1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình kinh tế và tác động đến tỉ lệ thất nghiệp, bài học từ thế giới và giải pháp cho nước ta.

29 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 687,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCLời mở đầu4CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚI5I.Khái quát tình hình kinh tế:51.Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009.52.Năm 2010 thế giới tiếp tục đi vào ổn định.53.Năm 2011 Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm.54.Năm 2012 2013 suy giảm, phục hồi chậm.75.6 tháng đầu năm 2014 Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại.8II.Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới.91.Tình hình thất nghiệp ở Mỹ.92.Tại các nước châu Âu.93.Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc.104.Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á11CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM12I.Khái quát tình hình kinh tế.121.Chưa thể phục hồi.122.Lạm phát bùng nổ.133.Sản xuất công nghiệp giảm mạnh.144.Lãi suất cho vay leo thang.155.Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng.15II.Cung cầu lao động và thực trạng thất nghiệp của Việt Nam.161.Cung cầu lao động.162.Tỉ lệ thất nghiệp .19III.Một số nghành điển hình.261.Ngành xây dựng.262.Nghành tài chính ngân hàng.263.Nghành môi giới chứng khoán.28Kết luận .............................................................................................................................29Danh mục tài liệu tham khảo.............................................................................................30Lời mở đầuToàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu của các nước phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập. Trong giai đoạn hiện nay, suy thoái kinh tế đang là vấn đề nóng tại tất cả các quốc gia trên thế giới, các nhà kinh tế xem đây là một vấn đề nan giải và đang tìm cách giải quyết. Suy thoái kinh tế đã gây ra bao hệ lụy, ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế như là lạm phát tăng cao, thất nghiệp gia tăng,… xảy ra ở hầu hết các các quốc gia và Việt Nam chúng ta cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực từ suy thoái. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới, các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với vô vàn thách thức, trong đó phải kể đến vấn nạn thất nghiệp. Trước tình hình này, có quan điểm rằng “ Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thê giới , Việt Nam không tránh khỏi các tác động tiêu cực khiến cầu về lao động tại tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều giảm, dẫn đến thất nghiệp gia tăng”. Với hiểu biết và từ tìm hiểu những thông tin liên quan, nhóm 7 hoàn toàn đồng ý với quan điểm này. Bằng những gì đã tìm hiểu chúng tôi cho rằng: Suy thoái kinh tế đã và đang tác động tiêu cực đến cầu về lao động tại tất cả các nghành kinh doanh và làm cho thất nghiệp gia tăng. Mặc dù tác động này là không đồng đều giữa các ngành và nhóm ngành.Dưới đây là những ý kiến của nhóm sau thời gian tìm hiểu đề tài. Đây là vấn đề rất sâu rộng, mang tính thời sự. Bản thân chúng em, những sinh viên năm thứ hai, khi được giao viết đề tài này cũng cảm thấy rất hứng thú và say mê. Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phân nhỏ suy nghĩ, hiểu biết của chúng em. Bài còn nhiều thiếu sót, chúng em xin kính mong cô chỉ bảo để chúng em hoàn thành bài viết tốt hơn.Chúng em xin chân thành cảm ơnCHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚII.Khái quát tình hình kinh tế:1.Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009. Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo. Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với bão.2.Năm 2010 thế giới tiếp tục đi vào ổn định. Một năm sau cuộc khủng hoảng tài chính, nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục và phát triển, kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào ổn định. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo kinh tế của 33 nước thành viên OECD tăng trưởng bình quân 2,8% trong năm 2010. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng của Trung Quốc ở gần mức 10% trong năm 2010 và 2011, tại Ấn Độ mức tăng trưởng là 8,4%, Nga 4,3% và Brazil 4,1%. Cũng theo OECD, thương mại toàn cầu phục hồi, tăng 12,3% năm 2010. Tại Mỹ, kinh tế tăng trưởng chậm, vào khoảng 2,4%2,5% trong năm 2010. Tại Pháp, nền kinh tế lớn thứ hai châu Âu, con số này còn thấp hơn, vào khoảng 1,6% trong hai năm 2010 và 2011.Tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone), EC cho biết tăng trưởng kinh tế năm 2010 sẽ là 1,7%. Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, có mức tăng trưởng 3,7%. Kinh tế Trung Đông và Bắc Phi sẽ vẫn tãng trưởng mạnh. Dự báo tăng trưởng của khu vực này sẽ là 4,1% năm 2010 và 5,1% năm 2011. Còn theo LHQ, tại khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribe, hoạt động xuất khẩu mạnh và giá hàng hóa cao đang tiếp sức cho tăng trưởng kinh tế nhanh hơn mong đợi. Năm 2010 đánh dấu sự phát triển mạnh của khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nõ nét nhất là sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, GDP của Trung Quốc trong quý 2 2010 đạt 1.337 tỷ USD. Ngoài ra nền kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore có mức tăng trưởng nhanh khoang 8,8%. ADB dự báo một số quốc gia đang phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, trong một tương lai không xa, có thể đuổi kịp và vượt qua các nước phát triển hiện nay.3.Năm 2011 Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm.Tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra chậm chạp. Theo IMF, kinh tế toàn cầu năm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm 2010. Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011so với tăng trưởng 3,1% của năm 2010. Khu vực các nước đang phát triển và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm so với mức 7,3% năm 2010.Mỹ nền kinh tế lớn nhất thế giới đã mất 1% điểm tăng trưởng, với GDP sẽ chỉ tăng 1,5% trong năm. Với 17 nước thuộc khu vực đồng euro, tăng trưởng GDP sẽ giảm bớt khoảng nửa điểm..Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong năm nay. Trung Quốc tiếp tục là nước dẫn đầu với mức tăng trưởng 9% trong năm tới. Nga, Mỹ Latin, châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi tăng trưởng sẽ thấp hơn so với dự báo trước đây.Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam Biểu đồ 2: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước mới nổi và đang phát triển, các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam (bình quân năm) 4.Năm 2012 2013 suy giảm, phục hồi chậm.Theo đánh giá ,3%; các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng 55,3%, thấp hơn kết quả đạt được 6,2% vào năm 2011; kinh tế châu Phi tăng 4,5%; kinh tế khu vực Mỹ La tinh và Caribê tăng 3,7%; riêng châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất 5,6% nhờ kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được động lượng. Kinh tế các nước ASEAN cũng đạt tốc độ khá cao 5,2% nhờ nhu cầu nội địa tăng mạnh đã góp phần giảm nhẹ nhiều tác động tiêu cực do suy giảm xuất khẩu bắt nguồn từ suy thoái toàn cầu và tăng trưởng kinh tế chậm lại tại Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ.Bảng 1: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 NĂM 2013 (%)Nguồn: IMF, các tổ chức tài chính khu vực, báo cáo quốc giaQuốc gia khu vựcNăm 2012Năm 2013Quốc gia khu vựcNăm 2012Năm 2013Toàn cầu3,33,6Châu Phi4,54,8Các nước phát triển1,31,41,6Trung Đông – Bắc Phi5,13,7Các nước EU0,30,4Mỹ latinh và Caribê3,74,7Khu vực euro0,40,1trung Âu1,92,9BRICS5,05,35,5quốc gia độc lập CIS4,24,1 nước đang phát triển5,6Mỹ1,52,33,0Châu Á TBD5,6Nhật Bản2,21,0ASEAN5,25,5Trung Quốc8,07,5Châu Phi4,54,8Ấn Độ5,75,96,3CHLB Nga3,54,03,9CH Nam Phi2,73,6Năm 2013, mặc dù có những dấu hiệu tích cực hơn trong tháng 8 nhưng kinh tế thế giới trong năm 2013 nhìn chung phục hồi chậm hơn mức kỳ vọng do suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ.Châu Âu thoát khỏi suy thoái dài nhất trong lịch sử với việc khu vực đồng Euro trong quý 22013 lần đầu tiên tăng trưởng dương kể từ quý 42011, nhưng cũng chỉ ở mức 0,3% so quý trước, thấp hơn mức trung bình 0,35% kể từ quý 32007. Anh tăng trưởng khả quan hơn với mức 0,7% trong quý 22013, cao hơn mức trung bình 0,65% kể từ quý 32007. Mỹ tăng trưởng ổn định với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) duy trì trên dưới 2% kể từ quý 12010 và lạm phát đạt mức 2% trong tháng 72013. Nhật Bản tăng trưởng tiếp tục cải thiện với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) tăng dần từ quý 32012. Trong khi đó, Trung quốc nhiều khả năng tăng trưởng thấp hơn kế hoạch 7,5% trong năm 2013 do phải đối mặt với vấn đề nợ xấu ngân hàng và nợ công địa phương. Tăng trưởng của Trung Quốc đã giảm từ 7,9% quý 42012 xuống 7,5% quý 22013. Ấn Độ do những yếu kém về cơ sở hạ tầng và thủ tục hành chính đang phải đối mặt với làn sóng rút vốn ra và tăng trưởng suy giảm liên tục từ 2010 (giảm từ 9,4% quý 12010 xuống 4,8% quý 12013).5.6 tháng đầu năm 2014 Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại.Hầu hết các nền kinh tế phát triển tuy vẫn duy trì các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy tăng trưởng nhưng từng bước cắt giảm quy mô các gói kích thích kinh tế.Những chuyển biến kinh tế thế giới đầu năm 2014 cho thấy 3 dịch chuyển nổi bật: (1) Các nước phát triển phục hồi đà tăng trưởng trong khi các nền kinh tế mới nổi tăng trưởng chậm lại; (2) Các ngân hàng trung ương bắt đầu thắt chặt dòng cung tiền tệ và cắt giảm chương trình kích thích kinh tế; (3) Trung Quốc điều chỉnh để giảm tốc độ tăng trưởng; lần đầu tiên kể từ năm 2004, Trung Quốc không nằm trong nhóm 12 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới.Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng toàn cầu năm 2014 dự kiến đạt 2,8% (giảm so với mức dự báo 3,2% đưa ra trong tháng 012014) và năm 2015 đạt 3,4%; các nền kinh tế phát triển tăng trưởng 1,9% và các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng 4,8% trong năm 2014.II.Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới.1.Tình hình thất nghiệp ở Mỹ.Trong hai năm 20082009, kinh tế Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tỉ lệ thất nghiệp lên cao đến mức kỷ lục (trên 9,5%) kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, có tháng còn lên đến 10%. Trong và sau cuộc khủng hoảng này, nền kinh tế đứng thứ nhất thế giới đã đánh mất 8,8 triệu việc làm và chỉ tạo thêm được 4 triệu việc làm (tương đương 46% số việc làm đã mất) khi quá trình phục hồi bắt đầu. Tuy nhiên, trong những năm sau đó, kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu hồi phục nhất định. GDP bắt đầu tăng trưởng trở lại trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở quốc gia này có xu hướng giảm dần, xuống còn 7,7% vào tháng 11 năm 2012 Biểu đồ 3: Tình hình thất nghiệp của Mỹ giai đoạn 2008 2013Tỷ lệ thất nghiệp trung bình của năm 2013 ở mức 7,7% thấp nhất trong vòng 4 năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động của tháng 12 giảm xuống 62,8% thấp nhất kể từ năm 1978.Theo báo cáo công bố ngày 372014 của Bộ Lao động Mỹ, trong tháng Sáu vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm xuống còn 6,1% so với mức 6,3% trong tháng trước đó. Tỷ lệ này tuy vẫn cao nhưng được ghi nhận là bước cải thiện lớn của thị trường lao động Mỹ nếu so với tỷ lệ 10% trong những năm trước đây.2.Tại các nước châu Âu.Trái với sự hồi phục của Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay vẫn là vấn đề khó giải quyết của các nước châu Âu. Theo thông tin Eurostat mới công bố, tỷ lệ thất nghiệp tháng 8 năm 2013 tại châu Âu là 12%. Theo thống kê, lượng người thất nghiệp tại châu lục này lên tới khoảng 19,2 triệu người, tăng 895 nghìn người so với tháng 8 năm 2012. So với tháng trước, tình hình thất nghiệp châu Âu không thay đổi. Tháng 7 năm 2013 là tháng tiêu biểu cho việc lần đầu tiên tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm sau một thời gian dài.Xét riêng các nước thành viên, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất được ghi nhận tại Áo (4,9%), Đức (5,2%) trong khi cao nhất tại Hy Lạp (27,9% vào tháng 62013) và Tây Ban Nha (26,2%). Biểu đồ4 : Thất nghiệp của khu vực Châu ÂuLượng thất nghiệp trong độ tuổi thanh niên (dưới 25 tuổi) tại châu Âu khoảng 3,5 triệu người, giảm 52 nghìn người so với cùng kỳ năm 2012. Mặc dù tình trạng việc làm đối với giới trẻ châu Âu đã được cải thiện về lượng nhưng xét về tỷ lệ thanh niên thất nghiệp vẫn tăng từ 23,4% trong tháng 8 năm ngoái lên con số 23,7% mới công bố. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao nhất theo số liệu công bố rơi vào Hy Lạp (61,5% trong tháng 6 năm 2013), Tây Ban Nha (56%) và Croatia (số liệu quý 2 năm 2013 là 52%).Những thống kê từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) công bố vào 3092014, tỷ lệ thất nghiệp tại các nước châu Âu vẫn chưa được cải thiện so với thời điểm cùng kỳ năm trước: Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục duy trì ở mức 14% trong tháng 8, tỷ lệ thất nghiệp trung bình của Italy trong tháng 8 đã giảm xuống 12,3%, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức giảm xuống mức 6,5%.3.Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc.Trong 10 tháng đầu 2008, Trung Quốc có thêm 10,2 triệu người mất việc, chủ yếu ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một cuộc khảo sát của Đại học Tây Nam Bộ Tài chính trong năm 2011, tổng số người thất nghiệp thành thị Trung Quốc hơn 2770 người. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong tỷ lệ thất nghiệp khu vực phía tây, phía đông, miền trung và miền tây là 6,9%, 8,3% và 14,1%. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị của Trung Quốc vào tháng Bảy năm 2012 là 8,05%, cao hơn 0,5 điểm phần trăm cao hơn so với tháng 7 năm 2011.Tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc đã trở thành tâm điểm của sự chú ý bên ngoài năm 2013 khi chính phủ cấp cao Trung Quốc cho biết tỷ lệ thất nghiệp khảo sát Trung Quốc là 5%, tỷ lệ thất nghiệp đăng ký thành thị của Trung Quốc là 4,1%. Tuy nhiên theo điều tra của Trường Đại học Tài chính Trung Quốc cho 8000 hộ gia đình, vào tháng Sáu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp thành thị đạt 8,05 phần trăm, gần như gấp 2 lần tỷ lệ thất nghiệp đăng ký chính thức 4,1% , Trung Quốc tỷ lệ thất nghiệp 160 triệu lao động nhập cư đã tăng lên 6 phần trăm, trong tháng Tám năm 2011 là 3,4%, đây không phải là cuộc chiến đầu tiên về dữ liệu số liệu chính thức, trong năm 2009, Bộ đã công bố trong năm 2008 tỷ lệ thất nghiệp là 4,2%, trong khi số liệu điều tra CASS 9,4%, một sự khác biệt của hơn gấp đôi.4.Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á Biểu đồ 5 Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á năm 2010.CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAMI.Khái quát tình hình kinh tế.Sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính, nợ công toàn cầu đã góp phần làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam như làm cho lạm phát và mặt bằng lãi suất ở mức cao, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư giảm, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút, đồng tiền VNĐ giảm giá. Tất nhiên những vấn đề nêu trên không phải tất cả do khủng hoảng kinh tế, tài chính, nợ công gây nên mà còn do nhiều nguyên nhân khác từ bản thân nền kinh tế với những khoản nợ xấu trong các doanh nghiệp nhà nước.1.Chưa thể phục hồi.Năm năm sau cơn lũ, nước ở Việt Nam dường như rút chậm hơn. Bởi đến nay tăng trưởng kinh tế vẫn chưa thể phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bất ổn khi lạm phát và lãi suất cho vay cao, nợ xấu trở nên nhức nhối, thu nhập tăng chậmvà đời sống người dân khó khăn… Biểu đồ 5: Tăng trưởng GDP và lạm phát những năm gần đây (đơn vị: %)nguồn: Tổng cục Thống kê“Con hổ của châu Á” là cụm từ quen thuộc mà giới đầu tư quốc tế dành để nói về Việt Nam những năm 2006 2007, gắn với nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng cùng triển vọng từ cánh cửa WTO vừa mở. Nhưng, ảnh hưởng khủng hoảng ập tới, sự đứt gãy đến ngay trong năm 2008. Đến năm 2010, hướng phục hồi gợi mở, nhiều nhận định đều chung lạc quan: những gì khó khăn nhất đã qua, hay nền kinh tế đã chạm đáy. Năm 2011 và 2012, triển vọng phục hồi càng xấu đi. Đến nay, với những gì đã trải qua trong 2013, “tinh thần” tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu 5,5% dường như đã sẵn sàng.Trong báo cáo “Tình hình kinh tế 6 tháng và tháng 6 năm 2014” được công bố ngày 27, NFSC đánh giá tăng trưởng và sản xuất tiếp tục cải thiện. Tăng trưởng GDP 6 tháng2014 đạt 5,2%, cao hơn so với mức 4,9% của cùng kỳ 2 năm trước. Biểu đồ 6: tăng trưởng hàng quý 2010 2014 , % tăng cùng kì GDP giá 20102.Lạm phát bùng nổ.Đánh dấu năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, lạm phát tại Việt Nam bùng nổ trong năm 2008. Tình hình có vẻ nhanh chóng được kiểm soát trong năm 2009, nhưng ngay sau đó là cú hồi mã thương nhức nhối năm 2010 và 2011. Năm 2012 và cả 2013, lạm phát đã hạ nhiệt nhanh. Biểu đồ 7: Lạm phát và lạm cơ bản 62013 62014,% tăng GPI so cùng kỳ3. Sản xuất công nghiệp giảm mạnh. Biểu đồ 9: Sản xuất công nghiệp lao đao, tồn kho lớnNguồn: Tổng cục Thống kê. Đơn vị: %Theo báo cáo do Tổng cục Thống kê vừa công bố, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam trong tháng 52014 đứng ở mức 130,2 điểm, tăng 2% so với tháng 4 và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Biểu đồ 10: Chỉ số sản xuất công nghiệp 2014Ngoài ra, theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam tính chung cả cấp mới và tăng vốn là 6,85 tỷ USD, bằng 64,7% so với cùng kỳ 2013.Theo Báo cáo, vốn thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2014, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã giải ngân được 5,75 tỷ USD, tăng 0.9 % so với cùng kỳ năm 2013.4.Lãi suất cho vay leo thang. Biểu đồ 11: Tín dụng và lãi vay bình quânNguồn dữ liệu: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt NamCuộc khủng hoảng nổ ra, Việt Nam nhanh chóng có ứng xử mà điển hình là gói kích cầu 1 tỷ USD qua bù lãi suất. Gói hỗ trợ này là tác động chính đối với lãi suất cho vay khá mềm trong năm 2009. Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay liên tục leo thang, đặc biệt là sự ngột ngạt năm 2011. Nửa cuối 2012 và đến 2013 lãi suất cho vay mới bắt đầu hạ nhiệt khi lạm phát được kiềm chế.5. Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng. Biểu đồ 12: Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ (đơn vị: %), nguồn: xử lý dữ liệu từ khảo sát doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kêLà những đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng, nhưng dường như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ban đầu khá mờ nhạt,xét ở mức độ kinh doanh thua lỗ. Dữ liệu khảo sát hàng năm của Tổng cục Thống kê cho thấy, tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp chỉ thực sự tăng vọt từ năm 2011, đặc biệt là ở khối ngoài quốc doanh. Còn dữ liệu cập nhật gần nhất ở nguồn khác, theo báo cáo của Tổng cục Thuế, trong quý 12012 có đến 70% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ.II.Cung cầu lao động và thực trạng thất nghiệp của Việt Nam.1.Cung cầu lao động.Tại Việt Nam hiện nay, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh. Số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam đã và đang ở trong thời kỳ dân số vàng. Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục diễn ra trong giai đoạn 20102030. Đây thực sự là cơ hội lớn để phát triển kinh tế đất nước nếu Việt Nam đầu tư thỏa đáng vào nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn và giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động trẻ ngày càng đông.Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01012014 là 53,65 triệu người, tăng 864,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến 01012014 là 47,49 triệu người, tăng 409,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó nam chiếm 53,9%; nữ chiếm 46,1%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 ước tính 52,40 triệu người, tăng 1,36% so với năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,9% tổng số, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm.Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 ước tính 34,2%, trong đó khu vực thành thị là 47,4%; khu vực nông thôn 28,6% (Năm 2012 các tỷ lệ tương ứng là: 33,7%; 46,8% và 28%).Suy thoái kinh tế năm 20082009 dẫn đến sự thay đổi sâu sắc giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, cầu lao động ở nhiều ngành giảm. Lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với tình trạng của nền kinh tế là tài chính và bất động sản. Sự ảm đạm của thị trường chứng khoán và sự đóng băng của thị trường bất động sản trong hơn một năm qua đã làm nhu cầu về lao động giảm mạnh. Thông số nhân lực trực tuyến Quí II2008 cho thấy sự trồi sụt của thị trường chứng khoán khiến chỉ số cầu nhân lực của ngành này giảm 63% so với Quí I. Trong suốt nửa cuối năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 nhân lực của ngành này tiếp tục sụt giảm cùng với sự suy giảm liên tục của thị trường. Cùng tình trạng này là lao động trong ngành công nghệ thông tin. Xu hướng thuê phần mềm và các dịch vụ hỗ trợ làm cho các công ty về công nghệ thông tin giảm nhu cầu về các chuyên gia công nghệ. Theo ông Phạm Ngọc Tuấn, Tổng giám đốc Sài Gòn Postel Corporation, cho biết, số nhân lực công nghệ thông tin tại các công ty vào năm 2010 sẽ giảm 30% so với năm 2015 và sẽ có khoảng 1015% lao động lĩnh vực này thất nghiệp. Suy thoái kinh tế còn tác động mạnh đến ngành xây dựng, du lịch.Sự sụt giảm mạnh của 2 ngành này trong năm 2008 còn được tiếp diễn trong năm 2009. Các chuyên gia cho biết nhu cầu lao động trong ngành xây dựng và dịch vụ sẽ suy giảm.Một số ngành khác tăng “đột biến” trong năm 2010 như Marketing, dịch vụ, phục vụ, vệ sinh công nghiệp… Đặc biệt, nhu cầu tăng mạnh đối với các lĩnh vực giúp việc gia đình, chăm sóc người già, vệ sinh công nghiệp, phục vụ, bán hàng… Đây cũng là những ngành nghề hiện nguồn cung còn rất ít ỏi, nhiều khả năng chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu.Biểu đồ 13: các ngành nghế có chỉ số nhu cầu nhân lực cao nhất năm 2010 Biểu đồ 14: Các nghành nghề có chỉ số cung nhân lực cao năm 2010 Khi suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn còn tiếp diễn làm ảnh hưởng tới kinh tế trong nước, gia tăng tình trạng thất nghiệp. Hàng chục ngàn đơn vị, doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh. Vì vậy thị trường lao động có nhiều biến động, sự chênh lệch về cungcầu lao động thể hiện rõ, bên cạnh đó tình trạng lao động “nhảy việc” không ngừng gia tăng đặc biệt là lao động phổ thông làm ở các ngành nghề như dệt, may, xây dựng, bán hàng…. Biểu đồ 15: tỷ lệ các nghành nghề có nhu cầu tuyển dụng năm 20122.Tỉ lệ thất nghiệp .Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, những tháng cuối năm 2008, cả nước có gần 30.000 lao động tại các doanh nghiệp bị mất việc làm. Tính đến hết năm 2008, đã có 11 Liên đoàn Lao động tỉnh, thành báo cáo số lượng người mất việc là: Hà Nội 4.600 người, Bà Rịa – Vũng Tàu 1.624 người, Đà Nẵng 933 người, Vĩnh Phúc 500 người, Hải Phòng 900 người, Quảng Nam 8.000 người, Bình Dương 915 người, Đồng Nai 7.000 người, TP.HCM 8.000 người và Công đoàn Giao thông Vận tải 4.300 người. Các ngành bị cắt giảm nhiều lao động là dệt may, da giày, điện tử.Năm 2010, cả nước hiện có hơn 46 triệu người trong độ tuổi lao động. Thị trường lao động năm 2010 diễn ra nhiều biến động về chênh lệch cung – cầu. Đầu năm 2010, sự mất cân bằng giữa nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu trình độ chuyên môn và ngành nghề, với nhu cầu lao động phổ thông chiếm 71,16% so với tổng nhu cầu là nét chủ đạo.Ngày 3112, Tổng cục Thống kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%.So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02%. Năm 2009, các tỷ lệ tương ứng là 2,9%; 4,6%; 2,25%.Năm 2011: Theo Tổng cục Thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2011 ước tính 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 là 2,27%, từ mức 2,88% năm 2010, thấp nhất trong 4 năm gần đây.Trong năm 2012: Cả nước có tới gần 50.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng sản xuất kinh doanh, làm cho gần 41.000 lao động ở 60 tỉnh, thành mất việc làm. Theo số liệu Tổng cục thống kê vừa công bố năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 1,99%, giảm so với mức 2,27% năm 2011. Nên mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm năm 2012 giảm nhẹ so với các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012.Năm 2013: Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính là 2,28%, tăng đáng kể so với mức 1,99% của năm 2012. Trong đó tỷ lệ thất nghiệp tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính 2,77%, tăng 0,03% so với 2012. Biều đồ 16: Tỷ lệ thất nghiệp năm 2013 so sánh với 2012.Báo cáo cũng cho biết, năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 1524 ước tính 6,36%. Cả hai khu vực đều có tỷ lệ tăng so với năm ngoái, trong đó thành thị tăng thêm gần 2%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2013 ước tính 1,21%, cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng nhẹ so với cuối 2012.Phó Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội – Bộ LĐTBXH cho biết, trong năm 2013, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cải thiện so với năm 2012 nhưng chưa có tác động mạnh đến khả năng tạo việc làm của nền kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm chưa được cải thiện. Tính riêng quý IV2013, cả nước có 900.000 người thất nghiệp (tăng 48.000 người so với cùng kỳ 2012) và hơn 1,2 triệu lao động trong độ tuổi thiếu việc làm. Trong đó, ngoại trừ tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ giảm, còn lại tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đều tăng cao.Cụ thể, ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng nghề, tỷ lệ thất nghiệp là 7,68%, tăng 1,3 lần so với IV2012 (tương đương 8.300 người); tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng là 6,74%, tăng 1,3 lần (khoảng 19.200 người); tỷ lệ thất nghiệp của nhóm lao động có trình độ đại học trở lên là 4,25%, tăng 1,7 lần, nghĩa là có thêm 72.000 lao động thuộc nhóm này bị thất nghiệp so với số thất nghiệp ở quý IV2012. Đặc biệt, nhóm thanh niên từ 2024 tuổi tốt nghiệp cao đẳng và đại học trở lên (sinh viên mới ra trường) có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, lên tới 20,75%. Điểm đáng chú ý là trong nhóm thất nghiệp, số lao động bị thất nghiệp dài hạn từ một năm trở lên chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 44,2%, tăng 2,4 lần so với cùng kỳ năm 2012. Tỷ lệ này ở nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn nhiều so với không có chuyên môn kỹ thuật: 54,4% so với 39,6%. Năm 2014: Mới đây, Bộ LĐTBXH đã công bố tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong quý II2014 là 1,84%, giảm mạnh so với quý I và thuộc nhóm các nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới. Cụ thể: Tổng số người thất nghiệp giảm gần 174.000 người so với quý 12014 và giảm 155.000 người so với quý 22013”.Lao động không có chuyên môn kỹ thuật thất nghiệp giảm nhiều nhất về số lượng (giảm 108.000 người), tiếp đến là nhóm trình độ cao đẳng (giảm 171.000 người).Về số lao động trình độ đại học trở lên thất nghiệp giảm 15.400 người so với quý 12014 (162.000 người).