Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 1A Lời nói đầu
Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tếđất nước, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã cónhững bước đột phá ngoạn mục Thu nhập của nông dân không ngừng tănglên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể Sản xuất nông nghiệp đã đảmbảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội
Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trongthời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé Chođến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp vùng Đồngbằng Sông Hồng vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý.Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, màtrong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêucầu này
Đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây,vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâmchú ý, đặc biệt là sau khi nghị quyết số 03/2000 - CP của Chính phủ ngày02/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời, thì kinh tế trang trại ở Việt Nam mới cóđược một sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ chocác doanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường Sự tăng nhanh về
số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chứcsản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thônnước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy môđất đai lớn như ở vùng trung du miền núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phíaNam, nhưng đồng bằng sông Hồng vốn là vùng có truyền thống sản xuất nôngnghiệp lâu đời, trình độ thâm canh cao nhất cả nước Nhưng để ngành nôngnghiệp của vùng đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì phảihợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt
để tiềm năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng châuthổ này, và mô hình kinh tế trang trại là phù hợp hơn cả Những năm qua kinh
Trang 2tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng đã có nhiều thành tích đáng khích lệ,nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó Câu hỏiđặt ra là: khả năng phát triển kinh tế trang trại của vùng đến đâu? Làm sao để
mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất? Trả lời cho
câu hỏi này chính là mục đích của đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng”.
Trang 3B Nội Dung Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển
kinh tế trang trại
I Khái niệm, đặc trưng và phân loại
1 Khái niệm về kinh tế trang trại 1
1.1 Trang trại
Gần với khái niệm trang trại, người ta hay sử dụng khái niệm điền tranghay nông trang Nhưng về bản chất, chúng là các cách gọi khác nhau của mộtđơn vị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với quy mô lớn theo hướng sản xuấthàng hoá
1.2 Kinh tế trang trại
Về kinh tế trang trại, có nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Có quan điểm cho rằng: “Kinh tế trang trại là loại hình cơ sở sản xuấtnông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từ khiphương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến Trang trại đượchình thành từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp tự túc khép kín,vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trường, từng bướcthích nghi với nền kinh tế cạnh tranh” (1)
Trong nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trangtrại Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại như sau: “Kinh
tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nôngthôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệuquả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồngrừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông - lâm - thuỷ sản”
Như vậy có thể tóm lại: Kinh tế trang trại là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông - lâm - ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu làsản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay thuộc quyền sử
(1) Báo cáo chuyên đề: “Chính sách phát triển trang trại và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao động nông thôn”, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002.
Trang 4dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô đất đai vàcác yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách tổ chức quản lý tiến bộ vàtrình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
2 Đặc trưng của kinh tế trang trại
2.1 Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất nông lâm thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn
-Knh tế trang trại là kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa, khác với kinh
tế tiểu nông tự cấp tự túc K.Marx đã phân biệt chủ trang trại với người tiểunông như sau:
- Chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra
- Người tiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ítcàng tốt
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của kinh tế trang trại so với kinh tế cá thểsản xuất nông nghiệp trước đây Sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại phải
có quy mô lớn để giảm chi phí đầu vào, tạo ra sản phẩm hàng hoá với giáthành cạnh tranh, chất lượng cao Đến lượt nó, sản xuất quy mô lớn lại càngđòi hỏi phải làm ra sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trường vì rõ ràngngười chủ trang trại không thể tiêu dùng hết được
Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểutiểu nông Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trịsản lượng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỉ suất hàng hoá của trang trại
2.2 Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư dẫn đến chuyên môn hoá
và hình thành các vùng chuyên canh
Bất kì một hình thức sản xuất nông nghiệp nào cũng cần có sự tập trungđất đai và vốn ở mức độ nhất định Do tính chất sản xuất hàng hoá quy môlớn, quá trình phát triển kinh tế trang trại sẽ dần tạo ra những vùng, tiểu vùngsản xuất nông nghiệp với cơ cấu sản xuất khác nhau:
- Cơ cấu sản xuất độc canh: là mức phát triển thấp của kinh tế trang trại.Trang trại chỉ sản xuất kinh doanh một loại cây (con) nhất định, tính chuyênnghiệp, chuyên môn và tính chất hàng hoá chưa cao
Trang 5- Cơ cấu sản xuất đa dạng: trang trại kết hợp nhiều loại cây trồng vậtnuôi để tận dụng mọi năng lực sản xuất của mình.
