1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề phúc lợi và trợ cấp xã hội ở Việt Nam và thế giới. Thực tiễn, bài học và giải pháp cho nước ta.

33 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 66,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lụcLời nói đầu1.Giới thiệu chung về các hoạt động trợ cấp:12.Các hình thức trợ cấp ở các nước phát triển trên thế giới:22.1.Bảo hiểm xã hội Liên bang:22.2.Tiền trợ cấp thất nghiệp:22.3.Tiền trợ cấp công cộng:22.4.Phúc lợi của phụ nữ mang thai và nhi đồng:22.5.Bảo hiểm việc làm:32.5.1.Tiền bảo hiểm thất nghiệp:32.5.2.Tiền bồi thường cho công nhân:32.5.3.Tiền bảo hiểm tàn tật của Bang:32.6.Trợ cấp cuộc sống cho người có thu nhập thấp:32.6.1.Phiếu lương thực:32.6.2.Trường học cung cấp bữa ăn giá rẻ hoặc miễn phí:32.6.3.Chương trình trợ cấp năng lượng trong nhà:42.7.Nhà ở công cộng giá rẻ:42.8.Trợ cấp y tế:42.8.1.Trợ cấp tiền thuốc:42.8.2.Chương trình chăm sóc tại nhà:43.Việc áp dụng các hình thức trợ cấp ở Việt Nam:63.1.Các chế độ PLXH bắt buộc:83.1.1.Trợ cấp ốm đau:83.1.2. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:93.1.3.Chế độ bảo hiểm thai sản:103.1.4.Chế độ hưu trí:103.1.5.Chế độ tử tuất:113.2.Phúc lợi tự nguyện:124.So sánh việc áp dụng các hình thức trợ cấp dành cho người lao động ở Việt Nam và trên thế giới:144.1.Các chương trình thay thế thu nhập:144.1.1.Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN):144.1.2.Tiền bồi hoàn và bảo hiểm mất sức204.2.Các chương trình duy trì thu nhập:225.Lý thuyết và thực tiễn về nhận định 2.2:22 Lời nói đầuCon người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điều kiện đảm bảo về ăn,mặc,ở…Để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết.Khi của cải xã hội càng có nhiều thì mức độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng,nghĩa là việc thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.Tuy nhiên,trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập,trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đâu,tai nạn,già yếu,thất nghiệp…Đồng thời cuộc sống của con người còn phụ thuộc rất nhiều vsof điều kiện tự nhiên,môi trường xã hội.Những điều kiện này không phải lúc nào ở đâu cũng thuận lợi.Những rủi ro bất hạnh do thiên tai hoặc môi trường gây ra cho con người là không thể tránh khỏi.Khi gặp phải những trường hợp rủi ro,thiếu nguồn thu nhập để sinh sống con người đã giải quyết bằng nhiều cách khác nhau.Từ xa xưa con người đã có sự san sẻ,đùm bọc của cộng đồng.Lòng nhân ái,sự bao bọc đã hình thành những hoạt động cứu tế của các tổ chức tôn giáo,phường hội giúp con người giảm đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.Cùng với sự phát triển của xã hội,ý thức cộng đồng tương trợ lẫn nhau dần dần được mở rộng.Từ thế kỉ thứ XVI những người nông dân vùng thung lũng Anpơ đã nhận thấy khả năng của sự đóng góp cộng đồng để trợ cấp cho những người bị đau ốm,tai nạn.Họ đã thành lập những hội tương tế với cách thức mỗi người đều trích ra một phần thu nhập để đóng chung vào một quỹ phòng khi ai ốm đau,tai nạn thì dùng quỹ đó để giúp đỡ.Những yếu tố đoàn kết,hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau.Đặc biệt là sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất hàng loạt nông dân di cư ra thành thị và đội ngũ những người làm công ăn lương tăng lên.Cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu dựa vào thu nhập do làm thuê đem lại,nên khi gặp rủi ro như: ốm đau,tai nạn,thất nghiệp,tuổi già…những người lao động đã tìm cách khắc phục bằng cách lập ra các quỹ tương tế để trợ giúp lẫn nhau.Điểm mốc đánh dấu sự hình thành của phúc lợi xã hội là cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỉ thứ XIX.Cuộc sống cá thể,lao động giản đơn đã nhường bước cho công nghiệp hóa.Cuộc chuyển biến này khiến cuộc sống của người lao động gắn chặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại.Chính vì vậy những rủi ro trong cuộc sống như ốm đau,tai nạn,thất nghiệp hoặc do tuổi già sức yếu…đã trở thành mối lo ngại cho những người lao động.Trước những rủi ro,bất hạnh thường xuyên xảy ra trong cuộc sống,một số nước đã khuyến khích các hoạt động tương thân tương ái lẫn nhau,kêu gọi người lao động tự tiết kiệm phòng khi có biến cố hoặc thực hiện trợ cấp đối với những người làm công ăn lương.Việt Nam là nước đang phát triển và hội nhập kinh tế thế giới tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa gia nhập Hiệp hội An sinh xã hội thế giới,nhưng những gì Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện trong nhiều thập kỉ qua đều hàm chứa những nội dung cơ bản của an sinh xã hội bao gồm:Các hoạt động phòng ngừa rủi ro,phát triển hệ thống BHXH,bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp,bảo hiểm tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng và chiều sâu,tăng cường mức độ bao phủ,cải thiện chất lượng dịch vụ, mở rộng các hình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động,phòng ngừa rủi ro.Phúc lợi xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinh tế,phúc lợi xã hội cũng nhằm phát triển các thế hệ tương lai,thúc đẩy dân chủ,nhân quyền.Phúc lợi xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền của con người.Các hoạt động trợ giúp thường xuyên sẽ đảm bảo từng bước được mở rộng đối tượng bao phủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp,hưu trí không đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất,bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ,không để sót các đối tượng nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ cuộc sống.Đa dạng hóa và linh hoạt trong các hình thức hỗ trợ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mở rộng sự tham gia của các đối tượng vào các hoạt động trợ giúp.Các hoạt động trợ giúp đột xuất bảo đảm đến đúng đối tượng,đến kịp thời và đáp ứng nhu cầu của đối tượng.Linh hoạt trong hoạt động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước.   1.Giới thiệu chung về các hoạt động trợ cấp:Trong WTO,trợ cấp được hiểu là bất kì hỗ trợ tài chính nào của Chính phủ hoặc tổ chức công cho một đối tượng nhất định và có thể lượng hóa về mặt tài chính.Trên thực tế,Chính phủ trợ cấp dưới nhiều hình thức khác nhau,như:hỗ trợ trực tiếp bằng tiền (trao tiền mặt,cấp vốn,cho vay…);hỗ trợ thông qua hiện vật;hỗ trợ thêm tiền lương và nâng cao điều kiện làm việc cho nhưỡng người làm trong các ngành nghề độc hại và nguy hiểm;miễn hoặc cho qua các khoản thu lẽ ra phải đóng đối với các doanh nghiệp (ưu đãi thuế,tín dụng…).Các hoạt động trợ cấp của Chính phủ hướng tới mục đích chính là đảm bảo an sinh xã hội,giúp đỡ người dân nâng cao cuộc sống,tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cạnh tranh mạnh mẽhơn trên thị trường,góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nước.Các cách thức mà Chính phủ áp dụng cho hoạt động trợ cấp dành cho người lao động là:trợ cấp thất nghiệp cho người có thu nhập thấp,người không có khả năng lao động,lao động mất sức về hưu sớm;các phúc lợi cho người già,người vô gia cư,trẻ em mồ côi,người nghèo có hoàn cảnh khó khăn,người tàn tật,người có công với cách mạng và thân nhân của họ;các chính sách đãi ngộ cho phụ nữ trong thời kì thai sản;các chính sách trợ cấp cho các vùng sâu,vùng xa,dân tộc thiểu số,có hoàn cảnh khó khăn;trợ cấp xuất khẩu của Chính phủ dành cho các doang nghiệp liên quan đến xuất khẩu với mục tiêu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và tạo việc làm cho người lao động;trợ cấp đặc biệt cho các ngành nghề nguy hiểm độc hại bằng cách tăng lương,tạo điều kiện làm việc tốt hơn,ví dụ các ngành như:hóa chất,luyện kim,khai khoáng,vũ khí hạt nhân…;các trợ cấp về giáo dục cho những học sinh nghèo vượt khó,tài trợ các suất du học cho học sinhsinh viên để có cơ hội phát huy tài năng,học hỏi các nước phát triển hơn…Ở những nước phát triển như Mỹ,họ dành một khoản chi phí lớn của quốc gia vào các hoạt động trợ cấp.Do đó những chế độ phúc lợi của họ khá toàn diện trên nhiều phương diện khác nhau.Việt Nam là một nước đang phát triển nên mức độ trợ cấp dành cho người lao động đang còn thấp song nhà nước ta vẫn luôn quan tâm và lấy đó làm một trong những chiến lược hàng đầu trong phát triển kinh tế.2.Các hình thức trợ cấp ở các nước phát triển trên thế giới:2.1.Bảo hiểm xã hội Liên bang:Bảo hiểm xã hội Liên bang được thiết lập cho những người có việc làm,bản thân những người vẫn đang làm việc và đã từng làm việc và người thân trong gia đình vẫn có thể tham gia.Chủ yếu bao gồm:tiền về hưu(Retirement Benefits),tiền dưỡng lão (Survivor’s Benefits),tiền dành cho người tàn tật (Disability Benefits) và tiền phúc lợi y tế (Medicare Benefits)…2.2.Tiền trợ cấp thất nghiệp:Chỉ cần là người xin nghỉ việc thất nghiệp,bất kể là người đó có khoản tiền tiết kiệm hay không đều được phép đăng ký.Thời gian trợ cấp thông thường là từ 69 tháng,căn cứ theo tình hình của từng Bang mà có thể được kéo dài thời gian trợ cấp.2.3.Tiền trợ cấp công cộng:Đây là trợ cấp được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc những người khiếm thị,người già,người tàn tật và những gia đình không có thu nhập.Chính quyền bang sẽ căn cứ theo điều kiện sinh sống của từng trường hợp để cấp tiền.Người đăng ký phải chấp nhận điều tra để chứng minh tư cấp đăng ký và lĩnh nhận trợ cấp.2.4.Phúc lợi của phụ nữ mang thai và nhi đồng:Đây là khoản phúc lợi được thiết lập để đảm bảo và gia tăng sức khỏe cho phụ nữ mang thai và nhi đồng,không cấp tiền mặt mà cung cấp các dịch vụ về sức khỏe.Phương án an toàn xã hội mang tính toàn quốc,được lập ra để bảo đảm cho quyền lợi của tất cả mọi người.Trừ khoản tiền trợ cấp công cộng ra,phần lớn các biện pháp phúc lợi khác không phân biệt người giàu hay người nghèo đều được hưởng.Điều đáng nói là Cục an toàn xã hội quy định:người nhận tiền an toàn xã hội không nhất thiết phải ở tại nước Mỹ,để thuận tiện cho những người đã về hưu nhưng lại sinh sống ở nước ngoài.2.5.Bảo hiểm việc làm:2.5.1.Tiền bảo hiểm thất nghiệp:2.6.Trợ cấp cuộc sống cho người có thu nhập thấp:2.6.1.Phiếu lương thực:Bộ Nông nghiệp Liên bang Mỹ giải ngân cho chính quyền các Bang phát các phiếu lương thực,các phiếu lương thực này chỉ có thể đổi các nông phẩm được sản xuất tại Mỹ,không được đổi lấy tiền mặt,để cứu tế cho những gia đình có thu nhập thấp.Trợ cấp này chỉ dành cho công dân Mỹ.2.6.2.Trường học cung cấp bữa ăn giá rẻ hoặc miễn phí:Đây là chương trình thực phẩm dinh dưỡng mang tính toàn quốc được Chính phủ thiết lập để đảm bảo cho sức khỏe của học sinh.Những người không có quốc tịch Mỹ cũng có quyền lợi này.2.6.3.Chương trình trợ cấp năngViệc áp dụng các hình thức trợ cấp ở Việt Nam:Trong những năm 90,xã hội Việt Nam thay đổi mạnh mẽ về cấu trúc xã hội và văn hóa,do quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn mang nặng tính nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Ba thiết chế trụ cột trong một Nhà nước hiện đại là chính trị,kinh tế và phúc lợi xã hội.Hệ thống PLXH có vai trò thiết yếu vì nó nhằm đảm bảo các nhu cầu xã hội cơ bản của các tầng lớp dân cư và hình thành nên mối quan hệ xã hội.Với chức năng như vậy,phúc lợi có tác động lớn trong việc giảm khác biệt xã hội và tăng cường liên kết xã hội.3.1.Các chế độ PLXH bắt buộc:Ở Việt Nam,các chế độ phúc lợi bắt buộc bao gồm 5 chế độ:bảo hiểm xã hội cho người lao động,trợ cấp ốm đau,tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,thai sản hưu chí và tử tuất.Việc tính và chi các loại phúc lợi bắt buộc trong BHXH cụ thể:3.1.1.Trợ cấp ốm đau:3.1.2. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:3.1.2. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:3.1.5.Chế độ tử tuất:Khi đủ điều kiện làm việc và tham gia BHXH thì người lao động khi chết được hưởng chế độ tử tuất.Đối tượng được hưởng chế độ.+) Người lao động làm việc có thời gian đóng BHXH4.So sánh việc áp dụng các hình thức trợ cấp dành cho người lao động ở Việt Nam và trên thế giới:4.1.Các chương trình thay thế thu nhập:4.1.1.Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN):Ở Việt Nam:Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) bắt đầu được triển khai thực hiện ở Việt Nam theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ ngày 01012009 nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ thất nghiệp, bên cạnh đó BHTN còn hỗ trợ họ trong việc học nghề, tìm việc làm và chi trả bảo hiểm y tế (BHYT). Trên thế giới:Việc áp dụng bảo hiểm thất nghiệp được quản lý bởi từng quốc gia thuộc chương trình Bảo hiểm thất nghiệp Liên bang,Nhà nước.Người lao động phải đáp ứng các hướng dẫn cụ thể được quy định bởi Nhà nước trước khi họ có thể nhận được trợ cấp thất nghiệp.Tại Úc , lợi ích an sinh xã hội, bao gồm trợ cấp thất nghiệp, được tài trợ thông qua hệ thống thuế. Không có quỹ bảo hiểm thất nghiệp quốc gia bắt buộc. Thay vào đó, lợi ích được tài trợ trong ngân sách liên bang hàng năm do Kho bạc Nhà nước và thuộc quản lý và phân phối trên toàn quốc bởi các cơ quan chính phủ,Centrelink. Mức trợ cấp được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng và được điều chỉnh hai lần một năm theo lạm phát hoặc giảm phát.Có hai hình thức thanh toán có sẵn cho những người bị thất nghiệp. Việc đầu tiên, được gọi là Youth Allowance, được trả cho những người trẻ tuổi 1620 (hoặc 15, nếu cần để đáp ứng các tiêu chuẩn để được coi là độc lập của Centrelink). Youth Allowance cũng được trả cho sinh viên toàn thời gian trong độ tuổi 1624, và toàn thời gian người lao động Úc học nghề tuổi từ 1624. Người trong độ tuổi dưới 18, những người đã không hoàn thành giáo dục trung học của họ, thường được yêu cầu để được giáo dục đầy đủ thời gian, thực hiện học nghề hoặc làm đào tạo để đủ điều kiện cho Youth Allowance. Loại thứ hai của thanh toán được gọi là Newstart Allowance và được trả cho người thất nghiệp ở độ tuổi trên 21 và dưới độ tuổi đủ điều kiện hưu trí. Để nhận được một khoản thanh toán Newstart, người nhận phải thất nghiệp, được chuẩn bị để tham gia vào một Pathway Kế hoạch việc làm (trước đây gọi là Hiệp định Hoạt động) mà họ đồng ý để thực hiện một số hoạt động nhằm tăng cơ hội việc làm của họ, là cư dân Úc và đáp ứng các thử nghiệm thu (có giới hạn thu nhập hàng tuần đến A 32 mỗi tuần trước khi lợi ích bắt đầu giảm, cho đến khi thu nhập của một người đạt đến A 397,42 mỗi tuần tại thời điểm đó không có trợ cấp thất nghiệp được trả lương) và kiểm tra tài sản (một người nhận đủ điều kiện có thể có tài sản lên đến A 161,500 nếu người đó sở hữu một ngôi nhà trước khi trợ cấp bắt đầu giảm và 278,500 nếu họ không sở hữu một ngôi nhà). Tỷ lệ trợ cấp Newstart như ở 12 tháng một năm 2010 cho những người độc thân không có con là A 228 mỗi tuần, hai tuần một lần trả. (Điều này không bao gồm các khoản thanh toán bổ sung như hỗ trợ thuê.) Giá khác nhau áp dụng cho mọi người với các đối tác (và) hoặc trẻ em.Đối với những người thuê nhà của họ, trợ cấp thất nghiệp được bổ sung bởi Thuê hỗ trợ, trong đó, đối với những người độc thân tại thời điểm ngày 29 Tháng 6 năm 2012, bắt đầu được thanh toán khi thuê hàng tuần là hơn 53,40 đô la. Hỗ trợ tiền thuê nhà trả theo tỷ lệ tổng số tiền thuê phải trả (75 cent cho mỗi đô la được trả hơn 53,40 lên đến tối đa). Số tiền tối đa hỗ trợ thuê phải trả là A 60,10 mỗi tuần, và được thanh toán khi tổng số tiền thuê hàng tuần vượt quá A 133,54 mỗi tuần. Mức giá khác nhau áp dụng cho mọi người với các đối tác và hoặc trẻ em, hoặc những người đang chia sẻ chỗ ở.Trợ cấp thất nghiệp ở Đức được gọi là bảo hiểm thất nghiệp, như là một phần của hệ thống an sinh xã hội Đức. Bảo hiểm được •Giúp đỡ trong việc tìm kiếm việc làm•Đào tạoLợi ích thất nghiệp được chi trả cho người lao động đã đóng góp ít nhất là trong 12 tháng trước mất mát của một công việc. Phụ cấp này được trả một nửa số thời gian đó người lao động đã đóng góp. Các bên tranh chấp có được 60% tiền lương của họ trước ròng (giới hạn trần ở an sinh xã hội), hoặc 67% đối với các bên tranh chấp với trẻ em. Do đó, lợi ích tối đa là 2964 Euro (năm 2012). Trong năm 2011, Cơ quan liên bang làm việc đã có doanh thu và chi phí 37,5 tỷ EUR .Sau khi một sự thay đổi trong luật pháp của Đức có hiệu lực từ năm 2008, cung cấp lịch sử công việc của họ có đủ tiêu chuẩnLựa chọn bất lợi:Lựa chọn bất lợi liên quan đến thực tế là người lao động có khả năng cao nhất trở thành thất nghiệp có nhu cầu cao nhất đối với bảo hiểm thất nghiệp. lựa chọn bất lợi gây ra lợi nhuận tối đa hóa các cơ quan bảo hiểm tư nhân để thiết lập phí bảo hiểm cao đối với bảo hiểm vì có một khả năng cao họ sẽ phải thanh toán cho hợp đồng bảo hiểm. Phí bảo hiểm cao làm việc để loại trừ nhiều cá nhân khác có thể mua bảo hiểm. Một chương trình của chính phủ bắt buộc tránh được vấn đề lựa chọn ngược. Do đó, chính phủ cung cấp cho người dùng có khả năng để tăng hiệu quả. Đồng thời, những người lao động quản lý để có được bảo hiểm có thể gặp thất nghiệp nhiều hơn. Các công ty bảo hiểm tư nhân sẽ phải xác định xem người lao động bị thất nghiệp không phải do lỗi của riêng mình, đó là khó khăn để xác định. Xác định không chính xác có thể dẫn đến việc thanh toán số tiền đáng kể cho các đơn gian lận hoặc luân phiên không trả đòi hỏi hợp pháp. Điều này dẫn đến lý do rằng nếu chính phủ có thể giải quyết hai vấn đề mà chính phủ can thiệp sẽ tăng hiệu quả.4.1.2.Tiền bồi hoàn và bảo hiểm mất sứcBảo hiểm xã hội là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước. Từ chỗ đan xen, làm thay chính sách cứu trợ, ưu đãi…, nay đã thực hiện đúng chức năng là góp phần ổn định đời sống của người lao động khi gặp rủi ro.Ở Việt NamCác trường hợp được hưởng trợ cấp này là Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc (khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động (NSDLĐ); Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc (trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý); Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn và bệnh nghề nghiệp:Bị bệnh thuộc Danh mục BNN khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại; Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh.Trên thế gióiỞ Phần Lan, trợ cấp mất sức được thực hiện rất bài bản.Một nhân viên bị thương tích liên quan được bảo vệ về tài chính thông qua các khoản thanh toán bảo hiểm chi phí y tế và phục hồi chức năng và hoàn toàn phù hợp với tiền lương của mình. Nếu chấn thương dẫn đến thương tật vĩnh viễn, người lao động có thể nhận được các khoản thanh toán lên tới 85 phần trăm tiền lương của mình cho tổng số người khuyết tật. Những người sống sót có đủ điều kiện cho lương hưu, cũng như một khoản trợ cấp mai táng khá lớn. Chương trình bắt buộc này được tài trợ hoàn toàn của chủ công ty.Ở Pháp, có ba tai nạn xã hội mà rủi ro được bảo hiểm tốt hơn bởi vì do bảo hiểm y tế bảo đảm tai nạn. 4.2.Các chương trình duy trì thu nhập:Chính sách này thường được áp dụng thông qua các chương trình khác nhau được thiết kế để cung cấp dân số có thu nhập vào những thời điểm khi họ không có khả năng chăm sóc bản than.Ở Việt NamTrên thế GiớiTại Hoa Kỳ Ở Thuỵ Điển, nếu bạn không có hoặc có thu nhập thấp, bạn có thể nộp đơn xin phúc lợi từ bạn quyền địa phương Lý thuyết và thực tiễn về nhận định 2.2:Để gia tăng phúc lợi xã hội,Việt Nam nên dành cho những người lao động không có việc làm (do thất nghiệp,tai nạn lao động,mất sức lao động…)những khoản trợ cấp hay tiền bồi thường ngày càng lớn.Nhận định trên là đúng bởi:Phúc lợi xã hội có nghĩa là mang lại lợi ích cho xã hội.Những chương trình phúc lợi xã hội là những chương trình của Chính phủ được thực hiện để trợ giúp những người cần giúp đỡ.Chúng gồm trợ cấp hưu trí,trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp cho những người không có khả năng lao động,phụ cấp gia đình,trợ cấp tử tuất cho thân nhân của quân nhân đã chết và bảo hiểm y tế quốc gia.PLXH,chung nhất được hiểu là một hệ thống các chính sách,các chương trình và các dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội hoặc các nhóm xã hội khác nhau về đời sống,kinh tế,văn hóa,tinh thần,giáo dục và chăm sóc sức khỏe…Các chính sách và giải pháp PLXH tập trung vào nhóm người yếu thế,nhóm người thiệt thòi trong xã hội nhiều hơn nhằm hướng tới sự công bằng xã hội.Theo từ điển bách khoa Việt Nam,PLXH là một bộ phận thu nhập quốc dân được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội,chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động,phân phối lại.Dưới giác độ kinh tế học phúc lợi,PLXH là những biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “thất bại”,khiếm khuyết của thị trường.Bản chất của PLXH là làm giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội,đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thể thụ hưởng những cái “chung” của xã hội.Một mặt phải làm cho cái bánh của xã hội to ra;mặt khác phải “chia” cái bánh đó “hợp lý”,mục tiêu cuarPLXH là giảm bớt sự bất công bằng xã hội,mục tiêu hướng đến là một xã hội hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người.(A.Smith).Trong kinh tế học phúc lợi,một vấn đề thường được đưa ra bàn luận trong PLXH là mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng.Liệu có thể đánh đổi,”hy sinh” hiệu quả (kinh tế,xã hội…) để có được công bằng xã hội hay không?Hoặc đánh đổi thì ở giới hạn nào có lợi nhất,vừa đạt được hiệu quả,vừa đảm bảo được công bằng.Trong nền kinh tế thị trường,với việc tối đa hóa lợi nhuận,các doanh nghiệp phải tính đến hiệu quả kinh tế với việc giảm thiểu các chi phí cho PLXH.Ngược lại,Chính phủ muốn xã hội ổn định,phải có các giải pháp ,chính sách để giảm bớt sự bất công trong xã hội.Hai muc tiêu này dường như là mâu thuẫn khó dung hòa.Tuy nhiên trên thực tế,kinh tế học phúc lợi đã chỉ ra rằng xã hội sẽ phát triển bền vững nếu như dung hòa được hiệu quả và công bằng.Kinh tế học phúc lợi chỉ ra rằng,trong PLXH vai trò của Chính phủ là rất lớn và chie có Chính phủ mới điều chỉnh được những khiếm khuyết,thất bại của thị trường.Ví dụ,để phát triển kinh tếxã hội giữa hai bờ sông Hồng cần phải xây dựng một số cầu.Nhưng vì lợi ích chung nên Chính phủ phải tổ chức xây dựng cầu (bằng nguồn vốn nhà nước).Đối với các nhà hoạch định chính sách PLXH là làm sao tiếp cận đến sự cân bằng hai yếu tố hiệu quả và công bằng ,cái gì có thể đánh đổi được và cái gì không thể đạt được cả hai yếu tố này.Như vậy,về bản chất,PLXH không phải là sự cho không mà đó là chính sách và các giải pháp của Chính phủ,với nguồn lực còn hạn chế,phải đảm bảo đem lại lợi ích cho số đông,nhưng không vì thế mà làm tổn hại đến lợi ích của số ít;đồng thời phải tiệm cận được hai yếu tố hiệu quả và công bằng.PLXH là một trong những “đối trọng” của tăng trưởng,là một trong những thành tố của sự phát triển.Chính sách phúc lợi xã hội hướng tới đảm bảo sự cân bằng được giữa hiệu quả và công bằng.Chính sách phúc lợi xã hội phải là động lực để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.Ở Việt Nam,trong thời gian gần đây hệ thống phúc lợi xã hội ngày càng thể hiện vai trò to lớn của nó với sự phát triển và ổn định kinh tế xã hội.Thứ nhất,PLXH góp phần ổn định đời sống của người lao động.PLXH giúp khắc phục nhanh chóng được tổn thất về vật chất,nhanh chóng phục hồi sức khỏe,ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường.Thứ hai,PLXH góp phần đảm bảo an toàn,ổn định cho toàn bộ nền kinh tế,xã hội,kịp thời hỗ trợ,tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất.Thứ ba,hệ thống PLXH trong đó có bảo hiểm xã hội làm tăng mối quan hệ gắn bó giữa người lao động,người sử dụng lao động và Nhà nước.Điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc.Nhà nước vừa tham gia đóng góp,vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH,đảm bảo sự công bằng,bình đẳng.Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước –người sử dụng lao độngngười lao động góp phần ổn định nền kinh tếxã hội.Thứ tư,hệ thống PLXH góp phàn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.Quỹ an sinh xã hội,trong đó có quỹ bảo hiểm xã hội là nguồn tài chính tập trung khá lớn đươc sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ,phần “nhàn rỗi” đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ.Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ,cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ,hoạt động của quỹ an sinh xã hội đều góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Bên cạnh đó,PLXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo,góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội. Nguồn:theo Tổng cục thống kê.Biểu đồ sản xuất công nghiệp giai đoạn 20002010.Mặc dù trong giai đoạn khủng hoảng nhưng nhờ có những chính sách phúc lợi xã hội mà sản xuất công nghiệp ở Việt nam vẫn có giá trị tăng đều qua các năm.Trong vòng 10 năm từ 20002010 tăng gần 600 tỷ đồng.Trong đó tăng mạnh nhất là giai đoạn 20052006 và 20092010.Sự tăng trưởng sản xuất công nghiệp của Việt Nam giữ được sự ổn định trong giai đoạn từ 20032006.Do nền kinh tế khủng hoảng,sản xuất công nghiệp ở Việt Nam giảm mạnh từ 20072009.Từ 20092010 sản xuất công nghiệp phục hồi và tăng mạnh. Nguồn:theo Tổng cục Thống kê.Biểu đồ GDP bình quân đầu người giai đoạn 20002010.Mặc dù trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế nhưng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam vẫn tăng đều qua các năm.GDP trong giai đoạn này được đánh giá là tăng trưởng khá cao so với khu vực.

Trang 1

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

BIÊN BẢN HỌP NHÓM

Kính gửi: cô giáo dạy môn Kinh tế học lao động

Hôm nay ngày 10/10/2014 nhóm 10 họp thảo luận

1.Địa điểm:sân thư viện

Trang 2

5 Bùi Thị Kim Thoa 13D210468

6 Đinh Minh Thuận 13D210399

7 Nguyễn Thị Thúy 13D210115

8 Nguyễn Thị Thủy 13D210331

9 Phạm Thị Thúy 13D210332

10 Nguyễn Thị Tiên 13D210333

Trang 3

1.Giới thiệu chung về các hoạt động trợ cấp: 1

2.Các hình thức trợ cấp ở các nước phát triển trên thế giới: 2

2.1.Bảo hiểm xã hội Liên bang: 2

2.2.Tiền trợ cấp thất nghiệp: 2

2.3.Tiền trợ cấp công cộng: 2

2.4.Phúc lợi của phụ nữ mang thai và nhi đồng: 2

2.5.Bảo hiểm việc làm: 3

2.5.1.Tiền bảo hiểm thất nghiệp: 3

2.5.2.Tiền bồi thường cho công nhân: 3

2.5.3.Tiền bảo hiểm tàn tật của Bang: 3

2.6.Trợ cấp cuộc sống cho người có thu nhập thấp: 3

2.6.1.Phiếu lương thực: 3

2.6.2.Trường học cung cấp bữa ăn giá rẻ hoặc miễn phí: 3

2.6.3.Chương trình trợ cấp năng lượng trong nhà: 4

2.7.Nhà ở công cộng giá rẻ: 4

2.8.Trợ cấp y tế: 4

2.8.1.Trợ cấp tiền thuốc: 4

2.8.2.Chương trình chăm sóc tại nhà: 4

3.Việc áp dụng các hình thức trợ cấp ở Việt Nam: 6

3.1.Các chế độ PLXH bắt buộc: 8

3.1.1.Trợ cấp ốm đau: 8

3.1.2 Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: 9

3.1.3.Chế độ bảo hiểm thai sản: 10

3.1.4.Chế độ hưu trí: 10

Trang 4

3.2.Phúc lợi tự nguyện: 12

4.So sánh việc áp dụng các hình thức trợ cấp dành cho người lao động ở Việt Nam và trên thế giới: 14

4.1.Các chương trình thay thế thu nhập: 14

4.1.1.Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): 14

4.1.2.Tiền bồi hoàn và bảo hiểm mất sức 20

4.2.Các chương trình duy trì thu nhập: 22

5.Lý thuyết và thực tiễn về nhận định 2.2: 22

Trang 5

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có điều kiện đảm bảo vềăn,mặc,ở…Để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này con người phải lao động làm ranhững sản phẩm cần thiết.Khi của cải xã hội càng có nhiều thì mức độ thỏa mãnnhu cầu ngày càng tăng,nghĩa là việc thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống phụ thuộcvào khả năng lao động của con người.Tuy nhiên,trong suốt cuộc đời không phải lúcnào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập,trái lại có nhiều trường hợp xảy

ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đâu,tai nạn,giàyếu,thất nghiệp…Đồng thời cuộc sống của con người còn phụ thuộc rất nhiều vsofđiều kiện tự nhiên,môi trường xã hội.Những điều kiện này không phải lúc nào ởđâu cũng thuận lợi.Những rủi ro bất hạnh do thiên tai hoặc môi trường gây ra chocon người là không thể tránh khỏi

Khi gặp phải những trường hợp rủi ro,thiếu nguồn thu nhập để sinh sống conngười đã giải quyết bằng nhiều cách khác nhau.Từ xa xưa con người đã có sự sansẻ,đùm bọc của cộng đồng.Lòng nhân ái,sự bao bọc đã hình thành những hoạt độngcứu tế của các tổ chức tôn giáo,phường hội giúp con người giảm đi những khó khăntrong cuộc sống hàng ngày

Cùng với sự phát triển của xã hội,ý thức cộng đồng tương trợ lẫn nhau dầndần được mở rộng.Từ thế kỉ thứ XVI những người nông dân vùng thung lũng Anpơ

đã nhận thấy khả năng của sự đóng góp cộng đồng để trợ cấp cho những người bịđau ốm,tai nạn.Họ đã thành lập những hội tương tế với cách thức mỗi người đềutrích ra một phần thu nhập để đóng chung vào một quỹ phòng khi ai ốm đau,tai nạnthì dùng quỹ đó để giúp đỡ.Những yếu tố đoàn kết,hướng thiện đó đã tác động tíchcực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khácnhau.Đặc biệt là sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất hàng loạt nông dân

di cư ra thành thị và đội ngũ những người làm công ăn lương tăng lên.Cuộc sốngcủa họ phụ thuộc chủ yếu dựa vào thu nhập do làm thuê đem lại,nên khi gặp rủi ronhư: ốm đau,tai nạn,thất nghiệp,tuổi già…những người lao động đã tìm cách khắcphục bằng cách lập ra các quỹ tương tế để trợ giúp lẫn nhau

Trang 6

công nghiệp hóa.Cuộc chuyển biến này khiến cuộc sống của người lao động gắnchặt với thu nhập do bán sức lao động đem lại.Chính vì vậy những rủi ro trongcuộc sống như ốm đau,tai nạn,thất nghiệp hoặc do tuổi già sức yếu…đã trở thànhmối lo ngại cho những người lao động.Trước những rủi ro,bất hạnh thường xuyênxảy ra trong cuộc sống,một số nước đã khuyến khích các hoạt động tương thântương ái lẫn nhau,kêu gọi người lao động tự tiết kiệm phòng khi có biến cố hoặcthực hiện trợ cấp đối với những người làm công ăn lương.

Việt Nam là nước đang phát triển và hội nhập kinh tế thế giới tuy nhiên donhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa gia nhập Hiệp hội An sinh xã hội thếgiới,nhưng những gì Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện trongnhiều thập kỉ qua đều hàm chứa những nội dung cơ bản của an sinh xã hội baogồm:Các hoạt động phòng ngừa rủi ro,phát triển hệ thống BHXH,bảo hiểm y tế,bảohiểm thất nghiệp,bảo hiểm tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng vàchiều sâu,tăng cường mức độ bao phủ,cải thiện chất lượng dịch vụ, mở rộng cáchình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động,phòng ngừa rủiro.Phúc lợi xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinhtế,phúc lợi xã hội cũng nhằm phát triển các thế hệ tương lai,thúc đẩy dân chủ,nhânquyền.Phúc lợi xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền của con người.Các hoạtđộng trợ giúp thường xuyên sẽ đảm bảo từng bước được mở rộng đối tượng baophủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp,hưu tríkhông đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất,bảo đảmcông bằng trong các chính sách hỗ trợ,không để sót các đối tượng nhằm đảm bảocho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ cuộc sống.Đa dạng hóa và linh hoạttrong các hình thức hỗ trợ - đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mởrộng sự tham gia của các đối tượng vào các hoạt động trợ giúp.Các hoạt động trợgiúp đột xuất bảo đảm đến đúng đối tượng,đến kịp thời và đáp ứng nhu cầu của đốitượng.Linh hoạt trong hoạt động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi củacộng đồng nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước

Trang 7

1.Giới thiệu chung về các hoạt động trợ cấp:

Trong WTO,trợ cấp được hiểu là bất kì hỗ trợ tài chính nào của Chính phủhoặc tổ chức công cho một đối tượng nhất định và có thể lượng hóa về mặt tàichính.Trên thực tế,Chính phủ trợ cấp dưới nhiều hình thức khác nhau,như:hỗ trợtrực tiếp bằng tiền (trao tiền mặt,cấp vốn,cho vay…);hỗ trợ thông qua hiện vật;hỗtrợ thêm tiền lương và nâng cao điều kiện làm việc cho nhưỡng người làm trongcác ngành nghề độc hại và nguy hiểm;miễn hoặc cho qua các khoản thu lẽ ra phảiđóng đối với các doanh nghiệp (ưu đãi thuế,tín dụng…)

Các hoạt động trợ cấp của Chính phủ hướng tới mục đích chính là đảm bảo ansinh xã hội,giúp đỡ người dân nâng cao cuộc sống,tạo điều kiện cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ có thể cạnh tranh mạnh mẽhơn trên thị trường,góp phần thúcđẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nước.Các cách thức mà Chính phủ áp dụngcho hoạt động trợ cấp dành cho người lao động là:trợ cấp thất nghiệp cho người cóthu nhập thấp,người không có khả năng lao động,lao động mất sức về hưu sớm;cácphúc lợi cho người già,người vô gia cư,trẻ em mồ côi,người nghèo có hoàn cảnhkhó khăn,người tàn tật,người có công với cách mạng và thân nhân của họ;các chínhsách đãi ngộ cho phụ nữ trong thời kì thai sản;các chính sách trợ cấp cho các vùngsâu,vùng xa,dân tộc thiểu số,có hoàn cảnh khó khăn;trợ cấp xuất khẩu của Chínhphủ dành cho các doang nghiệp liên quan đến xuất khẩu với mục tiêu thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu và tạo việc làm cho người lao động;trợ cấp đặc biệt cho các ngànhnghề nguy hiểm độc hại bằng cách tăng lương,tạo điều kiện làm việc tốt hơn,ví dụcác ngành như:hóa chất,luyện kim,khai khoáng,vũ khí hạt nhân…;các trợ cấp vềgiáo dục cho những học sinh nghèo vượt khó,tài trợ các suất du học cho học sinh-sinh viên để có cơ hội phát huy tài năng,học hỏi các nước phát triển hơn…

Ở những nước phát triển như Mỹ,họ dành một khoản chi phí lớn của quốc giavào các hoạt động trợ cấp.Do đó những chế độ phúc lợi của họ khá toàn diện trênnhiều phương diện khác nhau.Việt Nam là một nước đang phát triển nên mức độtrợ cấp dành cho người lao động đang còn thấp song nhà nước ta vẫn luôn quan tâm

và lấy đó làm một trong những chiến lược hàng đầu trong phát triển kinh tế

Trang 8

2.Các hình thức trợ cấp ở các nước phát triển trên thế giới:

2.1.Bảo hiểm xã hội Liên bang:

Bảo hiểm xã hội Liên bang được thiết lập cho những người có việc làm,bảnthân những người vẫn đang làm việc và đã từng làm việc và người thân trong giađình vẫn có thể tham gia.Chủ yếu bao gồm:tiền về hưu(Retirement Benefits),tiềndưỡng lão (Survivor’s Benefits),tiền dành cho người tàn tật (Disability Benefits) vàtiền phúc lợi y tế (Medicare Benefits)…

2.2.Tiền trợ cấp thất nghiệp:

Chỉ cần là người xin nghỉ việc thất nghiệp,bất kể là người đó có khoản tiền tiếtkiệm hay không đều được phép đăng ký.Thời gian trợ cấp thông thường là từ 6-9tháng,căn cứ theo tình hình của từng Bang mà có thể được kéo dài thời gian trợcấp

2.3.Tiền trợ cấp công cộng:

Đây là trợ cấp được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc nhữngngười khiếm thị,người già,người tàn tật và những gia đình không có thunhập.Chính quyền bang sẽ căn cứ theo điều kiện sinh sống của từng trường hợp đểcấp tiền.Người đăng ký phải chấp nhận điều tra để chứng minh tư cấp đăng ký vàlĩnh nhận trợ cấp

2.4.Phúc lợi của phụ nữ mang thai và nhi đồng:

Đây là khoản phúc lợi được thiết lập để đảm bảo và gia tăng sức khỏe cho phụ

nữ mang thai và nhi đồng,không cấp tiền mặt mà cung cấp các dịch vụ về sứckhỏe.Phương án an toàn xã hội mang tính toàn quốc,được lập ra để bảo đảm choquyền lợi của tất cả mọi người.Trừ khoản tiền trợ cấp công cộng ra,phần lớn cácbiện pháp phúc lợi khác không phân biệt người giàu hay người nghèo đều đượchưởng.Điều đáng nói là Cục an toàn xã hội quy định:người nhận tiền an toàn xã hộikhông nhất thiết phải ở tại nước Mỹ,để thuận tiện cho những người đã về hưunhưng lại sinh sống ở nước ngoài

Ngoài những chính sách phúc lợi nói trên được bao gồm trong phương án antoàn xã hội,nước Mỹ còn có rất nhiều phúc lợi xã hội liên quan tới các phương diệncủa cuộc sống và công việc,có các loại thường gặp sau đây:

Trang 9

2.5.Bảo hiểm việc làm:

2.5.1.Tiền bảo hiểm thất nghiệp:

Tiền bảo hiểm thất nghiệp là một loại bảo hiểm.Hàng tháng trừ một khoản tiềntrong tiền lương của người được bảo hiểm để nộp bảo hiểm,khi nào mà người đượcbảo hiểm bị thất nghiệp tức là có thể được nhận tiền bồi thường,tiền được bồithường bằng một nửa số tiền lương của người đó

2.5.2.Tiền bồi thường cho công nhân:

Do chủ sử dụng lao động đóng bảo hiểm cho chính quyền Bang hoặc công tybảo hiểm,công nhân bị tai nạn nghề nghiệp được đăng ký lĩnh tiền.Mức bồi thường

cụ thể và thời gian cụ thể còn phụ thuộc vào khoản tiền mà chủ sử dụng đóng bảohiểm là bao nhiêu,đồng thời cũng có thể được báo mức chi phí y tế nhất định.Tiềnbồi thường công nhân được đăng ký cho cả những người không có quốc tịch Mỹ

mà không ảnh hưởng đến việc sau này người đó chuyển đổi thân phận hoặc nhậptịch

2.5.3.Tiền bảo hiểm tàn tật của Bang:

Toàn nước Mỹ chỉ có Bang California,New Jersay,Hawai và Puerto Rico cóthiết lập loại bảo hiểm này,thiết lập riêng cho những người vì bệnh tật trong khoảngthời gian ngắn mà tạm thời không thể làm việc được.Nói cách khác người được bảohiểm trong khoảng thời gian bị bệnh vẫn trong chế độ còn làm việc,sau khi hồiphục lại bắt đầu làm việc,tiền bảo hiểm sẽ ngừng việc chi trả

2.6.Trợ cấp cuộc sống cho người có thu nhập thấp:

2.6.1.Phiếu lương thực:

Bộ Nông nghiệp Liên bang Mỹ giải ngân cho chính quyền các Bang phát cácphiếu lương thực,các phiếu lương thực này chỉ có thể đổi các nông phẩm được sảnxuất tại Mỹ,không được đổi lấy tiền mặt,để cứu tế cho những gia đình có thu nhậpthấp.Trợ cấp này chỉ dành cho công dân Mỹ

2.6.2.Trường học cung cấp bữa ăn giá rẻ hoặc miễn phí:

Đây là chương trình thực phẩm dinh dưỡng mang tính toàn quốc được Chínhphủ thiết lập để đảm bảo cho sức khỏe của học sinh.Những người không có quốctịch Mỹ cũng có quyền lợi này

Trang 10

2.6.3.Chương trình trợ cấp năng lượng trong nhà:

Chương trình này được thiết lập ành cho những gia đình có thu nhập thấp đểgiảm chi phí tiền than củi,tiền điện,những người không có quốc tịch Mỹ cũng đượchưởng quyền lợi trong chương trình này.Tiền trợ cấp năng lượng ngoài việc giúp

đỡ chi trả tiền than củi,tiền điện…còn có thể thay thế cho tiền sửa các thiết bị cóliên quan tới sưởi ấm như lò sưởi,ống khói…

2.7.Nhà ở công cộng giá rẻ:

Khoản phúc lợi này có 4 loại hình thức như:nhà ở công cộng,nhà ở trợ cấp,trợcấp tiền thuê và nhà giá rẻ.Người đăng ký phải tròn 62 tuổi hoặc là người có thunhập thấp,có một số trợ cấp nhà ở trong này yêu cầu đồng thời cả hai điều kiện nóitrên

2.8.Trợ cấp y tế:

2.8.1.Trợ cấp tiền thuốc:

Không giống với bảo hiểm y tế,trợ cấp tiền thuốc là một chương trình bảohiểm sức khỏe,được lập ra để cho những gia đình có thu nhập thấp có thể đồng thờiđược hưởng bảo hiểm y tế nhưng chương trình này chỉ áp dụng cho công dân Mỹ

2.8.2.Chương trình chăm sóc tại nhà:

Do chính quyền Liên bang,Bang và huyện cũng chịu trách nhiệm,cung cấpdịch vụ chăm sóc tại nhà và dịch vụ không phải là y tế cho người già 65 tuổi trởlên,người khiếm thị hoặc người tàn tật,khiến cho những người này có thể sống antoàn tại nhà,không cần vào nhà dưỡng lão hoặc các tổ chức y tế công cộng

Cụ thể:

Ở Mỹ,có rất nhiều loại trợ cấp từ Chính phủ.Tháng 6 vừa qua,gần 11 triệu

người Mỹ được nhận trợ cấp thương tật.Năm 1970,con số chỉ là 3 triệu người.Mứctrợ cấp cũng tăng nhanh hơn so với mức tăng của lương.Nhiều Bang của nước Mỹ

đã chuyển bộ phận của những người hưởng trợ cấp xã hội hoặc Medicaid (vốnđược chi trả bởi Chính quyền địa phương) sang trợ cấp thương tật (trả bởi Chínhphủ Liên bang).Một số Công đoàn còn khuyến khích người thất nghiệp nộp đơn xintrợ cấp thương tật.Trong khi đó,số người trợ cấp lương thực đã tăng vọt từ 28,2triệu người trong năm 2008 lên 47,8 triệu trong tháng 12 năm ngoái (tăng 70%).Tỷ

lệ thất nghiệp lập đỉnh 10% từ tháng 10/2009 và đã giảm xuống.Tuy nhiên,số ngườinhận loại trợ cấp này vẫn không ngừng tăng lên bởi các Bang nới lỏng điều kiện

Trang 11

xin trợ cấp do Chính phủ Liên bang sẽ chịu loại chi phí này.Kết quả là,chi phí chotrợ cấp lương thực tăng từ 30,8 tỉ USD năm 2007 lên 74,6 tỷ USD trong nămngoái.Năm 2006, 18,7% hộ gia đình nhận loại trợ cấp này được chấp thuận bởichương trình xét duyệt không tính đến tài sản.

Năm 1975, 8% người Mỹ nhận trợ cấp lương thực.Ngày nay,tỉ lệ đó là15%.Số người sống dưới mức nghèo đói cũng tăng từ 37,3 triệu người năm 2007lên 48,5 triệu người năm 2011,nhưng mức tăng chỉ bằng một nửa so với mức tăngcủa số người nhận trợ cấp lương thực

Ở nhà nhận trợ cấp thay vì đi làm!Với đủ loại trợ cấp,rất nhiều người nhậnthấy họ sẽ có nhiều tiền hơn khi ngồi nhà và hưởng trợ cấp thay vì tìm được mộtviệc làm.Những đồng lương ít ỏi không đủ trang trải chi phí đi lại,thuê người giữtrẻ và các chi phí khác trong quá trình tìm việc

Một nghiên cứu mới gần đây được thực hiện cho thấy GDP cần tăng 3,2% đểgiữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức ổn định.Điều này cũng có nghĩa là với tốc độ tăngtrưởng GDP khoảng 2% như hiện nay,tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng hơn 1% mỗinăm.Tuy nhiên,báo cáo của Bộ Lao động đưa ra con số 7,6% trong tháng 6.Chủtịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernanke đang cố gắng tìm ra lý do tại sao tỷ lệ thấtnghiệp vẫn giảm trong khi tăng trưởng kinh tế chỉ phục hồi ở mức yếu ớt như vậy.Dẫu vậy,vẫn có thể dễ dàng nhận ra điểm logic ở đây:như đã nói ở trên,tỉ lệngười tham gia vào lực lượng lao động đã giảm mạnh.Rất có thể nhiều người trong

số 2 triệu người đã rời khỏi thị trường lao động trong 2 thập kỉ gần đây vì những lí

do không thuộc về độ tuổisẽ không bao giờ quay trở lại

Hiện nay,một bộ phận giới trẻ cho rằng Đại học là một khoản đầu tư khôngmang lại hiệu quả và quyết định học nghề để nhanh chóng đi làm.Xu hướng này cóthể giúp cải thiện tình hình.Dẫu vậy,rất nhiều người vẫn sẽ tiếp tục ngồi nhà và dựavào các loại trợ cấp.Một số cũng đã mất đi kỹ năng sau thời gian dài thấtnghiệp.Như đã nói ở trên,nếu GDP tăng trưởng 2,5% mỗi năm,hàng năm nước Mỹcần có thêm 1,44 triệu lao động.Tuy nhiên,theo dự báo,sẽ có khoảng 1,4 triệu người

đi tìm ciệc làm mới.Hai con số chỉ khớp nhau khi những người mới có thể đáp ứngđược nhu cầu của nhà tuyển dụng.Tỷ lệ tahm gia lực lượng lao động giảm xuống cónguyên nhân chủ yếu là do dân số Mỹ bị già hóa.Nguyên nhân còn lại gồm thịtrường lao động ảm đạm,triển vọng nền kinh tế u ám cùng với chính sách trợ cấphấp dẫn

Trang 12

Ở Nga,người lao động được nghỉ phép 4 tuần/năm.Trong đó ngày lễ và ngày

không làm việc không bị trừ vào phép năm.Nghỉ phép,người lao động ở Nga vẫnđược trả lương hoàn thiện

Chính phủ Nga vừa đệ trình Đuma Quốc gia các sửa đổi luật “về trợ cấp xãhội Nhà nước”.Trong đó đề nghị tiến hành kí kết hợp đồng xã hội để hỗ trợ chonhững công dân có thu nhập thấp.Theo Bà Galina Karelova-phó chủ tịch ủy banĐuma Quốc gia,mức lương trung bình trên toàn nước Nga là 30-35 nghìn rúp.Hệthống hợp đồng xã hội được áp dụng thí điểm tại 17 khu vực của Liên bang Nga

3.Việc áp dụng các hình thức trợ cấp ở Việt Nam:

Trong những năm 90,xã hội Việt Nam thay đổi mạnh mẽ về cấu trúc xã hội vàvăn hóa,do quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung còn mangnặng tính nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN

Ba thiết chế trụ cột trong một Nhà nước hiện đại là chính trị,kinh tế và phúclợi xã hội.Hệ thống PLXH có vai trò thiết yếu vì nó nhằm đảm bảo các nhu cầu xãhội cơ bản của các tầng lớp dân cư và hình thành nên mối quan hệ xã hội.Với chứcnăng như vậy,phúc lợi có tác động lớn trong việc giảm khác biệt xã hội và tăngcường liên kết xã hội

Trong 15 năm Đổi mới,cùng sự bùng nổ của nghiên cứu khoa học xã hội,đã cónhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống phúc lợi xã hội.Đăc biệt là Ba

mô hình xã hội ở Việt Nam

Ba mô hình này là các mô hình được trìu tượng hóa từ thực tế.Về mặt lịchsử,chúng lần lượt thay thế nhau theo thời gian.Tuy nhiên,thực tế hiện nay là sự phatrộn,kết hợp theo những cách thức khác nhau của cả ba kiểu PLXH đó

Sơ đồ 1 mô tả ba kiểu phúc lợi xã hội mà Việt nam đã và đang trải qua,tạm gọi

3 kiểu này là PLXH truyền thống.PLXH của nền kinh tế XHCN kế hoạch hóa tậptrung và PLXH của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Cột 2 trình bày những thiết chế cơ bản tham gia vào việc vận hành hệ thốngPLXH.Cột 3 thể hiện những đặc điểm vận hành chính của mỗi hệ thống

Trang 13

Mô hình Thiết chế Đặc điểm

 Cộng đồng(làng xóm,làngxã,các hiệphội,tổ chức tôngiáo…)

 Nhà nước

 Phúc lợi xã hội làng xã:gia đình vàgia đình mở rộng đóng vai trò đầutiên nhưng dòng họ và các thiết chếcộng đồng có vai trò rất quan trọng

 Nhà nước đưa ra khuôn khổ luậtpháp và các điều chỉnh đối vớiPLXH làng xã

 Hợp tác xã

 Đoàn thể quầnchúng

 Cộng đồng

 Tổ chức quốctế

 Bảo đảm xã hội toàn dân thông quaviệc gắn người dân vào hệ thốngPLXH khu vực nhà nước và tậpthể

 Phát triển bảo hiểm xã hội chongười lao động trong khu vực nhànước và một hệ thống bảo đảm xãhội cho khu vực tập thể,đặc biệt ởnông thôn

 Nhấn mạnh vào kế hoạch hóa vàquản lý của Nhà nước trung ươngđối với PLXH

cơ quan Nhànước và khôngNhà nước

 Đoàn thể quầnchúng

 Gia đình

 Cộng đồng

 Nhà nước đóng vai trò nòngcốt,đồng thời thu hút và phát huy

sự tham gia của mọi thànhphần,lĩnh vực vào phúc lợi xã hội

 Thừa nhận và nâng cao vai trò củakhu vực tư nhân

 Tăng cường vai trò của nhà nướcđịa phương

 Đề cao vai trò của hộ gia đình

 Mở rộng bảo đảm xã hội và bảo

Trang 14

 Xã hội dân sự.

 Cá nhân

 Tổ chức quốctế

hiểm xã hội cho toàn dân,cho mọikhu vực xã hội

 Tăng cường tự chủ kinh tế và hànhchính cho các tổ chức bảo hiểm xãhội Nhà nước

 Mở rộng giúp đỡ quốc tế

Nguồn:Bui The Cuong,Truong Si Anh,Daniel Goodkind,John Knodel and JedFriedman.Vietnamese Elder Amidst Transformations in Social Welfare Policy.PSCReport.1999

Sơ đồ: Ba mô hình phúc lợi ở Việt Nam

3.1.Các chế độ PLXH bắt buộc:

Ở Việt Nam,các chế độ phúc lợi bắt buộc bao gồm 5 chế độ:bảo hiểm xã hộicho người lao động,trợ cấp ốm đau,tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,thai sảnhưu chí và tử tuất.Việc tính và chi các loại phúc lợi bắt buộc trong BHXH cụ thể:

+) Đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường

 30 ngày/năm nếu đã đóng BHXH trong 12 năm

 40 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 15 năm-dưới 30 năm

 50 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 30 năm trở lên

+) Đối với người lao động làm các nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại,làm việc

ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên

 40 ngày/năm nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm

 50 ngày/năm nếu đã đóng BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm

 60 ngày/năm nếu đã đóng bảo hiểm từ 30 năm trở lên

Mức hưởng trợ cấp ốm đau tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và được tínhtrên % mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Trang 15

3.1.2 Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận,chức năng nàocủa cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động hoặcthực hiện công việc,nhiệm vụ lao động

Bệnh nghề nghiệp là một bệnh đặc trưng của nghề do yếu tố độc hại của nghề

đó có tác động thường xuyên.từ từ vào cơ thể người lao động mà gây nênbệnh.Người bị bệnh nghề nghiệp phải được điều trị chu đáo khám sức khỏe định kỳ

có hồ sơ sức khỏe riêng biệt

Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp như sau:

+) Người bị tai nạn trong giờ làm việc,tại nơi làm việc,kể cả làm việc ngoài giờ doyêu cầu của người sử dụng lao động

+) Bị tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sửdụng lao động yêu cầu

+) Bị tai nạn ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sửdụng lao động khi đi trên tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm việc,người sử dụng laođộng phải chịu trách nhiệm chịu trách nhiệm trả các khoản chi phí y tế và tiềnlương từ khi sơ cứu,cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật cho người bị tai nạnlao động.Sau khi điều trị thương tật NSDLĐ có trách nhiệm sắp xếp các công việcphù hợp với người bị tai nạn lao độngvà được tổ chức BHXH giới thiệu đi khámđịnh khả năng lao động tại hội đồng giám định y khoa theo quy định của bộ ytế.Mức trợ cấp được quy định như sau:

Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp 1 lần

Từ 21-30% 12 tháng tiền lương tối thiểu

Bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hàng tháng

Trang 16

Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp hàng tháng

3.1.3.Chế độ bảo hiểm thai sản:

Chế độ trợ cấp thai sản trong chế độ bảo hiểm ngắn hạn đã được thực hiện vềthu nhập và bảo hiểm sức khỏe của bà mẹ khi mang thai và sinh con.Chế độ nàyđược quy định để duy trì nguồn thu nhập và sức lao động của người phụ nữ mộtcách liên tục,không bị gián đoạn bởi chức năng sinh sản.Các chế độ cụ thể baogồm:trợ cấp nghỉ đẻ,nghỉ trước và sau khi sinh con,nghỉ đi khám thai,nuôi con sơsinh

3.1.4.Chế độ hưu trí:

Người lao động khi đủ điều kiện được hưởng lương hưu hàng tháng đượchưởng bảo hiểm y tế do BHXH trả

Điều kiện được hưởng chế độ hưu trí

+) Nam đủ 60 tuổi,nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 20 nămtrở lên

+) Nam đủ 55 tuổi nữ đủ 50 tuổi và có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 20 nămtrở lên mà trong 12 năm đó có thời gian làm việc thuộc các trường hợp sau :

 Đủ 15 năm làm nghề và làm những công việc nặng nhọc độc hại

 Đủ 15 năm làm nghề và có công việc ở nơi có phụ cấp khu vực có hệ số từ0.7 trở lên

 Đủ 15 năm công tác ở miền núi,ở Lào trước 30/4/1975 và ở campuchia trướcngày 31/8/1989

Người lao động được hưởng hưu trí hàng tháng được hưởng quyền lợi sauđây

Ngày đăng: 11/10/2015, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w