Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.
Trang 1Chương I : Những lý luận chung về vai trò của
FDI đối với việc tạo công ăn việc làm cho nước
nhận đầu tư
I.Tổng quan về FDI
1.Khái niệm :
a)Khái niệm :
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong
đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hànhhoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế._Theo hiệp hội luật quốc tế (1966) : Đầu tư nước ngoài là sự di chuyểnvốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở
đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ
_Theo luật đầu tư 2005 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tưnước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiếnhành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này
Trang 2_Ba là, lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạtđộng kinh doanh và đước phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
_Bốn là, đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiên thông qua việc xâydựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanghoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau
_Năm là, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyểnvốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinhnghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu
tư Nhà đầu tư cùng với việc đưa vốn còn đưa cả công nghệ, bí quyết côngnghệ, kỹ năng tiếp thị, quản lý, đào tạo nhân công và các năng lực trong sảnxuất kinh doanh cũng như trong vấn đề quản lý doanh nghiệp cho nước tiếpnhận vốn Vốn FDI không chit bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tưdưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanhnghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuậntrong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, đi kèm với dự ánFDI là 3 yếu tố : hoạt động của thương mại(xuất,nhập khẩu), chuyển giaocông nghệ và di cư lao động quốc tế Di cư lao động quốc tế cũng góp phầnvào việc chuyển giao kỹ năng quản lý của doanh nghiệp FDI
_Sáu là, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách về FDI của mỗi quốc gia tiếp nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa và quan điểm hội nhập quốc tế về đầu tư, đây được coi là nhận tốkéo, mặt khác, các công ty đa quốc gia, trong chiến lược phát triển của mình
Trang 3Nếu căn cứ và tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia FDI thành các loại : hợp đồng hợp tác kinh doanh,doanh nghiệp liên
doanh,doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.Ngoài ra còn có thêm các hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao
(BOT) ,xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO),xây dựng-chuyển giao (BT) Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức pháp nhân mới và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại : đầu tư tập trung trong khu công nghiệp-khu chế xuất và đầu tưphân tán Mỗi loại đầu tư đều có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơcấu công nghiệp của từng quốc gia
Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…
Nếu căn cứ vào lĩnh vực đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành các loại : đầu tư vào công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…, cách phân loại này tương tự như phân loại đầu tư nước ngoài theo động cơ đầu tư
Nếu căn cứ theo động cơ đầu tư, FDI có thể theo các động cơ tìm kiếm nguồn lực, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm hiệu quả và tìm kiếm tài sản chiến lược
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bao gồm bốn hình thức sau:
_Hợp đồng hợp tác kinh doanh
_Doanh nghiệp liên doanh
_Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Trang 4II.Việc làm và tạo việc làm
1.Vai trò của việc làm
_ Có việc làm và thất nghiệp là hai khái niệm trái ngược nhau Do đó, tạo việc làm có vai trò trước tiên là làm giảm thất nghiệp Từ đó, thất nghiệp giảm lại kéo theo nhiều tác động tích cực khác
_ Đối với cá nhân người lao động, tạo việc làm góp phần tăng thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Có việc làm, có thu nhập, người lao động mới
