1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội

91 871 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM TRẦN THIÊN HOÀNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHUƠNG TIỆN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI L

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SƯ PHẠM

TRẦN THIÊN HOÀNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC

ĐA PHUƠNG TIỆN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2008

Trang 2

MỤC LỤC NỘI DUNG

Trang

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

3.1 Khách thể nghiên cứu 6

3.2 Đối tượng nghiên cứu 6

4 Giả thuyết khoa học 6

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 7

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7

7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HLĐT TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN 8

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.1.1 Quản lý 9

1.1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 14

1.1.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường 17

1.1.4 Biện pháp quản lý 17

1.2 Tài liệu tự học 18

1.2.1 Khái niệm 18

1.2.2 Cấu trúc của một tài liệu tự học 18

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học 21

1.3.1 Một số khái niệm 21

1.3.2 Môi trường dạy học đa phương tiện 22

Trang 3

1.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong môi

trường dạy học đa phương tiện 25

1.3.4 Thiết kế và sử dụng HLĐT 28

1.4 Quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT 31

1.4.1 Lập kế hoạch 31

1.4.2 Tổ chức thực hiện việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử 31

1.4.3 Chỉ đạo triển khai việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử 32

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá về việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử 32

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 34

2.1 Giới thiệu một số nét về Viện đại học mở Hà Nội 34

2.1.1 Lịch sử phát triển 34

2.1.3 Quy mô và chất lượng đào tạo 39

2.1.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo 47

2.2 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đào tạo 48

2.3 Thực trạng việc thiết kế và sử dụng HLĐT 49

2.3.1 Thực trạng việc thiết kế HLĐT 49

2.3.2 Thực trạng việc sử dụng HLĐT 51

2.4 Thực trạng quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT 52

2.4.1 Thực trạng quản lý việc thiết kế HLĐT 52

2.4.2 Thực trạng quản lý việc sử dụng HLĐT 53

2.5 Phân tích thành tựu, bất cập và nguyên nhân 53

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 56

3.1 Định hướng đề xuất các biện pháp 56

3.1.1 Căn cứ vào các quy định, văn bản của Nhà Nước, Bộ GD-ĐT về ứng dụng CNTT 56

Trang 4

3.1.2 Căn cứ vào định hướng phát triển của Viện Đại học Mở Hà Nội trong thời gian tới 58

3.2 Những nguyên tắc trong việc đề xuất các biện pháp 613.3 Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương 62

3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ QL, giảng viên,

và người học về tầm quan trọng của việc sử dụng HLĐT 62 3.3.2 Biện pháp 2: Cung cấp, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng tin học cho giảng viên 63 3.3.3 Biện pháp 3: Thiết kế học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện 65 3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng quy trình sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện 68 3.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện đại, xây dựng phòng học đa phương tiện tại Viện và các cơ

sở liên kết, theo mô hình XHH giáo dục 69

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 713.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã

được đề ra 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Loài người đã và đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ thông tin và truyền thông trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, đồng thời nền kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức Công nghệ thông tin và truyền thông có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đặc biệt với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, vòng đời của mọi công nghệ đều rất ngắn, tri thức tiếp thu được qua mấy năm học ở Đại học lạc hậu rất nhanh Như vậy, yêu cầu cấp thiết là trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản, đồng thời dạy cách học cho người học, tạo cho họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời Sự thay đổi này đã làm thay đổi không chỉ cách giảng dạy mà còn thay đổi cả việc tổ chức quá trình giáo dục, ứng dụng công nghệ dạy học, phương tiện kỹ thuật trong giảng dạy, do đó, khắc phục được nhược điểm của các phương pháp cũ, nâng cao chất lượng của giáo dục – đào tạo

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGD&ĐT Về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 nêu rõ:

“Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước…

- Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo án trên máy tính Khuyến khích giáo viên, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở giáo dục và qua Diễn đàn giáo dục trên Website Bộ

- Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ chức các khoá học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học “

Viện đại học mở Hà Nội trong những năm qua đã quan tâm đến công tác đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, đặc biệt là sự đầu tư về nhân lực, vật

Trang 7

lực và tài lực cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo và trong công tác quản lý giáo dục Đến nay Viện đại học mở Hà Nội đã bước đầu triển khai áp dụng E-learning và xây dựng 6 bộ HLĐT cho 6 môn học và tải lên trang Web đào tạo trực tuyến của Viện

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đang gặp phải nhiều vấn đề khó khăn cần có những biện pháp quản lý để khắc phục kịp thời: kiến thức và kỹ năng tin học cơ bản của giảng viên, học viên và sinh viên còn hạn chế; chưa xây dựng được quy trình thiết kế và sử dụng HLĐT

Với những lý do kể trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học

đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội “

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và áp dụng được một số biện pháp khả thi để quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ sau:

Trang 8

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết kế và sử dụng HLĐT và quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện tại Viện đại học mở Hà Nội

- Đề xuất các biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Viện đại học mở Hà Nội

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu tìm ra các biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong trong môi trường dạy học

đa phương tiện cho học viên hệ đại học từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu Luật Giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học

- Nghiên cứu các tài liệu, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra

Trang 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HLĐT TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Ở nước ta ứng dụng công nghệ dạy học được đề cập vào những năm 90

và hiện đang tiếp tục được nghiên cứu, ứng dụng trong giảng dạy ở mọi cấp học của hệ thống giáo dục Đã có một số đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT và TT trong giảng dạy, bước đầu thu được những kết quả hết sức khả quan Đề cập đến việc phát triển GAĐT tác giả Ngô Quang Sơn có viết :''

Trong hệ thống các loại hình thiết bị dạy học bộ môn hiện nay ở nước ta và các nước khác, giáo án điện tử được coi là một loại hình trong 12 loại hình thiết bị dạy học bộ môn Giáo án điện tử vừa là giáo án vừa là một loại hình TBDH hiện đại - TBDH có ứng dụng CNTT và TT Các giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cao đẳng cần nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng hiệu quả giáo án điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện ''

- Năm 2001, sinh viên Trần Thị Thu Hà đã nghiên cứu áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong môi trường CNTT và TT với đề tài: “Bước đầu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học Sketchpad trong dạy học Toán ở Tiểu học “

- Năm 2002, sinh viên Nguyễn Huyền Trang đã nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học với đề tài: “ Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua môn Tiếng Việt ở Tiểu học.”

- Tiếp tục nghiên cứu theo hướng này, năm 2004, học viên cao học Bùi Thị Hải Yến đã bảo vệ thành công đề tài: “Sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua phân môn Luyện

từ và câu ở Tiểu học ”

- Năm 2006, sinh viên Nguyễn Văn Dũng đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành QLGD với đề tài : “ Một số biện pháp quản lý

Trang 10

việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Quỳnh Thắng A”

Ứng dụng CNTT và TT vào dạy học ở các nước phát triển trên thế giới

là điều không còn mới lạ Tuy nhiên, ở Việt Nam mới được đề cập và phát triển trong vòng chục năm trở lại đây Đặc biệt, công tác quản lý chỉ đạo việc ứng dụng CNTT và TT nói chung; thiết kế và sử dụng GAĐT nói riêng còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng Hơn nữa, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quản lý

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý

Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm Sau đây là một số định nghĩa về

“quản lý ”:

- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học

thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”

- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản

lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:

Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra

Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong

quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Trang 11

Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn

Sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý dưới đây:

Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của một tổ chức nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý

để đạt được các mục đích đã định

Với khái niệm này, về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:

Môi trường bên ngoài

Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 3 nội dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch; Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục tiêu, hoặc các hoạt động cụ thể hoặc đồng thời có thể điều chỉnh cả 2 hoặc 3 thành tố cho phù hợp

Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Với khái niệm trên, quản lý bao gồm các điều kiện sau:

- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động

Trang 12

Chủ thể quản

Đối tượng bị quản lý

Mục tiêu

- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng

có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết

bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)

1.1.1.1 Cơ sở tâm lý học quản lý

Bản thân mỗi một con người đều là một cá thể tâm lý nhất định Do vậy trước mỗi một tình huống, một vấn đề thì mỗi người thường có những thái độ, phản ứng và đưa ra những nhận xét, quyết định hành động theo những cách khác nhau Chính những '' lăng kính tâm lý '' đó đã tạo lên những bất đồng ý kiến (thường được gọi là xung đột) đôi khi là giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa cá nhân với tập thể và ngược lại Đặc biệt, khi có hình thức lao động mới được đưa vào một tổ chức thì hiện tượng này xảy ra là khó tránh khỏi Nó có thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc tích cực phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột được thể hiện qua sơ đồ mô phỏng sau :

Trang 13

Sơ đồ 1.2 Mô hình quản lý K.quả

Tích cực

K.quả Trung tính

K.quả Tiêu cực

Quá ít xung đột

Xung đột thích hợp

Quá nhiều xung đột

Thấp Vừa phải Cao

Sơ đồ 1.3 Cường độ xung đột

Lúc này, vai trò của người quản lý là phải làm sao tạo được sự đồng thuận cao nhất, lôi cuốn được mọi thành viên cùng quyết tâm thực hiện để đạt được mục tiêu cho ý tưởng mới Theo tài liệu bài giảng cao học chuyên đề Tâm lý học quản lý của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có tám chiến thuật gây ảnh hưởng trong tổ chức để đưa thành viên của tổ chức vào công việc Đó

là :

+ Tư vấn : Lôi cuốn, khuyến khích mọi thành viên tham gia, góp ý kiến vào

việc ra quyết định và biến đổi Chiến thuật này sẽ tạo tâm lý tích cực cho các thành viên vì họ đều cảm thấy được tôn trọng, được phát huy tính dân chủ

+ Thuyết phục, lôi kéo duy lý: Cố gắng thuyết phục các thành viên bằng lý lẽ,

lô gíc và sự kiện Chiến thuật này đòi hỏi người quản lý phải có tư duy sắc bén, hiểu sâu sắc vấn đề và có tài hùng biện

Trang 14

+ Kêu gọi ( khơi gợi ) khéo léo: Cố gắng làm cho các thành viên nhiệt tình

ủng hộ và tham gia bằng cách khơi gợi cảm xúc, lý tưởng, giá trị của họ

+ Chiến thuật khôn khéo: Tạo cho các thành viên đạt đến trạng thái tinh thần

tốt nhất, phấn chấn nhất trước khi thực hiện một yêu cầu nào đó

+ Chiến thuật tạo đồng minh: Lôi cuốn sự ủng hộ, giúp đỡ của một thành

viên để thuyết phục các thành viên khác

+ Chiến thuật gây áp lực: Yêu cầu sự phục tùng hoặc sử dụng các biện pháp

đe doạ, răn đe

+ Chiến thuật tạo sức ép từ bên trên: Cố gắng thuyết phục các thành viên

- Tạo nên sự tôn trọng lẫn nhau

- Tạo được niềm tin, uy tín

- Tạo điều kiện cùng có lợi

- Hợp tác trên tinh thần cởi mở, chân thành

Tuy nhiên, kết quả đạt được ngoài sự cam kết, phục tùng, ủng hộ đôi khi người quản lý còn gặp phải những phản kháng hoặc chống đối mà không lường trước được sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý

1.1.1.2 Cơ sở khoa học quản lý

Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và qui mô hoạt động ra sao đều phải có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và phát triển của tổ chức đó Vậy hoạt động quản lý (Management) là gì?

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu bài

giảng cao học Cơ sở khoa học quản lý thì : Đó là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

Trang 15

Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý (Manager) là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một

bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích

Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản lý

có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), tổ chức (Organizing), chỉ đạo - lãnh đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling)

- Kế hoạch hóa: Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó

- Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức

- Lãnh đạo (Chỉ đạo) - Leading:

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy

đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý

- Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết

1.1.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

1.1.2.1 Quản lý giáo dục

Trang 16

Khoa học quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn: Tâm

lý học, Xã hội học, Triết học,…

Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung, đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học)

“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa việt nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm

vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất

Trang 17

1.1.2.2 Quản lý nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là

cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục, khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục- đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học (nhà trường)

là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu

tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới"

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”

Tóm lại: Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng

trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh

Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo

Quản lý trường học là phải quản lý toàn diện, nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ

thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy, muốn thực hiện có

hiệu quả công tác giáo dục, người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc

Trang 18

thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc cải tiến công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường

1.1.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường

Mục tiêu quản lý trường học là quản lý chất lượng sản phẩm giáo dục Muốn có sản phẩm giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết nhà trường phải tổ chức, điều khiển và kiểm soát tốt quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách của học sinh - sản phẩm giáo dục của nhà trường

Hoạt động dạy là hoạt động đặc trưng cho bất kỳ loại hình hoạt động nhà trường nào, vì vậy nó là con đường giáo dục tiêu biểu nhất Với nội dung

và tính chất của nó dạy học là con đường tốt nhất giúp cho người học với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân” “Các tổ chức xã hội

cần đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe,

sự hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần để có thể tham gia một cách tích cực vào quá trình giáo dục và tận hưởng được lợi ích của giáo dục”, Tuyên bố thế giới về giáo dục cho mọi người, Hội nghị Jomtien, Thái Lan 1990

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh và quản lý các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung dạy học, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh

Trang 19

quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho quá trình quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan

Như vậy, biện pháp quản lý là việc người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà mình quản lý để đưa đối tượng, đơn vị mình quản lý đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý xây dựng, đưa chất lượng quản lý lên một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại

Do vậy đòi hỏi ở người quản lý phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm để gắn kết những biện pháp với nhau, giải quyết các mâu thuẫn giữa các biện pháp, biết tiên liệu trước các hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng quản lý đặt ra

1.2 Tài liệu tự học

1.2.1 Khái niệm

Tài liệu tự học là cuốn giáo trình được viết sao cho Người học tự học một cách tương đối thuận lợi, dễ dàng mà không cần sự trợ giúp của thầy hoặc người nào khác Cuốn giáo trình đó còn gọi là một Module tự học

1.2.2 Cấu trúc của một tài liệu tự học

Khi biên soạn Module phải xác định mục tiêu mà Người học cần đạt được để họ có hướng phấn đấu Một Module hoàn chỉnh có nghĩa là phải có tất cả nội dung cần thiết để đạt được mục tiêu học tập Người học chỉ cần tự học theo Module thì có thể đạt được mục tiêu học tập Họ không cần phải đọc sách giáo khoa hay tài liệu nào nữa Tuy nhiên, cũng cần giới thiệu cho họ đọc thêm tài liệu tham khảo để nâng cao kiến thức liên quan tới chủ đề của Module

Nội dung học tập của Module thường được chia thành những phần nhỏ Nếu chủ đề của Module có thể chia ra thành các chủ đề nhỏ hơn thì chủ đề nhỏ hơn ấy được biểu hiện trong một phần (Section) Nội dung của mỗi phần phải đủ để giải thích một khái niệm, một nguyên lý hay một bước tiến hành nào đó Người học có thể học tuần tự từng phần hoặc tra cứu vào một phần

Trang 20

nào đó nếu quên hoặc chưa hiểu rõ Bằng cách đó, người học nắm vững từng phần sẽ dẫn tới lĩnh hội kiến thức của toàn bộ Module

Sau mỗi phần của bài học, cần đưa một số câu hỏi hay bài tập để người học tự trả lời Mục đích là để người học tự kiểm tra xem mình đã học được những gì so với yêu cầu mục tiêu đã đề ra

Một module tự học thường có cấu trúc như sau:

GIỚI THIỆU Phần giới thiệu gồm có một số thông tin cơ bản như sau:

- Lời chào

- Giới thiệu khái quát về nội dung của Module trong một hoặc hai đoạn

- Sự hợp lý của Module:

+ Liên quan đến trình độ và kinh nghiệm người học

+ Tầm quan trọng đối với người học

+ Liên quan tới các Module khác trong chương trình đào tạo

1 Giới thiệu

- Nêu các tiểu chủ đề sẽ học trong phần 1

- Mục tiêu (học viên đạt được sau khi học xong phần 1)

Trang 21

4 Tóm lƣợc

Phần 2 Tên (chủ đề) của phần 2 Trình tự : giới thiệu, nội dung, bài tập, tóm lược như ở phần 1

Phần 3 Tên (chủ đề) của phần 3 Trình tự : giới thiệu, nội dung, bài tập, tóm lược như ở phần 1

PHẦN KẾT Trong phần này chúc mừng người học đã hoàn thành bài học, tóm tắt toàn bộ Module, động viên người học học bài tiếp theo và ứng dụng những điều đã học vào thực tiễn

ĐÁP ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 22

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học

1.3.1 Một số khái niệm

- Tin học:

Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp công nghệ và các kĩ thuật xử lý thông tin một cách tự động

- Công nghệ thông tin:

Công nghệ thông tin là một tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

- Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication

Toàn bộ các thiết bị điện tử và cơ khí của máy tính được gọi chung là

phần cứng

Các chương trình chạy trên máy tính được gọi là phần mềm

- Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học: Là quá

trình ứng dụng ICTs vào hoạt động dạy học một cách hợp lý Trong đó có sử dụng các loại hình TBDH :

Phim đèn chiếu

Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu

Băng, đĩa ghi âm

Trang 23

Băng hình, đĩa hình

Giáo án điện tử, Bài giảng điện tử, Giáo án kỹ thuật số

Trang Web học tập, Phòng thí nghiệm ảo…

1.3.2 Môi trường dạy học đa phương tiện

Thuật ngữ Multimedia là một thuật ngữ mới được đưa vào sử dụng trong khoảng hơn 10 năm gần đây

Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện gộp lại.Từ Multimedia trong từ điển Anh – Việt được dịch là đa phương tiện truyền thông, từ này gồm hai thành phần ghép lại: Multi với nghĩa là đa chiều, nhiều

và Media với nghĩa là phương tiện truyền thông

Bốn thành tố cơ bản của quá trình dạy học là: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp và thiết bị giáo dục

Sơ đồ 1.3.2 Multimedia trong mô hình dạy học

* Môi trường học tập đa phương tiện

Néi dung

Ph-¬ng ph¸p

tâm lý

Trang 24

Môi trường học tập đa phương tiện là môi trường học tập được trang

bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông (Multimedia) và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện đó hoạt động tốt

Ở đó diễn ra tương tác đa chiều:

Tương tác hai chiều giữa giáo viên – học sinh ;

Tương tác hai chiều giữa phương tiện – học sinh ;

Tương tác hai chiều giữa giáo viên – phương tiện

Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa giáo viên và mối quan hệ học sinh – phương tiện, giữa học sinh và mối quan hệ giáo viên – phương tiện, giữa phương tiện với mối quan hệ giáo viên – học sinh

Mỗi hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện bao gồm: Khối mang thông tin và khối chuyển tải thông tin tương ứng

Khối mang thông tin Khối chuyển tải thông tin tương ứng

Phim Slide, phim chiếu bóng > Máy chiếu Slide, máy chiếu phim

Bản trong > Máy chiếu qua đầu

Băng, đĩa ghi âm > Radio Cassette, Đầu đĩa CD, Máy tính Băng, đĩa ghi hình > Video, Đầu đĩa hình, Máy tính, Máy

chiếu đa năng, Màn chiếu

Phần mềm dạy học > Máy tính, Máy chiếu đa năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số

Học liệu điện tử, Giáo án điện tử,

Bài giảng điện tử, Giáo án kỹ thuật số

Trang Web học tập > Máy tính, Máy chiếu đa năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số

Phòng thí nghiệm ảo

Cơ sở của việc cải tiến PPDH là sự lựa chọn nội dung bài học thích hợp, sau đó là việc nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện thích hợp để dạy và học

- Sử dụng ĐPT trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu

Trang 25

tượng, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say mê hứng thú của người học, làm cho người học dễ hiểu và nhớ lâu

- Đa phương tiện góp phần chống dạy chay và học chay trong điều kiện

cơ sở vật chất: trang thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu như hiện nay

- Đa phương tiện giúp người thày có thể truyền đạt bằng nhiều con đường khác nhau những lượng thông tin cần thiết giúp cho việc tiếp thu bài học của học sinh Việc tiếp thu kiến thức có hiệu quả cao khi học sinh nhận được lượng tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó

Trong dân gian đã có câu “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, để nói lên tác dụng khác nhau của các giác quan trong quá trình truyền thụ kiến thức

Theo cuốn sách “Phương tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, NXB Giáo dục

1997, mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông:

- Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được là: 1,0 % qua nếm

- Tỉ lệ kiến thức nhớ được sau khi học đạt được là:

50% qua nghe và nhìn được

90% qua nói và làm được

Ở Ấn Độ, tổng kết quá trình dạy học người ta cũng nói:

Tôi nghe - tôi quên

Tôi nhìn - tôi nhớ

Tôi làm - tôi hiểu

Trang 26

Ngày nay, ứng dụng CNTT và TT trong môi trường dạy học ĐPT đã thành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng DH Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình tư duy lĩnh hội tri thức mới

1.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong môi trường dạy học đa phương tiện

1.3.3.1 Giáo án dạy học tích cực

Theo tác giả Ngô Quang Sơn : '' Giáo án dạy học tích cực là giáo án (kế hoạch bài học) được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của học sinh "

Cấu trúc của một giáo án dạy học tích cực bao gồm :

* Mục đích, yêu cầu theo kiến thức, kỹ năng, thái độ

* Chuẩn bị thiết bị giáo dục: Thiết bị giáo dục truyền thống hoặc thiết

bị giáo dục có ứng dụng CNTT (thiết bị dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu đa năng, hay thiết bị dạy học nghe nhìn)

* Những phương pháp biện pháp sẽ được phối hợp sử dụng trong quá trình giảng dạy

*Tiến trình dạy học : giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, tư duy

Chia thành các hoạt động để lĩnh hội các kiến thức cơ bản

Hoạt động nhận thức 1: Nhiệm vụ nhận thức 1

- Thao tác định hướng của giáo viên:

- Thao tác thi công của HS:

- Thao tác định hướng của giáo viên:

- Thao tác thi công của HS:

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này

Hoạt động nhận thức 2: Nhiệm vụ nhận thức 2

- Thao tác định hướng của giáo viên:

- Thao tác thi công của HS:

Trang 27

- Thao tác định hướng của giáo viên:

- Thao tác thi công của HS:

Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này

1.3.3.2 Giáo án điện tử ( E- Lesson Plan )

Chuyên gia công nghệ thông tin của UNESCO BANGKOK cho rằng : Giáo án điện tử là một thuật ngữ dùng để mô tả việc thiết kế và thực hiện giáo án trước và trong quá trình dạy học dựa trên CNTT và TT

Các giáo án điện tử đều có những điểm chung sau :

+ Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, kỹ thuật liên kết

+ Về một số mặt, hiệu qủa của GAĐT cao hơn so với giáo án dạy học truyền thống do nó có tính tương tác cao dựa trên công nghệ Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người

GAĐT (giáo án dạy học tích cực được nhúng trong môi trường CNTT

và TT) sẽ trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục hiện đại Hiện nay, giáo

án điện tử đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới Có nhiều quan điểm đưa ra về “Giáo án điện tử”, nhìn chung có thể

hiểu: Giáo án điện tử là giáo án được thiết kế qua máy vi tính chạy trên nền

(hoặc được sự hỗ trợ) của một số phần mềm công cụ nào đó và được trình chiếu nội dung cho học sinh thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện (máy tính – máy chiếu đa năng – màn chiếu; đầu chạy đĩa CD – vô tuyến truyền hình)

Để tránh lạm dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình dạy học tích cực, thể hiện việc thiết kế và trình bày một giáo án điện tử qua sơ

đồ sau:

Trang 28

Giáo án điện tử = Giáo án dạy học tích cực (Kế hoạch dạy học tích cực) + Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học

1.3.3.3 Học liệu điện tử

Điểm khác biệt cơ bản giữa học tập theo lớp - có giáo viên giảng dạy (

Face to Face ) và học tập từ xa hay tự học qua sử dụng HLĐT là: Người học

có thể học tại nhà, học ở nơi làm việc, học trên lớp … Người học có thể học ở bất kỳ đâu nếu có đủ phương tiện kỹ thuật để sử dụng HLĐT HLĐT sử dụng

những thành tựu của công nghệ mới nhằm cố gắng tạo ra những tương tác ảo

để hỗ trợ người học trong quá trình tự học

thông (media) như: văn bản (sách báo, công văn giấy tờ ), âm thanh ,

hình ảnh, và hình ảnh động

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể hoàn toàn chủ động bố

trí việc học bất kỳ lúc nào, học bất cứ ở đâu phù hợp với điều kiện công

tác, sinh hoạt của mình, học liệu sử dụng trong giáo dục điện tử phải đạt yêu cầu: đơn giản, gọn nhẹ dễ mang theo, dễ sử dụng, không đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp (HLĐT cần được đóng gói dưới nhiều hình thức để người học có nhiều phương án Sử dụng như: Computer-Based, Web-Baser, Mobile-Baser) và đặc biệt là giá thành rẻ

Như vậy một HLĐT là tài liệu tự học đã được số hoá và được sử dụng thông qua các thiết bị điện tử, học liệu này phải đầy đủ nội dung kiến thức

Trang 29

như học liệu thường đồng thời phải thay thế được hoạt động dạy của người giáo viên – tức là thông qua học liệu các thiết bị điện tử có thể thay thế người giáo viên để truyền đạt kiến thức đồng thời người học có thể phần nào tìm kiếm được các giải đáp khi có thắc mắc cần hỏi Ngoài ra HLĐT cần có khả năng rèn luyện tư duy và kỹ năng cho người học, có thể tạo được những

tương tác hai chiều người - máy

HLĐT = Học liệu đã được số hoá, kế hoạch hóa (Kế hoạch theo hướng dạy học tích cực) + Công nghệ thông tin và truyền thông trong học tập

1.3.4 Thiết kế và sử dụng HLĐT

Việc thiết kế một HLĐT đòi hỏi kết hợp giữa ba chuyên gia :

1/ Giáo viên bộ môn đảm nhiệm nội dung của môn học, tham gia viết kịch bản và chịu trách nhiệm về kịch bản sư phạm

2/ Người thiết kế kịch bản cho học liệu qua từng phần bài giảng, bài tập, bài kiểm tra, trắc nghiệm

3/ Chuyên gia về công nghệ thông tin để thực hiện đóng gói học liệu thành HLĐT

Nội dung tài liệu phải phù hợp với mục tiêu và đối tượng đào tạo– chúng phải có những khác biệt lớn giữa tài liệu dành cho những học viên có động cơ học tập khác nhau: học để biết, học để làm, học có yêu cầu thi cử, lấy bằng cấp chứng chỉ hoặc không , giữa nhu cầu học nghề hoặc nhu cầu học theo chương trình các khóa học chính quy chẳng hạn với mục tiêu đào tạo kỹ năng nhiều hơn phổ biến kiến thức thì tài liệu phải cung cấp các hoạt động cho học viên để phát triển kỹ năng

Chuẩn bị tài liệu cho HLĐT rất khác với viết bài giảng và sách giáo khoa Các tài liệu này phải được thiết kế đặc biệt phục vụ người học có thể tự học, không đơn giản chỉ là tập hợp các bản trình chiếu các học liệu trên lớp

Một điểm khác biệt nữa là HLĐT phải thường xuyên được cập nhật, nâng cấp lên phiên bản mới Một đề tài tham khảo được cung cấp vào thời điểm 1998 không thể sử dụng lại vào năm 2008 Một sự thuận lợi lớn là những tài liệu của một khóa học có thể dùng lại cho nhiều khóa học có liên

Trang 30

quan (với một vài điều chỉnh, bổ sung thích hợp) Vì vậy việc thiết kế để có thể tái sử dụng là rất quan trọng

Mục tiêu của HLĐT là đơn giản, dễ hiểu sao cho đối với người lần đầu tiếp cận với kiến thức đó cũng có thể tự lĩnh hội được thông qua HLĐT Nhưng vẫn phải đảm bảo tiêu chí là lấy người học làm trung tâm, đây chính là quan điểm đổi mới giáo dục hiện nay

Quan điểm dạy học

Lấy thầy làm trung tâm

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm

1 Thầy truyền đạt tri thức 1 Thầy định hướng nghiên cứu và tài liệu

tư duy và giải quyết các vấn đề cụ thể

5 Thầy độc quyền đánh giá cho

điểm

5 Tự đánh giá, tự điều chỉnh, để thầy cho điểm

Như vậy HLĐT được xây dựng theo quan điểm như sau:

* Học liệu cung cấp và hỗ trợ người học khai phá tri thức, tự nghiên cứu

* Học liệu có khả năng hướng dẫn và cung cấp thông tin

* Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, thông qua học liệu có thể tự kiểm tra mình – (Học liệu là trọng tài)

* Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn (có thể trực tuyến hoặc không trực tuyến)

a Học liệu có khả năng hướng dẫn và cung cấp thông tin

Trang 31

Chuyển từ các lớp học truyền thống sang E-Learning đòi hỏi cần có các quá trình và kỹ năng giảng dạy để tạo ra được các học liệu đặc biệt phục vụ người học Với lớp học truyền thống thì người thầy có thể là trung tâm của quá trình dạy và học, nhưng với đào tạo từ xa và tự học thì người học luôn là trung tâm

Như vậy các tài liệu học tập phải thiết kế để cho người học tự kiểm soát Điều này có thể thực hiện được với sự trợ giúp của chương trình máy tính Các chương trình máy tính với chức năng giao tiếp đa chiều sẽ hỗ trợ người học kiểm soát quá trình học tập

Ngoài văn bản, việc khai thác tối đa các dạng Media giúp tăng cường khả năng cung cấp thông tin Các thông tin được truyền đạt dưới dạng âm thanh, hình ảnh và Video sẽ có khả năng mô phỏng các giờ giảng của giáo viên trên lớp, đồng thời mô phỏng trực quan các kiến thức được truyền đạt Các phần mềm mô phỏng sẽ hỗ trợ người học tham gia trực tiếp vào quá trình thực hành, thí nghiệm nâng cao kỹ năng và tính thực tế của người học

b Trợ giúp người học trả lời thắc mắc

HLĐT còn là nơi để người học tra cứu và tìm kiếm thông tin Khi người học cần tìm kiếm kiến thức hoặc giải đáp thắc mắc, họ có thể nhanh chóng tìm được những thông tin cần thiết liên quan đến phần kiến thức họ quan tâm

Với việc áp dụng trí tuệ nhân tạo và hệ chuyên gia, một phần mềm hỗ trợ học tập có thể theo dõi các bước tư duy của người học, kiểm tra và phát hiện những bước tư duy sai đồng thời tư vấn cho người học các bước tiếp cận vấn đề Những chức năng đó phần nào có thể thay thế người giáo viên trong việc hướng dẫn và định hướng tư duy cho người học

c Trợ giúp người học tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh

Ngoài phần bài tập yêu cầu người học tự giải quyết giúp người học rèn luyện kỹ năng và ôn tập, tổng hợp kiến thức giống như các học liệu truyền thống thì HLĐT cần có các chức năng kiểm tra kiến thức người học Chức năng này giúp người học tự kiểm tra và đánh giá mức độ nhận thức của bản

Trang 32

thân, trợ giúp người học phát hiện những sai sót trong nhận thức và tự điều chỉnh

1.4 Quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT

1.4.1 Lập kế hoạch

Xây dựng mục tiêu, kế hoạch năm học và kế hoạch 5 năm phát triển của nhà trường, trên cơ sở kế hoạch chung chỉ đạo các khoa lập kế hoạch khả thi

và đẩy mạnh việc thiết kế và sư dụng học liệu điện tử

Nói cách khác, kế hoạch là bản hướng dẫn, theo đó:

- Nhà trường sẽ đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu

- Các phòng ban chức năng và các khoa tiến hành các hoạt động có liên quan chặt chẽ tới việc thực hiện các mục tiêu thiết kế và sử dụng học liệu điện tử; đồng thời trên cơ sở đó giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu

đã đặt ra, trong những điều kiện cụ thể có thể điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp

1.4.2 Tổ chức thực hiện việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

Trên cơ sở kế hoạch thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

Trước hết cần phải có sự kết hợp của ba nhóm chuyên gia

1/ Giáo viên bộ môn đảm nhiệm nội dung của môn học

2/ Người thiết kế kịch bản cho học liệu qua từng phần bài giảng, bài tập, bài kiểm tra, trắc nghiệm

3/ Chuyên gia về công nghệ thông tin để thực hiện đóng gói học liệu thành HLĐT

Xây dựng qui chế quản lý phù hợp cho từng mảng công việc, từng đối tượng tham gia

Tổ chức những hội thảo trao đổi kinh nghiệm ứng dụng CNTT&TT trong dạy học nhằm tranh thủ các ý kiến đóng góp của các nhà giáo, nhà nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành và của người học để các sản phẩm học liệu điện tử ngày ngày một chất lượng hơn đáp ứng được nhu cầu của người học cũng như của xã hội

Trang 33

1.4.3 Chỉ đạo triển khai việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

- Tổ chức các lớp học bồi dưỡng kiến thức về thiết kế hệ thống thông tin, nâng cao trình độ tin học, kỹ năng khai thác các phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cho cán bộ giảng viên

- Tăng số đầu máy tính được nối mạng, mở rộng mạng nội bộ, nâng cấp

đường truyền băng thông rộng ADSL

- Thường xuyên bảo dưỡng, nâng cấp hệ thống máy tính

- Xây dựng kế hoạch, quy trình và chỉ đạo thực hiện quy trình thiết kế và

sử dụng học liệu điện tử

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá về việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

Đây là khâu cuối cùng của qui trình quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

Đặt ra các tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu suất ứng dụng học liệu điện tử

Đánh giá yếu tố tích cực của học liệu điện tử trong dạy học và đánh giá kết quả học tập của người học

Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên đảm bảo kiểm tra khách quan, chính xác Trong kiểm tra đánh giá cần có cơ chế khen thưởng phù hợp nhằm khuyến khích động viên cán bộ giáo viên tham gia quy trình thiết kế và sử dụng học liệu điện tử

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc nghiên cứu lịnh sử vấn đề và một số khái niệm công cụ cơ bản, một số đặc trưng chủ yếu của quản lý và quản lý ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học Trên cơ sở lý luận của quản lý ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học đa phương tiện; Cơ sở lý luận của quản

lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT Có thể kết luận như sau:

- Mục đích phát triển giáo dục ở nước ta hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo dục Một trong những vấn đề trăn trở của ngành giáo dục là: làm thế nào để giáo dục đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin? Làm thế nào

Trang 34

để nhanh chóng đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao về công nghệ thông tin cung cấp cho các ngành nghề khác, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo xu thế hội nhập khu vực và thế giới?

- Ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học đa phương tiện là một trong những lời giải của bài toán nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Để đáp ứng yêu cầu hội nhập thế giới công nghệ hiện đại; đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục phải thực sự đi trước, đón đầu, đổi mới

- Các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT&TT trong môi trường dạy học

đa phương tiện là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; Để hoàn thành sứ mệnh của mình, các nhà quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương, hơn ai hết phải khẩn truơng thay đổi tư duy, đổi mới quản lý giáo dục ở khía cạnh thúc đẩy ứng dụng CNTT&TT trong giảng dạy và học tập

- Các biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong môi trường dạy học đa phương tiện là những việc làm cụ thể, quan trọng của những nhà QLGD ở các cơ sở giáo dục và đào tạo góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của cơ sở đó

Trang 35

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC ĐA PHƯƠNG TIỆN TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

2.1 Giới thiệu một số nét về Viện đại học mở Hà Nội

2.1.1 Lịch sử phát triển

Ngày 3/11/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 535/TTg thành lập Viện Đại học Mở Hà Nội trên cơ sở Viện đào tạo mở rộng I Viện đại học Mở ra đời từ chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng và Nhà nước, hoạt động với tư cách là một trường công lập nhưng hầu như phải tự hạch toán tài chính (chỉ được nhà nước cấp kinh phí khoảng 5%/năm, trong giai đoạn từ 1993 đến 2004) dựa chủ yếu vào nguồn thu học phí Do vậy, trường

có một số đặc thù khác với các trường đại học quốc lập truyền thống:

Các khoa, đơn vị có nguồn thu thực hiện chế độ phân cấp tài chính theo tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm, vừa quản lý tập trung, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của các đơn vị cơ sở

Cơ sở vật chất: hơn 10 năm qua Ban giám hiệu và lãnh đạo của Viện Đại học Mở đã chú trọng rất nhiều đến việc đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ học tập, giảng dạy Từ chỗ cơ sở vật chất hầu như chưa có gì, cho đến nay, Viện đã đầu tư khoảng 34 tỷ đồng cho cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo như phòng học đa chức năng, kỹ thuật nghe nhìn, các trung tâm máy tính, các phòng thí nghiệm, phòng học từ xa qua mạng, thư viện phục vụ đào tạo Năm 2003, Viện đã đầu tư hệ thống đào tạo từ xa theo công nghệ truyền hình hai chiều đặt tại Viện và một số địa phương (theo dự án đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt nhằm nâng cao năng lực đào tạo từ

xa của Viện đại học Mở Hà Nội) Đặc biệt, Viện cũng đã trở thành thành viên của học viện mạng Cisco đặt cơ sở đào tạo tại Trung tâm hợp tác đào tạo quốc

tế Tuy nhiên về phần cơ sở hạ tầng nhà trường phải đi thuê, nên các khoa trong trường không đào tạo tập trung tại cùng một trụ sở mà phải đóng ở các địa điểm khác nhau, rải rác trên địa bàn Hà Nội Đây cũng chính là yếu tố

Trang 36

khiến Viện Đại học Mở chưa phát huy được hết sức mạnh tập thể trên nhiều lĩnh vực

Hình 2: Sơ đồ tổ chức các đơn vị trong Viện Đại học Mở Hà Nội

Bộ máy quản lý, đội ngũ cán bộ - công chức do yêu cầu phải đảm bảo tài chính nên được tinh giảm rất gọn nhẹ và phát huy khả năng tối đa, một cán bộ phải thành thạo việc chính và có khả năng đảm nhận nhiều công việc khác khi cần thiết

Chính do đặc thù là một đơn vị tự hạch toán độc lập không có nguồn kinh phí bao cấp từ ngân sách Nhà nước nên ngay từ những ngày đầu thành lập Viện đại học Mở Hà Nội đã dựa vào quy định, quyền hạn và trách nhiệm được giao của mình để đề ra quy chế về hoạt động tài chính riêng cho trường Quy định về tài chính này chính là cơ sở cho mọi hoạt động và định hướng phát triển của các Khoa trong trường Trường tiến hành phân cấp quản lý đến các Khoa, Trung tâm có sự giám sát, quản lý chặt chẽ của lãnh đạo trường

PHßNG KÕ

HO¹CH TµI

CHÝNH

PHßNG HµNH CHÝNH TæNG HîP

PHßNG §µO T¹O

CÁC PHÕNG, BAN CHỨC NĂNG

KHOA

LUËT

KHOA T¹O D¸NG C¤NG NGHIÖP

KHOA TIÕNG ANH

TT HîP T¸C

§µO T¹O QUèC

TT PH¸T TRIÓN

§µO T¹O

Tõ XA

BAN GI¸M HIÖU

KHOA C¤NG NGHÖ TIN HäC

KHOA

DU LÞCH

KHOA KINH

Trang 37

Các đơn vị phải tự đưa ra cho mình cách thức hoạt động hợp lý nhất, hiệu quả nhất theo chủ trương chung

2.1.2 Đội ngũ cán bộ, giảng viên

Có thể nói, đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo,

họ là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong nhà trường đại học Vì vậy, người giảng viên có vai trò quan trọng đặc biệt Trong quá trình giảng dạy, học không chỉ

là người truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà phải thực sự trở thành một người thiết kế, điều khiển để học sinh tự giác và tích cực tham gia học tập, kích thích, khơi dậy hứng thú học tập của sinh viên để họ phát huy sáng tạo trong học tập Như vậy, cần có giải pháp hợp lý để phát triển đội ngũ giảng viên lớn mạnh về số lượng và chất lượng Tạo mọi điều kiện để giảng viên nâng cao năng lực nghề nghiệp, phẩm chất, đạo đức và khả năng thích ứng cao nhằm đào tạo, cung cấp cho xã hội đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có phẩm chất, trình độ vững vàng và có tay nghề cao Trong những năm vừa qua Viện đại học Mở Hà Nội cũng đã cố gắng phấn đấu để xây dựng đội ngũ giảng viên thực hiện tốt công tác đào tạo đảm bảo chất lượng, cụ thể:

Số lượng giảng viên: Đảm bảo đủ số lượng giáo viên và tỷ lệ sinh

viên/giáo viên là một trong những điều kiện quan trọng để hoàn thành nhiệm

vụ của các trường đại học nói chung và của Viện đại học Mở nói riêng Đối với Viện đại học Mở Hà Nội, đội ngũ giảng viên thuộc 2 nhóm ngành chính

đó là Kinh tế và Kỹ thuật, tỷ lệ chuẩn của sinh viên/giáo viên là từ 20-26 và từ

12 - 18 Trên thực tế trong năm học 2004-2005, số lượng sinh viên hệ chính quy, phi chính quy (không kể sinh viên hệ từ xa) của Viện đại học Mở Hà Nội

là khoảng 11.000 sinh viên, với tổng số giảng viên là 915 giảng viên So với

tỷ lệ tiêu chuẩn thì tỷ lệ sinh viên/giáo viên của trường nằm trong khung chuẩn cho phép Trong tổng số 915 giảng viên của Viện đại học Mở thì có

215 giáo viên cơ hữu và 700 là giáo viên thỉnh giảng Như vậy, do đặc thù riêng, số lượng giáo viên cơ hữu quá thấp

Trang 38

Bảng 5: Số lượng giảng viên phân theo khoa của Viện đại học Mở Hà Nội

Stt Khoa/bộ môn

Tổng

số giáo viên

Tỷ lệ

% giáo viên các đơn vị

Giáo viên cơ hữu

Giáo viên thỉnh giảng

kế hoạch và lập kế hoạch dài hạn trong công tác đào tạo của nhà trường

Thực trạng về cơ cấu giảng viên:

+ Cơ cấu giáo viên theo đơn vị quản lý giảng dạy (các khoa) phân bổ trong các khoa là không đồng đều Nguyên nhân dẫn đến sự phân bố không đồng đều này là do thông thường khi mới thành lập các khoa thường chưa thể

ổn định được ngay đội ngũ giáo viên của mình mà thường phải mất một thời gian từ 3 đến 5 năm mới có thể lên kế hoạch và lập kế hoạch tuyển chọn giáo viên cơ hữu được một cách ổn định Khoa Tiếng Anh là khoa có số lượng

Trang 39

giáo viên cơ hữu chiếm tỷ lệ cao nhất trong trường (65.8%) và được coi là tạm đủ về cơ cấu giữa giáo viên cơ hữu và giáo viên thỉnh giảng

Bảng 6: Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ học vấn

Bảng 7: Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo chức danh:

Trang 40

Viện đại học Mở Hà Nội là một trường công lập nên việc tổ chức thi nâng bậc nâng ngạch cho giảng viên trong trường vẫn được thực hiện thường xuyên và đầy đủ, đúng chế độ, chính sách của nhà nước để đảm bảo công bằng và quyền lợi của giảng viên Đây cũng chính là những biện pháp nhằm thu hút và động viên đội ngũ giáo viên cơ hữu luôn phấn đấu và học tập không ngừng

Nhìn chung đặc điểm về cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ giảng viên của Viện Đại học Mở Hà Nội là phù hợp Song xét riêng về độ tuổi của đội ngũ giáo viên cơ hữu thì số giảng viên ở độ tuổi từ 30-50 được coi là sung sức nhất xét cả về mặt thể lực và chuyên môn) của Viện có tỷ lệ thấp nhất Đội ngũ giáo viên cơ hữu của nhà trường chưa đáp ứng được nhiều khối lượng giảng dạy của nhà trường (khoảng 30%) thực sự là một điểm yếu của một nhà trường Chính vì vậy, việc giảng dạy của trường còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên thỉnh giảng không chủ động được về thời gian và việc lên kế hoạch đào tạo dài hạn nhiều khi làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng đào tạo Ngoài

ra, qua phân tích số liệu thì cơ cấu của đội ngũ giáo viên cũng chưa phù hợp Đây chính là những yếu tố ảnh hưởng không tốt đến chất lượng của đội ngũ giáo viên của nhà trường

Bảng 8: Kiến thức chuyên môn

2.1.3 Quy mô và chất lượng đào tạo

2.1.3.1 Quy mô đào tạo

Ngày đăng: 12/10/2015, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2. Mô hình quản lý  K.quả - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Sơ đồ 1.2. Mô hình quản lý K.quả (Trang 13)
Sơ đồ 1.3.2 Multimedia trong mô hình dạy học - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Sơ đồ 1.3.2 Multimedia trong mô hình dạy học (Trang 23)
Hình 2: Sơ đồ tổ chức các đơn vị trong Viện Đại học Mở Hà Nội - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Hình 2 Sơ đồ tổ chức các đơn vị trong Viện Đại học Mở Hà Nội (Trang 36)
Bảng 5: Số lượng giảng viên phân theo khoa của Viện đại học Mở Hà Nội - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 5 Số lượng giảng viên phân theo khoa của Viện đại học Mở Hà Nội (Trang 38)
Bảng 6: Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ học vấn - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 6 Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ học vấn (Trang 39)
Bảng  8: Kiến thức chuyên môn - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
ng 8: Kiến thức chuyên môn (Trang 40)
Bảng 4: Mức độ phù hợp với ngành đào tạo của sinh viên tốt nghiệp - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 4 Mức độ phù hợp với ngành đào tạo của sinh viên tốt nghiệp (Trang 46)
Bảng thống kê  cơ sở vật chất có ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng th ống kê cơ sở vật chất có ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo (Trang 50)
Bảng 2.3.1 : Kết quả điều tra tính khả thi và tính cần thiết - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 2.3.1 Kết quả điều tra tính khả thi và tính cần thiết (Trang 51)
Bảng 3.5.2. Kết quả đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản lý việc - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 3.5.2. Kết quả đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản lý việc (Trang 75)
Bảng 3.5.3. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp - Biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện tại viện đại học mở hà nội
Bảng 3.5.3. Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w