-Cơ cấu sản xuất chuyên môn hoá: đây là giai đoạn trang trại đã tích luỹ
đủ về đất đai, vốn, năng lực và kinh nghiệm quản lý để tham gia vào hệ thốngphân công lao động xã hội Khác với cơ cấu độc canh, sản xuất chuyên mônhoá đòi hỏi ứng dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học kĩ thuật và đạt đếntrình độ, tính chất sản xuất hàng hoá cao Dần dần, nhiều trang trại cùngchuyên môn hoá một loại cây trồng, vật nuôi có thể hình thành nên nhữngvùng chuyên canh rộng lớn
2.3 Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ
Dựa trên cơ sở thâm canh, chuyên môn hoá sản xuất, các trang trại phải
có cơ chế tổ chức và quản lý sản xuất như là các đơn vị kinh doanh khác, tức
là phải hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận với thịtrường, khác với lối sản xuất “làm tới đâu thì tới” của kinh tế tiểu nông Ởđây hiệu quả kinh tế được đặt lên hàng đầu nên tất cả các hoạt động sản xuấtđều phải tính toán lợi ích - chi phí bỏ ra
Lao động trong trang trại có hai bộ phận: lao động quản lý (thường làchủ trang trại) và lao động trực tiếp (lao động gia đình và lao động làm thuê)
Số lượng lao động thuê mướn thay đổi tuỳ loại hình trang trại và quy môtrang trại khác nhau
Chủ trang trại là người có kiến thức và kinh nghiệm, trực tiếp điều hànhsản xuất, biết áp dụng khoa học công nghệ Thu nhập của trang trại vượt trội
so với kinh tế hộ
3 Phân loại kinh tế trang trại
3.1 Theo quy mô đất sử dụng, có thể chia 4 loại:
Trang 63.2 Phân loại theo cơ cấu sản xuất, chia thành:
- Trang trại trồng cây lương thực, thực phẩm: quy mô đất nhỏ Rất phùhợp với điều kiện đất đai và khí hậu vùng đồng bằng
*Trang trại chăn nuôi: Loại hình trang trại này cũng rất đa dạng
*Trang trại thuỷ sản: loại hình trang trại này rất đặc thù, nhất thiết phải
có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản với một diện tích nhất định
*Trang trại kinh doanh tổng hợp: chủ trang trại có thể kết hợp trồng trọtvới chăn nuôi, trồng trọt với nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất với dịch vụ, tiểuthủ công nghiệp hoặc thậm chí tất cả các hình thức miễn sao có lợi
3.3 Phân loại trang trại theo chủ thể kinh doanh
Theo chủ thể kinh doanh, có thể chia kinh tế trang trại thành:
- Trang trại nhà nước: như nông trường quốc doanh, công ty nông nghiệpnhà nước, có quy mô lớn nên hình thành nên nhiều cấp trung gian
- Trang trại của công ty hợp doanh: Là loại hình kinh doanh nông nghiệpquy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hoá của các công ty hợp doanh
- Trang trại gia đình: Đây là loại hình phổ biến nhất của kinh tế trang trạitrên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Loại hình này thực chất làcác hộ nông dân từ kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc, tiến lên kinh tế trang trạisản xuất hàng hoá với các mức độ khác nhau
Trang 7II Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế -xã hội vùng Đồng bằng Sông Hồng
1 Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp - nông thôn
Các ngành sản xuất đều có xu hướng tích luỹ về vốn và các yếu tố sảnxuất khác: tư liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý Trong nôngnghiệp cũng vậy Lúc đầu Marx cũng cho rằng đây là điều tất yếu trong qúatrình công nghiệp hoá nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nhưng trong tácphẩm cuối cùng của mình, ông đã viết: “Ngay ở nước Anh nền công nghiệpphát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nôngnghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không dùng lao động làmthuê”. (2) Sở dĩ như vậy là vì sản xuất nông nghiệp có đặc trưng khác với côngnghiệp ở chỗ là phải tác động vào những vật sống (cây trồng, vật nuôi) nênkhông phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất tập trung quy mô quá lớn
Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mớibắt đầu cách đây gần hai chục năm Cơ chế thị trường không chỉ tác độngmạnh mẽ đến hoạt động của các ngành công nghiệp, dịch vụ mà còn làm thayđổi căn bản mục đích và do đó thay đổi cả phương thức sản xuất trong nôngnghiệp Sự phát triển của trao đổi hàng hoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩmphải là hàng hoá với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo hơn
Khi nông nghiệp đã có một bước chuyển mình đáng kể, nhiều hộ nôngdân đã giàu lên, nhận thức và hiểu biết về khoa học kĩ thuật ngày càng sâusắc, kinh nghiệm và khả năng quản lý, tổ chức sản xuất ngày càng được nângcao, vốn tích luỹ đạt đến một mức độ nhất định, thì cũng là lúc người kinhdoanh nông nghiệp phải nghĩ đến một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệpmới, có quy mô lớn hơn, tỉ suất lợi nhuận cao hơn Thế là họ bỏ vốn, lập nêncác trang trại, thuê nhân công và hoạt động như một nhà kinh doanh
Nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong phát triểnkinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp - nông thôn nói riêng, Chính phủ đã
có khá nhiều văn bản quan trọng về các vấn đề: đất đai cho trang trại, vốn sảnxuất cho trang trại, hỗ trợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra , bắt đầu từ “khoán
(2) K.Marx, Toàn tập, tập 25, phần 2.