có khả năng trang trải cuộc sông, chăm sóc con cái và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần
_ Đối với xã hội, tạo việc làm góp phần ổn định đời sống của mọi người dân, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, thúc đẩy sự ổn định của xã hội, đẩy lùicác tện nạn xã hội do giảm thất nghiệp
_ Tạo việc làm có tác động lớn đến sự phát triển bền vững, mục tiêu mà Việt Nam cũng như các nước đang theo đuổi Tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Nhờ đó góp phần làm tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm người trong xã hội Mặt khác, người lao động có thu nhập, có điều kiện chăm sóc y
tế, dinh dưỡng tốt hơn, đầu tư cho con cái nhiều hơn về giáo dục, các nhu cầu tinh thần Góp phần nâng cao sức khỏe, tuổi thọ, học vấn cho bản thân và gia đình, tăng vị thế của người lao động trong xã hội
2.Các yếu tố tác động đến tạo việc làm cho người lao động
Trang 5tiền lương, tiền công, điều chỉnh mức lương giữa các loại hình doanh nghiệp, quy định mức lương tối thiểu…
_ Số lượng và chất lượng cung lao động
+ Số lượng cung lao động lớn, giá cả lao động thấp, nhà đầu tư sẽ có điều kiện thuê nhiều lao động hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn
+ Chất lượng cung lao động cao, đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư,
họ mông muốn thuê lao động hơn Đồng thời, chất lượng cung lao động tốt sẽlàm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể sử dụng ngay lao động của nước ta vào các vị trí quản lý mà không cần đưa chuyên gia nước ngoài sang Chất lượng lao động cao sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm hơn cho chính người lao động
III.Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề tạo việc làm cho người lao động
1.FDI giải quyết việc làm cho người lao động
Thu hút được nguồn vốn FDI lớn, các nước nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có điều kiện phát triển kinh tế thuộc mọi lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Ngày càng có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất mới ra đời cần nhiều lao động, kể cả lao động phổ thông và lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao Nhiều ngành nghề, nhiều loại hình dịch vụ mới
ra đời, tạo nhiều cơ hội cho những người đang đi tìm việc
2.FDI cũng giải quyết việc làm cho người lao động thông qua tác động gián tiếp
Cùng với sự phát triển của khu vực FDI, một số khu vực sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ cho các khu vực này thuộc các thành phần kinh
Trang 6tế khác nhau cũng phát triển theo.Từ đó nâng cao khả năng tạo việc làm cho người lao động.
3.FDI góp phần nâng cao chất lượng lao động trong nước
_ Thông qua FDI, người lao động đã được đào tạo, nâng cao năng lực quản lý, trình độ khoa học công nghệ và có khả năng thay thế chuyên gia nước ngoài; được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp thu kỹ năng công nghệ tiên tiến; được làm việc trong môi trường lao động an toàn, vệ sinh; được rèn luyện tác phong lao động công nghiệp, kỷ luật lao động và thích ứng dần với
cơ chế lao động mới
_ Yêu cầu về trình độ lao động trong các doanh nghiệp sử dụng vốn FDI cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp khác Yêu cầu này đã gián tiếp nâng cao chất lượng lao động Việt Nam nói chung
_ Các doanh nghiệp khác muốn cạnh tranh được với doanh nghiệp FDI, ngoài các chiến lược kinh doanh cũng cần có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, khuyến khích người lao động trong doanh nghiệp mình không ngừng học hỏi,nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý…
IV.Tác động của FDI đối với vấn đề tạo công ăn việc làm
1.Lý thuyết về lợi ích của đầu tư nước ngoài
Hợp tác đầu tư nước ngoài chỉ có thể thành công khi có sự gặp gỡ về lợi ích của cả hai bên Sử dụng sản phẩm cận biên của vốn đầu tư nước ngoài làmcông cụ chỉnh, ngay từ năm 1960 Mac Dougall đã chỉ ra rằng sự tăng vốn đầu
tư nước ngoài vừa làm tăng sản phẩm đầu ra vừa phân phối lại thu nhập giữa nhà đầu tư trong nước và người lao động
Trang 7Mô hình Mac Dougall về FDI
Trong mô hình trên vốn cổ phần đầu tư là AC, trong đó AB là vốn cổphần của nhà đầu tư trong nước và BC là của nhà đầu tư nước ngoài Giá trịđầu ra là GDCA; thu nhập của chủ đầu tư trong nước là FEBA, của chủ đầu tưnước ngoài là EDCB, của người lao động là GDF Khi vốn FDI tăng từ BCđến BL sẽ có những tác dụng sau: thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài bây giờ
là IKLB (phần đầu tư mới nhận JKLC và đầu tư cũ giảm đi EDJI do tỷ suấtlợi nhuận giảm dần được biểu hiện qua sản phẩm cận biên của vốn Ay) Nhàđầu tư trong nước giảm thu nhpaaj FEHI và người lao động hưởng phầnFDKH Như vậy, tổng cộng nước chủ nhà thu nhập EDKI Phần thu nhập củangười lao động tăng thêm nhiều hơn ngoài DKJ là do phân phối lại từ nguốnvốn đầu tư cũ Do vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vừa tạo ra thu nhậpcho nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, vừa tạo ra công ăn việclàm và tăng thu nhập cho người lao động
2.Tác động của FDI trong vấn đề tạo công ăn việc làm
Trong thời gian gần đây, vai trò của FDI đối với vấn đề tạo công ăn việc làm cho người lao động được nhiều người quan tâm và nghiên cứu
Từ xưa, các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith hay Ricardo,Keynes… cũng đã đề cập đến vấn đề này Đối với Smith thì ông cho rằng có
Trang 8một mối quan hệ trực tiếp giữa đầu tư và việc làm Trong những nguyên lýcủa mình thì Ricardo đã có những ý kiến về vấn đề này và ông chỉ ra rằng “Sựphát hiện và sử dụng máy móc có thể đi kèm với sự gia tăng của tổng sảnphẩm sản xuất ra và bất kỳ trong trường hợp nào việc này cũng ảnh hưởngđến lực lượng lao động bởi vì một số người trong số họ sẽ mất việc làm” Đốivới Keynes ông đã phát triển học thuyết của Adam Smith và trong “lý thuyếtchung về tiền tệ, lãi suất và việc làm” Ông đã nhận thức rõ mối quan hệ trựctiếp giữa đầu tư và việc làm và đưa ra kết luận “Việc làm chỉ có thể tăngtương ứng với sự tăng lên của đầu tư nếu không có sự thay đổi trong khuynhhướng tiêu dùng” Nghĩa là việc làm là biến phụ thuộc, đầu tư và tiêu dùng làhai biến giải thích Việc làm chỉ tăng lên khi đầu tư tăng lên hoặc khi ngườidân có sự thay đổi trong tiêu dùng.
Những kết luận như “kim chỉ nam” cho các thế hệ sau này có nhữngđường đi đúng hướng khi nhận thấy vai trò của đầu tư (đặc biệt là đầu tư trựctiếp nước ngoài) trong vấn đề tạo và giải quyết việc làm cho người lao động Tóm lại, qua những nghiên cứu của các nhà học thuyết kinh tế từ trướctới nay ta đã thấy được tầm quan trọng của FDI đối với vấn đề tạo công ănviệc làm, nhất là đối với các nước đang phát triển
Trang 9Chương II: Thực trạng về tạo việc làm cho người
lao động trong khu vực FDI của Việt Nam giai
Bảng 1:Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép thời kì 2005-2009
Dựa vào số liệu trên ta thấy:
_ Từ năm 2005 đến năm 2009 số dự án và số vốn đăng ký tăng dần theo thời gian Cụ thể: số dự án tăng từ 970 năm 2005 đến 1208 năm 2009, tăng 1.25 lần; bên cạnh đó số vốn đăng ký tăng từ 6839.8 triệu đô la Mỹ đến 23107.3 triệu đô la Mỹ, tăng 3.38 lần
_ Tổng số vốn thực hiện tăng đều qua các năm
Từ đó có thể rút ra kết luận: Theo đà phát triển của kinh tế toàn thế giới, dòng vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam cũng tăng theo thời gian Tuy nhiên tổng số vốn thực hiện so với tổng số vốn đăng ký vẫn còn nhỏ, trong tổng số
6266 dự án với tổng vốn đăng ký là 135024.9 triệu đô la Mỹ mới chỉ có 36938.9 triệu đô la Mỹ tổng số vốn được thực hiện chiếm 27.4
II.Số lượng lao động trong khu vực FDI so với các khu vực khác thời kì 2005-2009
Trang 101.S l ố lượng lao động ượng lao động ng lao đ ng ộng
Trang 11Bảng 3:Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở nên phân theo thành phần kinh tế (2005-2009)
Đ n v :ph n trăm ơn vị:phần trăm ị:phần trăm ần trăm
NămThành phần
_ Cơ cấu lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần quacác năm từ 2,6% trong năm 2005 đến 3,4% năm 2009
_ Cơ cấu lao động trong khu vực nhà nước giảm dần qua các năm từ11,6 năm 2005 đến 10,5% năm 2009
Kết luận rút ra là :Lao động tập trung đông nhất trong thành phần kinh tếngoài nhà nước đặc biệt là khu vực kinh doanh cá thể Số lao động trong khuvực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang có xu hướngtăng
Trang 122.Tốc độ tạo ra công ăn việc làm mới cho người lao động của các
doanh nghiệp FDI đang có dấu hiệu chững lại
Trong giai đoạn 2000-2005, việc làm mới được tạo ra bởi các doanh
nghiệp FDI tăng trung bình 24,4%/năm (tăng gần gấp ba lần về mặt tuyệt đối,
từ 227.000 người năm 2000 lên 667.000 người năm 2005), bỏ xa khu vực
doanh nghiệp nhà nước và tư nhân (lần lượt là 3,3% và 2,3%) Kết quả là tỷ trọng việc làm được tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI đã tăng từ 0,6% năm
2000 lên 1,6% năm 2005 ở VN
Tuy nhiên đến năm 2006-2007,tốc độ tăng của việc làm mới tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI giảm xuống còn xấp xỉ 18%.Đến năm 2008 con số này chỉ còn là 8%
III Chất lượng lao động trong khu vực FDI và vấn đề nâng cao năng lực người lao động
Trong khi khu vực FDI được kỳ vọng nhất là nâng cao năng lực củangười lao động thì hiệu quả đầu tư của khu vực FDI về phương diện này đều
tỏ ra đang đi ngược lại với kỳ vọng trên của các nhà hoạch định chính sách.Bức tranh về DN FDI vẫn có những mảng sáng tối xen lẫn nhau
Lao động nữ(%)
Thu nhập (tr.đ/
ng/năm)
Lao động nữ(%)
Thu nhập (tr.đ/ng/năm)
Trang 13tỷ lệ lao động nữ vẫn chiếm áp đảo, với các công việc chân tay đơn thuần làchủ yếu.
Thêm vào đó, thu nhập của những người lao động tại đây cũng rấtkhiêm tốn Tính trung bình, các DN thuộc khu vực nhà nước có mức thu nhậplao động là 192 triệu/ng/năm năm 2008, trong khi con số này ở các DN thuộckhu vực FDI chỉ bằng phân nửa là 97,5 triệu/ng/năm
Hơn nữa, số lao động được đào tạo là rất hạn chế, có nhà máy mấy chụcngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuầngọi là "đào tạo"
Cho tới hiện nay, dường như các DN nước ngoài tìm tới Việt Nam đểđầu tư sản xuất chủ yếu vẫn với suy nghĩ là tận dụng nguồn nhân công "dồidào, giá rẻ" chứ chưa phải là tìm cách khai thác những lợi thế khác của ViệtNam Chính vì vậy mà việc trả lương cho nhân công cao hay đào tạo nguồnnhân lực trong các doanh nghiệp FDI là điều đã bị coi nhẹ
Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng, nguồnnhân lực của chúng ta vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn và cần khắc phục
Đối với các DN nói chung, số nhân lực có đủ chuyên môn trình độ đã ởdạng hiếm, thì điều này ở các DN FDI e rằng cũng không phải là ngoại lệ.Mặc dù vậy, so với 2 khu vực kinh tế còn lại, DN FDI dường như chưa đápứng được mong mỏi của nước chủ nhà
Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút FDI nhằm
tạo công ăn việc làm cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 141.Tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam, tạo nguồn vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh, tăng cầu lao động.
1.1.Giải pháp về luật pháp
_ Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp
để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh Khẩn trương banhành các văn bản hướng dẫn các đạo luật mới, nhất là các luật mới chưa đượcQuốc hội thông qua trong thời gian gần đây liên quan đến đầu tư, kinh doanh._ Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựngcác công trình phúc lợi
_ Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các
dự án công nghệ lạc hậu; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đấttheo tiến độ dự án
1.2.Giải pháp về tài chính, ngoại hối
Trong chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài của các nước,các khuyến khích về tài chính luôn chiếm vị trí quan trọng và luôn được nướcchủ nhà coi là những “củ cà rốt” để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Cáckhuyến khích về tài chính thường bao gồm các mức thuế, thời gian miễn giảmthuế, ưu đãi tín dụng, lệ phí và quy định thời gian khấu hao Đây là nhữngcông cụ quan trọng không chỉ tạo nên sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nướcngoài mà còn hướng dẫn họ đầu tư theo định hướng phát triển của nước chủnhà