1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang

84 571 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LÝ PHƯƠNG THẢO XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỐNG CÁT Glossogobius giuris Hamilton, 1822 VÀ CÁ BỐNG TRỨNG Eleotris

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA THỦY SẢN

LÝ PHƯƠNG THẢO

XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ BỐNG CÁT

Glossogobius giuris Hamilton, 1822 VÀ CÁ BỐNG TRỨNG Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 PHÂN BỐ Ở HUYỆN

CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ THỦY SẢN

2013

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Mai Viết Văn là người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn đang công tác Bộ môn Kinh Tế và Quản Lý nghề cá, khoa Thủy Sản và trường Đại Học Cần Thơ đã tận tâm truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báo, cũng như giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong suốt thời gian tôi học tại trường Và cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành đề tài này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, xin cảm ơn các bạn trong nhóm thực hiện đề tài đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiên đề tài tốt nghiệp

Trong thời gian thực hiện đề tài, dù đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót do kiến thức và kinh nghiệm của tôi còn hạn chế Rất mong nhận được những lời góp ý, phê bình của quý thầy cô

Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe và công tác tốt đến quý thầy cô Cần Thơ, ngày , tháng , năm 2013

Sinh viên thực hiện

Lý Phương thảo

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá

bống cát Glossogobius giuris Hamilton, 1822 và cá bống trứng Eleotris

melanosoma Bleeker, 1853 phân bố ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang”

được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 7/2013 đến tháng 11/2013 ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang Qua quá trình nghiên cứu đã xác định được 62 loài cá thuộc 10 bộ và 33 họ Trong đó bộ cá Vược (Perciformes) chiếm chiếm thành phần loài cao nhất với 23 loài chiếm 36%, kế đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Da Trơn (Siluriformes) chỉ với 12 loài chiếm 19% mỗi bộ, bộ Mang liền (Synbranchiformes) chiếm 8% với 5 loài, bộ cá Trích (Clupeiformes) và bộ cá Bơn (Pleuronectifomes) chiếm 5% với 3 loài mỗi bộ, còn lại là các bộ bao gồm bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá nhói (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) chiếm 2% mỗi bộ là 4 bộ có số loài thấp nhất Trong 33

họ, chỉ có cá Chép (Cyprinidae) xuất hiện thành phần loài cao nhất với 11 loài chiếm 18%, các họ còn lại chỉ xuất hiện từ 1 đến 4 loài trong tổng số loài

Kết quả cho thấy phương trình tương quan giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của 2 loài cá bống trứng và cá bống dừa rất chặt chẽ đối với cá cái

và khá chặt chẽ đối với cá đực Phương trình tương quan cá bống trứng có dạng W = 0,0247L2,6531, hệ số R2 = 0,9104 (cá cái), W = 0,0241L2,6236, hệ số

R2 = 0,893 (cá đực) Ở cá bống cát phương trình tương quan là W = 0,0244L2,5611, hệ số R2 = 0,9094 (cá cái), W = 0,0129L2,8131, hệ số R2 = 0,8893 (cá đực)

Hệ số thành thục (GSI) của cá bống trứng và cá bống cát cao đều cao vào tháng 9 Sức sinh sản của cá bống trứng và cá bống cát tương đối cao với sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 3.072 - 86.125 trứng/cá cái (cá bống trứng),

từ 18.437 - 66.872 trứng/cá cái (cá bống cát) và sức sinh sản tương đối dao động từ 2.898 - 11.828 trứng/g cá cái (cá bống trứng), từ 2.336 - 4.400 trứng/g

cá cái (cá bống cát)

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

Danh mục phụ lục……….……… vii

Danh mục từ viết tắt viii

CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan nguồn lợi thủy sản Việt Nam 3

2.2.1 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt 3

2.2 Tổng quan nguồn lợi thủy sản ĐBSCL 4

2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang 6

2.3.1 Vị trí địa lý 6

2.3.2 Điều kiện tự nhiên 7

2.3.3 Nguồn lợi thủy sản……… ………10

2.3.4 Sơ lược về địa bàn thu mẫu huyện Châu Thành 11

2.4 Thành phần loài của một số loài cá ở khu vực nghiên cứu 12

2.5 Một số chỉ tiêu sinh học của một số loài cá phân bố ở huyện Châu Thành……… 13

CHƯƠNG III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 16

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16

3.2 Vật liệu nghiên cứu 17

3.3 Phương pháp nghiên cứu 17

3.3.1 Chuẩn bị biểu mẫu 17

3.3.2 Phương pháp thu và cố định mẫu 17

3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 18

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 21

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Thành phần các loài cá phân bố tự nhiên ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu

Trang 5

4.2 Tương quan chiều dài – khối lượng thân của cá bống trứng và cá bống

cát ở huyện Châu Thành 26

4.2.1 Tương quan chiều dài – khối lượng thân của cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 26

4.2.2 Tương quan chiều dài – khối lượng thân cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) 28

4.3 Đặc điểm sinh học sinh sản cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 29

4.3.1 Hệ số điều kiện CF 29

4.3.2 Sự biến động các giai đoạn thành thục (GĐTT) sinh dục 30

4.3.3 Hệ số thành thục sinh dục (GSI) 32

4.3.4 Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) 33

4.3.5 Sức sinh sản của cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 34 4.4 Đặc điểm sinh học sinh sản cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) 35

4.4.1 Hệ số điều kiện CF 35

4.4.2 Sự biến động các GĐTT sinh dục 36

4.4.3 Hệ số thành thục sinh dục (GSI) 38

4.4.4 Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) 39

4.4.5 Sức sinh sản của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822).40 CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Đề xuất 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 45

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Hiệu quả các mô hình nuôi thủy sản ở tỉnh Hậu Giang 9

Bảng 2.2 Qui hoạch nuôi trồng thủy sản chủ lựcở tỉnh Hậu Giang 9

Bảng 2.3: Thành Phần loài ở một số khu vực nghiên cứu tỉnh Hậu Giang……… 13

Bảng 2.4 Phương trình tương quan của cá bống cát Glossogobius giuris và cá bống trứng Eleotris balia …… 13

Bảng 2.5: Một số đặc điểm sinh học của cá bống cát Glossogobius giuris ở một số khu vực (KV) nghiên cứu 14

Bảng 2.6: Sức sinh sản (SSS) của cá bống cát Glossogobius giuris ở một số khu vực nghiên cứu 14

Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) 19

Bảng 4.1: Cấu trúc thành phần loài theo bộ 22

Bảng 4.2: Cấu trúc thành phần loài theo họ 23

Bảng 4.3: Cấu trúc thành phần loài theo thủy vực 25

Bảng 4.4: So sánh phương trình hồi qui của cá bống cát trong nghiên cứu này với các nghiên cứu khác 29

Bảng 4.5: Sức sinh sản của cá bống trứng ở huyện Châu Thành 34

Bảng 4.6: Sức sinh sản của cá bống cát ở huyện Châu Thành………… …40

Bảng 4.7: So sánh sức sinh sản của cá bống cát trong nghiên cứu này với các nghiên cứu khác 40

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Bản đồ Hành chính tỉnh Hậu Giang……….…… …… 6

Hình 3.1: Bản đồ khu vực thu mẫu huyện Châu Thành 16

Hình 4.1: Phương trình hồi quigiữa chiều dài tổng và khối lượng của cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 27

Hình 4.2: Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng của cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) 28

Hình 4.3: Biến động CF của cá bống trứng đực và cá bống trứng cá 30

Hình 4.4: Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống trứng 31

Hình 4.5: Tỷ lệ các GĐTT của buồng tinh cá bống trứng 31

Hình 4.6: Hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá bống trứng 32

Hình 4.7: Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống trứng……… 33

Hình 4.8: Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và sức sinh sản tương đối của cá bống cát ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang 35

Hình 4.9: Biến động CF của cá bống cát đực và cá bống cát cái 36

Hình 4.10: Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát 37

Hình 4.11: Tỷ lệ các GĐTT của buồng tinh cá bống cát 37

Hình 4.12: Hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá bống cá 38

Hình 4.13: Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống cát đực và cái 37 39

Hình 4.14: Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và sức sinh sản tương đối của cá bống cát ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang 41

Trang 8

DANH MỤC PHỤ LỤC

Trang

Phụ lục I: Phân loại thành phần loài theo Bộ, Họ, Loài 45 Phụ Lục II: Phân loại thành phần loài theo các loại hình thủy vực 48 Phụ lục III: Danh sách hình các loài cá thu được ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang 53

Phụ lục IV: Số liệu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng leotris

melanosoma Bleeker, 1853 60

Phụ lục V: Số liệu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống cát Glossogobius

giuris Hamilton, 1822 67

s

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

FAO Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc

NAGAO Quỹ Bảo vệ môi trường thiên nhiên tự nhiên Nhật Bản

GTSX Giá trị sản xuất

NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

NLTS Nguồn lợi thủy sản

SQF Tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm

GĐTT Giai đoạn thành thục

TL (cm) Chiều dài tổng

LC (cm) Chiều dài chuẩn

Wn(g) Khối lượng bỏ nội quan

Wg (g) Khối lượng tuyến sinh dục

GSI (%) Hệ số thành thục

HSI (%) Hệ số tích lũy Năng lượng

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành thủy sản thế giới và nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực như kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật khai thác thủy sản, quản lý môi trường – nguồn lợi thủy sản, quản lý dịch bệnh thủy sản, công nghệ sinh học ứng dụng trong thủy sản và chế biến thủy sản Trong đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật

vô cùng quý giá, có khả năng tái tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân Sự phát triển nhanh chóng trên đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp, dịch vụ của cả nước, thay đổi

bộ mặt của nông thôn Ngành thủy sản đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam

Trong những năm qua, ngành thủy sản Việt Nam đã không ngừng phát triển Với vai trò và vị thế to lớn của nghành thủy sản, Viêt Nam đang được nâng cao trên trường quốc tế Nguồn lợi thủy sản Việt Nam được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Trong đó Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được biết đến như là vựa lúa của cả nước và còn là vùng sản xuất thủy sản lớn nhất Việt Nam, chiếm trên 80% tổng diện tích nuôi và sản lượng nuôi của cả nước ĐBSCL có vị trí chiến lược quan trọng, là vùng đồng bằng ngập lũ, tiếp giáp với biển Đông và biển Tây do đó có tiềm năng phát triển thủy sản rất lớn Hơn nữa, sự phát triển này là một phần nhờ vào vị trí thuận lợi của vùng nằm

ở khu vực sông Mê-Kông Đây là con sông có nhiều thành phần loài cá so vời khu vực sông khác

Hậu Giang là một tỉnh thuộc ĐBSCL có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài 2.300 km, có nguồn lợi thủy sản phong phú bao gồm cả nước ngọt và nước lợ tạo điều kiện tuận lợi cho đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, việc đánh bắt khai thác quá mức, sự ô nhiễm môi trường đã làm cho trữ lương cá của tỉnh ngày càng một giảm mạnh, nhiều loài

cá bị tuyệt chủng Trong khi nguồn lợi thủy sản bị hạn chế và dễ bị tổn thương thì nhu cầu về chúng lại tăng lên không ngừng Cá và các loại thủy sản khác

đã và sẽ là thực phẩm quý mà càng ngày càng có nhu cầu cao Mặt khác, thủy sản còn là nguồn phục vụ phát triển kinh tế cho đất nước Ngoài ra, sức ép tăng dân số cũng đang gây áp lực lớn cho nguồn lợi thủy sản Vì vậy, để có những giải pháp thiết thực cho việc nghiên cứu và bảo vệ nguồn lợi thủy sản của tỉnh, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao nhằm đánh giá sự phong

Trang 11

nghiên cứu khoa học, quản lý và bảo vệ nguồn lời thủy sản của vùng mà đề tài

“Xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát

(Glossogobius giuris Hamilton, 1822) và cá bống trứng (Eleotris balia

Jordan & Seale , 1905) phân bố ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang” được tiến hành

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học, thành phần loài

và đặc điểm sinh học của một số loài cá để phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, góp phần vào việc mang lại nhiều giá trị to lớn về kinh tế cũng như trong việc bảo tồn nguồn lợi thủy sản trong tương lai

1.3 Nội dung nghiên cứu

 Xác định thành phần loài cá tự nhiên phân bố trong các loại hình thủy vực ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

 Xác định mối quan hệ giữa chiều dài tổng và khối lượng thân cá (biến động hệ số CF)

 Phân tích một số đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của cá bống cát

Glossogobius giuris Hamilton, 1822 và cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 thu được ở địa bàn nghiên cứu (biến động

hệ số GSI)

Trang 12

CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan nguồn lợi thủy sản Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, có đường bờ biển dài hơn 3260 km từ móng cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) với vùng đặc quyền kinh tế biển rộng hơn 1 triệu km2 Điều kiện địa lý vùng biển

và các mặt nước nội địa của Việt Nam đã tạo nên những vùng sinh thái cùng với nguồn lợi thủy sản rất đa dạng và phong phú về thành phần loài ở cả 3 vùng nước ngọt, mặn, lợ

2.1.1 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt

Nước ta có những thuỷ vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi và các kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nguồn nước cho các thuỷ vực Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm Diện tích bề mặt nước ngọt lớn với 653.000

ha sông ngòi, 394.000 ha hồ chứa, 85.000 ha đầm phá ven biển, 580.000 ha ruộng lúa nước Ngoài ra, ở ĐBSCL, hàng năm có khoảng 1.000.000 ha diện tích ngập lũ từ 2 tháng đến 4 tháng… Nhờ vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam thực sự phong phú

Thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép

có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa sông dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài, thuộc 109 họ và 27 bộ (Vũ cẩm Lương, 2008)

Các kết quả nghiên cứu cho đến nay đã thống kê được 544 loài cá, thuộc 288 giống, 57 họ và 18 bộ, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có

đa dạng sinh học về cá nước ngọt cao trong khu vực Theo kết quả nghiên cứu

của Nguyễn văn Hảo và ctv (1976) đã thống kê thì trong 544 loài có 11 loài

phân bố rộng rãi trên cả 2 miền Bắc Nam của Việt Nam Trong đó, khu hệ cá phía Bắc (từ đèo hải vân trở ra) đã ghi nhận được 240 loài và một số loài thủy sản khác như cua, ốc, trai, hến,… Tuy số loài còn nhiều, song chỉ có khoảng

30 loài cá có giá tri kinh tế và chúng phần lớn thuộc nhóm cá ăn thực vật và thực vật phù du.Nhóm cá ăn động vật và động vật phù du chiếm số lượng không nhiều, sản lượng thấp Khu hệ cá phía Nam (từ đèo hải vân trở vào) đã

Trang 13

42 loài có giá trị kinh tế chủ yếu thuộc nhóm cá ăn động vật Riêng nguồn lợi thủy sản vùng ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới rõ rệt, rất đa dạng về thành phần loài và phong phú về mặt sản lượng Có khoảng 263 loài cá đã được timg thấy, trong đó họ cá chép có 74 loài (31,36%), họ cá trơn 51 loài (21,60%)

Theo “Cá kinh tế nước ngọt Việt Nam” của Mai Đình Yên (1983) đã thống kê được 63 loài Trong đó có 16 loài cá kinh tế thuộc lưu vực sông Hồng; 13 loài cá kinh tế thuộc lưu vực sông Cửu Long; 7 loài cá kinh tế ở ao,

hồ, ruộng; 18 loài cá kinh tế được nuôi và 9 loài cá cảnh

Khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam đã được Nguyễn Hữu Dực (1995) xác định được 134 loài thuộc 81 giống của 31 họ và 10 bộ Trong

đó 102 loài là cá nước ngọt chính thức và 12 loài là cá biển di vào sông ở nước ngọt Khu hệ cá Nam Trung Bộ có 8 loài có giá trị cao, 11 loài có giá trị kinh

tế từng vùng, 5 loài có giá trị làm cảnh và 2 loài diệt trừ bọ gậy góp phần phòng bệnh cho người (được trích dẫn bởi Mai văn Hiếu, 2012)

2.2 Tổng quan nguồn lợi thủy sản ĐBSCL

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích tự nhiên khoảng 39.747 km2, chiếm 12% diện tích cả nước, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng điểm là đông và tây Nam bộ Toàn vùng có khoảng 750 km chiều dài bờ biển (chiếm khoảng 23% tổng chiều dài bờ biển toàn quốc) với 22 cửa sông, cửa lạch và hơn 800.000 ha bãi triều (70% - 80% là bãi triều cao) Mùa khô độ mặn nước biển ven bờ cao 20 - 30%, mùa mưa 5 - 20%, thâm nhập mặn theo các sông nhánh vào nội đồng nhiều nơi đến 40 - 60km Điều kiện như vậy đã tạo nên những vùng đất ngập nước qui mô lớn với bản chất lầy mặn và đa dạng về kiểu môi trường sinh thái (mặn, lợ, ngọt), cũng như các hệ thống canh tác tương đối đồng nhất, đôi khi không phân biệt được bằng địa giới hành chính, như: vùng tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà Mau Điều kiện giao thoa mặn, lợ, ngọt cũng đã tạo nên một vùng sinh thái đặc thù, hiếm thấy trên thế giới, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất thủy sản hàng hoá tập trung

Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới gió mùa rõ rệt, rất

đa dạng về thành phần loài và sản lượng Theo công trình nghiên cứu của Mai Đình Yên và ctv, 1992 về “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” đã tìm thấy được 255 loài; và “Định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL” của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) với 173 loài, 99 giống, 39 họ và 13 bộ; trong đó đã xác định được 43 loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes), 6 loài

Trang 14

thuộc bộ cá Nóc (Tetraodontiformes), 1 loài thuộc bộ cá Hàm ếch (Batrachoidiformes), 3 loài thuộc bộ cá Đối (Mugiliformes), 1 loài thuộc bộ cá Ngựa (Gasterosteiformes), 2 loài thuộc bộ Lươn (Synbranchiformes), 6 loài thuộc bộ cá Lìm kìm (Beloniformes), 12 loài thuộc bộ cá Trích (Clupeiformes), 2 loài thuộc bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), 50 loài thuộc

bộ cá Chép (Cypriniformes), 2 loài thuộc bộ cá Sóc (Cyprinodontiformes), 41 loài thuộc bộ cá Da trơn (Siluriformes) và 4 loài thuộc bộ cá Bơn (Pleuronectiformes)

Theo kết quả nghiên cứu khu hệ cá sông Mê-Kông từ tháng 10/2006 – 3/2011 của quỹ Bảo vệ môi trường tự nhiên Nhật Bản (NAGAO) hợp tác cùng các quốc gia Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam đã xác định và lưu trữ mẫu của 540 loài cá, trong đó có 67 loài lần đầu tiên được ghi nhận và 21 loài chưa được mô tả ở lưu vực hai dòng sông vực sông Mê Kông và sông Chao Phraya Riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long có 292 loài thuộc 188 giống, 70 họ; trong

đó có 151 loài đặc hữu, có 5 loài chưa được mô tả, 8 loài chưa định loại được,

62 loài mới ghi nhận lần đầu ở lưu vực sông Mê Kông và Việt Nam và 9 loài mới ghi nhận lần đầu mới ghi nhận ở Việt Nam (Phạm Đình Văn, 2009)

Theo Trần Đắc Định và ctv (2012), “Mô tả định loại cá ĐBSCL, Việt Nam” đã xác định được 322 loài thuộc 21 bộ và 77 họ bao gồm những loài có kinh tế và những loài có giá trị kinh tế thấp; trong đó, 312 loài thu được trong vùng nước ngọt và lợ, 10 loài cá biển thu được ở vùng cửa sông

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Đồng Tháp (2009), kết quả thu thập được từ trước đến nay,

ở Đồng Tháp Mười (thuộc 3 tỉnh: Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An) đã phát

hiện 159 loài cá thuộc 89 giống nằm trong 39 họ cá Trong đó họ cá chép chiếm ưu thế với 39 loài, họ cá bống 10 loài, họ cá trèn 8 loài, họ cá chốt 8 loài, họ cá tra 7 loài, họ cá heo 7 loài, họ cá rô 6 loài, họ cá bơn 6 loài, họ cá lóc 4 loài và các họ cá khác từ 1 – 3 loài Khi so sánh với hệ cá Đồng bằng sông Cửu Long, khu hệ cá Đồng Tháp Mười phong phú về thành phần loài và thể hiện tính chất nhiệt đới rõ rệt (Phạm Đình Văn, 2009)

Kết quả nghiên cứu về thành phần loài cá trên lưu vực sông Hậu thuộc địa phận An Phú, An Giang từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2007 của Đinh Minh Quang cho thấy có 68 loài thuộc 29 họ trong 10 bộ Trong 68 loài thu được có

10 loài thuộc 5 họ trong 4 bộ có nguồn gốc từ biển Hypistomus punitatus Valenciennes, 1840 và Colossoma branchypomum (Cuvier, 1818) là 2 loài ngoại lai và 1 loài Toxotes chatareus (Hamilton, 1822) được ghi trong sách đỏ

Việt Nam năm 2007 Thành phần loài cá ở khu vực nghiên cứu chiếm 39,30%

Trang 15

tổng số loài của cả vùng ĐBSCL, 31,48% số loài của cả Miền Nam (Đinh Minh Quang, 2008)

2.3 Tổng quan về tỉnh Hậu Giang

2.3.1 Vị trí địa lý

Hậu giang là tỉnh ở trung tâm châu thổ sông Mê Kông, có tọa độ địa lý

từ 90

30'35 - 10019'17 Bắc và từ 105014'03 - 106017'57 kinh Đông với diện tích

tự nhiên là 1.608 km2 và dân số là 769.200 người, trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 176.000 người, dân số sống tại nông thôn đạt 593.200 người; mật độ dân số đạt 480 người/km² (Wikipedia, Hậu Giang, 2013)

Vị trí tiếp giáp

- Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang

- phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long

- phía nam giáp tỉnh Bạc Liêu

- phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng

(Nguồn: haugiang.gov.vn)

Hình 2.1: Bản đồ Hành chính tỉnh Hậu Giang Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km như: sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Tư, kênh Quản Lộ, kênh Phụng Hiệp, kênh Xà No, sông Cái Sắn Các tuyến đường lớn chạy qua tỉnh là quốc lộ 1A, quốc lộ 61, quốc lộ 61 B Tỉnh nằm kề thành phố Cần Thơ - trung tâm của vùng Tây Nam Bộ Sự phát

Trang 16

triển của thành phố Cần Thơ sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh Hậu Giang, mà trực tiếp là các địa phương nằm giáp thành phố (Wikipedia, Hậu

là vùng thấp trũng, độ cao trung bình chỉ khoảng 0,2m - 0,5m so với mực nước biển (Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang, 2013)

Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh rạch nhân tạo Việc đào kênh vừa tăng cường khả năng thoát nước và lưu thông, vừa tạo ra các vùng có địa hình cao tương đối hàng mét Sự chênh lệch về độ cao giữa các nơi trong tỉnh tuy không lớn lắm nhưng đã tạo ra sự tương phản rõ rệt Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tự nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (Wikipedia, Hậu Giang, 2013)

2.3.2.2 Khí hậu

Tỉnh Hậu Giang nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô có gió Đông Bắc

từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cao, khoảng 26,7 - 270C, tổng nhiệt hằng năm là 9.8000C Biên độ nhiệt trong năm thấp, tháng 4 nóng nhất với khoảng 350C, tháng 1 lạnh nhất với khoảng 20,30C Biên độ nhiệt giữa ngày

và đêm dao động lớn, khoảng 70C, mùa khô chênh lệch cao hơn, mùa mưa chênh lệch ít hơn

- Bức xạ: Số giờ nắng trong năm nhiều, trung bình 2.300 - 2.500 giờ Tổng lượng bức xạ trung bình khoảng 1.500 kcal/cm2/năm

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình trong năm phân hóa theo mùa rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ

ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%), độ ẩm trung bình trong năm là 82%

Trang 17

- Lượng mưa: Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1.800 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào khoảng tháng 9 (250,1mm) (Báo điện

tử Đảng cộng sản Việt Nam, 2013)

2.3.2.3 Thủy văn

Hậu Giang có một hệ thống kênh rạch chằng chịt, các con kênh lớn là kênh Đông Lợi, kênh Sóc Trăng, kênh Mỹ Thuận, kênh Xáng Xà No, kinh Xáng, kênh Lô Đá, kênh Xáng Nàng Mau, kênh Xáng Bún Tàu, kênh Cái Côn Sông Hậu chảy ở phía Đông Bắc tỉnh với chiều dài khoảng 14 - 15 km, qua địa bàn huyện Châu Thành, sông có nhiều nhánh tự nhiên chảy vào tỉnh Phía Tây Nam của tỉnh có các con sông như: sông Cái Lớn, sông Ba, sông Nước Đục, sông Nước Trong không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, mà còn là đường giao thông quan trọng đi khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực

Phần lớn lãnh thổ Hậu Giang đều có thời kỳ ngập nước trong năm, bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài khoảng 2 - 3 tháng Độ sâu và thời gian ngập nước tùy thuộc vào lượng nước mưa, độ cao tương đối, vị trí so với các dòng sông, kênh rạch Hiện tượng ngập úng thường được bắt đầu do mưa, sau đó tăng cường do lũ sông Hậu Các vùng cao ven sông Hậu và những vùng phía Tây trong lưu vực sông Cái Lớn thoát nước tốt nên ít bị ngập hoặc thời gian ngập ngắn Vùng đất thấp có khả năng thoát nước kém thì thời gian ngập lụt dài hơn Mực nước ngập sâu bình quân từ 0,3m - 0,6m

Là tỉnh nằm ở hạ nguồn sông Hậu, Hậu Giang chịu tác động mạnh của thủy triều Vào mùa mưa, biên độ triều thấp, khoảng 0,5 m Vào mùa khô, biên

độ thủy triều có thể lên tới vài mét Vùng Tây Nam của tỉnh nằm trong lưu vực sông Cái Lớn nên chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ triều của vịnh Thái Lan Nước mặn có thể theo sông Cái Lớn gây ra hiện tượng nhiễm mặn nặng

Nhìn chung, Hậu Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, ít bão, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, vùng Tây Nam của tỉnh nằm trong lưu vực sông Cái Lớn nên chịu ảnh hưởng mạnh bởi chế độ triều của vịnh Thái Lan, nước mặn có thể theo sông Cái Lớn gây ra hiện tượng nhiễm mặn nặng tại một số khu vực (Vietgle, Hậu Giang, 2013)

Trang 18

2.3.2.4 Tình hình thủy sản tỉnh Hậu Giang

Thủy sản là thế mạnh thứ hai của tỉnh sau cây lúa, lĩnh vực nuôi chiếm gần 90% tổng giá trị sản xuất của ngành (số liệu năm 2009) Các mô hình nuôi thủy sản khác nhau được trình bày qua Bảng 2.1

Bảng 2.1 Hiệu quả các mô hình nuôi thủy sản ở tỉnh Hậu Giang

* Nuôi ao thâm canh, bán thâm canh

* Nuôi ao mương quảng canh, quảng canh cải tiến

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2012)

Đã có nhiều mô hình nuôi thủy sản an toàn, chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000CM , hình thành vùng nuôi tập trung như cá tra ở Châu Thành, thị xã Ngã Bảy ; đang tiếp tục phát triển thương hiệu cá rô, cá thát lát Hậu Giang Bảng 14 trình bày tổng giá trị sản xuất thủy sản năm 2009 đạt 365.933 triệu đồng tăng 58.383 triệu đồng so với thời điểm năm 2005 Tốc độ tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất thủy sản là 4,44%/năm, thấp hơn so với kế hoạch đề ra về tốc độ phát triển ngành thủy sản cho năm 2010 (22,7%) Bảng 2.2 Qui hoạch nuôi trồng thủy sản chủ lực ở tỉnh Hậu Giang

(Nguồn: Báo cáo thực hiện nghị quyết hội nghị 7 tỉnh Hậu Giang, 2009)

Giá trị sản xuất (GTSX) nghành nuôi thủy sản chiếm tỷ trọng cao (90%

Trang 19

nuôi trồng thủy sản năm 2005 là 245.362 triệu đồng tăng lên 329.485 triệu đồng năm 2009 với tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Tuy nhiên, giá trị sản xuất về khai thác giảm dần qua các năm với tốc độ giảm bình quân 14,33%/năm Riêng giá trị dịch vụ thủy sản cũng tăng với tốc độ bình quân 5,6%/năm, nhưng tỷ trọng đóng góp vào GTSX của ngành không đáng kể

Về quy hoạch phát triển thủy sản trong tương lai được trình bày qua Bảng 2.2 cho thấy sẽ tập trung các loại chủ lực, có giá trị xuất khẩu cao, cụ thể là:

- Cá tra: vùng nuôi ổn định 530 ha (năm 2010), 960ha (năm 2015) và 1.600ha (năm 2020) Từng bước thực hiện nuôi trồng theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (VIETGAP), cùng với việc hạn chế ô nhiễm môi trường, và tập trung ở huyện Châu Thành, Phụng Hiệp và thị xã Ngã Bảy

- Cá đồng: đã nuôi thâm canh 500 ha, phát triển thương hiệu cá thát lát Hậu Giang và một số loại cá chủ lực khác như cá rô phi siêu thịt, cá rô đồng, cá sặc rằn, tập trung ở Vị Thủy, Châu Thành A và Long Mỹ

- Tôm càng xanh: tập trung vùng tôm càng xanh với diện tích 200 ha ven sông Xà No huyện Châu Thành A

- Cá bống tượng: với 23,11ha, tập trung Long Mỹ và Châu Thành A

- Cá trê lai: với 36,54 ha, chủ yếu ở Châu Thành, Châu Thành A và thị xã Ngã Bảy

Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước có trên 1.106 cơ sở cá nước ngọt, sản xuất được 14,078 tỷ con giống các loại, trong đó có 172 cơ sở sản xuất cá tra bột và 5.775 hộ ương giống với diện tích 2.549ha, sản xuất được 1.896 triệu con, trong khi nhu cầu giống thả nuôi của cả nước phải cần từ 1,6 đến 1,8 tỷ con (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang, 2013)

2.3.3 Nguồn lợi thủy sản

Theo Chi cục Thủy sản của tỉnh, tổng diện tích nuôi thủy sản năm 2012 trên địa bàn là 11.318,81ha, bằng 99,4% so với cùng kỳ Trong đó, diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh là 485,66ha, với các đối tượng: cá tra, cá rô đồng, thát lát, cá lóc, bống tượng và diện tích ương cá giống là 55,62ha Diện tích nuôi quảng canh cải tiến là 10.833,15ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ, trong

đó cá ao, mương vườn 5.798,45ha; cá ruộng 5.034,7ha Tổng sản lượng thu được trong năm đạt 86.108,81 tấn, vượt 24,9% so với cùng kỳ Trong đó, sản

Trang 20

lượng nuôi thâm canh, bán thâm canh gần 59.000 tấn; nuôi quảng canh cải tiến hơn 14.000 tấn; nuôi lồng, vèo 3.100 tấn; thủy đặc sản 762,81 tấn; sản lượng khai thác ước đạt 7.850 tấn (tổng cục thủy sản, 2013).

2.3.4 Sơ lƣợc về địa bàn thu mẫu huyện Châu Thành

Châu Thành là một huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hậu Giang, được thành lập vào tháng 01/2004 thông qua nghị định số 05/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới và nhân khẩu huyện Châu Thành Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, có 14.578,91 ha diện tích tự nhiên và 81.194 nhân khẩu; gồm

9 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó gồm 7 xã và 2 thị trấn là thị trấn Ngã Sáu, thị trấn Mái Dầm xã Đông Phú, xã Đông Phước, xã Đông Phước A,

xã Đông Thạnh, xã Phú An, xã Phú Hữu và xã Phú Tân Mật độ dân số của huyện là 605người/km2 Dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều ở nông thôn (73.854 người), ở thành thị (7.518 người) (Wikipedia, Châu Thành - Hậu Giang, 2013)

2.3.4.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Huyện Châu Thành có vị trí tiếp giáp với Thành Phố Cần Thơ và Sông Hậu, có tuyến Quốc lộ 1 đi qua và hiện nay có thêm 1 tuyến giao thông mang tính chiến lược đó là Quốc lộ Nam Sông Hậu

- Phía Bắc giáp quận Cái Răng của thành phố Cần Thơ

- Phía Nam giáp thị xã Ngã Bảy

- Phía Tây giáp huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp

- Phía Đông giáp sông Hậu, ngăn cách với huyện Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long

Khí hậu

Huyện Châu Thành có khí hậu điều hòa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (Wikipedia, Châu Thành - Hậu Giang, 2013)

Sông ngòi

Châu Thành có hệ thống sông ngòi chằng chịt với nhiều con sông lớn

và chịu ảnh hưởng triều cường của hạ lưu Sông Hậu; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ và thể hiện rõ nét văn hoá của vùng sông nước…

Trang 21

2.3.4.2 Tình hình thủy sản của huyện Châu Thành

Những năm gần đây, phong trào nuôi thủy sản ở huyện Châu Thành phát triển khá mạnh và diện tích nuôi không ngừng tăng lên Nhiều hộ dân có mức thu nhập khá nhờ thả nuôi thủy sản thâm canh và thả trong mương vườn, ruộng lúa Trước đây, diện tích nuôi thủy sản của huyện Châu Thành rất ít và chủ yếu thả nuôi trong ruộng lúa, mương vườn là chính Mấy năm gần đây, nhiều hộ nuôi thâm canh cá tra, cá rô đồng mang lại hiệu quả cao nên diện tích thả nuôi dần dần được tăng lên Đến tháng 05/2009, toàn huyện đã thả nuôi trên 302 ha thủy sản, chủ yếu là cá tra, cá rô đồng, cá trê vàng lai Nhiều địa phương có diện tích thả nuôi lớn như xã Đông Phước, Đông Phước A, Phú An, Phú Hữu A, thị trấn Ngã Sáu, với hơn 2.939 hộ Huyện Châu Thành đang tập trung quy hoạch lại diện tích nuôi thủy sản để khai thác hết các tiềm năng của huyện Theo đó, sẽ quy hoạch 800 ha nuôi cá da trơn ở xã Đông Phước và Đông Phước A Ngoài ra, ngành nông nghiệp huyện còn khuyến khích nhân rộng mô hình V.A.C kết hợp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, tăng thu nhập cho nông dân (Vietgle, Châu Thành – Hậu Giang, 2013)

Huyện có hơn 7 km Sông Hậu đi qua nên có nhiều loài tôm, cá nước ngọt và nhiều động vật hoang dã đặc trưng của vùng Đặc biệt có một số loại

cá nước ngọt nổi tiếng và được nhiều người ưa thích như cá linh, cá cóc, cá mè vinh, có lóc, cá chạch; đặc biệt là cá ngát, cá chạch lấu Sông Hậu …

2.4 Thành phần loài cá ở một số khu vực nghiên cứu

Theo Phan Văn Thảo (2009) về “Khảo sát thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá phân bố ở thành phố Cần Thơ” đã xác định gồm 87 loài thuộc 59 giống , 30 họ, 9 bộ Trong đó, các loài phân bố ở các thủy vực sông, kênh, rạch, ruộng là 70 loài và 71 loài được thu ở chợ

Tùy theo đặc điểm sinh học của từng vùng sinh thái ở tỉnh Hậu Giang

mà số lượng loài thủy sản khai thác khác nhau (Bảng 2.3)

Trang 22

Bảng 2.3: Thành Phần loài ở một số khu vực nghiên cứu tỉnh Hậu Giang

Huyện Châu Thành 47 loài thuộc 26 họ, 9 bộ Hồ Huỳnh Như, 2012 Khu bảo tồn Lung Ngọc

Hoàng, Phụng Hiệp, Hậu

Giang

45 loài thuộc 21 họ, 10 bộ Nguyễn Phương Vy, 2012

Huyện Phụng hiệp 36 loài thuộc 22 họ, 8 bộ Ô Thị Kim Bé, 2012 Kênh Xáng xà no – Hậu

Giang

50 loài thuộc 26 họ, 8 bộ Châu Hoài Xuyên, 2010

Theo Hồ Huỳnh Như (2012), một số loài thường xuất hiện nhiều ở tỉnh

Hậu Giang như: cá trèn bầu (Ompok binaculatus), cá chốt sọc (Mytus

mysticetus), Cá lòng tong đuôi vàng (Rasbora aurotaenia) , Cá phèn vàng

(Polynemus longipectoralis), cá bống trứng (Eleotris balia), cá bống cát

(Glossogobius giuris), cá mè vinh (Barbonymus gonionotus), Cá cơm trích (Clupeoides borneensis), cá dứa (Pangasius polyuranodon), Cá chốt giấy

(Mystus albolineatus), cá chạch lá tre (Macrognathus simaensis)

2.5 Một số chỉ tiêu sinh học của cá bống cát (Glossogobius giuris) và cá bống trứng (Eleotris balia) phân bố ở huyên Châu Thành

Một số kết quả nghiên cứu về phương trình hồi qui giữa chiều dài và khối lượng thân cá được trình bày trong Bảng 2.4

Bảng 2.4: Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống

cát Glossogobius giuris và cá bống trứng Eleotris melanosoma

Eleotris melanosoma 0,00946 3,00 Luna and Susan M, 2012

0,0089 32,313 Lê Thị Ngọc Thanh, 2010 0,0192 28,481 Lê Thi Ngọc Thanh, 2010

Trang 23

Cá bống cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822)

Cá bống cát sống chủ yếu ở vùng cửa sông, kênh, rạch, ao Dễ gặp

trong môi trường các con sông lớn Một số đặc điểm sinh học của cá bống cát

được trình bày trong Bảng 2.5 và Bảng 2.6

Bảng 2.5: Một số đặc điểm sinh học của cá bống cát Glossogobius giuris ở

một số khu vực (KV) nghiên cứu

KV

Bạc Liêu Cao nhất: tháng 1 Thấp nhất: tháng 11 Cao nhất: tháng 11 Thấp nhất: tháng 1 Cao nhất: tháng 3 Thấp nhất: tháng 11 Nguyễn Thị Ngọc

Thanh (2010) Sóc trăng Cao nhất: tháng 1

Thấp nhất: tháng 11

Cao nhất: tháng 11 Thấp nhất: tháng 1

Cao nhất: tháng 3 Thấp nhất: tháng 11

Nguyễn Thị Ngọc Thanh (2010)

TP

Cần Thơ

Cao nhất: tháng 11 Thấp nhất: tháng 10

Cao nhất: tháng 10 Thấp nhất: tháng 1

Cao nhất: tháng 1 Thấp nhất: tháng 10

Phạm Thị Mỹ Xuân (2012) Theo Phạm Thị Mỹ Xuân (2012), cá bống cát phân bố ở thành phố Cần

Thơ có phương trình tương quan chiều dài – khối lượng khá chặt chẽ với W =

0,0082L2,9835 và R2 = 0,9768 Cá thành thục sinh dục và tham gia sinh sản vào

khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 hằng năm Sức sinh sản (SSS) tuyệt

đối của cá bống cát dao động từ 16.985 trứng/cá cái đến 77.298 trứng/cá cái ,

Theo nhận định của Cole (1982) cho rằng đối với nhiều loài cá bống con đực

thành thục thường có tập tính ấp trứng trong hang

Bảng 2.6: Sức sinh sản (SSS) của cá bống cát Glossogobius giuris ở một số

khu vực nghiên cứu

Bạc Liêu 3.881 - 13.985 1.577 ± 381 Lê Thị Ngọc Thanh (2010)

Sóc Trăng 13.028 - 117.214 1.233 - 1.957 Lê Thị Ngọc Thanh (2010)

TP Cần Thơ 16.985 - 77.298 1.760 - 2795 Phạm Thị Mỹ Xuân (2012)

Theo Lê Thị Ngọc Thanh (2010) về “Thành phần loài và đặc điểm sinh

học của một số loài cá bống kinh tế phân bố ở Bạc Liêu và Sóc Trăng” đã xác

định được phương trình tương quan chiều dài của cá bống cát

Glossogobius giuris là W = 0,0095L2,9452 với 218 mẫu cá ở Bạc Liêu và W =

0,0123L2,8462 với 241 mẫu cá ở Sóc Trăng Mùa vụ sinh sản của cá bống cát

Glossogobius giuris ở Bạc Liêu và Sóc Trăng vào khoảng tháng 10 đến tháng

12 và sức sinh sản tương đối trung bình lần lượt là 1.577 trứng/g cá cái (879

trứng – 2.110 trứng/cá cái) và 1.544 trứng/cá cái (1.233 trứng – 1.957 trứng/cá

cái)

Trang 24

Cá bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853

Theo nghiên cứu khác của Ngô Trúc Bình (2009), đặc Điểm sinh học của một số loài cá thuộc họ cá bống phân bố ở tỉnh Trà Vinh đã cho hệ số tương quan giữa chiều dài tổng và khối lượng thân cá của cá bống trứng phân

bố ở tỉnh Trà Vinh là R2 = 0,9837

Theo Cao Nhựt trường (2012) cho thấy sức sinh sản tuyệt đối cá bống trứng phân bố dọc tuyến sông Hậu tỉnh Vĩnh Long dao động từ 253 – 3.720 trứng/cá cái và hệ số tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng thân cá theo phương trình hồi qui rất chặt chẽ thông qua hệ số R2 = 0,9429

Trang 25

CHƯƠNG III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ tháng 04/2013 đến tháng 11/2013

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Mẫu vật nghiên cứu về thành phần loài và một số đặc điểm sinh học được thu tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

(Nguồn: chauthanh.haugiang.gov.vn)

Hình 3.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại huyện Châu Thành

Địa điểm thu mẫu ở địa bàn nghiên cứu được phân theo loại hình thủy vực sông cấp 1, sông cấp 2, kênh/rạch và ruộng

Sông cấp 1: là sông đổ trực tiếp ra biển, thủy vực chảy, mực nước sâu Với loại hình thủy vực ở sông cấp 1, mẫu vật được thu dọc theo tuyến sông Hậu thuộc thị trấn Mái Dầm

Sông cấp 2: là các nhánh sông đổ vào sông cấp 1, thủy vực nước chảy, mực nước sâu Với loại hình thủy vực sông cấp 2, mẫu vật được thu ở các tuyến sông thuộc thị trấn Mái Dầm, xã Phú Hữu, thị Trấn Ngã Sáu

Trang 26

Kênh/rạch: là các nhánh đổ ra sông, là đường dẫn nước từ sông vào đồng ruộng, thủy vực nước chảy, mực nước sâu Với loại hình thủy vực kênh/rạch, mẫu vật được thu ở các tuyến kênh/rạch thuộc xã Phú Hữu

Ruộng: thủy vực tĩnh, nền đáy bùn, mực nước nông Mẫu vật được thu ở các thủy vực ruộng thuộc xã Phú Hữu, thị trấn Ngã Sáu

3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Ngư cụ đánh bắt: chài, lưới, giăng câu, cào sông, đặt dớn, lưới kéo,…

- Dung dịch formal 4%, gilson’s

- Thùng trữ lạnh, thùng nhựa, khay nhựa

- Thước đo, kéo, pen, gim để cố định mẫu, giấy bong mờ

- Sổ tay, viết chì, bút lông

- Cân điện tử, dao mổ, kim mũi giáo, kim mũi nhọn, ben giắp

- Kính hiển vi, kính lúp

- Máy chụp hình

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Chuẩn bị biểu mẫu

Trước khi thu mẫu cần chuẩn bị biểu mẫu để ghi chép các thông tin về mẫu thu và để xác định một số chỉ tiêu đo đạt nhanh (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Nội dung biểu mẫu bao gồm:

- Nơi khai thác (tên sông, hồ, kênh, rạch, ngư trường, )

- Địa điểm thu mẫu (xã, thị trấn)

- Loại tàu khai thác

- Ngư cụ khai thác và kích thước mắt lưới

- Độ sâu ngư trường khai thác

- Diện tích khai thác (nếu được)

- Loài khai thác, tỉ lệ thành phần loài

3.3.2 Phương pháp thu và cố định mẫu

Thu mẫu các thành phần loài ngẫu nhiên bằng các loại ngư cụ khai thác khác nhau như chài, lưới, đặt dớn, giăng câu, cào, lưới kéo, hoặc mua của người dân đánh bắt

Thu mẫu định kỳ từng tháng tại vùng nghiên cứu liên tục từ tháng 02/2013 đến tháng 11/2013

Mẫu được thu ngẫu nhiên dùng cho định danh từ 2-3 mẫu/loài; dùng cho nghiên cứu các đặc điểm sinh học khoảng 30 mẫu/loài/đợt

Trang 27

Mẫu sau khi thu được sẽ được rửa sạch bằng nước ngọt, phân loại sơ bộ từng loài, đánh dấu mẫu thu và bảo quản bằng cách giữ lạnh, sau đó đưa mẫu

về phân tích trong phong thí nghiệm khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ

3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu

3.3.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu

Cá thu ngẫu nhiên được xác định các chỉ tiêu sau: chiều dài tổng, chiều dài chuẩn, khối lượng toàn thân, trọng lượng cá không nội quan, khối lượng tuyến sinh dục, trọng lượng gan và giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

- Định loại cá nước ngọt Mai Đình Yên và ctv, 1992

- Mô tả định loại cá ĐBSCL Fishes of the MeKong Delta Vietnam, Trần

Đắc Định và ctv.,2013

- Website: http://fishbase.org

- Cá ngọt Việt Nam Nguyễn Văn Hảo (2005)

3.3.3.3 Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng

Theo Huxley (1924), phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng được xác lập theo công thức sau (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm

và Trần Đắc Định, 2004):

W = a.L b

Trong đó: W: khối lượng cơ thể cá (g)

L: chiều dài toàn thân cá (cm)

a: hằng số tăng trưởng ban đầu

b: hệ số mũ, gần bằng 3 đối với các loài có sự tăng trưởng đồng bộ

Hệ số b được xác định thông qua phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá, xác định trạng thái tăng trưởng đều hay không đều

Trang 28

3.3.3.4 Phân tích hệ số điều kiện

Hệ số điều kiện CF (condition factor) dùng để đánh giá sự biến động của trọng lượng cơ thể so với chiều dài của cá ở những thời điểm khác nhau, phản ánh sự thành thục sinh dục, đồng thời xác định mùa vụ sinh sản của cá King(1995) đã đề nghị công thức dưới đây để tính hệ số điều kiện (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004):

CF = W/L b

Trong đó: CF: hệ số điều kiện

W: khối lượng toàn thân cá (g) L: chiều dài toàn thân cá (cm) b: hệ số tăng trưởng

Hệ số b được xác định thông qua phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá W = a.Lb

3.3.3.5 Phân tích các thành thục của cá

Theo Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004): phương pháp thông thường để đánh giá các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục của cá là có thể dựa vào bậc thang thành thục (hay bậc thang chín muồi sinh dục) Rất nhiều tác giả đã đưa ra các bậc thang thành thục sinh dục của cá, theo Nikolsky (1963) đã đưa ra một bậc thang tổng hợp để có thể sử dụng rộng rãi với 6 giai đoạn

Bảng 3.1: Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Đắc Định, 2004)

I Cá thể còn non, chưa thành thục sinh dục

II Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn

thấy hạt trứng

III

Giai đoạn thành thục Bằng mắt thường có thể nhìn thấy được những hạt trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong chuyển sang màu hồng nhạt

IV Giai đoạn chin muồi Tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất,

nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra

Trang 29

VI

Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng

3.3.3.6 Phân tích biến động hệ số thành thục

Khối lượng tuyến sinh dục là một trong những chỉ tiêu thiết yếu để giải

thích mức độ chín muồi của các sản phẩm sinh dục và hệ số thành thục

(Gonado-somatic index, GSI) thường được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu hiện nay

Hệ số thành thục (GSI: Gonado Somatic Index) là một trong các chỉ số

để xác định mùa vụ sinh sản Hệ số này là tỉ lệ phần trăm của tuyến sinh dục trên khối lượng thân cá

Công thức để tính hệ số thành thục sinh dục như sau:

3.3.3.7 Phân tích biến động hệ số tích lũy năng lƣợng

Hệ số tích lũy năng lương (HSI) được xác định theo công thức như sau:

HSI (%) = (LW / Wn) * 100

Trong đó: LW: khối lượng gan cá (g)

Wn: khối lượng cá không nội quan (g)

3.3.3.8 Xác định sức sinh sản

Sức sinh sản là số lượng trứng chín của một cá cái trước khi sinh sản (Bagenal và Braum, 1968 được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Sức sinh sản của cá được tính bằng lượng trứng được đẻ ra của một cá thể(sức sinh sản tuyệt đối) hoặc một đơn vị khối lượng cơ thể (sức sinh sản tương đối)

Mẫu buồng trứng được lấy ở 3 vị trí đầu, giữa và cuối để đếm Đường kính trứng được xác định bằng trắc vi thị kính trên kính hiển vi

Trang 30

Để cố định trứng dùng dung dịch Gilson fluid theo Simpson (1951) Dung dịch được chuẩn bị như sau:

Sức sinh sản tuyệt đối (F): được xác định theo công thức của Hardisty

(1964) (được trích dẫn bởi biswas, 1993):

F =n*GW/g

Trong đó: F: sức sinh sản tuyệt đối (trứng/cá cái)

n: số lượng trứng có trong mẫu đại diện GW: khối lượng buồng trứng (g)

g: khối lượng mẫu trứng đại diện (g)

Sức sinh sản tương đối (F A ): được xác định theo công thức của

Hardisty (1964), (được trích dẫn bởi Biswas, 1993)

F A = F / BW

Trong đó: FA: sức sinh sản tương đối (trứng/g cá cái)

F: sức sinh sản tuyệt đối (trứng/cá cái) BW: khối lượng thân cá (g)

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập sẽ được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả bởi phần mềm Microsoft Excel (2003)

Trang 31

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần các loài cá phân bố tự nhiên ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang

Qua thời gian khảo sát đã định danh được 62 loài thuộc 33 họ, 10 bộ phân bố trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang (Bảng 4.1)

Bảng 4.1: Cấu trúc thành phần loài theo bộ

Với 14 họ, 19 giống và 23 loài, bộ cá Vược (Perciformes) là bộ chiếm

ưu thế nhất so với các bộ còn lại chiếm 36%, kế đến là bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Da Trơn (Siluriformes) với 12 loài chiếm 19% mỗi

bộ, bộ Mang liền (Synbranchiformes) chiếm 8% với 5 loài, bộ cá Trích (Clupeiformes) và bộ cá Bơn (Pleuronectifomes) chiếm 5% với 3 loài mỗi bộ, còn lại là các bộ bao gồm bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), bộ cá Chình (Anguilliformes), bộ cá nhói (Beloniformes) và bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) chiếm 2% mỗi bộ trong tổng số loài (Phụ lục I)

Qua Bảng 4.2 có thể dễ dàng nhận thấy họ Cyprinidae là họ có số lượng loài cao nhất trong 33 họ được tìm thấy ở huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang

Trang 32

Bảng 4.2: Cấu trúc thành phần loài theo họ

Kế đến là 2 họ Gobiidae và Bagridae đều có cùng số loài là 3 loài chiếm 5% mỗi họ Tuy nhiên, với những họ có số lượng loài ngang nhau này lại không tương đồng nhau về số giống Các họ còn lại đều chỉ xuất hiện 1 loài thuộc 1 giống duy nhất trong họ và chiếm 2% mỗi họ

Trang 33

Trong 62 loài thu được ở các thủy vực tự nhiên ở huyện Châu Thành, hầu hết các loài tập trung nhiều ở 3 thủy vực kênh/rạch, sông cấp 1 và sông cấp 2 Trong đó, thủy vực kênh/rạch chiếm ưu thế nhất với 32 loài xuất hiện

do có nhiều đặc điểm khác nhau về địa hình (thủy vực nước tĩnh, nước chảy, mực nước cao thấp khác nhau ở nhiều nơi, tính chất nền đáy khác nhau) tạo điều kiện cho cá có nơi cư trú, kế tiếp là thủy vực sông cấp 1 với 31 loài Ở thủy vực sông cấp 2 có 27 loài xuất hiện Tại thủy vực ruộng đã tìm thấy 21 loài, đây là nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh tạo nguồn thức ăn dồi dào cho các loài cá, nhưng chỉ thường tập trung ở các loài cá có kích cỡ nhỏ ăn thiên về thực vật nhiều hơn (Bảng 4.3)

Trang 34

Bảng 4.3: Cấu trúc thành phần loài theo thủy vực

Trang 35

Ở thủy vực kênh/ rạch, bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế nhất với 11/31 loài chiếm 34%, kế tiếp là bộ cá Chép (Cypriniformes) với 9/32 loài chiếm 28%, còn lại các bộ cá Da trơn (Siluriformes) với 6 loài chiếm 19%, bộ Mang liền (Synbranchiformes) với 3 loài (9%), bộ cá Trích (Clupeiformes) và

bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) và bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes) mỗi bộ

là 1 loài (3%) Đối với thủy vực sông cấp 1, với 13/32 loài thu được ở thủy vực này thì bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế nhất trong thủy vực (42%), bộ cá Da trơn (Siluriformes) với 5 loài (16%), các bộ còn lại mỗi bộ chỉ xuất hiện từ 1-3 loài Đa số các loài xuất hiện ở sông cấp 2 đều thuộc bộ cá Vược (Perciformes) với 11/27 loài chiếm 41%, bộ cá Chép (Cypriniformes) 7 loài (26%), các bộ Mang liền (Synbranchiformes), bộ cá Da trơn (Siluriformes), bộ cá Trích (Clupeiformes), bộ Thát lát (Osteoglossiformes),

bộ cá Nóc (Tetraodontiformes) mỗi bộ xuất hiện 1-2 loài trong tổng 27 loài thu được ở thủy vực Trong 21 loài thu được ở thủy vực ruộng thì có 8 loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) chiếm 38% và đây cũng là bộ có số lượng loài nhiều nhất trong thủy vực ruộng, bộ cá Da trơn (Siluriformes) với 6 loài (29%), bộ cá Chép (Cypriniformes) với 5 loài (24%) và bộ Mang liền (Synbranchiformes) với 2 loài (10%) Các loài cá có khả năng phân bố rộng trên các thủy vực, sự phân bố này tùy thuộc đặc điểm địa hình của từng thủy vực cũng như đặc điểm sinh học và vào kích cỡ lớn nhỏ của các cá thể trong loài Nhìn chung, trong 4 thủy vực tự nhiên được nghiên cứu tại địa bàn thì bộ

cá Vược (Perciformes) đều chiếm ưu thế nhất (Phụ lục II)

So sánh kết quả nghiên cứu của Trần Đắc Định, Hà Phước Hùng & ctv

(2012) trong Mô tả định loại cá ĐBSCL Fishes of the MeKong Delta Vietnam thì trong tổng 62 loài thu được đã trùng khớp với 62/322 loài ở ĐBSCL

4.2 Mối quan hệ giữa chiều dài và khối lƣợng thân của cá bống trứng và

cá bống cát ở huyện Châu Thành

4.2.1 Quan hệ giữa chiều dài và khối lƣợng thân của cá bống trứng

Eleotris melanosoma Bleeker, 1853

Kết quả phân tích của 174 mẫu cá thu được với 67 mẫu cá đực và 107 mẫu cá cái đã xác định được mối quan hệ giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá bống trứng theo phương trình hồi qui của cá cái là W = 0,0247L2,6531, hệ số R2

= 0,9104 với chiều dài dao động trong khoảng 4,3 - 10,2 cm và khối lượng từ 1,06 - 12,22 g; và phương trình hồi qui của cá đực là

W = 0,0241L2,6236, hệ số R2

= 0,893 với chiều dài dao động trong khoảng 4,5 - 10,2 cm và khối lượng từ 1,28 - 11,6 g (Hình 4.1)

Trang 36

Hình 4.1: Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá

bống trứng Eleotris melanosoma Bleeker, 1853

Từ kết quả ở phương trình hồi qui của cá bống trứng cho thấy sự sinh trưởng của cá bống trứng theo chiều dài tổng và khối lượng thân cá có mối quan hệ rất chặt chẽ (cá bống trứng cái) và khá chặt chẽ (cá bống trứng đực), phù hợp với qui luật sinh trưởng của cá Ở giai đoạn còn nhỏ, khi cá đạt chiều dài nhỏ hơn 5,5 cm thì cá có sự tăng nhanh về chiều dài, nhưng khi cá đạt chiều dài từ khoảng 5,5 đến 8,5 cm thì sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng tương đương nhau

So sánh với kết quả nghiên cứu của Ngô Trúc Bình (2009) và Lê Thị Ngọc Thanh (2010) cho thấy có sự khác biệt nhưng không nhiều Trong nghiên cứu của Ngô Trúc Bình ở Trà Vinh thì hệ số tương quan giữa chiều dài tổng và khối lượng thân cá là R2 = 0,9837 Cũng theo Lê Thị Ngọc Thanh (2010) có phương trình hồi qui ở Bạc Liêu là W = 0,0089L3,2313, R2 = 0,9715

và ở Sóc Trăng là W = 0,0192L2,8481, R2 = 0,9456

Kết quả nghiên cứu này so sánh với các nghiên cứu khác nhận thấy ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của cá cũng có sự khác nhau và đều tuân theo qui luật chung là tăng nhanh theo chiều dài trong giai đoạn đầu và tăng nhanh theo khối lượng ở giai đoạn sau, nguyên nhân tăng nhanh về chiều dài ở giai đoạn đầu là để vượt khỏi

sự chèn ép của kẻ thù, còn tăng nhanh về khối lượng ở giai đoạn sau là do cá tích lũy năng lượng để chuẩn bị cho quá trình thành thục và sinh sản

Trang 37

4.2.2 Mối quan hệ giữa chiều dài và khối lƣợng thân cá bống cát

Glossogobius giuris (Hamilton, 1822)

Kết quả phân tích của 191 mẫu cá với 73 mẫu cá đực và 118 mẫu cá cái thu được đã xác định được mối quan hệ giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá bống cát theo phương trình hồi qui của cá cái là W = 0,0244L2,5611, hệ

số R2

= 0,9094 với chiều dài tổng dao động từ 7,7 - 15,8 cm và khối lượng thân dao động từ 4,19 - 32,72 g; và của cá đực là W = 0,0129L2,8131, hệ số R2

= 0,8893 với chiêu dài tổng dao động từ 8,8 - 16,3 cm và khối lượng thân dao động từ 5,96 - 38,31 g (Hình 4.2)

Hình 4.2: Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng của cá bống

cát Glossogobius giuris (Hamilton, 1822)

Do hạn chế về thời gian và ngư cụ khai thác, mẫu cá được thu có thể bị giới hạn về kích cỡ và khối lượng, chưa thu được ở nhiều khích cỡ khác nhau Tuy nhiên, qua phương trình hồi qui của cá bống cát ở Hình 4.2 cho thấy có mối quan hệ rất chặt chẽ giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá bống cát cái và khá chặt chẽ của cá bống cát đực

So sánh kết quả phương trình hồi qui của cá bống cát ở địa bàn nghiên cứu thuyện Châu Thành với các nghiên cứu khác cho thấy có sự khác biệt ở các khu vực khác nhau (Bảng 4.4)

Trang 38

Bảng 4.4: So sánh phương trình hồi qui của cá bống cát trong nghiên cứu này với các nghiên cứu khác

- R2 = 0,9768

bị cho quá trình sinh sản

4.3 Đặc điểm sinh học sinh sản cá bống trứng Eleotris melanosoma

Bleeker, 1853

4.3.1 Hệ số điều kiện CF

Sự biến đổi về chiều dài và khối lượng thân cá bị ảnh hưởng bởi sự biến đổi về nguồn thức ăn và các vật chất dinh dưỡng do môi trường biến đổi theo mùa vụ Thông qua sự biến động của hệ số điều kiện CF có thể đưa ra những giả thuyết về các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến mối tương quan giữa chiều dài tổng và khối lượng thân cá Dựa vào hệ số của phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng thân cá tính được hệ số điều kiện CF cá bống trứng qua các tháng (Hình 4.3)

Trang 39

Hình 4.3: Biến động CF của cá bống trứng đực và cá bống trứng cái

Hệ số CF của cá đực cao nhất vào tháng 9 (CF = 0,02809) và thấp ở tháng 10 (CF = 0,02273), tháng 11 (CF = 0,02284) Đối với cá cái hệ số CF cao nhất ở tháng 8 (CF = 0,02759) và thấp nhất ở tháng 11 (CF = 0,02069 Đối với cá đực, hệ số CF cao vào tháng 9 có thể do đây là mùa lũ, thức ăn phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho cá được sinh trưởng nhanh Tuy nhiên, đối với

cá cái thì hệ số CF lại giảm nguyên nhân vì đây có thể là giai đoạn sinh sản nên phải tốn năng lượng cho việc nuôi trứng và sinh sản Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào hệ số điều kiện CF thì chưa thể kết luận được mùa vụ sinh sản của cá bống trứng

So sánh với kết quả nghiên cứu của Cao Nhựt Trường (2012) nhân thấy kết quả có sự tương đồng Hệ số CF của cá bống trứng phân bố ở dọc tuyến sông Hậu tỉnh Vĩnh Long cao vào tháng 9 và giảm ở các tháng sau (cá đực), cao vào tháng 8 và giảm vào tháng 9, 10, 11 (cá cái); kết quả nghiên cứu này tương đối phù hợp với kết quả của tác giả Cao Nhựt Trường (2012)

4.3.2 Sự biến động các giai đoạn thành thục (GĐTT) sinh dục của cá bống trứng

Sự biến động các giai đoạn thành thục sinh dục của cá bống trứng cái qua các tháng thu mẫu được thể hiện ở Hình 4.4

Trang 40

Hình 4.4 cho thấy cá cái xuất hiện ở các giai đoạn từ I đến IV, giai đoạn

IV cao nhất vào tháng 9, tháng 11 không thấy xuất hiện giai đoạn IV Trong quá trình phân tích không tìm thấy buồng trứng ở giai đoạn V và VI do trong quá trình thu mẫu không thu được mẫu cá ở giai đoạn chuẩn bị đẻ trứng và sau khi đẻ trứng

Tương tự buồng trứng, buồng tinh cá bống trứng cũng đạt giai đoạn III cao vào tháng 9 (Hình 4.5)

Hình 4.5: Tỷ lệ các GĐTT của buồng tinh cá bống trứng

Có thể thấy buồng tinh cá bống trứng chỉ xuất hiện ở giai đoạn I-II và giai đoạn III, giai đoạn III đạt cao nhất vào tháng 9 (20%); tháng 7 và tháng 11

Ngày đăng: 11/10/2015, 08:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ Hành chính tỉnh Hậu Giang - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 2.1 Bản đồ Hành chính tỉnh Hậu Giang (Trang 15)
Hình 3.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu tại huyện Châu Thành - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 3.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu tại huyện Châu Thành (Trang 25)
Bảng 4.2: Cấu trúc thành phần loài theo họ - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Bảng 4.2 Cấu trúc thành phần loài theo họ (Trang 32)
Hình 4.1: Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.1 Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng thân của cá (Trang 36)
Hình 4.2: Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng của cá bống - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.2 Phương trình hồi qui giữa chiều dài tổng và khối lượng của cá bống (Trang 37)
Hình 4.4 cho thấy cá cái xuất hiện ở các giai đoạn từ I đến IV, giai đoạn - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.4 cho thấy cá cái xuất hiện ở các giai đoạn từ I đến IV, giai đoạn (Trang 40)
Hình 4.4: Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống trứng - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.4 Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống trứng (Trang 40)
Hình 4.6: Hệ số thành thục sinh dục của cá bống trứng - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.6 Hệ số thành thục sinh dục của cá bống trứng (Trang 41)
Hình 4.7: Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống trứng đực và cái - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.7 Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống trứng đực và cái (Trang 42)
Bảng 4.5: Sức sinh sản (SSS) của cá bống trứng ở huyện Châu Thành - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Bảng 4.5 Sức sinh sản (SSS) của cá bống trứng ở huyện Châu Thành (Trang 43)
Hình 4.8: Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và SSS tuyệt đối của - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.8 Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và SSS tuyệt đối của (Trang 44)
Hình 4.10: Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.10 Tỷ lệ các GĐTT của buồng trứng cá bống cát (Trang 46)
Hình 4.12: Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.12 Hệ số thành thục sinh dục của cá bống cát (Trang 47)
Bảng 4.6: Sức sinh sản (SSS) của cá bống cát ở huyện Châu Thành - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Bảng 4.6 Sức sinh sản (SSS) của cá bống cát ở huyện Châu Thành (Trang 49)
Hình 4.14: Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và SSS tuyệt đối của - xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh học của cá bống cát glossogobius giuris hamilton, 1822 và cá bống trứng eleotris melanosoma bleeker, 1853 phân bố ở huyện châu thành, tỉnh hậu giang
Hình 4.14 Phương trình hồi qui giữa khối lượng thân cá và SSS tuyệt đối của (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm