“Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐƯA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
TIẾN LÊN TOÀN THẮNG (1973-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LAN
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐƯA CÁCH MẠNG MIỀN NAM
TIẾN LÊN TOÀN THẮNG (1973-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Lê
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đình Lê Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Luận văn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung thêm những tài liệu mới
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Đình Lê, người thầy đã gợi mở cho tôi từ những ý tưởng ban đầu của luận văn cũng như đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi cũng trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo tại Bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chỉ bảo, động viên khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập của tôi tại đây
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Nguồn tài liệu 9
7 Đóng góp của Luận văn 9
8 Kết cấu của Luận văn 10
Chương 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG MIỀN NAM TRƯỚCHIỆP ĐỊNH PA-RI (1954-1973) 11
1.1 Tình hình cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 11
1.2 Quá trình phát triển của cách mạng miền Nam trước năm 1973 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 31
Chương 2: QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1973-1975) 32
2.1 Chủ trương chiến lược của Đảng sau Hiệp định Pa-ri 32
2.2 Chuẩn bị lực lượng cách mạng 38
2.3 Xây dựng hệ thống hậu cần và thiết kế chiến trường 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 63
Chương 3: QUÁ TRÌNH THĂM DÒ KHẢ NĂNG CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN SAU HIỆP ĐỊNH PA-RI 64
3.1 Sự kiện Tống Lê Chân 64
3.2 Sự kiện Watergate 69
3.3 Chiến dịch Phước Long 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào mùa Xuân năm 1975 Đây là cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc tiêu biểu của nhân dân ta Một cuộc chiến tranh kéo dài đến hơn hai thập niên (từ tháng 7-1954 đến tháng 5-1975), dài hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử và phải chống lại một đế quốc hùng mạnh nhất là đế quốc Mỹ
“Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng
và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại
sâu sắc” [63; tr 127]
Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là kết quả của một quá trình đấu tranh bền bỉ trong gian khó, không ngại hi sinh, mất mát của toàn dân tộc Ta đã biết mở đầu cuộc kháng chiến đúng lúc, biết tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, nắm thời cơ để tổ chức tác chiến chiến lược, mở các cuộc tổng tiến công, tạo ra các bước ngoặt chiến tranh có lợi cho ta, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, kết thúc chiến tranh vào lúc có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam và thế giới
Tháng 1-1973, Hiệp định Pa-ri được kí kết đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, mở ra thếvà lực mới cho cách mạng Việt Nam Cục diện chiến trường, so sánh lực lượng giữa ta và địch từng bước chuyển biến theo hướng
có lợi cho ta Thực trạng diễn biến tình hình báo hiệu một thời cơ lớn đang tới gần để quân và dân ta mở cuộc phản công chiến lược, giải phóng hoàn toàn
Trang 7Nhìn nhận được thời cơ đó, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành ngay công tác chuẩn bị mọi mặt cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng Thực tiễn chiến tranh và cách mạng cho thấy, trong những thời điểm bước ngoặt có tính chất quyết định thì đòi hỏi phải huy động tối đa mọi khả năng nhân tài, vật lực của đất nước - đây là quy luật tất yếu để giành thắng lợi
Tại sao cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 chỉ diễn ra nhanh chóng trong 55 ngày đêm, thay vì 2 năm như kế hoạch trước đó đã đề ra? Tại sao đến năm 1975, chúng ta đã có điều kiện cần và đủ để tiến hành giải phóng miền Nam? Đó là do nó được tích lũy từ những ngày tháng gian lao trong những năm 1954-1959, từ kết quả chiến đấu trong những năm 1965,
1968, 1972 Nhưng trực tiếp mà nói, chiến thắng mùa Xuân năm 1975 có nguồn gốc trực tiếp từ sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt trong những năm
1973-1974 Quá trình chuẩn bị đó bao gồm sự thống nhất về tư tưởng, quyết
tâm; Thăm dò khả năng của đối phương; Chuẩn bị lực lượng; Xây dựng hệ thống hậu cần và thiết kế chiến trường Đây là giai đoạn động viên toàn lực
tạo tiền đề quyết định để trên cơ sở đó, Trung ương Đảng vạch phương án giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Đây có thể được xem là những năm tháng bản lề, những năm tháng quyết định trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Đại thắng mùa xuân năm 1975
Việc nghiên cứu về Quá trình chuẩn bị giải phóng miền Nam không chỉ tái hiện bức tranh về những năm tháng hào hùng “cả nước ra quân, cả dân tộc
ra trận” trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh mà còn góp phần làm sáng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua đề tài này, tác giả hi vọng góp phần bổ sung, cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử, phục vụ công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ
Trang 8Xuất phát từ những lí do trên, vấn đề: “Quá trình chuẩn bị đưa cách
mạng miền Nam tiến lên toàn thắng (1973-1975)”được tác giả chọn làm
Luận văn Thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ nói chung, giai đoạn 1973-1975, với tầm vóc vĩ đại của nó trong tiến trình cách mạng Việt Nam đã để lại nhiều dấu
ấn lịch sử và được khai thác, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Trong nước, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, các vấn đề tổng kết cuộc kháng chiến được đặt ra, trong đó có đề cập đến giai đoạn 1973-1975 Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh thuộc Bộ Chính
trị đã có những công trình: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước,
Thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, Thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000…
Công trìnhLịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975của tập
thể tác giả Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, gồm 9 tập, tổng dung lượng gần 4.000 trang, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật xuất bản Đây là bộ sách bản lề , đã cung cấp cho tác giả cái nhìn chi ti ết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Công trình làm nổi bật vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, cũng như sự hi sinh chiến đấu anh dũng, kiên cường của quân và dân cả nước Bên cạnh tái hiện cuộc kháng chiến, đánh giá những thắng lợi, bộ sách cũng rút ra những kinh nghiệm trong lãnh đạo cuộc kháng chiến Các tập VI (Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương ),
tâ ̣p VII (Thắng lợi quyết đi ̣nh ), tâ ̣p VIII (Toàn thắng), tâ ̣p IX (Nguyên nhân thắng lợi, bài học lịch sử) đã tái hiện toàn bộ cuộc kháng chiến từ năm 1968-
Trang 9đồng thời chú trọng phân tích làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân cuộc chiến
nghiệm
Bô ̣ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2 tâ ̣p) do Nhà xuất bản Chính trị
tham gia của nhiều nhà khoa học đầu ngành, cán bộ lãnh đạo qua các thời kỳ, các cựu chiến binh, các nhân chứng lịch sử đã từng sống và chiến đấu tại thành đồng Tổ quốc năm xưa Trong những ngày tháng chia cắt đau thương của dân tộc, Nam Bộ là biểu tượng của tinh thần quật khởi, “nơi đi trước về sau”, “động thái của Nam Bộ kháng chiến không chỉ liên quan đến Nam Bộ,
mà mỗi động tĩnh của Nam Bộ đều dính đến động tĩnh chung của cả Việt Nam”
Các nhà nghiên cứu, học giả trong nước đã có nhiều công trình tái dựng lại một số khía cạnh của quá trình chuẩn bị trong giai đoạn 1973-1975 như:
Nguyễn Đình Sắc, Công tác hậu cần chiến dịch Hồ Chí Minh xuân 1975,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998; Hoàng Viên (ch.b), Cấn Hoàng Dụ,
Đặng Hương…, Lịch sử công binh 559 đường Trường Sơn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999; Phạm Huy Dương, Phạm Bá Toàn, Đại thắng mùa
xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005; Nguyễn Đình Sắc, Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999;
Nguyễn Xuân Tú, Hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; Hồ Sĩ Thanh, Chiến dịch Hồ Chí Minh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, Nxb Trẻ, Hồ
Chí Minh, 2005; Đại thắng mùa xuân năm 1975, sức mạnh của trí tuệ Việt
Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010; Trần Trọng Trung,Nhà Trắng với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Trang 10Nội, 2005; Nhiều tác giả, Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhìn từ phía
bên kia, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010… Các tạp chí nghiên cứu,
sách giáo khoa, giáo trình Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong các trường đại học, cao đẳng đều có những nội dung liên quan đến giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975
Qua những công trình này, tác giả nhận được nhiều tư liệu, sự kiện quý báu từ tháng 1-1973 đến tháng 4-1975 phục vụ cho quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Tác giả Trần Mai Hạnh tiếp cận cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới một
góc nhìn khác thông qua cuốn tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75,
Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thâ ̣t (2014) Toàn bộ cuộc kháng chiến kéo dài
20 năm, cả một chế độ bù nhìn sụp đổ từ gốc rễ và chiến thắng 30-4 lịch sử với sự kiện chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc lập, đánh dấu giờ phút toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, non sông thu về một mối được tác giả trình bày trong gần 500 trang sách Cuốn sách là dòng hồi ký chân thực dựa trên những biên bản cuộc họp, tường trình về thất bại của điểm trấn thủ mà tác giả thu lượm trên bàn các tướng lĩnh bại trận tháng 4-1975
Các nhà lãnh đạo cao cấp, các tướng lĩnh trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong các công trình, bài nói, bài viết, hồi ký của mình đã đề cập nhiều vấn đề có liên quan đến quá trình chuẩn bị giải phóng miền Nam giai đoạn 1973-1975 như: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng,
Nguyễn Hà…, Chiến dịch Hồ Chí Minh qua hồi ức các tư lệnh và chính ủy, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005; Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng
hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2005; Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001; Đại tướngHoàng Minh Thảo, Chiến dịch Tây
Trang 11liệu rất quý giá ghi lại những khoảnh khắc vàng của lịch sử dân tộc dưới góc nhìn của người chỉ huy tối cao; là dòng hồi tưởng về những quyết sách chiến lược của tập thể Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh - Bộ thống soái tối cao - từ việc hoạch định chính sách đến việc chỉ đạo điều hành,
tổ chức thực hiện ở chiến trường và huy động sức mạnh của cả dân tộc để nhanh chóng kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất
Trên thế giới, có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tướng lĩnh viết về cuộc chiến dài ngày nhất của nước Mỹ gây ra ở Việt Nam, tiêu biểu là công trình
của Henry Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, 1980; Henbert Y Schandler, Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - Lyndon Johnson và Việt
Nam, 1982; Mc Namara, Nhìn về quá khứ, Bi kịch và những bài học ở Việt Nam, 1995; Sedgwick Tourison, Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật, Nxb
Công an nhân dân, 2005; James G Zumwalt, Chân trần chí thép, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013; George C Herring, Cuộc chiến dài ngày
của nước Mỹ và Việt Nam (1950-1975), 2004… Trong các tác phẩm này đã ít
nhiều đề cập đến vai trò của người Mỹ, các đời tổng thống Mỹ đã vật lộn như thế nào với cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Cuốn sách Giải phẫu một cuộc chiến tranh của tác giả Gabriel Kolko
(người dịch: Nguyễn Tấn Cưu) do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2003 đã làm nổi lên một số vấn đề rất cơ bản Dựa vào những tài liệu mới và sự khai thác những năm quan sát tại chỗ ở Oa-sinh-tơn, Pa-ri và những chuyến thăm Việt Nam, Ga-bri-en Côn-cô đã phân tích chi tiết, sâu sắc các đối tượng trong cuộc chiến tranh; đồng thời trình bày triển vọng của chiến lược chiến tranh hạn chế của Mỹ trong thời đại của chúng ta và lập luận rằng mọi sự can thiệp của Mỹ trong tương lai chắc chắn sẽ phải chịu kết quả tai hại như ở Việt Nam Đây là một công trình phong phú về tư liệu, “có thể trở
Trang 12thành một điểm then chốt để bắt đầu tất cả các cuộc thảo luận tương lai về chiến tranh Việt Nam” (Điểm sách Cơ-cốt, Niu Yoóc)
Các công trình nghiên cứu và các tài liệu trên đây đã đề cập tới vấn đề quá trình chuẩn bị, quá trình thăm dò khả năng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn để làm cơ sở đưa cách mạng miền Nam tiến lên toàn thắng trong giai đoạn 1973-1975 ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về quá trình chuẩn bị toàn diện và chu đáo này
Mặc dù vậy, những tài liệu đã được công bố nói trên là những tài liệu quan trọng giúp tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
“Quá trình chuẩn bị đưa cách mạng miền Nam tiến lên toàn thắng 1975)”
(1973-3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các sự kiện,
diễn biến quan trọng dẫn đến sự thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch cũng như sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, đầy đủ của cách mạng miền Nam
trong giai đoạn 1973-1975
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn có mốc mở đầu nghiên cứu từ tháng
1-1973 (thời gian sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết) và mốc kết thúc nghiên cứu là trước tháng 4-1975 (trước thời gian diễn ra chiến dịch giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ) Đây là thời gian có tính chất bản lề của Đại thắng mùa xuân năm 1975 Tuy nhiên, để làm rõ tính hệ thống, sự kế thừa, phát triển trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát huy sức mạnh hậu phương của Đảng, Luận văn mở rộng thời gian nghiên cứu về trước
năm 1973 ở mức độ nhất định
Trang 134 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Thông qua việc trình bày một cách tương đối đầy đủ, có hệ
thống quá trình chuẩn bị toàn diện, chu đáo, khoa học trên tất cả các mặt; quá trình thăm dò khả năng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Pa-ri; Luận văn khẳng định vị trí, vai trò to lớn, trực tiếp của những năm tháng bản
lề 1973-1975 trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Đồng thời, thông qua các con số, sự kiện cụ thể, Luận văn góp phần tìm hiểu cuộc chiến đấu anh dũng, tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miền Bắc - Nam trong giai đoạn 1973-1975 Qua đó, góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh
Nhiệm vụ:
- Khái quát tình hình và đặc điểm Việt Nam sau 1954-1973, về nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết
- Phân tích quá trình chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Pa-ri: chuẩn bị về lực lượng, hậu cần, thiết kế chiến trường
- Làm rõ quá trình thăm dò khả năng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong những năm 1973-1975, qua đó khẳng định khả năng quay trở lại miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ, khả năng tiếp tục cuộc chiến của chính quyền, quân đội Sài Gòn
- Đánh giá vai trò của giai đoạn 1973-1975 có tác động trực tiếp, là cơ
sở thực tiễn để Trung ương Đảng vạch kế hoạch giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, trong đó phương pháp lịch sử là để
Trang 14trình bày và lý giải các vấn đề mà Luận văn đưa ra Ngoài ra, tác giả còn vận dụng phương pháp so sánh, thống kê để làm nổi bật và đảm bảo tính chính xác, khoa học các nội dung của đề tài
6 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả Luận văn đã khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu sau:
Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các tướng lĩnh đã trực tiếp chỉ đạo hoặc tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nói chung và giai đoạn 1973-1975 nói riêng
Các báo cáo tổng kết, đánh giá về tình hình cách mạng miền Nam sau Hiệp định Pa-ri, chế độ chính quyền, quân đội Sài Gòn từ 1973-1975 cung cấp cho tác giả những số liệu, sự kiện cụ thể, những căn cứ để có thể bổ sung vào Luận văn
Các công trình nghiên cứu, biên soạn đã được công bố của các học giả trong và ngoài nước về lịch sử kháng chiến chống Mỹ nói chung, giai đoạn 1973-1975 nói riêng Đây là nguồn tư liệu rất phong phú không chỉ cung cấp cho tác giả nhiều số liệu, sự kiện mà cả những cách nhìn, cách đánh giá khác nhau về mối quan hệ giữa các số liệu, sự kiện
Hồi ký của một số nhà hoạt động chính trị, xã hội và các nhà lãnh đạo trong giai đoạn 1973-1975
Các bài viết, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến nội dung Luận văn đề cập
7 Đóng góp của Luận văn
Tập hợp, hệ thống hóa tài liệu về quá trình chuẩn bị toàn diện của Đảng trong giai đoạn 1973-1975, thăm dò khả năng của Mỹvà chính quyền Sài Gòn
Trang 15thống nhất đất nước Trên cơ sở đó, Luận văn phục dựng một cách sinh động
sự phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nêu rõ vịtrí, vai trò của những năm 1973-1975 đối với thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam
- Dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập trong các nhà trường và phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát tình hình cách mạng miền Nam trước Hiệp định
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÁCH MẠNG MIỀN NAM TRƯỚC
HIỆP ĐỊNH PA-RI (1954-1973) 1.1 Tình hình cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
Ngày 7-5-1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương đựơc kí kết Vĩ tuyến 17 trở thành giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam - Bắc
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cách mạng Việt Nam có nhiều thuận lợi mới nhưng cũng phải đối phó với nhiều thử thách phức tạp Về thuận lợi, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là những năm đầu của thập kỷ 50 (XX),
hệ thống xã hội chủ nghĩa được thành lập, nối liền từ châu Âu sang châu Á và ngày càng lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật, trở thành hệ thống thế giới Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh ở châu Phi, châu MỹLatinh, làm tan rã từng mảng hệ thống thuộc địa, đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tình trạng
lệ thuộc về kinh tế Phong trào hòa bình dân chủ lên cao ở các nước tư bản là những nhân tố quốc tế hết sức thuận lợi đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
Ở trong nước,miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa chung cho cách mạng cả nước; thế và lực của cách mạng Việt Nam đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến chống Pháp; ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam được củng cố, tăng cường.Nhân dân ta có một Đảng vững mạnh, có kinh nghiệm lãnh đạo, với đội ngũ đảng viên, đoàn
Trang 17viên hơn một triệu người, lại được nhân dân tiến bộ trên thế giới đồng tình, ủng hộ
Bên cạnh đó, chúng ta cũng gặp không ít những khó khăn, thử thách Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và sau khi quân đội Pháp rút
đi, nhân dân ta phải tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh
tế, bảo đảm đời sống Ở miền Nam, đế quốc Mỹ“thẳng tay hất cẳng Pháp, dựng nên chính quyền tay sai, lập ra một quân đội đánh thuê do Mỹ điều khiển, dìm phong trào yêu nước của nhân dân ta trong máu lửa” [6;tr 85] Mỹ
đã lộ rõ nguyên hình “diều hâu”: thay chân Pháp, xúi giục chính quyền Diệm phá hoại Hiệp định - không thực hiện tổng tuyển cử, thi hành chính sách thực dân mới ở miền Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta như là một “mắt xích” trong chiến lược “Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” ở châu Á Có trong tay sức mạnh về kinh tế, quân sự và bộ máy quân đội, chính quyền lớn mạnh, kẻ thù thẳng tay đàn áp, khủng bố các phong trào đấu tranh của nhân dân, tàn sát cán
bộ, đảng viên, ráo riết đánh phá các cơ sở cách mạng, gây cho chúng ta nhiều tổn thất nặng nề
Âm mưu thâm độc của Mỹ đã được Bác Hồ dự liệu từ trước Ngày
8-5-1954, trong “Thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhắc nhở: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch” [91; tr 272] Còn về công tác
tư tưởng, Người đã chỉ đạo đồng chí Tố Hữu: “Chiến thắng Pháp rồi, phải nhớ trước mắt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc
Mỹ ” [20; tr 557]
Bên cạnh đó, một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau ở hai miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách
Trang 18mạng Việt Nam sau tháng 7-1954 Đặc điểm trên cùng những thuận lợi, khó khăn chính là cơ sở để Đảng ta phân tích, hoạch định đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới
Tình thế mới của đất nước đòi hỏi sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng phải tỉnh táo, sáng suốt, nhạy bén, chủ động, linh hoạt và vững vàng, đặc biệt phải nhanh chóng đưa ra được đường lối chống Mỹ, cứu nước phù hợp, hiệu quả Phát huy cao độ sức mạnh nội lực, tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc
Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất nước nhà
Trước âm mưu và thủ đoạn xâm lược của đế quốc Mỹ, tại Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Hiện nay, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ” [91; tr 319]
Tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng Nghị quyết khẳng định: “Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc không vì đình chiến mà kết thúc, cuộc đấu tranh đó còn đang tiếp tục, nhưng phương thức đấu tranh cần phải thay đổi Chúng ta cần hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới” [39; tr 287]
Trong tình hình đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Đảng và Chính phủ đề ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền, nhằm chấm dứt tình trạng đất nước bị chia cắt Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống
Trang 19Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước khi bắt đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải trải qua giai đoạn đấu tranh đòi phía Pháp thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiếp quản vùng mới giải phóng, hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế Trong quá trình này, Mỹ sẽ mở rộng hoạt động ném bom bắn phá, nên miền Bắc phải kết hợp cả với cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, nhằm bảo vệ miền Bắc và phối hợp với cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam Xây dựng chủ nghĩa xã hội còn nhằm xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước và là hậu phương cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc
Ở miền Nam, do vẫn còn nằm dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè
lũ tay sai, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Mở đầu thời kỳ ta đấu tranh đòi Mỹ - Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam Trong quá trình diễn biến, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia Hai miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đánh
Mỹ và bọn tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước, tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới
Trong việc thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng
cả nước, cách mạng mỗi miền có vị trí và vai trò khác nhau Miền Bắc là hậu phương nên có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước Miền Nam là tiền tuyến có
Trang 20vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ
và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Hậu phương và tiền tuyến, cách mạng hai miền Bắc-Nam, do đó, có quan hệ gắn bó với nhau, phối hợp với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển
Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ 7 (3-1955) và Hội nghị lần thứ 8 (8-1955), Trung ương Đảng nhận định: Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam
Tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn đã hoàn thành bản dự thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” Với tư duy chiến lược vượt trội của “ngọn đèn 200 nến”, đồng chí đã sớm đi tới chân lý: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình Đó là con đường cách mạng Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác” [137; tr 221]
Tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng được xác định: “Mục tiêu và nhiệm
vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: Củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình”
Tháng 1-1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam Sau nhiều lần họp và thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam, xác định “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con
Trang 21quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[40; tr 82].Nghị quyết chủ trương lấy sức mạnh bạo lực cách mạng của quần chúng để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng nhân dân; khẳng định cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, nhưng thắng lợi cuối cùng nhất định về ta
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương khóa II là một Nghị quyết lịch sử rất quan trọng tạo nên bước chuyển biến lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đồng bào hai miền Nam, Bắc là: giải phóng miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà Nghị quyết không chỉ mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng “Nghị quyết 15 của Trung ương khóa II là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị khóa II, xuất phát từ những định hướng chiến lược đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 7-1954 khi hòa bình vừa mới lập lại trên một nửa đất nước, có sự trực tiếp chỉ đạo công phu của đồng chí Lê Duẩn, quyền Tổng Bí thư lúc bấy giờ, cùng một số đồng chí trong Bộ Chính trị và trong Trung ương Nghị quyết phản ánh đúng nguyện vọng của đồng bào, đồng chí ở miền Nam nước ta lúc đó” [20; tr 485]
Với Nghị quyết 15- bó đuốc soi đường, cách mạng miền Nam đã có một bước chuyển căn bản về chất Dưới ánh sáng của Nghị quyết, ngọn lửa cách mạng âm ỉ suốt nhiều năm đã bùng lên thành phong trào Đồng khởi trên quy
mô rộng lớn, tạo nên một bước chuyển mới có tính chất nhảy vọt của cách mạng miền Nam.Ngay sau khi Hội nghị, Trung ương Đảng, Chính phủ đã cho
Trang 22lập Đoàn vận tải quân sự Trường Sơn (Đoàn 559), bắt đầu chi viện người và
vũ khí cho miền Nam
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam Trên cơ sở phân tích thái độ các giai cấp ở miền Nam, Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam ở miền Nam như sau: “Nhiệm
vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới” [4; tr 46]
Nghị quyết 15 và tiếp đó là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIII của Đảng (9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam Với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, Đảng ta đã chỉ đạo nhân dân miền Nam đứng lên tiến hành cuộc Đồng khởi vĩ đại, đánh một đòn chí tử vào hình thức thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, tạo ngoặt đi lên cho cách mạng miền Nam
1.2 Quá trình phát triển của cách mạng miền Nam trước năm 1973
Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15, năm
1959-1960 các cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở vùng núi miền Trung và
Trang 23ấp, đẩy địch vào thế bị động, khủng hoảng Cuối năm 1959 - đầu năm 1960, một phong trào “Đồng Khởi” nổi dậy khởi nghĩa diệt tề điệp ác ôn, giải tán chính quyền cơ sở, diệt đồn, phá ách kìm kẹp của địch nổ ra rộng khắp các tỉnh Nam Bộ và vùng rừng núi Trung Trung Bộ Cách mạng đã làm chủ được một vùng căn cứ rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược, nối từ Tây Nguyên xuống miền Đông, miền Tây Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng Khu V; đồng thời, đã thúc đẩy quần chúng ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định, đứng lên đấu tranh mạnh mẽ.Đặc biệt, trận tiến công Tua Hai - căn cứ quân sự cấp trung đoàn của quân đội Sài Gòn do cố vấn Mỹ chỉ huy vào rạng sáng ngày 21-1-1960, lực lượng vũ trang ta đã đánh thiệt hại và làm tan rã ba tiểu đoàn địch; bắt sống, diệt và làm tan rã hai tiểu đoàn; bắt, giáo dục, thả tại chỗ 500
tù binh, thu hơn 1.200 súng các loại và nhiều đạn, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh.Đây là một trong những trận đánh tiêu diệt lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang miền Nam.Chiến thắng Tua Hai đã mở đường để cho quân dân Tây Ninh và các tỉnh miền Đông kết hợp nổi dậy và tiến công, góp phần to lớn trong việc tạo ra thế mới và lực mới để quân dân miền Nam tiếp tục giữ vững và phát triển thế tiến công chiến lược
Phong trào “Đồng Khởi” đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam, từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công, từ hình thức đấu tranh chính trị là chính có lực lượng vũ trang hỗ trợ, chuyển sang kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, đưa đấu tranh quân sự từng bước lên ngang hàng đấu tranh chính trị
Qua cao trào đồng khởi của nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam phát triển nhanh chóng; Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời (ngày 20-11-1960) đã chủ trương đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền cách mạng dưới hình thức những ủy ban nhân dân tự quản Từ miền Bắc,
Trang 24tuyến đường huyết mạch Trường Sơn - Hồ Chí Minh, đường biển hình thành
và phát triển Cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công
Thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” đã làm thất bại cuộc chiến
“chiến tranh một phía” của Eisenhower, đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm vào thời kỳ khủng hoảng triền miên Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai, Mỹ công bố học thuyết chiến tranh mới: Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí điểm Nội dung chủ yếu của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là: củng cố bộ máy chính quyền Sài Gòn, tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn bằng chỉ huy, trang bị
vũ khí, yểm trợ kỹ thuật Mỹ, tăng cường phá hoại miền Bắc, chống miền Nam thâm nhập, bình định, dồn dân vào “ấp chiến lược” để thực hiện “tát nước bắt
cá”, cô lập, đi đến tiêu diệt cách mạng miền Nam Đây là hình thức chiến
tranh xâm lược mới của Mỹ được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mỹ, dựa vào vũ khí, trang thiết bị kĩ thuật và phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ nhằm chống lại lực lượng cách mạng
và nhân dân ta.Dựa vào sự hỗ trợ và chỉ huy của cố vấn Mỹ, chính quyền Sài Gòn liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng; tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, kiểm soát, phong tỏa biên giới, vùng biển để ngăn chăn sự tiếp viện của miền Bắc vào miền Nam
Trên đà thắng lợi, cách mạng miền Nam tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, đưa dần đấu tranh vũ trang lên ngang hàng với đấu tranh chính trị, giành và giữ thế chủ động, xây dựng lực lượng mọi mặt, củng cố mở rộng căn cứ địa, phá “chương trình bình định” của Mỹ - Diệm, đẩy cách mạng lên một bước mới Ngày 15-2-1961, các lực lượng vũ trang
Trang 25chức năng là đội quân chiến đấu, công tác và sản xuất, bao gồm 3 thứ quân:
Bộ đội chủ lực; bộ đội địa phương và dân quân, du kích
Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đánh địch bằng 3 mũi giáp công, trên 3 vùng chiến lược; đẩy mạnh chiến tranh du kích tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh bại các chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mỹ và quân đội Sài Gòn, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh chống càn quét
và phá ấp chiến lược
Được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát triển lớn mạnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và các lực lượng vũ trang miền Nam đã tổ chức các trận đánh, chiến dịch lớn, đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Quân đội Sài Gòn và
Mỹ Điển hình là trận Ấp Bắc (tháng 1-1963), trận Cái Nước-Đầm Dơi (tháng 8-1963), trận pháo kích Biên Hòa (tháng 10-1964); các chiến dịch: Bình Giã (từ tháng 12-1964 đến tháng 1-1965), Đồng Xoài (từ tháng 5-1965 đến tháng 7-1965) Thắng lợi về quân sự, đặc biệt là của các trận đánh, chiến dịch, cùng với sự đấu tranh chính trị trên toàn miền Nam từ năm 1961-1965, ta đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ
Để chi viện cho miền Nam, Bộ Quốc phòng thành lập Đoàn vận tải biển
759 Trong thời gian từ năm 1961 đến tháng 1-1965, Đoàn 759 đã vận chuyển hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, hàng quân sự chi viện cho miền Nam; góp phần bảo đảm vũ khí cho lực lượng vũ trang miền Nam mở các chiến dịch, các trận đánh lớn Trên tuyến vận tải bộ, Đoàn 559 được tăng quân số, thành lập Đoàn 763 mở đường Trường Sơn ở Hạ Lào Từ năm 1961, ta tổ chức các đoàn cán bộ quân sự với số lượng mỗi đoàn hàng trăm người theo tuyến đường Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ tăng cường cho Ban Quân sự Miền và các quân khu ở miền Nam
Trang 26Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ bị động chuyển sang tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” hòng nhanh chóng kết thúc chiến tranh Đây là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, nhưng sử dụng mức độ hạn chế quân Mỹ cùng với quân chư hầu trong khu vực và quân đội Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò tác chiến chủ yếu trên chiến trường Mục tiêu “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam là nhanh chóng tạo ra ưu thế binh lực, hỏa lực “tìm diệt” chủ lực ta, giành lại thế chủ động trên chiến trường, mở rộng và củng cố vùng kiểm soát, giành lại dân; đồng thời gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, phá hoại sự nghiệp xây dựng miền Bắc, làm lung lay ý chí giải phóng miền Nam của Đảng ta và nhân dân ta
Từ giữa năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam (từ 184.300 lên 536.000 quân (cuối năm 1968), lúc cao nhất tới 542.000 quân), cùng với quân các nước phụ thuộc Mỹ (57.800 quân, lúc cao nhất tới 70.300 quân) và quân đội Sài Gòn (650.000 quân, lúc cao nhất gần 1 triệu) hợp thành 2 lực lượng chiến lược với những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất (trừ vũ khí nguyên tử); liên tục mở 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với ý đồ tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Trước tình hình đó, tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 12, đánh giá tình hình qua nửa năm đọ sức với quân Mỹ, đồng thời củng cố quyết tâm đánh Mỹ của quân và dân ta Hội nghị khẳng định: “Mặc dầu đế quốc Mỹđưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch không thay đổi lớn Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hiện nay là kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”
Trang 27Quân ủy Trung ương chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam tăng cường xây dựng lực lượng, đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực, mở những đợt hoạt động quy mô chiến dịch cùng lúc trên nhiều hướng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng ở từng khu vực, thúc đẩy nhanh quá trình sụp đổ của quân đội, chính quyền Sài Gòn Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và phát triển lực lượng, bộ đội ta trên các chiến trường miền Nam đã tổ chức các trận tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - quân đội Sài Gòn, mở ra phong trào “tìm Mỹ mà diệt”,
“nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” Điển hình là các trận đánh phủ đầu quân Mỹ ở Núi Thành (5-1965), Vạn Tường (8-1965), Plâyme (10-1965), Bàu Bàng - Dầu Tiếng (11-1965) Tiếp đó, hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-
1966 và 1966-1967 của Mỹ với trên 1.000 cuộc hành quân lớn nhỏ đánh vào các vùng giải phóng của ta, lớn nhất là cuộc hành quân Junction City bị thất bại Trên toàn miền Nam, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15 vạn quân địch, trong đó có 68.200 línhMỹ Phong trào đấu tranh chính trị trong vùng địch chiếm, nhất là các thành phố lớn dâng lên mạnh mẽ làm mất ổn định chế độ chính quyền Sài Gòn Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị thất bại
một bước quan trọng
Nắm vững thời cơ có lợi, đêm 30, rạng ngày 31-1-1968, quân dân ta
mở Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thânnhằm tạo bước ngoặt lớn, chuyển chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định Chỉ trong một thời gian ngắn, quân và dân ta đã tiến công vào hàng loạt mục tiêu nằm sâu trong các đô thị trên toàn miền Nam, gây cho địch những thương vong rất nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm đảo lộn thế trận chiến lược của địch Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam, cùng với việc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế
Trang 28quốc Mỹ đối với miền Bắc đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước Ngày 31-3-
1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị phá sản, Nixon chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ra sức phát triển và hiện đại hóa quân đội Sài Gòn để từng bước thay thế quân Mỹ rút dần về nước; đẩy mạnh bình định ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương Thực chất của chiến lược này là “dùng người Việt đánh người Việt” bằng tiền và vũ khí của Mỹ, do Mỹ chỉ huy, nhằm thông qua quân đội Sài Gòn để kéo dài và giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh xâm lược
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 18 (tháng 1970) chủ trương kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công, đồng thời ra sức xây dựng mọi mặt Chú trọng công tác hậu cần, đánh bại âm mưu xuống thang từng bước và kéo dài chiến tranh của
1-Mỹ, đề phòng việc “Đông Dương hóa chiến tranh” của chúng
Đầu 1971, quân đội Sài Gòn được sự yểm trợ, chi viện hỏa lực của Mỹvà sự phối hợp của quân đội phái hữu Lào mở cuộc hành quân Lam Sơn
719 đánh ra đường 9 - Nam Lào, nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta, chia cắt 3 nước Đông Dương Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào mở chiến dịch phản công, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân của địch Phát huy quyền chủ động tiến công, từ tháng 3-1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược vào hệ
Trang 29Thiên (từ ngày 27/6/1972); chiến dịch Bắc Tây Nguyên (từ ngày 5/6/1972) và chiến dịch Nguyễn Huệ (từ ngày 1/4/1972-19/1/1973); tiếp đó,
30/3-mở các chiến dịch tiến công tổng hợp đánh phá bình định ở đồng bằng Khu
V, Khu VIII; chiến dịch đồng bằng sông Cửu Long (từ ngày 10/6-10/9/1972); phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum và đánh bại các cuộc phản kích, lấn chiếm của địch…
Trước thất bại nặng nề của quân đội Sài Gòn, Mỹ cho không quân và hải quân trở lại đánh phá ác liệt ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc Cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12-1972 (chiến dịch Linebacker II) bị đập tan và là một “Điện Biên Phủ trên không”đối với đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam (ngày 27-1-1973), rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” thất bại
Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972), nhân lực động viên ở miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng gấp 4 đến 5 lần so với trước Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm lực lượng dự bị chiến lược, chiến đấu và công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ tính riêng số quân đưa vào miền Nam trong các năm kể trên như sau: Năm 1968 là 141.000 người, năm 1972 xấp xỉ 153.000 người “Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, đảm bảo giao thông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác gần hàng chục vạn người cũng được động viên từ miền Bắc” [34;
tr 306-307]
Về vật chất, miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, vũ khí, phương tiện kỹ thuật do nước ngoài viện trợ; tổ chức nghiên cứu, thiết kế,
Trang 30cải biên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài; tổ chức vận chuyển vượt hàng nghìn kilômét dưới bom đạn đánh phá của địch tới các chiến trường, các vùng giải phóng Trong những năm từ 1965 đến 1968, miền Bắc đưa vào miền Nam khối lượng vật chất gấp 10 lần so với những năm từ 1961 đến 1964 Trong năm 1970, lắp đặt đường ống dẫn xăng từ miền Bắc vào miền Nam dài 500km, đến cuối năm 1971 nâng lên gần 1.000km Nhờ tuyến đường ống, mùa khô năm 1970-1971, miền Bắc chuyển vào chiến trường khối lượng xăng dầu gấp 10 lần mùa khô 1969-1970
Bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn tiếp nhận hàng chục vạn cán bộ, chiến sỹ, con em miền Nam tập kết; đón tiếp gần 310.000 thương bệnh binh và hơn 350.000 lượt người từ tiền tuyến ra hậu phương chữa bệnh, học tập Với chế độ xã hội mới ưu việt được xây dựng và tỏ rõ sức sống mãnh liệt trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc thực sự
là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho những người ra trận, cho đồng bào, cán
bộ, chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu ở miền Nam, đặc biệt trong những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất, gặp nhiều thử thách, khó khăn
Chính sự chi viện của hậu phương miền Bắc kết hợp với sức mạnh tại chỗ của cách mạng miền Nam - nhân tố quyết định trực tiếp, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn của cả nước, của dân tộc để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn
Cuối năm 1965, với những thắng lợi liên tiếp của nhân dân ta ở hai miền đất nước, Đảng ta đã tính đến kế hoạch đàm phán với Mỹ, lập lại hòa bình ở Việt Nam Song, ngoại giao chỉ được mở màn và được coi là mặt trận sau Hội nghị lần thứ 13 (1-1967) Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khẳng định: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở cho thắng lợi của đấu
Trang 31những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế hiện nay và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” Từ đây, Đảng ta mới thực sự triển khai kế hoạch và quyết định đẩy mạnh đấu tranh quân sự trên cả hai miền, đồng thời đưa ngoại giao thành một mặt trận
quan trọng để mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”
Trên tinh thần Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 28-1-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trả lời phỏng vấn nhà báo Australia, Winfred Burchet: “Nếu Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
có thể nói chuyện với Mỹ ” Cuối năm 1967, Bộ trưởng lại tuyên bố: “Sau khi
Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam, Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề liên quan” [141]
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc trong đấu tranh chống chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ Ðêm 31-3-1968, phát biểu ý kiến trên truyền hình Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn thừa nhận thất bại trong dịp Tết Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay, tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía Bắc khu phi quân sự Ông còn cam kết, “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm
kỳ tiếp theo
Trong tình thế thay đổi có lợi, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với
Mỹ Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Pa-ri (Pháp), và sau gần 6 tháng đàm phán, hai bên đã đi đến thỏa thuận về việc Mỹ sẽ chấm dứt mọi hành động chiến
Trang 32tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kể từ ngày 31-10-1968 Đồng thời, thỏa thuận về việc triệu tập một hội nghị tại Pa-ri để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Ngày 25-1-1969, Hội nghị bốn bên chính thức khai mạc, trưởng đoàn của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Trần Bửu Kiếm đã đưa
ra lập trường năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị và bốn tháng sau đưa
ra giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam Đây là giải pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị bốn bên Để đối phó lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Ních-xơn đưa ra kế hoạch tám điểm với nội dung chính là việc rút quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn, đồng thời tăng cường chi viện cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc nhân dân Việt Nam phải thương lượng dưới sức ép của bom đạn Mỹ
Trước âm mưu, thủ đoạn và sức mạnh của Mỹ, trên cơ sở giải pháp mười điểm, ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời Đây là Chính phủ hợp pháp của nhân dân miền Nam Việt Nam Cùng với mười điểm, tám điểm ngày 14-9-1970, bảy điểm ngày 1-7-1971 và hai điểm nói rõ thêm trong giải pháp bảy điểm, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đòi Mỹ phải rút nhanh toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, thành lập ở miền Nam Việt Nam một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần để tổ chức tuyển cử Đồng thời,
để đối phó với âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương của Đảng đề ra là kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, thực hiện tổng tiến công liên tục, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến
Trang 33Những thắng lợi trên chiến trường miền Nam Việt Nam và hai nước bạn Lào, Cam-pu-chia năm 1972 của quân và dân ta cùng với thiện chí của ta trên bàn đàm phán đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới Phong trào phản đối Mỹ leo thang, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh
ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhất là phong trào phản chiến ngày càng lan rộng trên toàn nước Mỹ
Trước làn sóng biểu tình mạnh mẽ ở Mỹ, nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới cộng với sự thất bại nặng nề trên chiến trường và những đòn tấn công ngoại giao trên bàn đàm phán, từ tháng 7-1970, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh rút quân dần ra khỏi miền Nam Việt Nam Cùng với những thỏa thuận đạt được trên bàn đàm phán, thắng lợi của ta trong Xuân - Hè 1972 đã tạo bước ngoặt có tính chất quyết định về so sánh lực lượng trên chiến trường và quá trình đàm phán tại Hội nghị Pa-ri, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh
Ngày 8-10-1972, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa cho phía
Mỹ dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”
và hai bên thảo luận cụ thể từng điều khoản, từng câu chữ của Hiệp định Ngày 20-10, Tổng thống Ních-xơn gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định “Văn bản của Hiệp định bây giờ có thể xem như đã hoàn thành”
và thỏa thuận sẽ ký vào ngày 31-10-1972
Song, sau khi tái đắc cử, Tổng thống Ních-xơn trở mặt, Mỹ đưa ra nhiều trở ngại để trì hoãn việc ký Hiệp định Ông gửi công hàm đề nghị hai bên có cuộc gặp riêng để bàn thêm và đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn Cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng, bế tắc trong suốt tháng 11 và đầu tháng 12-1972 Giữa lúc đàm phán bế tắc, ngày 18-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn cho máy bay chiến lược B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận, mở đầu chiến dịch mang mật danh “Cuộc hành quân Lineblacker II” Quyết định
Trang 34quay trở lại đánh phá miền Bắc Việt Nam, Tổng thống Mỹ Ních-xơn hi vọng
sẽ bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ bên ngoài vào, làm cho miền Bắc suy yếu và buộc phải thương lượng với Mỹ trên thế thua
Trước tình hình đó, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã chủ động bước vào cuộc chiến chống “Siêu pháo đài bay B52” của Mỹ bằng tất cả lòng căm thù,
sự dũng cảm, ý chí và trí tuệ của Việt Nam và đã làm nên kỳ tích 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội Thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, tổn thất nặng nề trong trận “Điện Biên Phủ trên không” và
bị dư luận quốc tế lên án, ngày 29-12-1972, Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri Các bên ký tắt ngày 23-1-1973 và ký chính thức ngày 27-1-1973 “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”
Nội dung Hiệp định được chia thành 9 chương, các chủ đề về cơ bản giống như trong bản dự thảo 9 điểm mà Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thống nhất với nhau vào tháng 10-1972 Đó là:
- Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
- Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
- Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và
ba lực lượng chính trị
- Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt
Trang 35Với Hiệp định Pa-ri, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự, tạo thuận lợi cho cách mạng phát triển; chính quyền Sài Gòn mất chỗ dựa về quân sự, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng chính trị; Mỹ phải lùi về chiến lược, đi sâu vào xu thế rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và tránh một Việt Nam thứ hai Hiệp định Pa-ri là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu
và can thiệp trở lại Việt Nam
Hiệp định cũng xác nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát; xóachính quyền Sài Gòn một bước về pháp lý,
ta giữ vững lực lượng quân sự, chính trị của ta, làm cơ sở cho cách mạng miền Nam tiến lên
Trong thời gian khoảng 5 năm, Hội nghị Pa-ri đã phải trải qua 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, và cũng trong thời gian đó, có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam Hiệp định Pa-ri là biểu hiện đỉnh cao của nghệ thuật kết hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa đánh - đàm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam
Với thắng lợi của Hiệp định Pa-ri năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu
“đánh cho Mỹ cút”, mở ra một bước ngoặt mới, tạo điều kiện thuận lợi để Đảng ta chuẩn bị mọi mặt trong giai đoạn 1973-1975 nhằm thực hiện mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975
Trang 36TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Hiệp định Pa-ri được ký kết đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta Đây là thành quả
to lớn của lực lượng cách mạng Việt Nam, đồng thời là thảm bại của Hoa Kỳ
và chính quyền Sài Gòn Hiệp định Pa-ri đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển của cuộc chiến tranh chóng Mỹ, “mở ra một cục diện mới, so sánh cục diện trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để toàn quân, toàn dân ta tiến lên đánh cho ngụy nhào” [13; tr 14]
Ở miền Nam Việt Nam, lực lượng và vật chất là những nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh đã được hậu phương lớn miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ và liên tục Nhờ vậy mà lực lượng chiến đấu được khôi phục, thế trận của cách mạng cũng được lấy lại Mỗi bước ngoặt của chiến tranh, phong trào cách mạng ở miền Nam gặp không ít khó khăn, nhưng có hậu phương lớn chi viện và chia sẻ đã làm cho cách mạng ở miền Nam phát triển
và có bước nhảy vọt Sau Hiệp định Pa-ri, từ 1973-1975, với sự chi viện to lớn của miền Bắc, cách mạng miền Nam có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 37Chương 2 QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1973-1975) 2.1 Chủ trương chiến lược của Đảng sau Hiệp định Pa-ri
Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, ngày 29-1-1973, Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam Nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ vẫn duy trì
âm mưu dùng quân đội, chính quyền Sài Gòn “đeo đuổi chính sách cơ bản của chúng là thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam trên một thế mạnh mới” Thực hiện mục tiêu này, từ cuối những năm 1972 đến đầu năm
1973, Mỹ đã chuyển gấp cho chính quyền Sài Gòn tổng cộng “700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung dự trữ vật tư chiến tranh là 2 triệu tấn và những viện trợ khác trị giá lên tới 2,670 triệu đôla”
thương tiếc với mọi vi phạm lệnh ngừng bắn” [24, tr 11]
Trang 38Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Thiệu vạch ra kế hoạch “Bình định 3 năm 1973-1975”, “Kế hoạch kinh tế hậu chiến 8 năm 1973-1980”, “Kế hoạch xây dựng quân đội 6 năm 1974-1979”, ráo riết thực hiện khẩu hiệu
“tràn ngập lãnh thổ”, xóa “thế da báo”, lấn chiếm vùng giải phóng… nhằm thực hiện thành công những âm mưu đã định trong điều kiện không còn quân
Mỹ ở Việt Nam Đến tháng 5-1973, xu thế chống phá Hiệp định Pa-ri của địch ngày càng tăng Nguyễn Văn Thiệu cho thi hành chính sách Bốn không:
“Không nhìn nhận Việt cộng; Không trung lập hóa miền Nam; Không có chính phủ liên hiệp; Không nhượng bộ lãnh thổ” [93; tr 450].Chúng điên cuồng đánh phá hòng xóa bỏ vùng giải phóng của ta, đẩy lùi lực lượng cách mạng
Theo số liệu thống kê, từ ngày 28-1 đến ngày 15-12-1973, chính quyền Sài Gòn đã có 301.097 hành động vi phạm Hiệp định, bao gồm: 34.266 cuộc hành quân lấn chiếm, trong đó có 37 cuộc quy mô sư đoàn và 5.225 cuộc ở quy mô trung đoàn; 35.532 cuộc bắn pháo; 14.749 cuộc ném bom bằng máy bay và bay trinh sát; 216.550 cuộc hành quân của cảnh sát và “hành quân bình định” [86; tr 386-387] Trên toàn miền Nam, địch đã xây dựng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã, 320 ấp với trên 25 vạn dân
Trước tình hình diễn biến ngày càng phức tạp, Bộ Chính trị nhận thấy cần phải tập trung nghiên cứu, phân tích hành động của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Ngày 27-3-1973, Kết luận Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn khẳng định “Mỹ đã thực sự rút quân nhưng chưa chấm dứt dính líu, ngụy còn ngoan cố phá hoại Hiệp định Ta cần tranh thủ xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy trách nhiệm của Mỹ, buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pa-ri” [56; tr 55]
Tiếp đó, tháng 5-1973, Hội nghị Bộ Chính trị đã nhận định xu hướng
Trang 39khuyết điểm trong chủ trương đối phó nên chúng đã lấn chiếm và bình định được một số vùng, gây cho ta những khó khăn nhất định Hội nghị khẳng định
“Âm mưu lâu dài của đế quốc Mỹ và tay sai là tìm mọi cách xóa bỏ sự tồn tại của chính quyền và quân đội cách mạng để chúng độc chiếm miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành một nước riêng với một chế độ chính trị “quốc gia” thân Mỹ, một nền kinh tế và văn hóa chịu sự chi phối của
Mỹ Đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục duy trì một sự cam kết nhất định về quân sự và tiếp tục giúp đỡ ngụy quyền Sài Gòn để cho bọn tay sai đủ sức đứng vững và đối phó với miền Bắc, đồng thời bảo đảm cho Mỹ bám trụ lâu dài ở miền Nam, mà tránh được nguy cơ phải dính líu trực tiếp vào một cuộc chiến tranh
mới ở Việt Nam” [41; tr 147]
Trước tình thế mới ở trong nước và trên thế giới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 21 (Hội nghị được tiến hành trong hai đợt: đợt l từ ngày 19-6 đến ngày 6-7-1973 và đợt II từ ngày 1-10 đến ngày 4-10-1973) Hội nghị đã ra Nghị quyết về việc triệu tập Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Nghị quyết thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới
Vềtình hình miền Nam sau Hiệp định Pa-ri, Hội nghị đã chỉ rõ: Mặc dù
Mỹ đã rút quân nhưng ở miền Nam vẫn chưa có ngừng bắn, hòa bình chưa thật sự lập lại; quân đội, chính quyền Sài Gòn được Mỹ giúp đỡ tiếp tục làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam Chính sách cơ bản của đế quốc Mỹ ở Việt Nam vẫn là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, chia cắt lâu
dài đất nước ta
Về phía ta, “thế và lực của cách mạng miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào từ 1954 đến nay” [41; tr 229].Lực lượng vũ trang nhân dân
ở miền Nam là lực lượng chiến thắng đang đứng vững trên các địa bàn chiến
Trang 40lược, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có uy tín
cao ở trong nước và trên thế giới Hơn nữa, cách mạng miền Nam có chỗ dựa vững chắc là khối liên minh công - nông, có khả năng thực hiện công - nông - binh liên hiệp Đồng thời, Hội nghị cũng đã chỉ ra những hạn chế của cách mạng miền Nam và từ đó nhận định tình hình miền Nam có thể phát triển theo
hai khả năng:
Một là, do ta tích cực đấu tranh trên 3 mặt trận chính trị, quân sự và
ngoại giao buộc địch từng bước thực hiện Hiệp định Pa-ri
Hai là, do địch ngoan cố gây chiến, ta lại phải tiến hành chiến tranh
cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn
Hội nghị nhấn mạnh: Chúng ta phải hết sức tranh thủ khả năng thứ nhất
và chuẩn bị sẵn sàng cho khả năng thứ hai Song, dù phát triển theo khả năng
nào, “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách
mạng Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên” [41; tr 232].Hội nghị xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
miền Nam trong giai đoạn mới là: “tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân,… thực hiện một miền Nam Việt Nam hòa bình,
độc lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà” [41; tr 233]
Hội nghị xác định “Kẻ thù chính của cách mạng miền Nam trong giai
đoạn mới là đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phátxít, tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, đại biểu quyền lợi cho giai cấp
tư sản mại bản và bọn địa chủ phong kiến thân Mỹ phản động nhất Đế quốc
Mỹ là kẻ chủ mưu và là chỗ dựa của bọn tay sai đang thống trị trong vùng
chưa giải phóng ở miền Nam” Từ đó, “Hội nghị vạch rõ nhiệm vụ trước mắt