Đến thời điểm 172014, cả nước có hơn 871.000 người trong độ tuổi lao động thất nghiệp (số liệu làm tròn), trong đó: 479.000 người ở thành thị, 521.000 người không có chuyên môn kỹ thuật, 147.000 người có trình độ đại học trở lên. Biểu đồ 17: Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2008 62013Nhìn vào số liệu thống kê, có vẻ như tình hình lao động việc làm tại Việt Nam đã “miễn dịch” với tnhất sau khủng hoảng, 2011 và 2012, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị còn cải thiện rõ nét. Điều này dường như mẫu thuẫn với tình trạng phá sản của doanh nghiệp hay sa thải lao động nổi cộm những năm gần đây, cụ thể: Năm 2011 là một năm khó khăn của nền kinh tế thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện nguồn vốn tín dụng hạn hẹp, lãi suất đã bắt đầu giảm xuống nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khả năng chịu đựng của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, giảm hiệu quả, thậm chí bị thua lỗ. Tính hết năm 2011, tổng doanh nghiệp đã giải thể là 79.014 doanh nghiệp. Cụ thể, doanh nghiệp tư nhân đã giải thể 2.082 doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên là 16.748 doanh nghiệp, công ty TNHH 2 thành viên trở lên là 18.826 doanh nghiệp. Nhiều nhất là số công ty cổ phần với 41.357 doanh nghiệp, ít nhất là công ty hợp danh với chỉ một doanh nghiệp.Khoảng 55.000 doanh nghiệp giải thể năm 2012. Đáng “giật mình” là số lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng từ 7,9 triệu người năm 2011 lên 8,3 triệu người năm 2012 (tăng 4,2% sau 1 năm). Số người được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trong 3 năm 2010 2012 tăng từ 145.000 lên 410.000, rồi tới 461.000 cuối năm qua.Cơ quan giám sát đánh giá, tuy số người hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp chỉ tăng khoảng 50.0tăng tới 133% (từ 1.126 tỷ đồng lên mức 2.625 tỷ đồng trong cả năm 2012). Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013 số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm nay là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước.Xét riêng trong quý 1 năm 2013 có tới 15.283 doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 6,8 %; vốn đăng ký giảm hơn 16%. So với quý trước, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 9,4%; vốn đăng ký giảm 26,7 %. Về cơ cấu theo ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, một số lĩnh vực truyền thống có số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước là tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (giảm 20,5%). Kinh doanh bất động sản giảm gần 19%. Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm tới 34,7%. Thông tin và truyền thông giảm 29,5%; Xây dựng giảm 18,1%...Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đa số lĩnh vực king kỳ năm 2012.Cụ thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 5.970 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 11,5%). Lĩnh vực xây dựng có 2.296 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 17,6%). Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.966 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 5,2%). Lĩnh vực dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 942 doanh nghiệp ngừng hoạt động (tăng 22,3 %).So với quý 12012, trong 3 tháng đầu năm 2013 nhiều lĩnh vực có số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng đột biến như tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 134,4%; giáo dục và đào tạo tăng hơn 51%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng gần 548 %; kinh doanh bất động sản tăng 47,6%...Thứ trưởng Bộ Tài chính, ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, số doanh nghiệp phá sản (đã hoàn thành thủ tục phá sản), ngừng hoạt động (đăng ký tạm thời đóng mã số thuế với cơ quan thuế) theo các báo cáo thống kê chính thức chỉ là “phần nổi” phản ánh thực trạng khó khăn của doanh nghiệp. Còn trên thực tế, số lượng doanh nghiệp thchịu thuế (hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ) còn lớn hơn rất nhiều.Từ đầu năm nay, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể, hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn đã tăng 12,9% so cùng kỳ, lên 44.500 doanh nghiệp.Một số ngành thể hiện sự tái cơ cấu mạnh qua số liệu doanh nghiệp giải thể, rút khỏi thị trường. Có thể kể đến ngành nghệ thuật, vui chơi và giải trí có số doanh nghiệp giải thể, tăng 46,5% về số doanh nghiệp thành lập mới và tăng 26,2% về số doanh nghiệp dừng hoạt động. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 23,9% và tăng 6,3%; kinh doanh bất động sản tăng 21,5% và tăng 11,2%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 18,8% và tăng 30,9%; thông tin và truyền thông tăng 7,9% và tăng 30,9%. Đáng lưu ý, theo phân tích của PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐTBXH), trong quý I2014, lao động một số ngành nghề có biến động lớn so với quý IV2013. Trong đó, giảm nhiều nhất là ngành xây dựng với 488 nghìn người; ngành “công nghiệp chế biến chế tạo” giảm 257 nghìn người; ngành “bán buôn và bán lẻ” giảm 218 nghìn người. Điều này phản ánh đúng thực trạng hoạt động khó khăn của những ngành nghề nói trên trong 3 tháng đầu năm nay. Xét cụ thể hơn, nghề “nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bán hàng có kỹ thuật” là nghề giảm nhiều lao động nhất 430 nghìn người; nghề “thợ thủ công có kỹ thuật và các thợ kỹ thuật khác có liên quan” giảm 387 nghìn người, cao hơn nhiều so với mức giảm 28 nghìn người trong quý IV2013.Một số ngành vẫn gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh như bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy; dịch vụ việc làm; du lịch; cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác; xây dựng... Một số nguyên nhân chính của việc các công ty phá sản là khó tiếp cân với đồng vốn trong thời điểm kình tế khó khăn, cầu trong và ngoài nước giảm, khó mua nguyên liệu đầu vào, bất ổn knh tế vĩ mô...Với số lượng công ty phá sản nhiều như vậy đã ảnh hưởng lớn làm giảm cầu lao động tại các ngành trong nền kinh tế.Câu hỏi đặt ra ở đây là gì: Vì sao tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam lại thấp như vậy? – sự thật đằng sau những con số ?Trước đó, những bchính xác của con số này trên Quốc hội. Cụ thể, tại phiên thảo luận Hội trường ngày 3052013, đại biểu Nguyễn Văn Hiến cho rằng các con số như doanh nghiệp giảm quy mô thì tỷ lệ thất nghiệp đáng ra phải tăng nhưng báo cáo cho thấy, tỷ lệ này lại giảm dần trong 3 năm qua, từ 2,8% năm 2010 xuống 1,99% năm 2012.Lý giải cho vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho rằng phần lớn doanh nghiệp mới thành lập sử dụng lao động từ khu vực nông thôn chuyển sang, khi công ty giải thể, phá sản, số lao động này lại quay về làm nông nghiệp và họ vẫn đươc coi là người “có việc làm”. Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết thêm, việc điều tra lao động thường diễn ra trong vòng 7 ngày, nếu trong khoảng thời gian đó người trong độ tuổi không ia với những hạn chế về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các phúc lợi xã hội khác, đơn giản là nhiều người không thể tồn tại nổi nếu bị “thất nghiệp công việc chất lượng kém, trả lương thấp trong nền kinh tế phi chính thức hoặc chấp nhận những thỏa thuận làm việc một cách không chính thức. Và họ đều là những đối tượng thuộc diện “có việc làm” trong các cuộc điều tra của về thất nghiệp của Tổng cục Thống kê. Ví dụ: Một người đang làm việc bình thường nếu đột nhiên không có việc làm. Họ có thể chấp nhận làm công việc phổ thông ở chợ lao động để có tiền nuôi gia đình, dù đó là công việc có thu nhập thấp”.Chính vì vậy, tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam năm nào cũng thấp.Ngược lại, ở những nước phát triển với hệ thống bảo trợ xã hội tiên tiến và mức sống caotìm những công việc mà họ mong muốn. Bởi vậy, việc so sánh tỷ lệ thất nghiệp giữa các quốc gia có đặc điểm xã hội, kinh tế và thế chế rất khác nhau là khập khiễng và có thể dẫn đến những thông điệp sai lầm.Mặc dù các chuyên gia cho rằng việc thống kê tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo rằng, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay không thể hiện được mức độ không sử dụng được đầy đủ tiềm năng của lực lượng lao động. “Tỷ lệ thất nghiệp chỉ có thể cho thấy số lượng những người không có việc làm nhưng sẵn sàng làm việc và đang tìm việc. Tỷ lệ thất nghiệp không tính đến những người muốn làm việc nhưng đã từ bỏ công cuộc tìm việc do chỉ số thể hiện được chất lượng việc làm. Chẳng hạn, những chỉ số như tỷ lệ lao động nghèo, tỷ lệ việc làm dễ bị tổn thương, tỷ lệ nền kinh tế phi chính thức, tỷ lệ ngành nông nghiệp trong số việc làm, năng suất lao động và lương bình quân.Chính vì vậy, tiêu chuẩn quốc tế về thống kê tỉ lệ thất nghiệp đã thay đổi trong Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 19 vào tháng 102013. Theo định nghĩa mới, những người có việc làm là những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc kiếm lợi nhuận. Như vậy một số lượngng trong ngành nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp hay dùng để trao đổi hàng hóa sẽ không còn được xem là có việc làm.“Điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể về tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam, nơi phần lớn người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp tự cung tự cấp với rất ít hoặc không có sự kết nối với nền kinh tế thị trường”.ILO khuyến khích các quốc gia, nếu có thể thực hiện, thì nên bắt đầu sử dụng các chỉ số về việc làm mới này. những phương pháp thống kê hiện tại, nhằm giúp công chúng có thời gian để hiểu về những thay đổi trong công tác thống kê lực lượng lao động.Vậy, thông qua các cuộc điều tra về tỉ lệ thất nghiệp cho thấy rằng tỉ lệ thất nghiệp của Việt Nam đang giảm dần q kinh tế. Tuy nhiên khi phân tích và làm rõ bản chất thì ta mới hiểu rõ được không phải là như vậy. Tỉ lệ thất nghiệp thực tế của Việt Nam hiện nay còn rất cao và phụ thuộc lớn vào nền kinh tế trong và ngoài nước. Nguồn nhân lực của chúng ta dồi dào, trẻ và năng động, nhưng chất lượng lại đang có vấn đề. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề còn thấp. Hiện nay, chúng ta dường như mới thống kê được số lượng người lao động đã qua đào tạo nghề, nhưng chất lượnh giá cụ thể. Trong điều kiện nền kinh tế vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng XHCN thì tạm thời phải chấp nhận thực trạng lao động vẫn chủ yếu là phổ thông. Nhưng, xu hướng là phải cải tiến quy trình côncông cuộc hội nhập, thúc đẩy KT XH phát triển. Giống như các quốc gia khác trên thế giới, VN cũng đang phải đương đầu với vấn đề thiếu việc làm. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất và cắt giảm nhân công khiến cho số người thất nghiệp không ngừng gia tăng. Chính vì vậy, việc làm và thất nghiệp đã và đang là vần đề xã hội cấp thiết đối với nước ta. III.Một số nghành điển hình.1. Ngành xây dựng.Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, xây dựng là một trong những ngành bị ảnh hưởng sớm nhất và sẽ phục hồi chng có số người thất nghiệp lớn trong tổng số người thất nghiệp. Tại Anh, sản lượng ngành xây dựng quý 22012 giảm 8% so với cùng kỳ năm 2011, tương tự, tại Mỹ giảm 12,7%, trong đó khối doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng khá nặng nề, khối doanh nghiệp nhà nước có được sự phục hồi nhanh chóng hơn nhờ được hỗ trợ từ các gói kích thích kinh tế từ các chính phủ.Tại Việt Nam, sau sự ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua đã ảnh hưởng rất lớn tới ngành xây dựng. Tác động tiêu cực đó khiến cho cầu lao động về ngành này cũng giảm hơn trước. Tính đến 31122012, tổng số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS có lãi là 37.197 doanh nghiệp; số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ là 17.000 doanh nghiệp; Tổng số các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh BĐS dừng hoạt động hoặc giải thể là 2.637 doanh nghiệp, trong đó có 2.110 doanh nghiệp xây dựng, 511, tỷ lệ doanh nghiệp xây dựng dừng hoạt động, giải thể tăng 6,2%, doanh nghiệp kinh doanh BĐS giải thể tăng 24,1%.Với các số liệu thống kê ở trên không chỉ riêng ngành bất động sản mà còn nhiều ngành khác trong ngành xây dựng gặp nhiều khó khăn tương tự. Khiến cho tỷ lệ thất nghiệp cũng đang gia tăng. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với công nhân muốn tìm kiếm việc làm trong ngành xây dựng hiện nay.2.Nghành tài chính ngân hàng.Từ năm 20052011, số lượng nhân viên ngân hàng đã tăng gần như gấp đôi từ 125.000 người lên hơn 200.000 người. Tuy nhiên, xu hướng này sẽ không thể tiếp diễn trong gần đây.Theo một khảo sát của một hãng kiểm toán cho thấy,.. số ngân hàng không tăng số lượng nhân viên trong năm 2013. Đáng chú ý hơn, trong số 54% ngân hàng dự kiến tăng số lượng nhân viên, có đến 90% cho biết “mức độ tăng sẽ không nhiều”. Trong nhiều trường hợp, cái “tăng không nhiều” trên lại là do việc mở thêm chi nhánh đã được cấp phép từ năm 2012. Biểu đồ 19: Biến động nhân sự 6 tháng đầu năm 2013Thống kê tnhư Vietinbank, BIDV, ACB và Eximbank đã cắt giảm nhân sự. Năm 2012, ACB và Vietinbank là 2 ngân hàng dẫn đầu hệ thống về tuyển nhân sự mới với lần lượt 1.663 người và 1.218 người. Tuy nhiên, sau khi tuyển dụng ồ ạt, ACB là ngân hàng cắt giảm mạnh tay nhất khi có tới 7% tổng số nhân viên tương đương 568 người. Nhân viên Vietinbank cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự khi trong quý I và II đã có 189 người bị cắt giảm dù mức lãi ròng trong quý II2013 của ngân hàng này đã tăng gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Eximbank giảm 29 việc làm trong quý I và con số này tăng nhẹ lên 36 trong quý II. 4 tháng đầu năm 2013 BIDV đã giảm 285 nhân viên. Một trong những nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho tình hình trên là do kinh tế “ảm đạm”, ngân hàng nhà nước hạn chế cho phép các ngân hàng mở rộng mạng lưới. Ngoài ra, báo cáo của hãng kiểm toán KPMG còn chỉ ra một nguyên nhân nữa làng sẽ hạn chế.Theo thống kê, từ đầu năm 2013 đến nay, tài chính ngân hàng là một trong 5 ngành nghề có mức cắt giảm nhân lựccao nhất, khoảng 36%...Đáng lo ngại hơn nữa là ngành ngân hàng đang là đích nhắm của rất nhiều thí sinh khi đăng ký thi đại học, việc đtế nào cũng có khoa ngân hàng. Lượng tuyển sinh mỗi năm cũng lên đến hàng vài nghìn người. Điều này dẫn đến khủng hoảng thừa, mất cân bằng nhân lực. Có lẽ trong vài năm tới, sinh viên ngân hàng sẽ còn thất nghiệp dài dài khi ra trường nếu không muốn làm trái nghề, trái ngành.Nghiên cứu của Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính chỉ rõ số sinh viên (SV) ngành tài chính ngân hàng không xin được việc trong 4 năm tới là khoảng 13.000 người. Trong năm 2014, dự báo khoảng 40% SV tốt nghiệp ngành này sẽ phải làm trái ngành hoặc thất nghiệp.3.Nghành môi giới chứng khoán.Năm 2011 và 2hải để công ty cắt giảm chi phí, cũng vì kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ, doanh thu ít khiến cho thu nhập của nhân viên bị cắt giảm, hoặc do bản thân nhân viên chứng khoán tự cảm thấy “chán” với thị trường và chuyển hướng nghề nghiệp.Thống kê cho thấy trừ các công ty lớn nằm trong top 10 môi giới tăng nhân sự, còn lại hầu hết các công ty nhỏ đều cắt giảm 3040% nhân sự, như trường hợp của Chứng khoán Sài Gòn Thương Tín năm 2012 cắt giảm 91 nhân viên (giảm từ 211 người xuống 120 người), chứng khoán Phú Hưng cắt giảm 108 nhân sự (giảm từ 354 người xuống 246 người), chứng khoán Kenaga giảm từ 25 người xuống còn 17 người, chứng khoán Âu Việt cuối năm 2010 có 85 nhân viên, năm 2011 còn 31 nhân viên và năm 2012 còn 22 nhân viên…Tuy nhiên sang đến năm 2013, tình hình nhân sự tại các CTCK dường như đang ấm dần trở lại cùng với đà tăng về thanh khoản cũng như điểm số của VNIndex. Hàng loạt công kỳ khủng hoảng) cũng như phát triển và mở rộng bộ phận môi giới.Trước tác động của khủng hoảng khiến hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm sút, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải tính đến bài toán tái cấu trúc hoạt động. Thực tế có ý kiến cho rằng tái cấu trúc doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc phải cắt giảm hàng loạt nhân sự, bởi việc cắt giảm nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể làm phá vỡ mọi hoạt động của doanh nghiệp do những xung đột về văn hóa.Tuy nhiên theo một khảo sát của Cộng đồng Nhân sự Việt Nam (Hrlink.vn) năm 2013 về hiện tượng dư thừa nhận sự với gần 450 doanh nghiệp, có đến 40% doanh nghiệp cho rằng đang thừa nhân sự do hiệu quả của năng lực quản trị nhân sự chưa tốt.Trong đó, chỉ có khoảng 26,06% dự định sẽ cắt giảm nhân sự, và có đến hơn 50% không cắt giảh nghiệp chưa quan tâm đến công tác quản trị nhân sự, việc tái cấu trúc lại hoạt động gắn với cơ cấu lại nguồn lực con người là việc mà các doanh nghiệp phải tính đến và làm thận trọng.Kết luậnThất nghiệp,vấn đề cả thế gới đang quan tâm không chỉ có ở Việt Nam chúng ta.Trên thực tế ta không thể xoá bỏ tận gốc của thất nghiệp được mà ta chỉ có thể giải quyết nạn thất nghiệp trong một phạm vi nào đấy mà thôi . Và với quan điểm đã được đưa ra, “Trong bối cảnh suy thoái kinh tế giai đoạn hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi các tác động tiêu cực khiến cầu về lao động tại tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều giảm dẫn đến thất nghiệp gia tăng”, qua quá trình tìm hiểu đề tài nhóm 7 đưa ra những ý kiến riêng của mình nhằm chứng minh quan điểm ệt Nam cũng không ngoại lệ. Suy thoái kinh tế đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến cầu lao động xong sự sụt giảm này xảy ra không đồng đều ở tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh. Thứ hai, thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế tồn tại ở mọi quốc gia và chịu sự ảnh hưởng lớn từ nền kinh tế. Giảm cầu lao động trong thời kì kinh tế khó khăn là một nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam tăng trong thời gian gần đây.Thứ ba, việc so sánh tỷ lệ thất nghiệp giữa các quốc gia có đặc điểm xã hội, kinh tế và thể chế rất khác nhau là khập khiễng và có thể dẫn đến những thông điệp sai lầm.Thế kỉ 21 đang bước đi những bước đầu tiên. Quá trình hội nhập của Việt Nam trong thế kỉ 21 thế kỉ công nghệ thông tin cũng đang dần được mở rộng. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thực sự là điều kiện kiên quyết để Việt Nam có thế phát triển và quá trình hội nhập cũng không tránh khỏi những khó khăn, thử thách như chịu ảnh hưởng từ suy thoái nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng tới chính trị, văn hóa... nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ đi cơ hội, thời cơ của mình. Trái lại, chúng ta hòa nhập chứ không hòa tan, các doanh nghiệp của Việt Nam không tự chôn mình mà tìm ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Nói một cách chung nhất chúng ta hãy tranh thủ thời cơ, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh quá trình chủ động hội nhập hơn nữa.Danh mục tài liệu tham khảo.

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 4

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚI 5

I Khái quát tình hình kinh tế: 5

1 Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009 5

2 Năm 2010- thế giới tiếp tục đi vào ổn định 5

3 Năm 2011- Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm 5

4 Năm 2012- 2013- suy giảm, phục hồi chậm 7

5 6 tháng đầu năm 2014- Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại 8

II Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới 9

1 Tình hình thất nghiệp ở Mỹ 9

2 Tại các nước châu Âu 9

3 Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc 10

4 Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á 11

CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM 12

I Khái quát tình hình kinh tế 12

1 Chưa thể phục hồi 12

2 Lạm phát bùng nổ 13

3 Sản xuất công nghiệp giảm mạnh 14

4 Lãi suất cho vay leo thang 15

5 Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng 15

II Cung - cầu lao động và thực trạng thất nghiệp của Việt Nam 16

1 Cung - cầu lao động 16

2 Tỉ lệ thất nghiệp 19

III Một số nghành điển hình 26

1 Ngành xây dựng 26

Trang 2

2 Nghành tài chính ngân hàng 26

3 Nghành môi giới chứng khoán 28

Kết luận 29

Danh mục tài liệu tham khảo 30

Lời mở đầu

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu

Trang 3

Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế vớiphương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạncủa tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.Trong quá trình hội nhập, Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hútđược vốn đầu tư nước ngoài, tiếp thu được khoa học tiên tiến, những kinh nghiệm quýbáu của các nước phát triển và tạo được môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế Tuynhiên, một vấn đề bao giờ cũng có hai mặt đối lập Trong giai đoạn hiện nay, suy thoáikinh tế đang là vấn đề nóng tại tất cả các quốc gia trên thế giới, các nhà kinh tế xem đây

là một vấn đề nan giải và đang tìm cách giải quyết Suy thoái kinh tế đã gây ra bao hệlụy, ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế như là lạm phát tăng cao, thất nghiệp giatăng,… xảy ra ở hầu hết các các quốc gia và Việt Nam chúng ta cũng không tránh khỏinhững tác động tiêu cực từ suy thoái Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới, cácquốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với vô vàn thách thức, trong đó phải kể đến vấnnạn thất nghiệp

Trước tình hình này, có quan điểm rằng “ Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thê giới , Việt Nam không tránh khỏi các tác động tiêu cực khiến cầu về lao động tại tất cả các ngành nghề sản xuất kinh doanh đều giảm, dẫn đến thất nghiệp gia tăng”

Với hiểu biết và từ tìm hiểu những thông tin liên quan, nhóm 7 hoàn toàn đồng ý vớiquan điểm này Bằng những gì đã tìm hiểu chúng tôi cho rằng: Suy thoái kinh tế đã vàđang tác động tiêu cực đến cầu về lao động tại tất cả các nghành kinh doanh và làm chothất nghiệp gia tăng Mặc dù tác động này là không đồng đều giữa các ngành và nhómngành

Dưới đây là những ý kiến của nhóm sau thời gian tìm hiểu đề tài Đây là vấn đề rấtsâu rộng, mang tính thời sự Bản thân chúng em, những sinh viên năm thứ hai, khi đượcgiao viết đề tài này cũng cảm thấy rất hứng thú và say mê Tuy nhiên do sự hiểu biết cònhạn chế nên chúng em chỉ xin đóng góp một phân nhỏ suy nghĩ, hiểu biết của chúng em.Bài còn nhiều thiếu sót, chúng em xin kính mong cô chỉ bảo để chúng em hoàn thành bàiviết tốt hơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ THẤT NGHIỆP CỦA THẾ GIỚI

I Khái quát tình hình kinh tế:

1 Thế giới trong thời kì khủng hoảng 2008 – 2009.

Trang 4

Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổđồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo.Năm 2008 cũng chứng kiến nỗ lực chưa từng có của các nền kinh tế để chống chọi với

"bão"

2 Năm 2010- thế giới tiếp tục đi vào ổn định.

Một năm sau cuộc khủng hoảng tài chính, nền kinh tế thế giới đang trên đà hồiphục và phát triển, kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào ổn định

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo kinh tế của 33 nước thành viênOECD tăng trưởng bình quân 2,8% trong năm 2010 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báotăng trưởng của Trung Quốc ở gần mức 10% trong năm 2010 và 2011, tại Ấn Độ mứctăng trưởng là 8,4%, Nga 4,3% và Brazil 4,1% Cũng theo OECD, thương mại toàn cầuphục hồi, tăng 12,3% năm 2010 Tại Mỹ, kinh tế tăng trưởng chậm, vào khoảng 2,4%-2,5% trong năm 2010 Tại Pháp, nền kinh tế lớn thứ hai châu Âu, con số này còn thấphơn, vào khoảng 1,6% trong hai năm 2010 và 2011

Tại Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone), EC cho biết tăng trưởng kinh tế năm 2010 sẽ

là 1,7% Đức, nền kinh tế lớn nhất châu Âu, có mức tăng trưởng 3,7% Kinh tế TrungĐông và Bắc Phi sẽ vẫn tãng trưởng mạnh Dự báo tăng trưởng của khu vực này sẽ là4,1% năm 2010 và 5,1% năm 2011 Còn theo LHQ, tại khu vực Mỹ Latinh và vùngCaribe, hoạt động xuất khẩu mạnh và giá hàng hóa cao đang "tiếp sức" cho tăng trưởngkinh tế nhanh hơn mong đợi

Năm 2010 đánh dấu sự phát triển mạnh của khu vực châu Á - Thái Bình Dương Nõ nétnhất là sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, GDP của Trung Quốc trong quý 2/

2010 đạt 1.337 tỷ USD Ngoài ra nền kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore - cómức tăng trưởng nhanh khoang 8,8% ADB dự báo một số quốc gia đang phát triển ởkhu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong một tương lai không xa, có thể đuổi kịp vàvượt qua các nước phát triển hiện nay

3 Năm 2011- Phục hồi chậm chạp, tăng trưởng suy giảm.

Tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra chậmchạp Theo IMF, kinh tế toàn cầu năm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm

2010 Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011so với tăng trưởng 3,1%của năm 2010 Khu vực các nước đang phát triển và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm sovới mức 7,3% năm 2010

Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới đã mất 1% điểm tăng trưởng, với GDP sẽ chỉ tăng1,5% trong năm Với 17 nước thuộc khu vực đồng euro, tăng trưởng GDP sẽ giảm bớtkhoảng nửa điểm

Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong năm nay TrungQuốc tiếp tục là nước dẫn đầu với mức tăng trưởng 9% trong năm tới Nga, Mỹ Latin,

Trang 5

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản, các nước

châu Á đang phát triển và Việt Nam

Biểu đồ 2: Lạm phát tại các nước phát triển, các nước mới nổi và đang phát triển, các

nước châu Á đang phát triển và Việt Nam (bình quân năm)

4 Năm 2012- 2013- suy giảm, phục hồi chậm.

Theo đánh giá đưa ra vào tháng 11/2012, kinh tế toàn cầu năm 2012 tiếp tục suygiảm và chỉ tăng 3,3%; các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng 5-5,3%, thấp hơn kết quả đạtđược 6,2% vào năm 2011; kinh tế châu Phi tăng 4,5%; kinh tế khu vực Mỹ La tinh và

Trang 6

Caribê tăng 3,7%; riêng châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực có tốc độ tăng trưởngcao nhất 5,6% nhờ kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được động lượng Kinh tế các nướcASEAN cũng đạt tốc độ khá cao 5,2% nhờ nhu cầu nội địa tăng mạnh đã góp phần giảmnhẹ nhiều tác động tiêu cực do suy giảm xuất khẩu bắt nguồn từ suy thoái toàn cầu vàtăng trưởng kinh tế chậm lại tại Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ.

Bảng 1: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 & NĂM 2013 (%)

Nguồn: IMF, các tổ chức tài chính khu vực, báo cáo quốc gia

Quốc gia- khu vực Năm

2012 2013 Năm Quốc gia- khu vực 2012 Năm 2013 Năm

Các nước phát

triển 1,3-1,4 1,6 Trung Đông – Bắc Phi 5,1 3,7Các nước EU -0,3 0,4 Mỹ latinh và Caribê 3,7 4,7

Năm 2013, mặc dù có những dấu hiệu tích cực hơn trong tháng 8 nhưng kinh tế thếgiới trong năm 2013 nhìn chung phục hồi chậm hơn mức kỳ vọng do suy giảm tăngtrưởng của Trung Quốc và Ấn Độ

Châu Âu thoát khỏi suy thoái dài nhất trong lịch sử với việc khu vực đồng Euro trongquý 2/2013 lần đầu tiên tăng trưởng dương kể từ quý 4/2011, nhưng cũng chỉ ở mức

Trang 7

khả quan hơn với mức 0,7% trong quý 2/2013, cao hơn mức trung bình 0,65% kể từ quý3/2007 Mỹ tăng trưởng ổn định với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) duy trì trêndưới 2% kể từ quý 1/2010 và lạm phát đạt mức 2% trong tháng 7/2013 Nhật Bản tăngtrưởng tiếp tục cải thiện với mức tăng trưởng (so cùng kì năm trước) tăng dần từ quý3/2012 Trong khi đó, Trung quốc nhiều khả năng tăng trưởng thấp hơn kế hoạch 7,5%trong năm 2013 do phải đối mặt với vấn đề nợ xấu ngân hàng và nợ công địa phương.Tăng trưởng của Trung Quốc đã giảm từ 7,9% quý 4/2012 xuống 7,5% quý 2/2013 Ấn

Độ do những yếu kém về cơ sở hạ tầng và thủ tục hành chính đang phải đối mặt với lànsóng rút vốn ra và tăng trưởng suy giảm liên tục từ 2010 (giảm từ 9,4% quý 1/2010xuống 4,8% quý 1/2013)

5 6 tháng đầu năm 2014- Kinh tế thế giới tiếp tục duy trì quá trình phục hồi nhưng tăng trưởng chững lại.

Hầu hết các nền kinh tế phát triển tuy vẫn duy trì các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy tăngtrưởng nhưng từng bước cắt giảm quy mô các gói kích thích kinh tế

Những chuyển biến kinh tế thế giới đầu năm 2014 cho thấy 3 dịch chuyển nổi bật:

(1) Các nước phát triển phục hồi đà tăng trưởng trong khi các nền kinh tế mới nổi tăngtrưởng chậm lại;

(2) Các ngân hàng trung ương bắt đầu thắt chặt dòng cung tiền tệ và cắt giảm chươngtrình kích thích kinh tế;

(3) Trung Quốc điều chỉnh để giảm tốc độ tăng trưởng; lần đầu tiên kể từ năm 2004,Trung Quốc không nằm trong nhóm 12 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thếgiới

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng toàn cầu năm 2014 dự kiến đạt 2,8% (giảm

so với mức dự báo 3,2% đưa ra trong tháng 01/2014) và năm 2015 đạt 3,4%; các nềnkinh tế phát triển tăng trưởng 1,9% và các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng 4,8%trong năm 2014

II. Thất nghiệp của 1 số nước trên thế giới chịu sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới.

1 Tình hình thất nghiệp ở Mỹ.

Trang 8

Trong hai năm 2008-2009, kinh tế Mỹ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Tỉ lệ thấtnghiệp lên cao đến mức kỷ lục (trên 9,5%) kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cótháng còn lên đến 10% Trong và sau cuộc khủng hoảng này, nền kinh tế đứng thứ nhấtthế giới đã đánh mất 8,8 triệu việc làm và chỉ tạo thêm được 4 triệu việc làm (tươngđương 46% số việc làm đã mất) khi quá trình phục hồi bắt đầu Tuy nhiên, trong nhữngnăm sau đó, kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu hồi phục nhất định GDP bắt đầu tăngtrưởng trở lại trong khi tỉ lệ thất nghiệp ở quốc gia này có xu hướng giảm dần, xuống còn7,7% vào tháng 11 năm 2012

Biểu đồ 3: Tình hình thất nghiệp của Mỹ giai đoạn 2008- 2013

Tỷ lệ thất nghiệp trung bình của năm 2013 ở mức 7,7% - thấp nhất trong vòng 4 năm.Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động của tháng 12 giảm xuống 62,8% - thấpnhất kể từ năm 1978.Theo báo cáo công bố ngày 3/7/2014 của Bộ Lao động Mỹ, trongtháng Sáu vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ giảm xuống còn 6,1% so với mức 6,3% trongtháng trước đó Tỷ lệ này tuy vẫn cao nhưng được ghi nhận là bước cải thiện lớn của thịtrường lao động Mỹ nếu so với tỷ lệ 10% trong những năm trước đây

2 Tại các nước châu Âu.

Trái với sự hồi phục của Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay vẫn là vấn đề khó giải quyết của

các nước châu Âu Theo thông tin Eurostat mới công bố, tỷ lệ thất nghiệp tháng 8 năm

2013 tại châu Âu là 12% Theo thống kê, lượng người thất nghiệp tại châu lục này lên tới

khoảng 19,2 triệu người, tăng 895 nghìn người so với tháng 8 năm 2012 So với tháng

trước, tình hình thất nghiệp châu Âu không thay đổi Tháng 7 năm 2013 là tháng tiêu biểucho việc lần đầu tiên tỷ lệ thất nghiệp sụt giảm sau một thời gian dài

Xét riêng các nước thành viên, tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất được ghi nhận tại Áo (4,9%),Đức (5,2%) trong khi cao nhất tại Hy Lạp (27,9% vào tháng 6/2013) và Tây Ban Nha(26,2%)

Trang 9

Biểu đồ4 : Thất nghiệp của khu vực Châu Âu

Lượng thất nghiệp trong độ tuổi thanh niên (dưới 25 tuổi) tại châu Âu khoảng 3,5triệu người, giảm 52 nghìn người so với cùng kỳ năm 2012 Mặc dù tình trạng việc làmđối với giới trẻ châu Âu đã được cải thiện về lượng nhưng xét về tỷ lệ thanh niên thấtnghiệp vẫn tăng từ 23,4% trong tháng 8 năm ngoái lên con số 23,7% mới công bố

Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao nhất theo số liệu công bố rơi vào Hy Lạp (61,5% trongtháng 6 năm 2013), Tây Ban Nha (56%) và Croatia (số liệu quý 2 năm 2013 là 52%).Những thống kê từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) công bố vào 30/9/2014, tỷ

lệ thất nghiệp tại các nước châu Âu vẫn chưa được cải thiện so với thời điểm cùng kỳnăm trước: Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục duy trì ở mức 14% trong tháng 8, tỷ lệ thất nghiệptrung bình của Italy trong tháng 8 đã giảm xuống 12,3%, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức giảmxuống mức 6,5%

3 Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc.

Trong 10 tháng đầu 2008, Trung Quốc có thêm 10,2 triệu người mất việc, chủ yếu ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ Một cuộc khảo sát của Đại học Tây Nam Bộ Tài chính

trong năm 2011, tổng số người thất nghiệp thành thị Trung Quốc hơn 2770 người Tỷ lệthất nghiệp cao nhất trong tỷ lệ thất nghiệp khu vực phía tây, phía đông, miền trung vàmiền tây là 6,9%, 8,3% và 14,1% Tỷ lệ thất nghiệp thành thị của Trung Quốc vào thángBảy năm 2012 là 8,05%, cao hơn 0,5 điểm phần trăm cao hơn so với tháng 7 năm 2011

Tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc đã trở thành tâm điểm của sự chú ý bên ngoài năm

2013 khi chính phủ cấp cao Trung Quốc cho biết tỷ lệ thất nghiệp khảo sát Trung Quốc là5%, tỷ lệ thất nghiệp đăng ký thành thị của Trung Quốc là 4,1% Tuy nhiên theo điều tracủa Trường Đại học Tài chính Trung Quốc cho 8000 hộ gia đình, vào tháng Sáu năm

Trang 10

2013, tỷ lệ thất nghiệp thành thị đạt 8,05 phần trăm, gần như gấp 2 lần tỷ lệ thất nghiệpđăng ký chính thức 4,1% , Trung Quốc tỷ lệ thất nghiệp 160 triệu lao động nhập cư đãtăng lên 6 phần trăm, trong tháng Tám năm 2011 là 3,4%, đây không phải là cuộc chiếnđầu tiên về dữ liệu số liệu chính thức, trong năm 2009, Bộ đã công bố trong năm 2008 tỷ

lệ thất nghiệp là 4,2%, trong khi số liệu điều tra CASS 9,4%, một sự khác biệt của hơngấp đôi

4 Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á

Biểu đồ 5 - Tỷ lệ thất nghiệp của một số quốc gia khu vực Đông Nam Á năm 2010.

CHƯƠNG 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM

I Khái quát tình hình kinh tế.

Trang 11

Sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính, nợ công toàn cầu đã góp phần làmảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam như làm cho lạm phát và mặt bằng lãi suất ở mứccao, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư giảm, thị trường chứng khoán vàthị trường bất động sản giảm sút, đồng tiền VNĐ giảm giá Tất nhiên những vấn đề nêutrên không phải tất cả do khủng hoảng kinh tế, tài chính, nợ công gây nên mà còn donhiều nguyên nhân khác từ bản thân nền kinh tế với những khoản nợ xấu trong các doanhnghiệp nhà nước.

1 Chưa thể phục hồi.

Năm năm sau cơn lũ, nước ở Việt Nam dường như rút chậm hơn Bởi đến nay tăngtrưởng kinh tế vẫn chưa thể phục hồi, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpbất ổn khi lạm phát và lãi suất cho vay cao, nợ xấu trở nên nhức nhối, thu nhập tăng chậm

và đời sống người dân khó khăn…

Biểu đồ 5: Tăng trưởng GDP và lạm phát những năm gần đây (đơn vị: %)

nguồn: Tổng cục Thống kê

“Con hổ của châu Á” là cụm từ quen thuộc mà giới đầu tư quốc tế dành để nói về Việt Nam những năm 2006 - 2007, gắn với nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng cùng triển vọng từ cánh cửa WTO vừa mở Nhưng, ảnh hưởng khủng hoảng ập tới, sự đứt gãy đến ngay trong năm 2008

Đến năm 2010, hướng phục hồi gợi mở, nhiều nhận định đều chung lạc quan: những gìkhó khăn nhất đã qua, hay nền kinh tế đã chạm đáy Năm 2011 và 2012, triển vọng phụchồi càng xấu đi Đến nay, với những gì đã trải qua trong 2013, “tinh thần” tăng trưởngGDP không đạt mục tiêu 5,5% dường như đã sẵn sàng

Trong báo cáo “Tình hình kinh tế 6 tháng và tháng 6 năm 2014” được công bố ngày 2/7,NFSC đánh giá tăng trưởng và sản xuất tiếp tục cải thiện Tăng trưởng GDP 6 tháng/2014đạt 5,2%, cao hơn so với mức 4,9% của cùng kỳ 2 năm trước

Trang 12

Biểu đồ 6: tăng trưởng hàng quý 2010- 2014 , % tăng cùng kì GDP giá 2010

2 Lạm phát bùng nổ.

Đánh dấu năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, lạm phát tại Việt Nam bùng

nổ trong năm 2008 Tình hình có vẻ nhanh chóng được kiểm soát trong năm 2009, nhưngngay sau đó là cú hồi mã thương nhức nhối năm 2010 và 2011 Năm 2012 và cả 2013,lạm phát đã hạ nhiệt nhanh

Biểu đồ 7: Lạm phát và lạm cơ bản 6/2013- 6/2014,% tăng GPI so cùng kỳ

3 Sản xuất công nghiệp giảm mạnh.

Trang 13

Biểu đồ 9: Sản xuất công nghiệp lao đao, tồn kho lớn

Nguồn: Tổng cục Thống kê Đơn vị: %

Theo báo cáo do Tổng cục Thống kê vừa công bố, Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) củaViệt Nam trong tháng 5/2014 đứng ở mức 130,2 điểm, tăng 2% so với tháng 4 và tăng5,9% so với cùng kỳ năm trước

Biểu đồ 10: Chỉ số sản xuất công nghiệp 2014

Ngoài ra, theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 thángđầu năm 2014, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam tính chung cảcấp mới và tăng vốn là 6,85 tỷ USD, bằng 64,7% so với cùng kỳ 2013

Theo Báo cáo, vốn thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2014, ước tính các dự án đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) đã giải ngân được 5,75 tỷ USD, tăng 0.9 % so với cùng kỳ năm2013

4. Lãi suất cho vay leo thang.

Trang 14

Biểu đồ 11: Tín dụng và lãi vay bình quân

Nguồn dữ liệu: Trung tâm nghiên cứu, Tập đoàn Đầu tư Phát triển Việt Nam

Cuộc khủng hoảng nổ ra, Việt Nam nhanh chóng có ứng xử mà điển hình là gói kích cầu

1 tỷ USD qua bù lãi suất Gói hỗ trợ này là tác động chính đối với lãi suất cho vay khámềm trong năm 2009 Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay liên tục leo thang,đặc biệt là sự ngột ngạt năm 2011 Nửa cuối 2012 và đến 2013 lãi suất cho vay mới bắtđầu hạ nhiệt khi lạm phát được kiềm chế

5. Doanh nghiệp thua lỗ ngày càng tăng.

Biểu đồ 12: Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ (đơn vị: %), nguồn: xử lý dữ liệu từ khảo sát doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê

Là những đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng, nhưng dường như tác động của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ban đầu khá mờ nhạt,xét ở mức độ kinh doanh thua lỗ

Dữ liệu khảo sát hàng năm của Tổng cục Thống kê cho thấy, tình trạng thua lỗ của các

Ngày đăng: 11/10/2015, 18:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 & NĂM 2013 (%) - Tình hình kinh tế và tác động đến tỉ lệ thất nghiệp, bài học từ thế giới và giải pháp cho nước ta.
Bảng 1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI 2012 & NĂM 2013 (%) (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w