1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập luyện từ và câu

74 695 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 753,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà ngữ pháp của học phái A-lêch-xăng-đri định nghĩa danh từ và động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo khái niệm do chúng thể hiện: “Danh từ là từ loại biến các

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THU HƯƠNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn

cô giáo Nguyễn Thu Hương- người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp

đỡ chúng em hoàn thành khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy (cô) giáo trong Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa Giáo dục Tiểu học, thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Hùng Vương, Trường Tiểu họcNam Viêm – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc trong suốt quá trình chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thực nghiệm khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K37B – GDTH đã tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Thị Ninh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đưa ra trong khóa luận là trung thực,chính xác và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn ThịNinh

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và khách thể 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc đề tài 5

PHẦN 2 NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂUKHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦA HỌC SINH 7

1.1 Từ loại 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt 7

1.1.3 Tiêu chí phân định từ loại 8

1.1.3.1.Ý nghĩa ngữ pháp khái quát 8

1.1.3.2 Hình thức ngữ pháp 9

1.1.4 Kết quả phân loại từ loại 10

1.1.4.1 Thực từ 11

1.1.4.2 Hư từ 19

1.1.5 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4, 5 23

1.2 Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học 23

1.2.1 Vị trí của phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học 23

1.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu 24

Trang 6

1.2.2.1 Về mặt Luyện từ 24

1.2.2.2 Về mặt Luyện câu 25

1.2.3 Các nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu 25

1.2.3.1 Nguyên tắc giao tiếp 25

1.2.3.2 Nguyên tắc trực quan 26

1.2.3.3 Nguyên tắc đồng bộ, tích hợp 27

1.2.3.4 Nguyên tắc chú ý đến các đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ 28

1.2.3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp 29

1.2.4.Nội dung Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học 30

1.2.4.1 Hệ thống hóa các nội dung Luyện từ 30

1.2.4.2 Hệ thống hóa các nội dung Luyện câu 31

1.2.5 Phân môn Luyện từ và câu lớp 4, 5 31

1.3 Đặc điểm của học sinh Tiểu học 32

1.3.1.Đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh Tiểu học 32

1.3.1.1 Tri giác 33

1.3.1.2 Chú ý 33

1.3.1.3 Trí nhớ 33

1.3.1.4 Tư duy 34

1.3.1.5 Tưởng tượng 34

1.3.1.6 Ngôn ngữ 34

1.3.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học 35

1.3.2.1 Tính cách 35

1.3.2.2 Tình cảm 35

Trang 7

CHƯƠNG 2 KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦAHỌC SINH VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO

HỌC SINH LỚP 4, 5 37

2.1 Khả năng xác định từ loại của học sinh 37

2.1.1 Mục đích tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh 37

2.1.2 Đối tượng và phạm vi tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh 37

2.1.2.1 Đối tượng 37

2.1.2.2 Phạm vi 37

2.1.3 Nội dung tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh 37

2.1.4 Kết quả tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu 38

2.1.4.1 Dạng 1: xác định từ loại, tiểu loại trong câu, đoạn 38

2.1.4.2 Dạng 2: Tìm từ theo từ loại 39

2.1.4.3 Dạng 3: Điền từ loại vào chỗ trống 41

2.1.4.4 Dạng 4: Dùng từ loại đặt câu, viết đoạn 42

2.1.4.5 Dạng 5: Thay thế danh từ bằng đại từ 43

2.1.4.6 Dạng 6: Chữa lỗi sử dụng từ loại 45

2.1.5 Nguyên nhân mắc lỗi khi xác định từ loại của học sinh 46

2.2 Các biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5 48 2.2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại của học sinh 48

2.2.2 Một số biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4,5 49

2.2.2.1 Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để hình thành kiến thức về từ loại 49

2.2.2.2 Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học về từ loại 51

Trang 8

2.2.2.3 Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học về từ loại 53

2.2.2.4 Thiết kế các dạng bài tập nhằm nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh 54

2.2.2.5 Hướng dẫn học sinh nghiên cứu, thực hiện các dạng bài tập về từ loại 57

2.2.2.6 Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh 59

PHẦN 3 KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 9

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người, từ xa xưa, ông cha ta đã sử dụng nó như một phương tiện để giáo dục trẻ nhỏ Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của

mẹ, của bà; lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người toàn diện là việc thiết yếu.Người Việt Nam trước hết phải sử dụng thuần thục ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, học tập và nghiên cứu Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở Tiểu học nói riêng giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện

ở bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết).Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Đồng thời

là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên Thông qua việc dạy và học, tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy

Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường qui nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài; giúp học sinh bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt;

từ đó hình thành nhân cách và nếp sống văn hoá của con người Việt Nam

Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang

Trang 10

mởtrước mắt các em.Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất.Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tấtcả các môn học

Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụngngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh.Ngôn ngữ là thứ công cụ

có tácdụng vô cùng to lớn Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ

ra, nhìnthấy, biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tớiđược Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàndiện học sinh.Luyện từ và câu là phân môn chiếm thời lượng khálớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học.Nó tách thành một phân môn độc lập,

có vị tríngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn song song tồn tại với các mônhọc khác Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ, đặc biệt là những kiến thức và kĩ năng xác định, sử dụng từ loại cho học sinh là rất cần thiết và nócó thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ

sở hình thànhngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trongcác môn học khác Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa, luyện tập nhuần nhuyễntrong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4, 5

Tuy nhiên, khả năng xác định từ loại của mỗi học sinh không giống

nhau Vì vậy tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học

sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu”

Trang 11

chú ý đến tính chất vị ngữ của động từ và cho rằng động từ thể hiện vị thể của phán đoán Danh từ thì đƣợc coi là tên gọi của các sự vật

Các nhà ngữ pháp của học phái A-lêch-xăng-đri định nghĩa danh từ và động từ không phải theo các thành phần của phán đoán mà theo khái niệm do chúng thể hiện: “Danh từ là từ loại biến cách chỉ vật thể đồ đạc, đƣợc phát ngôn cả cái chung và cái riêng” “Động từ là từ loại không biến cách và thể hiện các hoạt động chủ động, bị động”

Thế kỉ XVII – XVIII, các nhà ngữ pháp duy lý lại đặt trở lại mối quan

hệ giữa từ loại và các phạm trù của lô-gic, cụ thể là mối quan hệ giữa động từ với vị thể của phán đoán Danh từ và tính từ đƣợc giải thích nhƣ là những từ chỉ sự vật không xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định mà ngẫu nhiên đối với bản chất sự vật

Trong nhiều năm, mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù lô-gic chƣa đƣợc giải quyết một cách thỏa đáng Phải đến cuối thế kỉ XIX vấn đề từ loại tiếng Việt mới đƣợc bàn lại, theo đó vấn đề từ loại đƣợc xem xét:

Năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ

loại), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệpquan tâm đến các

vấn đề:

- Bản chất và các đặc trƣng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại

- Hệ thống các từ loại tiếng Việt

- Từ loại là các phạm trù của tƣ duy

Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ điển tiếng Việt hiện đại, Nhà

xuất bản Giáo dục nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm về từ loại; đối tƣợng, tiêu chí, mục đích phân định từ loại Đặc biệt, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống

từ loại cơ bản, ranh giới giữa từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản

Đến năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo

Dục, khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đƣa ra ba tiêu chuẩn để phân định từ loại tiếng Việt: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp,

Trang 12

chức vụ cú pháp Ngoài ra, khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hai lớp lớn: Thực từ và hư từ Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực từ: danh từ, động từ, tính từ

Và gần với đề tải của chúng tôi nghiên cứu là cuốn Ngữ pháp tiếng

Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006, tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn

Thung đã dành ra một chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm

là tiêu chuẩn phân định từ loại và hệ thống từ loại tiếng Việt Theo tác giả, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm:

Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) Đồng thời, tác giả có sự lý giải cho các sắp xếp trên

Những cuốn sách trên chỉ viết trên cơ sở lí luận mà không được thực nghiệm ở trường Tiểu học Nhận thức được tầm quan trọng của việc gắn lý thuyết với thực tiễn, gắn việc tiếp thu tri thức và thực hành tri thức, chúng tôi mạnh dạn tiến hành điêu tra thực nghiệm về khả năng xác định từ loại của học sinh Tiểu học Từ đó có cơ sở đề ra biện pháp tổ chức dạy học phù hợp nhằm giúp học sinh xác định từ loại đạt hiệu quả tốt nhất

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từvà câu, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5

4 Đối tượng và khách thể

- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4,

5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp

4, 5thông qua các bài tập Luyện từ và câu, cụ thể tại Trường Tiểu học Hùng

Trang 13

Vương – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc và Trường Tiểu học Nam Viêm

- Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cở sở lí luận của việc tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

- Hệ thống bài tập Luyện từ và câu khảo sát khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5

- Đề xuất biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập Luyện từ và câu

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận

Trên cở sở sử dụng các thao tác của tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,…để nghiên cứu tài liệu liên quan nhằm thu thập thông tin cần thiết làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, quan sát hoạt động của giáo viên, học sinh để tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh

- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện với giáo viên và học sinh để tìm hiểu khả năng xác định từ loại và những khó khăn trong quá trình xác định từ loại của học sinh

- Phương pháp điều tra giáo dục: Tiến hành điều tra bằng phiếu bài tập đối với học sinh nhằm thu thập những thông tin về khả năng xác định từ loại của học sinh

- Phương pháp thống kê toán học: Dùng phương pháp thống kê số liệu

để từ đó rút ra những đánh giá cần thiết

8 Cấu trúc đề tài

Đề tài được cấu trúc gồm 2 chương:

Trang 14

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh

Chương 2: Khả năng xác định từ loại của học sinh và các biện pháp nâng cao khả năng xác định từ loại cho học sinh lớp 4, 5

Trang 15

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU KHẢ NĂNG XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CỦA HỌC SINH

1.1 Từ loại

1.1.1 Khái niệm

Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo

ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu(Đinh Văn Đức, 1986)

Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp, theo bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên) Trong cuốn Từ điển tiếng Việt (2008) định nghĩa “Từ loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như: danh từ, động từ, tính từ,…”

Vậy, theo chúng tôi, từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp Muốn phân định được từ loại cần xác định được đặc điểm ngữ pháp (bao gốm cả ý nghĩa ngữ pháp khái quát) của từ

1.1.2 Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt

Phủ nhận sự tồn tại của từ loại, tác giả Hồ Hữu Tùng cho rằng: Tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn so với các ngôn ngữ phương Tây (không có

sự biến đổi hình thái) do đó không có từ loại, mà tuỳ thuộc vào vị trí trong câu

mà có tính chất (thuộc tính) nhất định, một từ có thể có nhiều thuộc tính khác nhau

Thừa nhận sự tồn tại của phạm trù từ loại Tuy nhiên trong nhóm này

có những khác biệt trong việc nhận định, phân loại:

- Thuần túy ý nghĩa khái quát (Trần Trọng Kim)

Trang 16

- Chức vụ cú pháp (Phan Khôi): một từ có thể thuộc về nhiều từ loại khác nhau

- Khả năng kết hợp (Nguyễn Tài Cẩn):

+ Khả năng làm trung tâm của cụm từ, ngữ

+ Khả năng làm thành tố phụ của ngữ

1.1.3 Tiêu chí phân định từ loại

Trong tiếng Việt, người ta dựa vào các tiêu chí sau đây để phân chia các từ thành từ loại:

1.1.3.1.Ý nghĩa ngữ pháp khái quát

Ý nghĩa ngữ pháp khái quát của từ bao gồm các nét nghĩa liên quan đến

từ vựng (ý nghĩa từ vựng khái quát) và các nét nghĩa liên quan đến ý nghĩa ngữ pháp (ý nghĩa tình thái, ý nghĩa quan hệ)

Ý nghĩa ngữ pháp khái quát là loại ý nghĩa phạm trù có mức độ khái quát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng từ loại Ví dụ: các từ

ăn, chạy, đánh, đào, viết, mua có ý nghĩa khái quát chung là chỉ hoạt động;

các từ tốt, đẹp, tối, thẳng, cao, thơm có ý nghĩa khái quát chung là chỉ tính

chất, đặc điểm

Trong một phạm trù ý nghĩa lại có các ý nghĩa khái quát ở mức độ thấp hơn.Các ý nghĩa khái quát thấp hơn này là tiêu chí để phân chia một từ loại thành các tiểu loại

Ý nghĩa khái quát là một tiêu chí quan trọng và ý nghĩa ngữ pháp của từ chi phối những đặc điểm trong hoạt động ngữ pháp của từ Nhưng nếu chỉ căn

cứ vào ý nghĩa khái quát thì không thấy được những đặc điểm khác biệt của

từ loại trong các ngôn ngữ khác nhau, trong các loại hình ngôn ngữ khác nhau, không thấy được sự thống nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp, chức năng ngữ pháp của từ.Vả lại, việc phân định từ loại chỉ dựa trên tiêu chí ý nghĩa sẽ không có tác dụng tích cực đối với thực tiễn sử dụng khi

Trang 17

đưa từ vào hoạt động giao tiếp (nói, viết).Vì thế ngoài tiêu chí về ý nghĩa khái quát, cần phải sử dụng các tiêu chí về hình thức ngữ pháp

1.1.3.2 Hình thức ngữ pháp

Hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ

mà bộc lộ trong hoạt động cấu tạo các đơn vị lớn hơn: cụm từ và câu Vì vậy,

để xem xét các phương diện hình thức ngữ pháp của tiếng Việt, cần dựa vào khả năng kết hợp của từ khi cấu tạo cụm từ và dựa vào khả năng đảm nhận các thành phần câu (chức năng cú pháp của từ)

a Khả năng kết hợp

Khả năng kết hợp của từ là sự phân bố của từ trong hoàn cảnh giống nhau hoặc khác nhau khi chúng kết hợp với từ khác.Các từ được phân bố cùng một vị trí, trong cùng một hoàn cảnh giống nhau có thể tập hợp thành một từ loại

Ví dụ: các từ người, nhà, con, cái, chiếc,… đều có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước và các từ này, kia, đó, ấy, nọ ở phía sau, chúng được tập hợp thành từ loại danh từ; các từ ăn, suy nghĩ, đọc, vác,… đều

có thể đứng sau đã, đang, sẽ, đứng trước xong, rồi,… chúng được tập hợp

thành từ loại động từ…

Khả năng kết hợp các vị trí phân bố giống nhau là tiêu chuẩn tích cực đối với từ loại này và là tiêu chuẩn tiêu cực đối với từ loại khác (tiêu chuẩn đối lập các từ loại)

b Chức năng ngữ pháp của từ

Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp của từ trong câu không giống nhau Hoạt động cấu tạo của câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm của hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt câu của câu đơn bình thường Có thể phân biệt những từ có thể đảm nhận vai trò các thành phần chính (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ) và các từ chỉ đảm

Trang 18

nhận được vai trò các thành phần phụ (phụ từ), hoặc chỉ đảm nhận vai trò kết nối các thành phần câu (quan hệ từ) Ngoài ra, còn có các từ không đảm nhiệm vai trò cấu tạo một phần nào trong cấu trúc ngữ pháp của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái của câu (tình thái từ).Các từ có chức năng ngữ pháp điển hình giống nhau có thể được xếp vào cùng một từ loại.Những từ thuộc các loại khác nhau (thường) có chức năng ngữ pháp điển hình không giống nhau

Có thể phân biệt các từ có thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính (danh từ, động từ, tính từ, đại từ) và các từ thường đảm nhiệm vai trò thành phần phụ (số từ, phụ từ), hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò kết nối các thành phần trong câu (quan hệ từ).Ngoài ra, còn có các từ không đảm nhiệm vai trò cấu tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái (tình thái từ, trợ từ, thán từ)

1.1.4 Kết quả phân loại từ loại

Nhìn một cách tổng quát, các từ của tiếng Việt trước hết được phân biệt theo các đặc điểm về ý nghĩa và các đặc điểm về hình thức trong hoạt động ngữ pháp thành hai phạm trù hớn là thực từ và hư từ

Thực từ có nghĩa từ vựng thực, thường gắn với chức năng tri nhận và định danh các đối tượng của hiện thực; có khả năng đảm nhiệm vai trò các thành tố chính và cả vai trò các thành tố phụ trong cấu tạo cụm từ và của câu;

có thể độc lập tạo câu đặc biệt

Hư từ cũng có nghĩa nhưng ý nghĩa của hư từ không thể liên hệ với một đối tượng nào trong thực tế, do đó hư từ không thể thực hiện chức năng định danh.Hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa tình thái và không thể đảm nhiệm được vai trò thành tố chính trong cấu tạo của cụm từ và câu Nó chỉ có thể đi kèm với các từ để làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ; biểu thị quan hệ giữa các từ, cụm từ, các câu; làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái

Trang 19

Cả thực từ và hư từ đều cần thiết và không thể thiếu đối với hoạt động ngôn ngữ, nhất là đối với ngôn ngữ dùng hư từ là một trong những phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt

1.1.4.1 Thực từ

a Danh từ

Danh từ là những thực từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (bao gồm các thực thể như người, động vật, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần) Ví dụ:

người, học sinh, công nhân, mèo, chim, bàn, ghế, hoa, công ti, tình yêu,…

Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số, chỉ lượng ở trước và các

đại từ chỉ định (này, nọ, kia, ấy, đó) ở sau để tạo nên một cụm từ chính phụ

mà nó là trung tâm Ngoài ra có thể nhận diện danh từ căn cứ vào khả năng

kết hợp với từ nghi vấn nào ở phía sau để tạo thành câu hỏi Những từ không

có khả năng đó không phải là danh từ

Danh từ có thể đảm nhiệm vai trò của thành phần phụ và thành phần chính trong câu

Các tiểu loại của danh từ không biểu hiện các đặc điểm trên một cách đồng đều mà ở các mức độ khác nhau

a1.Danh từ riêng

Danh từ riêng là những danh từ chỉ tên riêng của người hoặc sự vật.Là tên riêng của một cá thể xác định nên danh từ riêng không cần xác định về lượng và không cần chỉ định để phân biệt với các cá thể khác Do vậy, danh từ riêng kết hợp hạn chế với các từ chỉ số lượng và các từ chỉ định Chỉ khi trùng tên, ta mới sử dụng các định ngữ chỉ lượng và các định ngữ hạn định cho danh

từ riêng Các danh từ riêng đều được phân biệt bằng cách viết hoa theo những quy định chung của chữ viết tiếng Việt hiện nay

a2 Danh từ chung

Trang 20

Danh từ chung là những danh từ gọi tên chung tất cả các cá thể trong cùng một lớp sự vật Hệ thống danh từ chung bao gồm một số lượng rất lớn Chúng thường được phân biệt theo các diện đối lập thành danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp

Danh từ tổng hợp chỉ gộp các sự vật khác nhau nhưng gần gũi với

nhau, thường đi đôi với nhau và hợp thành một loại sự vật Ví dụ: nhà cửa, xe

cộ, máy móc, quần áo,…

Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với các số từ (chính xác),

không kết hợp với danh từ chỉ đơn vị cá thể (con, cái, chiếc,…) nhưng có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ tổng thể ( tất cả, cả, toàn thể, hết thảy,…) và các danh từ chỉ đơn vị tổng thể (bọn, bộ, đoàn, tốp, đống,…) Ví dụ: không nói ba quần áo, bốn nhà cửa, cái quần áo, ngôi nhà cửa,… mà có thể nói tất

cả quần áo, chồng sách vở, toán binh lính,…

Về cấu tạo, danh từ tổng hợp thường có cấu tạo theo kiểu từ ghép đẳng

lập, có thể có tiếng mờ nghĩa ( ví dụ: đất nước, quần áo, xe cộ,…)

Danh từ trừu tượng chỉ các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh

thần Ví dụ: niềm vui, nỗi buồn, cái đẹp, tư tưởng, đạo đức,… Chúng có thể kết hợp trực tiếp được với các từ có ý nghĩa số lượng (một nỗi buồn, những

phương pháp, vài vấn đề,…) Đôi khi giữa từ chỉ lượng và danh từ trừu tượng

có thể có một danh từ chỉ đơn vị (một nền đạo đức, những nỗi tâm tư, những luồng suy nghĩ,…)

- Danh từ cụ thể

Trang 21

Danh từ cụ thể là các danh từ chỉ sự vật cụ thể Trong nội bộ danh từ cụ thể lại có thể phân thành các tiểu loại như sau:

Danh từ chỉ đơn vị: Là danh từ chỉ các đơn vị sự vật Chúng kết hợp

trực tiếp sau các từ chỉ lượng Ví dụ: ba cái, bốn quyển, hai căn (nhà),… Có

các nhóm danh từ chỉ đơn vị tiêu biểu sau đây:

+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: Là các danh từ chỉ rõ dạng tồn tại tự nhiên của sự vật Chúng vừa có ý nghĩa đơn vị, vừa có ý nghĩa chỉ sự vật (được phân biệt theo quan niệm của người bản ngữ) Vì vậy, các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên còn được gọi là loại từ hay danh từ chỉ loại, danh từ loại thể

Ví dụ: con, cái, quyển, chiếc, ngôi, căn, tờ, hòn,… Các danh từ chỉ đơn vị tự

nhiên mang màu sắc hình tượng và biểu cảm Vì vậy, có nhiều danh từ chỉ đơn vị tự nhiên được dùng để biểu hiện cùng sự vật, tùy thuộc vào các nhìn

nhận sự vật trong từng tình huống Ví dụ: quả tim, trái tim; ngọn núi, đỉnh

núi; cái thuyền, chiếc thuyền, con thuyền;…

+ Danh từ chỉ đơn vị quy ước: Có những danh từ chỉ đơn vị quy ước

chính xác (mét, lít, tạ, tấn,…) và có những danh từ chỉ đơn vị quy ước không chính các ( nắm, mớ, gánh, vốc,…)

Các danh từ chỉ đơn vị trên đây dễ dàng dùng trực tiếp sau số từ nên được quy vào danh từ đếm được Thuộc các danh từ đếm được còn có các danh từ chỉ sự vật đơn thể

Danh từ chỉ sự vật đơn thể: Là các danh từ chỉ sự vật có thể tồn tại thành từng đơn thể Các sự vật đó là người (hay bộ phận cơ thể người), động

vật, cây cối, đồ vật và cả các vật thể tự nhiên Ví dụ: công nhân, học sinh, núi,

mây, sông, xe, châu chấu,…Chúng thường kết hợp với các từ chỉ số lượng

thông qua các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên Vì vậy, chúng được quy vào nhóm các danh từ đếm được (gián tiếp) hoặc nhóm các danh từ biệt loại (chỉ các sự

vật được phân loại nhờ các danh từ chỉ đơn vị) Ví dụ: hai con gà, bốn cái xe,

vài quả táo,…Trong sử dụng, có những danh từ chỉ sự vật đơnthể chuyển

Trang 22

thành danh từ chỉ đơn vị.Khi đó ý nghĩa của chúng thay đổi (nghĩa sự vật đơn thể thành nghĩa đơn vị) và các dùng cũng thay đổi (kết hợp gián tiếp với số từ thành kết hợp trực tiếp với số từ)

+ Danh từ chỉ chất liệu: Là danh từ chỉ các chất như sắt, thép, dầu, cát,

mỡ,… Khi cần tính đếm, danh từ chỉ chất liệu có thể kết hợp với từ chỉ số

lượng thông qua danh từ chỉ đơn vị quy ước (chính xác hoặc không chính

xác) Ví dụ: một lít nước, một cân đường, một ngụm nước,…

b Động từ

Cũng như danh từ, động từ là loại từ cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng Việt Động từ có ý nghĩa khái quát là chỉ hoạt động, trạng thái, tình cảm hay quan hệ, nói chung là chỉ những dạng thức vận động, biến chuyển của sự vật

về vật lí, tâm lí, sinh lí, như: nấu, làm, nhảy, chạy,…

Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ ở phía trước nó.Chức năng tiêu biểu nhất của động từ là là vị ngữ Ngoài ra, động từ có thể làm bổ ngữ, định ngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, trạng ngữ

Căn cứ vào khả năng hoạt động độc lập và ý nghĩa khái quát của từ, động từ được chia thành các tiểu loại sau:

b1.Động từ không độc lập

Động từ không độc lập là những động từ thường không đứng một mình đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải đi cùng với một từ khác hoặc một cụm từ đi sau làm thành tố phụ Tính chất không độc lập của các động từ nhóm này chỉ mang tính chất tương đối Trong điều kiện về ngữ cảnh và căn cảnh nhất định, động từ không độc lập vẫn có thể được dùng một mình làm thành phần câu

Có thể chia các động từ không độc lập thành các nhóm chủ yếu sau:

- Động từ chỉ sự cần thiết: phải, cần, nên,…

- Động từ chỉ khả năng: có thể, không thể, chẳng thể, chưa thể,…

Trang 23

- Động từ chỉ ý chí: định, toan, dám, quyết, nỡ,…

- Động từ chỉ nguyện vọng, mong muốn: mong, ước, muốn,…

- Động từ chỉ tình trạng tiếp thụ, chịu đựng: bị, được, phải, mắc,…

nên, trở thành, hóa ra, sinh ra,…

dừng, kết thúc,…

b2 Động từ độc lập

Động từ độc lập là những động từ có thể dùng được một mình khi đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp trong câu.Loại động từ này có số lượng lớn và gồm nhiều tiểu loại Theo ý nghĩa khái quát và khả năng chi phối thành tố phụ, các động từ này thường được chia thành hai nhóm là nội động từ và ngoại động từ

Nội động từ là những động từ chỉ hoạt động, trạng thái tự thân, không tác động tới đối tượng bên ngoài; không có thành tố phụ (trực tiếp) chỉ đối tượng tác động Nội động từ có các nhóm nhỏ tiêu biểu sau đây:

- Nhóm động từ chỉ tư thế: đứng, ngồi, nằm, quỳ,…

- Nhóm động từ chỉ sự di chuyển: đi, chạy, nhảy, ra, vào, lên, xuống,…

- Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí: băn khoăn, hồi hộp

- Nhóm động từ chỉ trạng thái tồn tại: có, còn, hết, mất, lặn, tàn,…

Ngoại động từ là những động từ chỉ các hoạt động có chuyển đến, tác động đến một đối tượng nào đó; thường đòi hỏi thành tố phụ sau (trực tiếp) chỉ đối tượng tác động Căn cứ vào ý nghĩa tiểu phạm trù và khả năng chi

Trang 24

phối các thành tố phụ sau, có thể chia ngoại động từ thành một số nhóm nhỏ sau đây:

- Nhóm động từ tác động: đóng, xé, nấu, phá,…

- Nhóm động từ chỉ sự di chuyển đối tượng trong không gian: kéo, ném,

lôi,…

- Nhóm động từ chỉ hoạt động phát nhận: tặng, trả, vay, mượn, biếu,…

- Nhóm động từ chỉ hoạt động nối kết các đối tượng: buộc, nối, hòa,

trộn, pha, liên kết,…

- Nhóm động từ chỉ hoạt động cầu khiến, gây khiến: bắt, nhờ, sai,

khiến, đề nghị, yêu cầu,…

- Nhóm động từ chỉ hoạt động đánh giá đối tượng: gọi, lấy, coi, bầu,

cử, chọn,…

- Nhóm động từ chỉ hoạt động cảm giác, tri giác, nhận thức, nói năng:

biết, nghĩ, thấy, phát biểu,…

Ranh giới các tiểu nhóm động từ như vừa nêu cũng chỉ mang tính tương đối Trong hoạt động, động từ có thể chuyển tiểu loại, chuyển nhóm, khi đó ý nghĩa và khả năng chi phối thành tố phụ của động từ thay đổi

c Tính từ

Tính từ là những từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, trạng thái; có khả năng kết hợp với các phụ từ tương tự như động từ.Tuy nhiên, tính từ ít kết hợp với phụ từ câu khiến, phần lớn tính từ dễ kết hợp với phụ từ chỉ mức độ

Giống như động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp Ngoài ra, tính từ còn có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác trong câu: bổ ngữ, định ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ

c1 Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phân biệt hai loại tính từ

Trang 25

Những đặc điểm này không thể lượng hóa được mà chỉ có thể sắc thái hóa Đó là các nhóm tính từ:

- Chỉ màu sắc: đỏ, tím, xanh, vàng, đen, xanh lè,…

- Chỉ hình dạng, kích thước: to, nhỏ, dài, ngắn, méo,…

- Chỉ mùi vị: cay, đắng, ngọt, bùi, thơm, hôi,…

- Chỉ tính chất vật lí: cứng, mềm, dẻo, căng, nhão,…

- Chỉ phẩm chất của sự vật: tốt, xấu, xinh, đẹp, hay, dở, tồi, cao thượng,

đê hèn,…

- Chỉ đặc trưng tâm lí – tình cảm: hiền, ác, sữ, lành, nóng nảy, phúc

hậu,…

- Chỉ đặc điểm sinh lí: yếu, khỏe, mạnh, cường tráng,…

- Chỉ đặc điểm trí tuệ: ngu đần, thông minh, mưu trí,…

- Chỉ cách thức hoạt động: nhanh, nhau nhẹn, chậm, chậm chạp, vững,

- Các tính từ này có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ ở trước

hoặc sau như: cực kì anh dũng, rất đẹp, cao quá,…

- Những tính từ này cũng có thể kết hợp với các thành tố phụ sau khác,

có ý nghĩa miêu tả mức độ như: đẹp như tiên, cao đến đầu, sâu đến ngực, sâu

thăm thẳm, tối om om,…

Các tính từ này không kết hợp với phụ từ chỉ mức độ Nhóm này có hai loại:

Trang 26

- Các tình từ chỉ đặc điểm phân hóa thành hai cực rõ rệt, giữa hai cực

không có các thang độ chuyển tiếp như: đực/cái, trống/mái, riêng/chung,…

- Các tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị

đi sau vừa sắc thái hóa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc

điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện như: xanh lè, xanh ngắt, đen kịt,

trắng muốt, thơm phức,…

d Số từ

Số từ là những từ chỉ số lượng hoặc thứ tự sự vật; ít có khả năng kết

hợp với thành tố phụ Các từ thường đi kèm với số từ là độ, khoảng, chừng,

quãng,… Số từ thường đi kèm và bổ sung ý nghĩa cho danh từ, do vậy chức

năng ngữ pháp thường gặp nhất của số từ là định ngữ Ngoài ra, số từ cũng có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác

Theo ý nghĩa và cách dùng, có thể chia số từ thành hai loại:

d1 Số từ chỉ số lượng

Các số từ chỉ số lượng thường đứng trước danh từ được bổ sung ý

nghĩa và trả lời cho câu hỏi bao nhiêu, mấy Có hai loại số từ chỉ số lượng:

d2 Số từ chỉ thứ tự

Các số từ này chỉ thứ tự sự vật trong mối quan hệ với các sự vật khác Chúng đứng sau danh từ được bổ sung ý nghĩa Số từ chỉ thứ tự tiếng Việt có

hình thức giống như số từ chỉ số lượng hoặc có kèm theo yếu tố số/thứ Ví dụ:

tầng năm, tầng thứ năm, phòng số mười ba,…

e Đại từ

Đại từ là những từ dùng để xưng hô, chỉ định hoặc thay thế cho các từ thuộc từ loại thực từ khác Khi thay thế cho từ thuộc từ loại nào, đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản của từ loại ấy

Để phân loại đại từ, dựa vào các căn cứ sau đây:

Trang 27

e1 Căn cứ vào chức năng thay thế

Căn cứ vào chức năng thay thế, đại từ đƣợc chia thành ba nhóm sau:

giống nhƣ danh từ nhƣ: tôi, nó, họ, chúng tôi, ấy,…

pháp giống nhƣ động từ và tính từ nhƣ: thế, vậy, như thế, như vậy,…

nhƣ số từ nhƣ: bao, bao nhiêu, bấy, bấy nhiêu, bằng nào, bằng ấy,…

e2 Căn cứ vào mục đích sử dụng

Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách đại từ thành các tiểu loại sau:

ngôi 3) và số (số ít, số nhiều) nhƣ: tôi, chúng tôi, mi, chúng bay, nó, chúng

nó,…

danh từ nhƣng cũng có thể dùng độc lập Chúng chỉ định sự vật trong không

gian hoặc thời gian nhƣ: đây, đó, ấy,…

gì), về nơi chốn (đâu), về thời gian (bao giờ), về địa điểm, tính chất (sao, nào), về số lƣợng (bao nhiêu),…

nhƣng không ám chỉ một đối tƣợng cụ thể nào nhƣ: đâu, nào, ai, mấy,…

1.1.4.2 Hư từ

a Phụ từ

Phụ từ là từ không thực hiện chức năng định danh mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó Phụ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính trong cụm từ, cũng không thể đảm nhận chức năng của các thành phần câu Chúng chuyên giữ vai trò thành tố phụ trong cụm từ để bổ sung một ý

Trang 28

nghĩa nào đó cho thành tố chính (ý nghĩa số lượng, ý nghĩa tình thái,…) Vì vậy chúng được coi là từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của thành tố

chính Ví dụ: những, các, mọi, mỗi, đã, hãy,sẽ, sắp, tất thảy,cũng, đều…

Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các thực từ mà phụ từ thường đi kèm, có thể chia phụ từ thành hai nhóm:

a1 Phụ từ chuyên đi kèm danh từ

Các từ này làm thành tố phụ trước cho danh từ Chúng làm dấu hiệu cho ý nghĩa về lượng sự vật, nhưng khác số từ ở chỗ chúng không được dùng độc lập để tính đếm

a2 Phụ từ chuyên đi kèm động từ, tính từ

Các phụ từ này làm thành tố phụ trước hay thành tố phụ sau, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ hoặc tính từ

b Quan hệ từ

Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm

từ, các bộ phận câu, các câu hay các đoạn văn với nhau

Quan hệ từ không đảm nhiệm vai trò thành tố chính hay thành tố phụ trong cụm từ, cũng không thể đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu Chúng có chắc năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câu với nhau Vì thế

chúng còn được gọi là từ nối hay kết từ

Quan hệ từ là phương tiện ngữ pháp rất quan trọng trong số các phương tiện tiêu biểu cho loại hình ngôn ngữ đơn lập Vị trí của quan hệ từ được quy định theo kiểu quan hệ ngữ pháp mà nó tham gia biểu hiện:

- Trong kiểu quan hệ đẳng lập, quan hệ từ đứng giữa hai từ ngữ được nối kết và dường như không gắn bó riêng với thành phần nào Sự thay đổi vị trí của các thành phần có quan hệ đẳng lập ít khi kéo theo sự thay đổi vị trí của các quan hệ từ

Trang 29

- Trong kiểu quan hệ chính phụ, quan hệ từ thường gắn với thành phần phụ (từ ngữ đứng sau quan hệ từ) Khi thành phần phụ chuyển chỗ, quan hệ từ cũng thay đổi vị trí với những từ ngữ đứng sau nó

Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp mà quan hệ từ biểu thị, có thể chia quan

hệ từ thành hai nhóm:

b1 Quan hệ từ biểu thị quan hệ đẳng lập

Quan hệ từ đẳng lập (còn gọi là liên từ) phần lớn là từ đơn, dùng nối kết các thành phần có quan hệ đẳng lập Theo ý nghĩa và cách sử dụng, có thể phân biệt các quan hệ từ sau:

- Quan hệ từ đẳng lập chỉ quan hệ đồng thời, liệt kê: và, với, cùng,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ nối tiếp: rồi, đoạn,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ đối chiếu, tương phản: còn, nhưng, chứ, thì,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ lựa chọn: hay, hoặc,…

b2 Quan hệ từ biểu thị quan hệ chính phụ

Quan hệ từ chính phụ (còn gọi là giới từ) dùng để nối kết các thành phần có quan hệ chính phụ Căn cứ vào ý nghĩa và cách dùng, có thể chia quan hệ từ chính phụ thành các nhóm nhỏ sau:

- Quan hệ từ chỉ quan hệ sở hữu: của

- Quan hệ từ chỉ quan hệ mục đích: cho, để, mà, vì,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ nguyên nhân: vì, do,tại, bởi,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ cách thức, phương tiện: bằng, với,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ thời gian, không gian: ở, tại, từ, đến, tới,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ phạm vi, phương diện: về, với, đối với,…

- Quan hệ từ chỉ quan hệ giải thích, thuyết minh, so sánh: là, bằng,

như,…

Trong thực tế, các quan hệ từ có thể dùng thành cặp để liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là trong câu ghép

c Trợ từ

Trang 30

Trợ từ là những hư từ chuyên đi kèm một từ ngữ nào đó trong câu để nhấn mạnh hoặc biểu thị thái độ, sự đánh giá sự vật, sự việc được nói đến ở từ ngữ đó Các trợ từ thường đứng ngay trước từ hay cụm từ cần nhấn mạnh

Ví dụ: cả, chính, đích, đúng, chỉ, những, đến, tận, ngau, bỗng,…

d Thán từ

Thán từ thường không chứa đựng một ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp nào.Các thán từ không lệ thuộc về mặt ngữ pháp vào bất kì từ nào trong câu.Chúng chỉ xuất hiện độc lập (làm một câu đặc biệt hoặc một thành phần biệt lập trong câu)

Có hai nhóm thán từ:

d1.Thán từ biểu cảm

Thán từ biểu cảm là những từ chuyên dùng để bộc lộ cảm xúc, thái độ

của người sử dụng ngôn ngữ: ôi, ái, ô, a,à,ái chà, ôi chao,…

e Tình thái từ

Tình thái từ là những từ biểu thị mục đích nói của câu nói và biểu thị quan hệ giữa người nói và người đối thoại

Tình thái từ gồm một số tiểu loại đáng chú ý sau:

Trang 31

Tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm: ạ, nhé, cơ, mà,

Tuy nhiên, trong chương trình Tiểu học hiện hành mới chỉ giới thiệu tới học sinh các loại từ loại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan hệ từ

1.1.5 Vị trí, nhiệm vụ của việc dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4, 5

Thực tế cho thấy việc học các kiến thức ngữ pháp về tiếng Việt là rất quan trọng đối với học sinh, bởi qua việc học tập về ngữ pháp giúp cho học sinh có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm quy tắc dùng từ, đặt câu và cấu tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, việc học tập ngữ pháp hiện nay được tiến hành một cách có kế hoạch mang tính chủ động Thông qua hệ thống các bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp

Phần từ loại có vị trí quan trọng trong việc phát triển vốn từ, sử dụng từ

và câu, cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ loại, rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ loại để đặt câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen sử dụng từ loại: danh từ, động từ, tính từ,…; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp Dạy học từ loại cũng được tiến hành tuần tự theo các bước nhận thức của học sinh Bắt đầu là việc phân tích ngữ liệu là các từ hoặc đoạn văn cho trước để tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm bài tập cụ thể.Các bước này có thể chia thành hai hướng là dạy lí thuyết và dạy thực hành từ loại

1.2 Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học

1.2.1 Vị trícủa phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học

Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng ở trường Tiểu học Ngoài việc xây dựng thành phân môn độc lập, các kiến thức, kĩ năng về từ và câu còn được tích hợp trong các phân môn còn lại của môn tiếng Việt và cả trong các môn học khác ở trường Tiểu học Vị trí

Trang 32

quan trọng của phân môn này được quy định bởi tầm quan trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ

Từ là một đơn vị cơ bản của hệthống ngôn ngữ Muốn nắm được ngôn ngữ nào đó, đầu tiên phải nắm được vốn từ.Nếu như không làm chủ được vốn

từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp.Ngoài ra, vốn từ ngữ của con người càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của người đó càng lớn, khả năng diễn đạt của người đó càng chính xác, tinh tế bấy nhiêu.Vì vậy, dạy luyện từ cho học sinh Tiểu học là phải làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh, phải chú trọng “số lượng

từ, tính đa dạng và tính năng động của từ”

Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau, con người phải sử dụng một đơn vị ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu Nếu không nắm được các quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ thì con người không thể sử dụng ngôn ngữ đó làm công cụ để giao tiếp Vì vậy, dạy từ ngữ cho học sinh phải gắn liền với dạy câu, dạy các quy tắc kết hợp từ thành câu, quy tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao,…

1.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

Hệ thống hóa vốn từ (trật tự hóa vốn từ): là giúp học sinh sắp xếp các

từ thành một trật tự trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều

và tạo ra được tính thường trực của từ

Trang 33

Tích cự hóa vốn từ: là giúp học sinh loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hóa, tức là những từ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách Mặt khác, còn phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm lý thuyết cơ bản và sơ giản về từ vựng học như về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa,… để học sinh có cơ sở nắm nghĩa một cách chắc chắn và biết hệ thống hóa vốn từ một cách có ý thức

1.2.2.2 Về mặt Luyện câu

Phân môn này phải tổ chức cho học sinh thực hành để rèn luyện các kĩ năng cơ bản về ngữ pháp như kĩ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kĩ năng sử dụng các dấu câu, kĩ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp với mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kĩ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung cấp cho học sinh một số khái niệm, một số quy tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối thiểu nhất: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, quy tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu

Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp học sinh tiếp thu một số quy tắc chính tả như quy tắc viết hoa, quy tắc sử dụng dấu câu

Ngoài các nhiệm vụ trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

1.2.3 Các nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu

1.2.3.1 Nguyên tắc giao tiếp

Ngữ liệu đưa vào giờ Luyện từ và câu ở Tiểu học phải là những ngữ liệu sinh động, chân thực, thường sử dụng trong hoạt động giao tiếp thường ngày của người Việt.Không sử dụng những ngữ liệu khô cứng, dập khuôn, xa hoạt động giao tiếp thực của học sinh

Việc phân tích các đơn vị ngôn ngữ không chỉ là mục đích tự thân mà phải hướng đến mục đích cao hơn là chỉ ra chức năng của chúng, cách tạo lập

Trang 34

chúng để giúp học sinh vận dụng vào hoạt động sản sinh lời nói dễ dàng hơn, thường trực hơn, rút ngắn khoảng cách giữa ngữ pháp nhà trường và ngữ pháp đời sống

Phải coi trong việc tổ chức hoạt động thực hành cho học sinh, coi thực hành giao tiếp là hoạt động chủ yếu của việc dạy Luyện từ và câu Thông qua thực hành, học sinh tự rèn luyện kĩ năng sử dụng từ, câu; tự rút ra những tri thức lí thuyết cần thiết để ý thức hóa quá trình sử dụng từ, câu của mình

Muốn tổ chức tốt việc thực hành giao tiếp cho học sinh, phải chú trọng xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu Tất cả các nội dung dạy học về từ

và câu đều phải được thiết kế thành hệ thống bài tập, là hệ thống các nhiệm

vụ mà học sinh phải thực hiện trong quá trình học tập Khi tổ chức luyện từ cho học sinh,ngoài các bài tập hiểu nghĩa từ ngữ, mở rộng vốn từ, phải coi trọng kiểu bài tập hướng dẫn học sinh sử dụng từ Khi tổ chức luyện câu cho học sinh, ngoài các bài tập rèn luyện kĩ năng tạo lập câu đúng ngữ pháp cần chú trọng các bài tập tình huống lời nói, tạo ra các tình huống giả định, kích thích hứng thú giao tiếp của học sinh, rèn luyện kĩ năng sử dụng câu phù hợp với văn cảnh, đạt hiệu quả giao tiếp cao

Việc dạy lí thuyết về từ và câu phải gắn liền với việc dạy thực hành, phải làm sao cho việc cung cấp lí thuyết có tác dụng hướng dẫn học sinh giao tiếp đạt kết quả cao hơn.Những kiến thức về từ và câu đưa vào chương trình phải giúp học sinh nghe, nói, đọc, viết tốt hơn.Vì vậy, các kiến thức lí thuyết không nên biên soạn ở dạng khái niệm mà phải được xây dựng thành các quy tắc, hướng dẫn học sinh thực hiện các hành động lời nói

1.2.3.2 Nguyên tắc trực quan

Trong dạy từ cho học sinh Tiểu học, cần phải xem xét từ như một tổ hợp kích thích: nghe, nhìn, vận động, cấu âm Khi giải nghĩa từ, cần phải sử dụng các phương tiện tác động đồng thời lên nhiều giác quan của học sinh, phải làm sao cho việc tiếp nhận của học sinh không phiến diện mà hình thành

Trang 35

trên cơ sở của sự tác động qua lại của các cơ quan cảm giác khác nhau: nghe, nhìn, phát âm, viết Có nghĩa là khi giới thiệu cho học sinh một từ mới, một mặt cần phải tác động bằng cả vật thật và bằng lời; mặt khác, học sinh cần nghe, thấy, phát âm và viết từ mới Đồng thời, phải để học sinh nói thành tiếng hoặc nói thầm những điều mình quan sát được

Ngữ liệu đưa vào giờ Luyện từ và câu phải là những ngữ liệu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho đơn vị ngôn ngữ mà nó được đưa ra làm dẫn chứng, nghĩa là nó phải thể hiện rõ ràng các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu Có như vậy mới giúp học sinh trừu tượng hóa được dấu hiệu của khái niệm, nhận

ra hiện tượng nghiên cứu giữa những hiện tượng khác tương tự chúng

Giáo viên phải nắm chắc mục đích trực quan để sử dụng cho phù hợp với từng giai đoạn trong dạy học Luyện từ và câu, phù hợp với từng kiểu bài học Cần nắm rõ mục đích trực quan vì một tài liệu trực quan có thể dùng với những mục đích khác nhau

1.2.3.3 Nguyên tắc đồng bộ, tích hợp

Để đảm bảo nguyên tắc trên, chương trình Luyện từ và câu cũng như các phân môn khác trong môn tiếng Việt đều được xây dựng theo chủ điểm Các phân môn Luyện từ và câu, Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau Trong phân môn Luyện từ và câu, phần trực tiếp thể hiện chủ điểm là phần Mở rộng vốn

từ Ở phần này, học sinh được hướng dẫn để cùng nhau tìm hiểu các từ theo mẫu trong sách giáo khoa, sắp xếp chùng theo một hệ thống nhất định hoặc giải nghĩa chúng,… Các từ đều thể hiện theo chủ điểm đang học

Trong các bài Luyện từ và câu, nhất là các bài Luyện từ và câu lớp 2 và lớp 3, nhiệm vụ luyện từ và luyện câu được tích hợp vào nhau Nếu bài tập

luyện từ là tìm từ chỉ hoạt động thì bài tập luyện câu sẽ là đặt câu theo mẫu

Trang 36

Ai làm gì? Nếu bài tập luyện từ là tìm từ chỉ đặc điểm thì bài tập luyện câu sẽ

là đặt câu theo mẫu Ai thế nào?

Ngoài ra, tính tích hợp còn thể hiện theo chiều dọc, tức là tích hợp các kiến thức kĩ năng mới với kiến thức, kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Chẳng hạn, khi dạy về từ loại, ở lớp 2 -3, chương trình chỉ hình thành cho học sinh các khái niệm từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm và tiến hành giúp học sinh mở rộng vốn từ theo các phạm trù nghĩa này Lên lớp 4 - 5, chương trình hình thành khái niệm danh từ, động từ, tính từ đầy

1.2.3.4 Nguyên tắc chú ý đến các đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ

Khi dạy từ, nhất thiết phải tính đến các đặc điểm của từ như một đơn vị ngôn ngữ:

Dạy từ là thiết lập quan hệ trực tiếp giữa từ với thế giới bên ngoài Khidạy từ, phải thiết lập được quan hệ của từ với hiện thực, quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ Đó là hai mặt hình thức và nội dung của tín hiệu từ Hai mặt này gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau vì vậy phải giúp học sinh nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng Học sinh phải thiết lập được mối quan hệ của từ với sự vật, mặt khác lại phải tách được ý nghĩa từ vựng của từ khỏi từ vựng được từ gọi tên

Trang 37

Dạy từ nhất thiết phải tính đến quan hệ ý nghĩa của từ với các từ, tức là đặt từ trong các lớp từ, các quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, đa nghĩa,… hoặc cùng chủ đề

Dạy từ phải chú ý đến quan hệ của từ với các từ khác xung quanh nó trong văn bản, tức là tính đến khả năng kết hợp của từ

Dạy từ phải chỉ ra việc sử dụng từ trong các phong cách, chức năng khác nhau

Đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ cũng là cơ sở để xây dựng các bài tập từ ngữ Sự hiểu biết về nghĩa của từ , về đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ cũng là cơ sở để xác lập mục đích, nội dung cũng như kĩ thuật xây dựng từng bài tập cụ thể Giá trị của từng từ trong hệ thống ngôn ngữ sẽ là chỗ dựa để xem xét tính khoa học cũng như hiệu quả của bài tập dạy

từ ngữ

1.2.3.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp

Chương trình Luyện từ và câu được xây dựng theo cấu trúc đồng tâm: một khái niệm được đưa ra nhiều lần Lần đầu chỉ đưa ra các dấu hiệu hướng học sinh chú ý làm quen với khái niệm, để học sinh nhận ra những dấu hiệu

dễ nhận thấy bằng trực quan.Lần sau sẽ hướng vào các dấu hiệu mới, dần dẫn

mở ra toàn bộ nội dung khái niệm

Trong quá trình dạy học ngữ pháp phải luôn xác lập mối quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và các dấu hiệu hình thức của hiện tượng ngữ pháp được nghiên cứu và chức năng của nó trong lời nói Học sinh phải lĩnh hội khái niệm ngữ pháp trong sự thống nhất giữa nội dung và hình thức mới chắc chắn

Trong dạy học Luyện từ và câu, có thể sử dụng các thao tác phân tích,

so sánh, cải biến, thay thế, rút gọn, mở rộng của các nhà ngôn ngữ học Các thao tác này chỉ được vận dụng có hiệu quả khi người dạy coi trọng sự thống nhất giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp

Ngày đăng: 12/10/2015, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[01]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tiếng Việt 4, 2 tập, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[02]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tiếng Việt 5, 2 tập, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[06]. Lê Phương Nga (chủ biên), (2006), Tiếng Việt nâng cao 5, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt nâng cao 5
Tác giả: Lê Phương Nga (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2006
[07]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2006), Hỏi đáp về dạy – học Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy – học Tiếng Việt 4
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
[08]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2007), Hỏi đáp về dạy – học Tiếng Việt 5, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy – học Tiếng Việt 5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
[09]. Đinh Văn Đức, (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại),Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1986
[10]. Diệp Quang Ban, (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, 2 tập, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
[11]. Lê Biên, (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1998
[12]. Nguyễn Tài Cẩn, (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[13]. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, (2006), Ngữ pháp Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
[14]. Lê Phương Nga, (2004), Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2004
[15]. Lê A (chủ biên), Giáo trình Tiếng Việt 3, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 3
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê số lượng học sinh điều tra tại trường Tiểu học  Hùng Vương và trường Tiểu họcNam Viêm - Tìm hiểu khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 4, 5 thông qua các bài tập luyện từ và câu
Bảng 2.1. Thống kê số lượng học sinh điều tra tại trường Tiểu học Hùng Vương và trường Tiểu họcNam Viêm (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w