Trang 8100” thực hiện sản lượng khoán, tránh đồng ruộng bị chia cắt manh mún, đếnNghị quyết Trung ương 5 Khoá VII (6/1993) sau đó là Luật đất đai (9/1993),rồi Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII (12/1997) cũng khẳng định: “kinh tếtrang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (nhà nước, tập thể, tư nhân)được phát triển chủ yếu trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi
có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này”
Và gần đây nhất, một văn bản quan trọng đã được ban hành Đó là Nghị quyết
số 03/2000/NQ – CP, trong đó có nêu rõ: “Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học– công nghệ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điềukiện cho các trang trại phát triển bền vững”, “chủ trang trại được thuê laođộng không hạn chế về số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận vớingười lao động theo quy định của pháp luật ”
2 Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng
2.1 Góp phần chuyên môn hoá sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, phát triển kinh tế hàng hoá của vùng
Như đã nói, đặc trưng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao vềđất đai và tích luỹ lâu dài về vốn, đã dần tạo nên một quy mô vượt trội so vớisản xuất của hộ gia đình Với riêng mỗi trang trại, trong giai đoạn đầu do cònthiếu vốn và khả năng sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý, họ thường kếthợp sản xuất nhiều loại nông sản khác nhau nhưng sau đó, do sự tích luỹ vềcác yếu tố trên, trang trại sẽ hướng theo một vài loại sản phẩm do đó quy môcủa loại sản phẩm này cũng lớn lên Sản xuất quy mô lớn lại đòi hỏi áp dụngtiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất để làm ra sản phẩm với chi phí thấp,chất lượng cao và đồng đều Vì mục đích của kinh tế trang trại là thị trường:sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, chất lượng ở mức độ nào, đều phảibắt kịp các tín hiệu của thị trường Và vì xu hướng của trang trại là ngày càngđòi hỏi sản phẩm có chất lượng cao hơn, nên cơ cấu sản xuất của trang trạicũng thay đổi, hàm lượng khoa học kĩ thuật trong sản phẩm nông nghiệp thậmchí tăng lên Nhìn chung, kinh tế trang trại sẽ tăng tỉ lệ chăn nuôi, giảm tỉ lệtrồng trọt, một số tiểu ngành như sản xuất thực phẩm cao cấp, hoa kiểng ngày càng phát triển, đem lại nguồn thu lớn
Trang 9Biểu 1: Cơ cấu GDP ngành nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.
2.2 Góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng có vai trò quan trọng trongphát triển kinh tế của vùng, và đối với cả nước trong việc cung cấp lươngthực, thực phẩm cho các tỉnh, thành phố trong vùng cũng như đáp ứng mộtphần nhu cầu của các vùng khác Trong thời kì 1991 – 2001, sản lượng lươngthực của vùng tăng hơn 2, 7 triệu tấn; giá trị sản xuất nông – lâm – ngưnghiệp (theo giá cố định 1994) tăng lên từ 13.402 tỉ đồng (năm 1990) lên24.103 tỉ đồng (năm 2001), bằng 23,8% giá trị sản lượng nông – lâm – nghiệpcủa cả nước, tốc độ phát triển bình quân mỗi năm là 6,02% Sự phát triển củangành nông nghiệp có đóng góp quan trọng của kinh tế trang trại
Lợi thế về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động )giúp các trang trại tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn Trang trại có điềukiện thuận lợi trong cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trongquản lý, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộkhoa học kĩ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại trong hoạt độngsản xuất
2.3 Góp phần vào sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn
Sản phẩm nông nghiệp là đầu vào quan trọng của các ngành côngnghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Rõ ràng là khối lượng, chất lượng,
Trang 10giá cả nông sản cung cấp cho một nhà máy chế biến thực phẩm nào đó sẽquyết định tính cạnh tranh của sản phẩm nhà máy này Không những thế, sảnphẩm của trang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, côngnghiệp năng lượng trong các mối liên hệ ngược với các ngành này Để làm rasản phẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lượng, cầnđược cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu Đó là không kể những trangtrại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ Yêu cầu nàycần được sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm Mối quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: sự phát triển của ngành này là động lựcphát triển của ngành kia.
Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho một
bộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng lênkéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thịtrường
3 Tác động về mặt xã hội và môi trường
3.1 Góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Theo số liệu năm 2001, dân số nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồngvào khoảng 13, 77 triệu người, tổng số lao động là 10, 47 triệu trong đó laođộng trong độ tuổi ở nông thôn là gần 8, 2 triệu, chiếm tới 78,17% tổng laođộng của vùng Tính chất mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp cùngvới việc mở rộng dần phạm vi ứng dụng của máy móc hiện đại càng làm tăng
tỉ lệ thất nghiệp trá hình Theo ước tính, lao động ở khu vực nông thôn mớichỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thời gian lao động nông nghiệp Một phần laođộng dư thừa ấy sẽ được giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trạikhông chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng như người nhàcủa họ mà còn thu hút được một lực lượng đáng kể lao động làm thuê
3.2 Phát triển lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Tác động của kinh tế trang trại tới sự phát triển của lực lượng sản xuấtxét ở 3 khía cạnh:
Một là, nhờ cách làm ăn hiệu quả hơn, kinh tế trang trại đem lại nguồnthu nhập cao hơn cho người lao động tham gia sản xuất và trong thực tế rất
Trang 11nhiều nông dân đã giàu lên thực sự bằng con đường này Không những thế,những lao động làm thuê cũng được hưởng một mức thu nhập cao hơn trướcđây, nhờ đó đời sống được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần.
Hai là dựa vào ưu thế của kinh tế trang trại trong việc ứng dụng tiến bộkhoa học kĩ thuật mà trình độ kĩ thuật, trình độ thâm canh, chuyên môn hoánông nghiệp của vùng nói chung được nâng lên rõ rệt Trong thời đại này,máy móc là bộ phận vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất nông nghiệp,
và sự phát triển của máy móc (xét cả về số lượng và chất lượng) chính là sựphát triển của lực lượng sản xuất
Ba là, kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mốiquan hệ giữa nông dân - nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuênhân công, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất -chế biến - tiêu thụ của quy trình sản xuất hàng hoá
3.3 Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trạicần phải được đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại.Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợpvới các địa phương, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đềchung này (giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ),các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phương tiện vận tải được mởrộng và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại
3.4 Những lợi ích về môi trường:
Đối với vùng Đồng bằng Sông Hồng, các trang trại trồng rừng gần nhưkhông đáng kể, nhưng số lượng số lượng các trang trại còn lại đã góp phầnđáng kể vào công cuộc xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, sinh thái, bềnvững
Trang 12III Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng
1 Nhóm các nhân tố tài nguyên thiên nhiên
ở tình trạng manh mún, phân tán làm cản trở quá trình hiện đại hoá sản xuấtnông nghiệp
- Đặc điểm của đất đai: Đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần phảitính đến khi tiến hành sản xuất, nhất là với các trang trại trồng trọt Đồngbằng Sông Hồng vốn là một vùng châu thổ, có gần 80% đất canh tác trên loạiđất phù sa màu mỡ thuộc loại tốt trong cả nước, đó là lợi thế có thể thâm canhcây trồng đạt năng suất cao Một lợi thế hơn hẳn là vùng có tới 70% đất canhtác lúa màu được tưới bằng nước phù sa của hệ thống sông Hồng, có chấtlượng nước tốt, nhiều dinh dưỡng Tuy nhiên, theo tiến trình khai thác mộtcách lạc hậu và không tính đến hậu quả lâu dài cho nên đến nay, nhiều vùngđất đã trở nên bạc màu, muốn trồng trọt phải chi phí cải thiện đất rất tốn kém
1.2 Thời tiết, khí hậu
