn người trần thế, anh tài trí dũng, văn võ kiêm toàn không người sánh kịp Ngắm diện mạo y như người trong mộng báo, nhà vua

vô cùng mừng rỡ, ngầm nghĩ ý trời đã định, tất sẽ là vua tôi cha con trong tông tộc, như cá gặp nước như rồng gặp mây vậy Ngày hôm sau, nhà vua sai ông theo hầu trở về kinh đô, triệu gọi Tiên Cung công chúa gả cho ông, ban chức Đô đài đại tướng quân Được khoảng 8 năm thì vua Nghị Vương băng hà Duệ Vương thái tử lên ngôi trao cho ông chức Giám quốc chính, cho phép trang Hạ Bì làm đất Thang mộc Sau đó ông cùng công chúa trở về sửa sang tòa công sở (tức đất Gia Lý), dựng một tòa ở xứ ấp bến sông (tức nơi quán cũ ông đã trú ngụ trước đây) Xong việc ông cho mở tiệc lớn ăn mừng (ngày mùng 10 tháng 7) cho mời tất cả phụ lão nhân dân trong trang đến dự Ông nói: “Nay cung sở đã xây xong, giao lại cho dân làng trông nom, để khi ông về chơi làm nơi mở tiệc; sau này sẽ là nơi thờ cúng, tỏ rõ ân tình

Sư đệ, tấm tình hiếu đễ của dân”[19, tr.26] Ông lại cấp cho một hốt vàng, mua 15 trượng đất bãi để sau này làm ruộng hương hỏa Phụ lão nhân dân nhất nhất vâng lệnh Xong việc, ông cùng công chúa lên xa giá trở về thành đô vào chầu đế diện

Khi đó, vua Duệ Vương sinh hạ được 20 vị Hoàng tử và 6 nàng công chúa, nhưng lần lượt đi về cõi tiên, chỉ còn hai công chúa là Đệ nhất Tiên Dung công chúa

gả cho Chử Đồng Tử, quê ở thôn Nội, xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam Thượng Đệ nhị Mị Nương công chúa còn đang kén rể cầu hiền Lúc đó, Tản Viên Sơn Thánh là người anh hùng nhất trong vạn người, nên được vua Duệ Vương gả công chúa cho (Ngày xưa, Sơn Thánh là người ở xã Lăng Sương, huyện Thanh Châu, xứ Hưng Hoá Cha tên là Nguyễn Cao Hạnh; mẹ là Đinh Thị Điên Nguyễn Cao Hạnh tuổi đã ngoài 60, Đinh bà tuổi 51 mà vẫn chưa có điềm sinh quý tử Một hôm ra bờ giếng tắm, bỗng thấy rồng vàng trên trời bay xuống uống nước, rồi thấy có mây ngũ sắc bay quanh thân mình, trở về nhà tự nhiên có mang, 14 tháng sau thì sinh ra Sơn Thánh ngày 15 tháng giêng năm Đinh Tị Đến năm ông 13

Trang 19

tuổi thì người cha đột ngột qua đời, cảnh mẹ góa con côi đói rét, vì thế ông đưa mẹ lên núi Tản Lĩnh xin làm con nuôi bà ma thị Hàng ngày đi chặt củi, bán lấy tiền nuôi

mẹ rất là chí hiếu Sau này, khi đi chặt củi được thần Mộc Tinh, Tử Vi Tinh cho “gậy thần”, lại mượn cuốn “sách ước” của Long cung, vì thế có được phép tiên, biến hóa

vô cùng, anh tài trí dũng, kỳ mưu dị thuật, vì thế được vua Duệ Vương gả con gái thứ

2 là Mị Nương công chúa Hai vợ chồng đều tu tiên đắc đạo, hóa sinh bất diệt Nhà vua ban sắc phong là Nhạc Phủ kiêm Thượng đẳng thần)

Từ khi chọn được rể hiền, nhà vua có ý nhường ngôi cho con rể, nhưng Tản Viên Sơn Thánh (tên húy là Tuấn) từ chối không nhận, chỉ nguyện xin phù trợ quốc chính Khi đó, Thục An Dương Vương (tức Ai Vương cũng là dòng giống con cháu vua Hùng) nghe tin cơ đồ họ Hùng nước Nam sắp đến ngày cáo chung, vua Duệ Vương không con trai nối dõi đang truyền ngôi cho con rể Bèn thu thập binh lương hơn 30 vạn quân, tiến đánh nước ta Chúng chia quân làm 5 đạo thủy lục cùng tiến, thuyền ngựa song hành Thư biên ải cáo cấp, nhà vua cho triệu Sơn Thánh hỏi kế chống giặc Sơn Thánh tâu: thần nguyện xin lĩnh 10 vạn tinh binh đi chống giặc Nhà vua đồng ý, rồi sai Dực Công phõ mã đem 1 vạn quân nghênh chiến với quân giặc ở phủ Đà Giang Ông phụng mệnh đem quân thẳng tiến về nơi Cung ấp (tức trang Hạ Bì) Đánh nhau một trận mà quân giặc đã bị dẹp yên Nhà vua nghe tin vô cùng mừng rỡ, xuống chiếu triệu hồi Sơn Thánh, Dực Công và các chư tướng khải hoàn trở về kinh đô Nhà vua đại khai yến tiệc, khen thưởng công lao công thần theo thứ bậc khác nhau Ban cho Dực Công chức Thái Bảo quốc chính Từ đó vua tôi hiệp đức, thiên hạ thái bình Nhà vua thường tuần du đến đảo Sơn Bồng Lĩnh, tìm chơi nơi dấu Phật vết Tiên; vui với bàn cờ nơi núi cao trăng sáng, thú vị nơi trúc lĩnh lung tương; nhàn ngắm cảnh thú nhảy chim bay, non xanh nước biếc Được 2 năm thì Thục vương lại khởi binh phục thù, tấn công nước ta bằng hàng trăm vạn tinh binh, với 5 đạo quân thủy bộ rầm rộ thẳng tiến vào biên giới, cờ bay rợp trời, trống chiêng náo động Một đạo bộ binh đi từ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Mai Châu, Việt Châu, Mộc Châu, Tiến Châu, Đại Man châu, Luân Châu, Tự Long châu, Bảo Lạc, Ban Bàn, Thủy Vĩ đến Đà Bắc cùng các đạo thủy quân thuyền chiến nghìn

Trang 20

chiếc đi từ cửa biển Thần Phù Hoan Châu, Bố Chính châu, Di châu, Kinh Bắc, Lục Đầu, Bạch Hạc giang,… Thượng thư cáo cấp ngày 5 lần khiến nhà vua vô cùng lo lắng, vội vàng cho triệu chư tướng họp bàn kế chống giặc Sơn Thánh hứa hết sức phò giá, tự chọn tướng tài, thống lĩnh hơn 30 vạn quân đi đánh trừ giặc Thục, chỉ không quá một ngày thì bình xong giặc, bắt sống tướng giặc, đem giải về kinh đô Nhà vua xống chiếu triệu hồi Sơn Thánh, Dực Công và các chư tướng chống giặc tháng lợi trở về Dực Công về qua Miếu sở (ngày mùng 7 tháng 4) đại khai yến tiệc cùng nhân dân (tức trang Hạ Bì), rồi lại cùng Sơn Thánh hội yến ở Cung trong đền (ngày mùng 7 tháng giêng) thì được tin Tiên Cung công chúa xa giá đến chúc mừng Ông làm bài thơ rằng:

“Hoàng thiên đã định nghĩa phu thê

Thề non hẹn biển một lòng trung với nước” [20, tr.27]

Sau đó, lên xa giá trở về kinh đô Nhà vua sai mở tiệc lớn, ban cho ông mỹ tự

và sắc chỉ (ngày 20 tháng 9), nhân dân làm lễ chúc mừng Ông liền cho mộ nghĩa binh ở nơi sở tại (trang Hạ Bì) làm gia thần thủ túc 48 người (trong đó người trang

Hạ Bì là Nguyễn Dục và Lê Cứ được làm thần tướng chỉ huy) theo ông đi chống giặc Ông lại truyền sai gia thần nơi sở tại thiết lập đồn binh ở bên sông (tức bến sông Hạ Bì nơi ngôi quán ông đã trú ngụ) để đón đánh quân giặc tấn công Ông đóng tại đồn khoảng 10 ngày ngăn quân Thục tràn vào đất ta Một hôm vào khoảng nửa đêm, quân Thục chuẩn bị bí mật tiếp viện bao vây chặt bốn phía, quân ta không kịp trở tay, vì thế phải đóng cửa đồn cố thủ 3 ngày, sai thư cáo cấp với nhà vua Lúc

đó Tiên Cung công chúa (tức con gái vua Nghị Vương, em gái vua Duệ Vương; mẹ

là Cung phi thứ 7 Trần Thị Cực năm 41 tuổi mơ thấy quần tiên trên Nguyệt Điện bam cho một viên ngọc Lưu ly, thế là có mang, ngày mùng 10 tháng 2 năm Giáp Ngọ thì sinh ra công chúa, đặt tên là Tiên Cung công chúa Nàng tính bẩm thanh kỳ, dung nhan trong sáng, xinh đẹp đến nguyệt thẹn hoa nhường, vẻ chim sa cá lặn, nét anh tài thục nữ, đức hiếu đễ thuận hòa hơn hẳn người thường) bèn xin với nhà vua:

“Thiếp xin lĩnh một vạn quân binh, tiến đánh giặc Thục giải vây cho chồng (khi đó, quân Thục lại chia quân làm 5 đạo tiến đánh nước ta Sơn Thánh chỉ huy một đạo

Trang 21

binh, Dực Công chỉ huy một đạo chặn đánh quân địch ở vùng Đà Giang) để đáp lại nghĩa vợ chồng” [21, tr.28] Nhà vua đồng ý Công chúa mặc áo giáp sắt, cải trang làm nam giới, hai tay cầm hai thanh bảo kiếm, cưỡi ngựa đem quân đến giải vây cho chồng Đánh nhau một trận kịch chiến, phá vỡ được vòng vây Dực Công cưỡi ngựa chạy về kinh đô xin viện binh; công chúa ở lại bày binh bố trận, chống trả quân giặc, chém được vô số đầu giặc Đánh nhau được 5, 6 hiệp quân giặc gần bại trận thì lại được viện binh kéo đến Chúng bắt được một tinh binh của công chúa, trói dưới bờm ngựa Khi biết đó là một nữ binh, chúng dò hỏi người nam tướng đó

là ai? Tên nữ binh đáp đó chính là Tiên Cung Đế Nữ giả làm nam giới đánh giải vây cho chồng là Dực Công Thục tướng nghe xong, bèn dốc toàn bộ binh lính xông lên bắt sống Công chúa biết khó chống lại quân giặc, vì sức quân ta đã yếu, nên bà cho lui quân đến trước Cung sở bên sông, nhưng quân Thục truy đuổi rất gấp, biết là khó thoát nên công chúa gieo mình xuống sông tự hóa (ngày 12 tháng 9) Bỗng thấy một con rắn đỏ từ dưới sông bay thẳng lên trời biến mất Khi ấy, trời đất tối sầm, sấm chớp nổi lên đùng đùng, mưa to gió lớn khiến quân Thục vô cùng kinh sợ Trong nháy mắt, cả dòng sông cuộn sóng ba đào, tung bọt trắng xóa Nhân dân thấy vậy, tâu lên nhà vua, lệnh cho nhân dân sở tại lập miếu thờ cúng nơi công chúa đã hóa (tức bờ sông trang Hạ Bì), cho phép dân trang Hạ Bì được làm dân Hộ nhi thờ cúng công chúa Sau này có thơ rằng:

“Tiên Cung nương hỡi, Tiên Cung nương, Danh thơm truyền mãi dải Đà Giang

Ngàn năm miếu điện nay còn đó,

Ức niên thờ phụng tại trang Hạ Bì” [22, tr.29]

Sau đó, Dực Công đem quân trở về, đánh một trận lớn chém được hơn 2 nghìn đầu giặc, bắt sống vô số binh mã giải đem về kinh Nhà vua ban cho ông áo

mũ, sắc chỉ đưa về thờ ở nơi Cung sở (đất Hạ Bì) Nơi công chúa hóa làm chính đền thờ cúng (hai mùa xuân thu đều sai quan triều về làm tế lễ) Và 19 nơi đền miếu khác đều về kinh đón sắc chỉ, mỹ tự, áo mũ về thờ vọng Ngày nhân dân đi đón rước sắc chỉ, trong 3 ngày trời đất tối tăm u ám, mây bay nước động, khi đón về đến nơi nhân dân làm lễ tạ thì trời lại trở lại sáng sủa như thường

Trang 22

Phong: Đương cảnh thành hoàng Hùng đoán Hộ quốc Đại vương Nữ Đế Tiên Cung công chúa (trang Hạ Bì thờ phụng, hai mùa xuân thu quan triều về làm lễ tế)

Trải 349 năm, đất Nam Giao ta thuộc 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần tạo dựng hồng

đồ, (thần) thường cứu nước giúp dân, cho nên được các Đế vương bao phong mỹ tự, thờ cúng không dứt, cùng hưởng lộc nước Thật là tốt đẹp lắm thay

Vào đời vua Đinh Tiên Hoàng, có loạn 12 sứ quân, nhà vua sai quan Thái úy Nguyễn Đào đem quân đi dẹp loạn, khi đi qua đất hạ bì, thấy điện miếu bên sông đẹp đẽ huy hoàng, bèn cho quân nghỉ chân vào mật khấn, xin thần phù hộ quộc chính, dẹp yên giặc loạn sẽ tâu nhà vua bao phong khen thưởng, thờ cúng mãi mãi Khấn xong, bỗng thấy cuồng phong thổi mạnh, làm lay động cờ xí trước sân, lại thấy một con rắn đen dài hơn 10 trượng nằm cuộn tròn chính giữa điện Quân lính

vô cùng kinh sợ, quỳ xuống làm lễ bái tạ Rồi tiến binh dẹp loạn thắng trận trở về Đinh Tiên Hoàng lên ngôi hoàng đế; từ đó nước nhà thống nhất, bốn biển thanh bình Nhà vua mở tiệc mừng công, Nguyễn Thái úy dâng tấu công lao hiển ứng phò trợ của thần tại đền Hạ Bì Nhà vua bao phong mỹ tự, cho phép thờ cúng ngàn năm, cùng non sông hưởng lộc nước Thật tốt đẹp thay

Phong: Đương cảnh Thành hoàng Hùng đoán Hộ quốc An dân Đại vương Nữ

Đế Tiên Cung công chúa Thánh mẫu (cho phép trang Hạ Bì được thờ cúng thần)

Phong: Đương cảnh Thành hoàng Uy dũng Sùng tín Qúi minh Quảng trí Dực vận Hùng đoán Phù quốc Hộ dân Đại vương và Nữ Đế Tiên Tiên Cung Hiển ứng Diệu vận dung quang công chúa

Trước kia hàng năm lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ được tổ chức vào các ngày như sau:

Ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch: ngày sinh Dực Công Lễ vật gồm có 3 mâm

cỗ đặt lên ban thờ chình để cúng tế Lễ hội có tổ chức kéo lửa nấu cơm thi, vật tự

do, chọi gà, cờ tướng, tổ tôm điếm…

Ngày 15 tháng 4 âm lịch: ngày mất Dực Công Lễ vật gồm 3 cỗ chay, 3 mâm cơm, gà, xôi, rượu cúng lễ Tổ chưc rước bát nhang từ miếu Thánh Mẫu về đình làm lễ

Ngày mùng 7 tháng giêng lễ chính tại đình, tổ chức rước 2 vị đại vương là Dực Công và Tiên Cung công chúa về đình tế lễ Lễ hội xưa kia có mổ trâu đến để

tế cùng rượu ngon và ca hát 3 ngày

Trang 23

Ngày mùng 10 tháng 2 âm lịch: ngày sinh của Tiên Cung công chúa

Ngày 12 tháng 9 âm lịch: ngày mất của Tiên Cung công chúa

Các ngày khánh hạ đều làm 3 mâm cỗ gồm: thịt gà, xôi, cơm, rượu cúng tế Đình Hạ Bì có 4 đạo sắc phong thời Nguyễn và cuốn ngọc phả viết ngày mùng 8 tháng 3 niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) Do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính Phụng soạn

* Sắc phong 1: Sắc Tự Đức lục niên chính nguyệt thập nhất nhật (ngày 11 tháng giêng niên hiệu Tự Đức thứ 6 năm 1853)

Phiên âm:

Sắc: “Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần, nguyên tặng: Long huân Phổ

trạch Hoằng hy linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng thần” [23, tr.2] Hộ quốc tí

dân, nẫm trứ linh ứng Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, diến niệm thần hưu Khả gia tặng: Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng thần Nãi chuẩn hứa Bất Bạt huyện, Hạ Bì Trang y cựu phụng sự Thần kỳ tương hữu, bảo ngã lê dân Khâm tại

Hãy kính nhận lấy

* Sắc phong 2: Sắc Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật (Ngày 24 tháng 11 năm 1880), niên hiệu Tự Đức thứ 33

Phiên âm: Sắc chỉ Sơn Tây tỉnh, Bất Bạt huyện, Hạ Bì trang tòng tiền phụng

sự: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Tản Viên Sơn

tam vị thượng đẳng thần” [24, tr.3] Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kì phụng

sự Tự Đức tam thập nhất niên chính trị trẫm ngũ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo

Trang 24

chiếu đàm ân, lễ long đăng trật Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh, nhi thân tự điển Khâm tại

Dịch nghĩa: Sắc chỉ cho trang Hạ Bì, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây từ trước đã phụng thờ: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Tam vị Thượng đẳng thần núi Tản Viên” Từng được ban cấp sắc phong, cho phép thờ cúng Năm Tự Đức thứ 31 (1878) đúng dịp đại lễ trẫm tròn 50 tuổi, nên ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, theo lễ nâng bậc Đặc biệt cho phép được thờ phụng thần như cũ, ghi vào từ điển, để ghi nhớ ngày quốc khánh

Hãy kính nhận lấy

* Sắc phong 3: Sắc Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật (ngày mùng 1 tháng 7 năm 1887), niên hiệu Đồng Khánh thứ 2

Phiên âm: Sắc “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn

tĩnh Tản Viên sơn tam vị Thượng đẳng thần” [25, tr.4] Hướng lai hộ quốc tý dân,

nẫm trí linh ứng, mông ban cấp tặng sắc lưu tự Tí kim phi ưng cảnh mệnh, diến niệm thần hưu Khả gia tặng: Dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần Nãi chuẩn hứa Sơn Tây tỉnh, Bất Bạt huyện, Hạ Bì xã y cựu phụng sự Thần kỳ tương hựu, bảo ngã lê dân Khâm tại

Dịch nghĩa: Sắc phong cho: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần” Từ trước đã giúp nước cứu dân, tỏ rõ linh ứng, đã được ban sắc để thờ cúng Nay trẫm nối theo nghiệp lớn, nhớ đến công lao của thần, nên gia tặng thêm là: “Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần” Cho phép xã Hạ Bì, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây được thờ phụng thần như cũ Thần hãy che chở, giúp đỡ cho dân ta

Hãy kính nhận lấy

* Sắc phong 4: Sắc Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật (ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân thứ 3 năm 1909)

Phiên âm: Sắc chỉ Phú Thọ tỉnh Thanh Thủy huyện Hạ Bì xã tòng tiền phụng

sự: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Dực bảo trung

hưng Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần” [26, tr.5] Tiết kinh ban cấp sắc

Trang 25

phong, chuẩn kỳ phụng sự Duy Tân nguyên niên phổ quang đại lễ, kính ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển Khâm tại

Dịch nghĩa: Sắc chỉ cho dân xã Hạ Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ từ trước đã phụng thờ Vị: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần” Từng được ban cấp tặng sắc, cho phép thờ cúng Năm Duy Tân thứ 1 (1907) trẫm lên ngôi Hoàng

đế, nên ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, theo lễ nâng bậc Đặc biệt cho phép được thờ cúng như cũ, ghi vào tự điển, để ghi nhớ ngày quốc khánh

Hãy kính nhận lấy

Từ đó trở đi, người dân xã Xuân Lộc năm nào cũng mở hội vào ngày sinh của Lý Dực Công, để tưởng nhớ tới công ơn của vị Thánh làng mình, cùng nhau nhớ về người anh hùng đã có công giúp dân đánh giặc ngoại xâm, cứu nước

1.2.2 Di tích đình làng Hạ Bì Hạ

Đình làng Hạ Bì Hạ được khôi phục lại năm 2001 trên nền móng cũ của ngôi đền thờ Lý Dực Công nằm ngay sát đê sông Đà (nay là đường tỉnh lộ 316) Ngôi đình được làm quay hướng Tây - Bắc, có kiến trúc kiểu chữ đinh (J), gồm đại bái 3 gian 2 dĩ và một hậu cung Kiễn trúc đình Hạ Bì hiện nay tuy không đồ sộ, bề thế như ngôi đình cổ trước kia Song với kiểu dáng kiến trúc nhà 4 mái lợp ngói âm có

4 đầu đao cong đã làm tăng thêm vẻ đẹp uy nghiêm cho ngôi đình Cùng với kiến trúc là nghệ thuật trang trí làm đẹp cho ngôi đình đã được người thợ ngày nay quan tâm chú ý từ những đầu bẩy, bức cốn nách đến các con chồng, đầu dư, cốn mê đều được đục chạm những hình rồng, vân mây hoa lá cách điệu và được sơn ta đánh bóng khiến cho ngôi đình đẹp lộng lẫy

Về lịch sử xây dựng đình Hạ Bì Hạ: có thể nói rằng đình Hạ Bì được xây dựng từ rất sớm cùng với sự hình thành làng Hạ Bì Trải qua những năm tháng chiến tranh Do thiên nhiên, lũ lụt tàn phá nên hầu hết các di sản văn hóa của làng

Hạ Bì đã bị hư hỏng cách đây hàng chục năm

Với đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn”, “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, vào năm

2001 được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ cho phép nhân dân thôn

Trang 26

Hạ Bì Hạ khôi phục lại ngôi đình để làm nơi thờ cúng các vị đã có công cứu dân, giúp nước Vì vậy trong đình hiện nay gian hậu cung được đặt làm ban thờ chính thờ Tản Viên Sơn tam vị thượng đẳng thần Gian bên trái tòa đại bái đặt ban thờ Lý Dực Công

1.2.3 Hiện vật trong di tích

Đình Hạ Bì Hạ do chiến tranh, thiên nhiên, lũ lụt tàn phá nên các hiện vật trong di tích cũng không còn được lưu giữ nhiều Hiện nay chỉ còn lưu giữ được một số hiện vật gốc có giá trị như sau:

Còn 3 đạo sắc phong gốc thời Nguyễn gồm:

Sắc Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật (Ngày 24 tháng11 niên hiệu Tự Đức thứ 33 năm 1880)

Sắc Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật (ngày mùng 1 tháng 7 niên hiệu Đồng Khánh thứ 2 năm 1887)

Sắc Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật (ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân thứ 3 năm 1909)

Một cuốn ngọc phả được viết ngày mùng 8 tháng 3 niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) Do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính Phụng soạn Hiện nay chỉ còn giữ được cuốn ngọc phả sao ngày lành tháng 7 Canh Dần niên hiệu Thành Thái thứ 2 (1890) gồm 25 trang

Một cỗ ngai thờ cao 1,20m được sơn then tạo dáng đẹp, đục chạm trang trí mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ 19) Cỗ ngai vàng hiện nay được đặt ở ban thờ Lý Dực Công

Hiện vật được công đức sau khi tôn tạo đình Hạ Bì gồm đồ gỗ có:

Trang 27

Nghĩa là: Sinh ra dốc lòng tham dự vào việc hóa sinh của trời đất

Bốn vị thánh danh lưu truyền không bao giờ mất

Bức đại tự treo ở ban thờ Lý Dực Công: “Bảo long từ”, nghĩa là đền Bảo Long; Bức nghi môn chạm lưỡng long chầu nguyệt treo ở ban thờ Lý Dực Công; Đôi câu đối ghi: “Phù Hùng vận vương thần hào kiệt

Lịch sử lưu đại đức hậu phương”

Lịch sử ghi công đức đó đối với dân

Ngoài ra đồ gỗ còn rất nhiều như: đài rượu, ống hương hoa, cây nến, mâm bồng…

Đồ đồng còn có: 1 đỉnh đồng cao 50 cm; 4 con hạc đồng cao 30 cm; 3 lư hương đồng cao 25 cm; 2 cây nến đồng cao 30 cm

1.2.4 Diễn trình lễ hội

1.2.4.1 Công tác chuẩn bị

Lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ là lễ hội truyền thống thường niên, hình thành từ

xa xưa, được nhân dân trong thôn Hạ Bì đứng ra tổ chức hàng năm

Từ giữa tháng hai đến đầu tháng ba âm lịch, Ban quản lý di tích cùng Ban Khánh tiết và đại diện thôn họp để bàn công việc chuẩn bị lễ hội, phân công nhiệm

vụ, trách nhiệm của từng ban ngành trong thôn Việc hệ trọng có tính quyết định cho toàn bộ diễn trình lễ hội là công việc cắt cử, chọn người tham gia các vai như ông chủ Tế, ban thờ tự, lực lượng tham gia đội tế, và đội quân rước kiệu,… Song hành với việc phân bổ, lựa chọn các vai chính trên đây, Ban Khánh tiết đề xuất các yêu cầu chuẩn bị trang phục cho buổi lễ, kiểm tra các loại dụng cụ và các loại đồ thờ cúng phục vụ các công đoạn của lễ hội

Việc lựa chọn chủ Tế và ban thờ tự

Dựa vào tục lệ, Ban quản lý di tích đình làng Hạ Bì Hạ trực tiếp điều hành việc lựa chọn người trong thôn Hạ Bì bao gồm: Ông Chủ tế (chủ hội tế, người có quyền cao nhất); ông Thục từ (ông từ chính ở điện chính tam vị); ông Từ phụ (trong ngày hội chính mới có ông này); ông nội dẫn (là người đứng tuổi, nắm được các nội dung để hướng dẫn ông Chủ tế trên điện); ông hành văn (viết các bài văn trước khi

Trang 28

tế lễ); ông đọc chúc (có nhiệm vụ đọc khi tế lễ); ông đông xướng (đứng để hô các lệnh xướng); ông tây xướng (có nhiệm vụ khi lễ bái hô để người ta đứng nghiêm lại); 2 ông dâng đăng (đứng đầu hàng hai bên dâng đăng hoặc hương vào nội điện);

2 ông dâng rượu vào ban Đức thánh Tam vị (ông đông xướng dâng rượu vào ban Tam vị); 2 ông dâng rượu vào ban đồng tế (khi đông xướng thì dâng rượu vào ban đồng tế); 3 ông bồi tế (luôn luôn quỳ ở cuối hàng phục vụ chủ tế khi hành lễ) Cuối tháng hai 2 âm lịch, Ban Quản lý di tích đình làng Hạ Bì Hạ phải công bố những người được chọn để tham gia vào buổi tế lễ linh thiêng

Khi được lựa chọn vào vai ông chủ Tế, hành văn, đọc chúc, người được chọn

và gia đình coi như một niềm vinh hạnh Bởi lẽ, việc được lựa chọn vào các vai trên

là vinh dự cho gia đình, dòng họ, vừa được thay mặt dân làng tế Thánh, nhưng cũng đòi hỏi người đóng các vai phải có tư cách đạo đức tốt, có sức khỏe và tinh thần vì cộng đồng; phải là người không có “bụi bặm” nghĩa là những người mẫu mực trong làng, gia đình song toàn, không có tang gia, không được có 2 vợ,…

Việc lựa chọn đội quân rước kiệu

Đội quân rước kiệu được lựa chọn bao gồm: có 2 kiệu, mỗi kiệu 8 người rước, 8 người vác bát biểu Những người trong đội quân rước kiệu đều là những thanh niên khỏe mạnh trong thôn Hai cháu vác cờ lớn; 4 cháu vác cờ nhỏ; 2 cháu khiêng trống, rước trống; 2 cháu rước chiêng, khiêng chiêng Các cháu được chọn đều là những cháu chăm ngoan, học giỏi của các gia đình trong thôn chọn ra 2 ông quan viên vác lọng; 1 ông đánh trống cái; 1 ông đánh chiêng; 1 ông cai loa; 1 ông tổng chỉ huy; 2 ông đánh trống con và 6 cụ vãi đi hộ lễ Các cụ đều là những người mẫu mực trong làng tham gia vào buổi lễ

Trang 29

Được sự quan tâm của các cấp chính quyền: trước khi tổ chức lễ hội đại diện Ban quản lý di tích của thôn phải lập tờ trình báo cáo đầy đủ về việc tổ chức lễ hội

về xã, để xã triển khai chuẩn bị tốt về an ninh, trật tự của thôn trong quá trình diễn

ra lễ hội được đảm bảo Xã sẽ có nội dung cụ thể hướng dẫn thôn tổ chức lễ hội với phương châm vui chơi lành mạnh nhưng phải thực hành tiết kiệm, đảm bảo không

có hiện tượng mê tín dị đoan, thần thánh hóa,… Xã là trưởng ban tổ chức, thôn là phó ban Lãnh đạo xã trực tiếp xuống chỉ đạo, cán bộ xã hàng năm luôn quân tâm

về dự lễ hội, giúp thôn chuẩn bị lễ hội một cách chu đáo

Các tục hèm kiêng trong lễ hội

Chữ húy kiêng: Dực, Sùng, Bạch

Màu cấm dùng: hồng, tía, vàng

Trình tự diễn trình chuẩn bị trước khi vào chính hội

Ngày mùng 5 tháng 3 (âm lịch): Làm lễ lau chùi các đồ thờ trong đình Công việc do các cụ trong ban Khánh tiết khu di tích đình làng Hạ Bì hạ thực hiện Các vật dụng phục vụ lễ hội làm lễ tế Thánh như: cờ, trống, chiêng, cùng các trang phục khác (lọng, quần áo, cán cờ,…)

Sáng ngày mùng 6 tháng 3 (âm lịch): Trang hoàng, bài trí toàn bộ quang cảnh trước đình, trong đình, nội dung: dựng cờ hội, bát bửu,… nhằm mục đích tăng

sự tôn nghiêm, lộng lẫy và hoành tráng của lễ hội

Chiều ngày mùng 6 tháng 3 (âm lịch): Đội quân rước kiệu tập trung, luyện tập nghi lễ theo nghi thức

1.2.4.2 Phần lễ

Hàng năm, từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch nhân dân khu 3

Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ vẫn luôn long trọng tổ chức ngày hội tưởng nhớ tới ngày sinh của Lý Dực Công - người anh hùng dân tộc đã

có công xây dựng làng, lập ấp, hướng dẫn nhân dân cách trồng trọt làm nghề nông

Mục đích tổ chức ngày lễ:

Để tỏ lòng biết ơn công đức của vị thành hoàng Lý Dực Công và để truyền lại cho con cháu muôn đời sau nhớ tới ơn công lao to lớn của người anh hùng đã có

Trang 30

công đánh giặc cứu nước, hướng dẫn nhân dân cách làm ăn nhân dân làng Hạ Bì Hạ

đã tôn ông làm thành hoàng làng và lập đền thờ Nhân dân trong làng đã lấy ngày mùng 8 tháng 3 âm lịch là ngày ngài sinh thần để làm ngày cúng tế, tưởng nhớ tới Ngài Đến với lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ mọi người đều cầu mong cho gia đình được hạnh phúc, sức khỏe dồi dào, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh, đất nước thanh bình phát triển

Cùng thời gian Lý Dực Công chống giặc ngoại xâm cũng là thời gian tại đây

bà Tiên Cung công chúa tham gia đánh giặc trên khúc sông Đà Giang và bị quân giặc vậy bắt với nghị lực kiên cường, bất khuất, không chịu đầu hàng quân giặc bà

đã tự hóa thân mình Và cũng để tưởng nhớ đến công đức của bà, nhân dân làng Hạ

Bì Hạ đã lập đền thờ tưởng nhớ đến bà ngay tại bến sông Đà Giang, nơi bà đã hóa thân mình vì dân tộc Đây không chỉ là nơi lưu lại dấu thiêng về vị nữ anh hùng,

mà còn là nơi lưu lại quá trình đánh giặc giữu nước của dân tộc thời bấy giờ

Được biết bà là vợ của Lý Dực Công nên nhân dân trong làng tổ chức đồng

tế vào ngày mùng 8/3 âm lịch Hàng năm, cứ đến ngày này nhân dân làng Hạ Bì Hạ lại long trọng tổ chức ngày hội tế Thánh

Trải qua nhiều năm tồn tại, lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ vẫn lưu giữu được nhiều hình thái văn hóa phi vật thể được trình diễn đặc sắc và hấp dẫn như: tế lễ, cỗ tiến Thánh, lễ rước nước,… Đó là những nét đẹp trong lễ hội đình Hạ Bì, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng của người dân mang dòng máu Lạc Hồng

Để ngày tế thánh được trang nghiêm và linh thiêng nhân dân làng Hạ Bì Hạ

từ ngàn đời xưa đến nay vẫn thường duy trì và tổ chức như sau:

Lễ hội được tổ chức bắt đầu từ ngày mùng 5 tháng 3 âm lịch Buổi chiều ông

Từ thắp hương kính cáo thánh (lễ giao thư)

Sáng ngày mùng 7 tháng 3 dân làng tổ chức rước nước Người lấy nước bao gồm ông Chủ tế, ông đọc chúc, ông hành văn, ra ngồi thuyền lấy nước đổ vào bình Nước được lấy ở giữa dòng Đà Giang (bằng thuyền tư cắng của dân ) Sau đó, nước được rước về cung điện thờ và một phần để bảo quản đồ thờ Sau khi rước nước xong các cụ tiếp tục bảo quản đồ thờ và trồng kiệu

Trang 31

Chiều ngày mùng 7 tháng 3 tổ chức cáo tế Lúc này các cụ làm lễ, đọc hai bản văn cáo tế gồm có văn tế Tản Viên và Văn tế Đức Bản Thổ:

Văn tế Tản Viên:

“Thánh vương hà hải tư trung, sơn xuyên anh dục, càn khôn hập đức, tự cổ

tới linh, long hổ trường xuân, đáo kim thượng túc, tải cử cựu nghi, trùng thân ca khúc, minh xuất nhập tịch, tịch lại cáo chúc thượng chiếu dụng thành vinh thùy hồng phúc

được làng cử ra rất “trong sạch” không có “bụi bặm” nghĩa là các thanh niên được

chọn đều là những người chăm chỉ trong làng, có phẩm chất đạo đức tốt, gia đình không có tang, không nghiện hút, chấp hành tốt trong thôn xóm,… để dùng kiệu bát cống đón bát hương ngoài đền vua Bà đưa về đình đồng tế

Cùng với đoàn rước kiệu còn có 3 ông bô lão trong làng, một ông đánh trống, một ông đánh chiêng và một ông tổng chỉ huy là người tiêu biểu của dòng họ

Trang 32

hướng dẫn con cháu khiêng kiệu Bên cạnh đó còn có một ông cai loa, một ông cai

cờ tuổi trung niên trong làng Tất cả những người được chọn đều là những người tiêu biểu và được lựa chọn một cách cẩn thận Đi theo đoàn rước có 2 cụ bà rước lộng rất trang nghiêm

Kiệu được rước từ giữa đình làng đến đền vua Ông, đến trước cửa điện vua Ông thì dừng lại Lúc này, vai trò của cụ Từ rất quan trọng, cụ Từ sẽ là người thay mặt dân làng lên ban dâng bát hương từ đền vua Ông sang kiệu, để tiếp tục đi rước bát hương từ đền vua Bà về ban đồng tế ở đình Đền vua Bà cách đền vua Ông khoảng chừng 5m, trong quá trình rước kiệu từ đình đến đền vua Bà kiệu liên tục được đặt trên vai chứ không được hạ xuống Khi rước bát hương từ đền vua ông ra đền bà, đến ngã 3 thì đoàn rước rẽ vào đền Bà và dừng lại trước ngõ Lúc này quân kiệu bắt đầu tổ chức lượn quân, quân rước kiệu như quân cầm cờ bát biểu chạy lượn vòng quanh kiệu ngược chiều nhau 3 vòng Tiếp đến ông cai loa và mọi người đều

hô hoán to câu “A ha…A ha” để tạo không khí vui mừng, phấn khởi được đón vua Ông, vua Bà về đồng tế trong ngày lễ lớn

Sau đó, kiệu lại được tiếp tục rước đi, khi rước đến đền vua Bà thì kiệu được dừng lại trước cửa điện Lúc này ông Từ và ông Chủ Tế lại đại diện cho dân làng chuyển bát hương từ ban thờ vua Bà sang kiệu cùng với bát hương của ban thờ vua Ông Kiệu lại tiếp tục được rước đi và rước quanh làng, đón kiệu bà về đình làng để

dự lễ Khi về đến đình làng thì kiệu được dừng lại trước ban thờ đồng tế, lúc này ông Từ và ông Chủ Tế cùng nhau chuyển bát hương lên ban đồng tế Như vậy, việc rước kiệu được kết thúc Hôm sau việc rước trả bát hương của vua Ông và vua Bà trở về ban thờ của mình cũng diễn ra như vậy

Khi rước xong, đoàn rước kiệu được nghỉ giải lao, đại diện các dòng họ và các gia đình trong làng bắt đầu lần lượt mang lễ ra để dâng tế Vua Hùng, Thánh Tản Viên và Thành hoàng họ Lý, tỏ lòng biết ơn và cầu mong trong năm mưa thuận gió hòa, gia đình bình yên vô sự

Công việc rước vua Ông, vua Bà về ban đồng tế đã hoàn thành, vào khoảng 5 giờ 30 phút đến khoảng 8 giờ 30 phút nhân dân trong làng bắt đầu mang lễ ra để tế

Trang 33

Thánh, tỏ lòng biết ơn và cầu mong cho gia đình luôn được thánh che chở Lễ vật gồm có bánh dày, chè kho đó là hai lễ vật không thể thiếu trong mọi ngày lễ, dù là chính lễ hay mùng 1, ngày rằm, đồng thời nó cũng được coi là đặc sản của Hạ Bì Ngoài ra còn có xôi, hoa quả,…

Vào khoảng 9 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút sẽ là thời gian tổ chức tế lễ, lúc này ông Chủ Tế sẽ đọc chiếu sắc và đọc chúc Đây là những giây phút linh thiêng nhất, và cũng phải vào lúc này chiếu sắc mới được mở ra, còn bình thường sẽ luôn được giữ kín Ông Chủ Tế sẽ tiếp tục đọc 6 bài văn cáo tế, trong đó 2 bài văn cáo tế chiều ngày mùng 7 tháng 3 đó là văn tế Tản Viên và văn tế Đức Bản Thổ như đã nêu trên Còn lại là 2 bản văn tế sáng mùng 8 tháng 3 và 2 bản văn tế chiều mùng 8 tháng 3 đó cũng là văn tế Tản Viên Sơn và văn tế Đức bản Thổ

Văn tế sáng mùng 8 tháng 3: văn tế Tản Viên Sơn

“Thánh vương sơn xuyên dục tư, hà hải giáng thần Hiển chạc hoàng hưu Thiên kỷ vạn kỳ tô xích tỷ Nhất phường dân Tư nhân thiết Tuân cổ lệ Thích phùng tam nguyệt quỷ xuân Cung trần yết lễ Thích dĩ an vân

Thực lại

Thánh vương linh chí đức lượng dã

Cẩn cốc”

Văn tế sáng mùng 8 tháng 3: văn tế Đức Bản Thổ

“Đại vương công biểu sơn cao đức đồng nhật chiếu Hiển ứng cái nan danh,

anh linh bất khả đạo viện nhân quý xuân, thức tuân ư cổ lệ, chính nhật lai tuần thích tự ư kim chiều vu tư dự cáo phượng ngưỡng dám hấm Hạ phù cự tiểu

Thực lại

Đại vương chi mặc tướng dã

Cẩn cốc”

Văn tế chiều mùng 8 tháng 3: văn tế Tản Viên

“Thánh vương danh cao nhất đẳng, vị quân bách vương, quyết linh chạc chạc, tại thượng dương dương, quý xuân tích dục, lễ cáo kiều tương, nguyền kỳ dám cách, tích dĩ xi sương, dân khang vật phụ cự tiểu thường cường

Trang 34

Văn tế chiều mùng 8 tháng 3: văn tế Đức Bản Thổ

“Đại vương kỳ nghi bất trắc, quyết đức duy lương, hữu thổ hữu nhân, diễn

vô cùng ư vạn dị, tại thượng tại tả, lưu khởi kính ư nhất phương, hòa thực Chi quý xuân thích miếu sướng ca chi cựu lễ kiều tương, thường ký mặc lâm cách Thính tích dĩ chính tường ấp trung minh huyền, tung chi thanh ấu tráng tất văn tất đạt, phương nội hữu an ninh chi khánh tuế thời tỵ xi tỵ sương

Thực lại

Đại vương phù chi chi liệt dã

Cẩn cốc

Vị tiều viết sinh thần Đức Bản Thổ tất kính lễ dã

Hai duệ hiệu vua ông - vua bà”

Mọi công việc đã được hoàn tất, khi đã đọc xong các bài văn cáo tế mở đầu cho việc tế lễ, lúc này ban tổ chức lế hội đánh 3 hồi trống, báo cho tất cả mọi người vào vị trí của mình, tất cả các quan viên đứng thành hai hàng nơi chuẩn bị tế thánh Buổi tế lễ được bắt đầu, 2 người đánh chiêng, trống đánh liên tục 3 hồi chiêng và 3 hồi trống, rồi tiếp sau đó mỗi người lại đánh thêm 3 tiếng nữa, ban nhạc lễ hội nổi nhạc, không khí lúc này thật thành kính và trang nghiêm

Mở đầu ông Chủ Tế thắp tuần hương thứ nhất Lúc này ông Đông Xướng giữ vai trò quan trọng, đứng để hô các lệnh xướng cho Chủ Tế và các quan viên hành lễ Ông Đông Xướng bắt đầu hô to, giọng dõng dạc:

Trang 35

Chấp sự giải các tư kỳ sự: nghĩa là các quan viên chuẩn bị rửa tay

Tế chủ cấp các chấp sự giả nghệ quán tẩy sở - quán tẩy: tế chủ và các quan viên rửa tay

Thuế cân: lau tay

Bồi tế viên tựu vị: bồi tế và các quan viên vào chiếu

Tế chủ quan tựu vị: chủ tế vào chiếu 2

Thượng hương: 2 quan viên dâng hương, chủ tế lên chiếu trên, chủ tế lấy hương, quỳ và vái 2 vái, rồi đưa cho 2 quan viên dâng lên ban thờ, hương và nến được dâng vào nội điện, chủ tế đứng tại chỗ

Nghinh thánh vương cúc cung bái: chủ tế và bồi tế lễ 4 lễ theo đông xướng

và tây xướng, hông bái

Bình thân: đứng nghiêm

Hành sơ hiến lễ: nghĩa là tế rượu lần đầu

Nghệ tửu tôn sở tư tương giả cử mịch: chủ tế ra mâm rượu

Chuốc tửu: chủ tế ra mâm rượu bái, mở nút rượu và rót rượu

Nghệ hương án tiền: chủ tế, nội dẫn và các quan viên bưng đài rượu và đi lên ban vào chiếu thần, đặt đài rượu xuống, lúc này chủ tế vào chiếu thần

Qụy: chủ tế quỳ ở chiếu thần, đây là chiếu chỉ riêng ông chủ tế mới được ngồi ở giữa đình

Tiến tước: chủ tế dâng đài rượu vái và đặt xuống

Hiến tước: các quan viên dâng đài rượu tiến lên ban rồi quay xuống vị trí cũ Phủ phục: chủ tế vái 1 vái, hông chủ tế dậy

Bình thân: chủ tế đứng dậy, đứng nghiêm

Phục vị: chủ tế về chiếu chủ, chuẩn bị đọc chúc

Nghệ đọc chúc vị: chủ tế và ông đọc văn, ông đài nến 3 người cùng đi lên chiếu đầu

Giai quỵ: chủ tế đọc chúc và quỵ ở chiếu thần

Chuyển chúc: người chuyển chúc từ ban xuống

Tuyên đọc: chủ tế vái xong đưa cho người đọc

Ngày đăng: 12/10/2015, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w