Yếu tố thời tiết ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ cấu sản xuất của cả trang trạichăn nuôi và trang trại trồng trọt, bởi lẽ chúng là những “đối tượng sống”được đặt trong một “môi trường sống” ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinhtrưởng và sinh sản Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng bức xạ lớn.Nhờ số giờ nắng cao, tính chất nóng ẩm của mùa hè và không khí lạnh củamùa đông, trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng có điều kiện để đa dạng hoá
cơ cấu cây trồng của mình, cả các loài cây nhiệt đới và cây ôn đới
Trang 132 Các nhân tố kinh tế xã hội
2.1 Lao động của trang trại
Bao gồm lao động quản lý và lao động sản xuất trực tiếp, xét trên 2 khíacạnh: số lượng và chất lượng
- Số lượng lao động tuỳ thuộc vào: quy mô sản xuất của trang trại, trình
độ cơ giới hoá, yêu cầu về nhân công do đặc trưng của ngành sản xuất, và khảnăng thuê mướn lao động của chủ trang trại Chắc chắn, so với kinh tế hộ, sốlao động của trang trại sẽ nhỏ hơn, nhưng đó là điều cần thiết để có triển
-Chất lượng lao động phụ thuộc: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kinhnghiệm, tay nghề, mức độ tận tuỵ của người lao động Nhìn chung, lao độngcung cấp cho các trang trại thường là nông dân (ngay cả bản thân chủ trangtrại cũng thường xuất thân như vậy) nên mức độ linh hoạt để thích ứng với cơchế thị trường còn thấp
2.2 Sự tích tụ vốn sản xuất:
Đây là điều kiện cần thiết để kinh tế hộ chuyển thành kinh tế trang trại.Kinh tế trang trại là một mô hình sản xuất lớn có tỉ suất hàng hoá cao, chấpnhận cạnh tranh ngày càng gay gắt và đặc biệt là luôn vận động theo các quyluật khách quan của cơ chế thị trường, nên ngày càng cần phải được tăngnguồn vốn đầu tư cho phát triển
Nguồn vốn cung cấp cho các trang trại bao gồm: sự hỗ trợ từ ngân sáchđịa phương, từ phía nhà nước, vốn tự có của chủ trang trại, vốn vay, vốn tíndụng, trong đó chủ yếu là vốn của chủ trang trại, phần hỗ trợ từ phía nhà nước
là rất hạn hẹp, vì thế khả năng tích luỹ vốn để mở rộng kinh doanh, đầu tưtrang trại thiết bị công nghệ tiên tiến là rất khó khăn
2.3 Những tác động của thị trường
Cùng với vốn, thị trường, là vấn đề sống còn của kinh tế trang trại, baogồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường tiêu thụsản phẩm Chúng tác động một cách mạnh mẽ tới tư duy và cách thức hoạtđộng sản xuất kinh doanh của trang trại, đẩy nhanh phát triển sản xuất kinhdoanh hàng hoá ở nông thôn, nhờ đó dân cư thoát khỏi tư duy kinh tế theo lốitiểu nông
Trang 14Vì là sản xuất hàng hoá nên vấn đề cung ứng vật tư (thị trường đầu vào)
là rất quan trọng Nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của trangtrại, và rõ ràng là một thị trường đầu vào có sự độc quyền sẽ gây ra rất nhiềuđiều bất lợi, chủ trang trại sẽ phải mua vật tư với giá cao mà chất lượng khôngđảm bảo
Còn thị trường sản phẩm đầu ra là một trong những vấn đề các trang trạiquan tâm nhất, nó phát đi các tín hiệu định hướng cho các thị trường nên sảnxuất loại nông sản nào, khối lượng, chất lượng ra sao, sản xuất như thế nào thìhiệu quả
2.4 Cơ sở hạ tầng nông thôn
Đây chính là “bầu không khí sống” của kinh tế trang trại, là yếu tố hỗ trợcho kinh tế trang trại và trong nhiều trường hợp, nó mang tính quyết định.Một hệ thống thuỷ lợi tốt, một mạng lưới điện và thông tin liên lạc đồng bộ,đầy đủ, giáo dục đào tạo và một hệ thống thương mại đáp ứng đúng nhu cầu,
là điều kiện thuận lợi như là sự thuận lợi với các yếu tố đầu vào khác Một hệthống đường giao thông hoàn chỉnh nối vùng sản xuất - chế biến - tiêu thụ làmột trong những điều kiện cần thiết để tạo ra một cơ chế sản xuất liên hoàn,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại Về mặt này, vùng Đồngbằng Sông Hồng có nhiều lợi thế: hệ thống đường giao thông hoàn chỉnh nốiliền các xã với nhau, nối liền nông thôn và thành thị, nối liền vùng nguyênliệu và chế biến; hệ thống thuỷ lợi kiên cố và không ngừng được tu bổ; đãhoàn thành điện khí hoá và nhìn chung có một hệ thống trạm, trường tươngđối đầy đủ, đáp ứng những nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân