CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1.1. Khái niệm về quản lý Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, có thể xác định những quan niệm sau: - Quản lý là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung của nhóm. - Quản lý là việc đảm bào sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục ở hệ thống và môi trường để chuyển hệ thống đến trạng thái mới, thích ứng với hoàn cảnh mới. - Quản lý là tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống các bộ luật, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng. - Quản lý là tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện những đường lối chính quyền quy định, là tổ chức đưa vào định hướng hoạt động tốt. - Quản lý là tác động có mục đích, có kết hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến. Có thể hiểu quản lý như sau: • Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm hoàn thành công việc thông qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức. • Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức. • Quản lý là những tác động có mục đích lên tập thể người, thành tố cơ bản của xã hội. • Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay là một nhóm xã hội. • Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bào phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. • Quản lý tồn tại vói tư cách là một hệ thống. Vậy quản lý luôn luôn có một cấu trúc bao gồm chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, cơ chế quản lý. Quản lý vận động trong một môi trường xác định nhằm mục đích đưa hệ thống đến mục tiêu đề ra. Từ đó, ta có thể thấy đặc trưng chung cơ bản của hoạt động quản lý là cách thức tác động (sự tác động có mục đích, có hướng đích…) của chủ thể quản lý (người quản lý) lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức - nhân lực, tài lực - vật lực và bằng cả chính năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động thường xuyên của môi trường. Quản lý có những chức năng sau đây: Quản lý là hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ phạm vi cá nhân, tập thể, quốc gia. Quản lý có ý nghĩa quyết định và sống còn của chủ thể tham gia các hoạt động xã hội. Quản lý đúng đắn dẫn đến thành công, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững. Quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển, còn quản lý sai dẫn đến thất bại, diệt vong của tổ chức. Mỗi tổ chức là sự kết hợp của nhiều người với những mục tiêu giống nhau. Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo ra niềm tin, sức mạnh và truyền thống, tận dụng được mọi cơ hội, sức mạnh tổng hợp của tổ chức qua sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân trong tổ chức. Chức năng quản lý là hình thức biểu thị sự tác động của chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý, là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong suốt quá trình quản lý, chức năng quản lý có thể coi là những nhiệm vụ có tính nghề nghiệp mà các nhà quản lý của bất cứ ngành nào cũng phải thực hiện trong quá trình quản lý. Theo các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý, quá trình quản lý có 4 chức năng cơ bản. Các chức năng này quan hệ mật thiết với nhau để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đề ra với kết quả tốt nhất và chi phí nhỏ nhất. Bốn chức năng đó là: Kế hoạch hóa (planing), tổ chức (organizing), chỉ đạo (leading) kiểm tra (controlling). Các chức năng này có quan hệ khăng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG VĂN THỂ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC THÔNG QUA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH THÁI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Khái niệm về quản lý 5
1.1.2 Quản lý giáo dục 11
1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục 16
1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin 16
1.2.2 Công nghệ thông tin có những đặc điểm sau: 16
1.3 Những vấn đề liên quan đến quản lý đào tạo 19
1.3.1 Đặc điểm của công tác quản lý đào tạo vừa làm vừa học 19
1.3.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo 21
Chương 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm chung của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên 28 2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên 33
2.3 Năng lực sử dụng CNTT và nhu cần ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo 35 2.4 Một số nhận xét về thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý đào tạo 36
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP 39
3.1 Nguyên tắc đề xuất 39
3.2 Nội dung các giải pháp 40
3.3 Khảo nghiệm các giải pháp 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở tất cả các nước trên thế giới khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, giáo dục đại học đều là thành trụ cột cho sự phát triểnkinh tế - xã hội nói chung và khoa học giáo dục nói riêng của các nước đó.Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này: giáo dục đại học là đào tạonguồn nhân lực trình độ cao, có chất lượng để đáp ứng những đòi hỏi của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội cho từng địaphương và cả nước; giáo dục đại học là hạt nhân cơ bản để xây dựng nền kinh
tế tri thức.
Thực hiện quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo: “Giáo dục chomọi người”; “Cả nước trở thành một xã hội học tập”, giáo dục đại học ViệtNam còn phải thực hiện bước chuyển từ “Đại học tinh hoa” sang “Đại học đạichúng” nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, học thường xuyên, học suốt đời ngàycàng cao của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Con đường tất yếu phải thựchiện là “phát triển nhanh quy mô; đồng thời phải bảo đảm về chất lượng”.Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Đẩy mạnh giáo dụctrong nhân dân bằng các hình thức chính quy và không chính quy, thực hiệngiáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập” Như vậy,cùng với giáo dục đại học chính quy, giáo dục đại học không chính quy(trong đó có cả hệ vừa làm vừa học) đóng vai trò quan trọng trong việcthực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010của đất nước
Thực hiện mục tiêu mở rộng đào tạo đại học theo hướng phát triểnnhanh quy mô, đảm bảo chất lượng, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnhThái Nguyên đã liên kết với các trường Đại học tổ chức đào tạo các lớp đạihọc vừa làm vừa học đáp ứng nhu cầu của người lao động Nhưng cùng với
Trang 5sự tăng trưởng về số lượng các lớp, số lượng, chất lượng đào tạo vẫn còn làđiều phải làm cho cả xã hội quan tâm Chất lượng đào tạo vừa làm vừa họctrong nhiều năm đã xuống cấp do nhiều lý do Một trong những lý do làm chochất lượng giảm sút là ở khâu quản lý.
Công nghệ thông tin là một ngành khoa học mới, là một trong nhữngngành thuộc lĩnh vực công nghệ cao Điều này đã được Nhà nước xác định rõràng trong Luật Công nghệ cao năm 2008 và được ưu tiên phát triển Nghịđịnh 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 đã xác định quan điểm phát triểnngành công nghệ mũi nhọn theo hướng tiếp thu những thành công của côngnghệ ngoài nước, đồng thời phát triển công nghệ trong nước, ứng dụng vàoquản lý các ngành kinh tế - xã hội, dịch vụ… Công nghệ thông tin ở ViệtNam đang trong giai đoạn phát triển rất mạnh, sâu sắc, toàn diện Thiết bị củangành công nghệ thông tin càng ngày càng phổ biến trong cuộc sống cũngnhư trong các ngành khoa học Những kiến thức về tin học nay đã trở thànhkiến thức phổ dụng, kỹ năng về tin học hiện nay được coi như những kỹ năngthông thường được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày như đọc, nói, viết Cơ
sở hạ tầng về truyền thông càng ngày càng phát triển mạnh, rộng rãi, tốc độtruyền tin ngày càng cao Hiện nay, thông tin được phổ biến rộng rãi, nhanhchóng bằng nhiều phương tiện khác nhau, các phương tiện truyền thông được
sử dụng một cách dễ dàng, đơn giản và phổ thông
Trong bối cảnh đó, hiện nay, nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị đã ứngdụng toàn diện và khá triệt để công nghệ thông tin trong quản lý Việc ứngdụng công nghệ cao vào quản lý đưa lại hiệu quả lớn như tốc độ nhanh, độchính xác, độ tin cậy cao, không cần sức người can thiệp nhiều Ban giám đốcTrung tâm đã rất quan tâm đến vấn đề này, đã có nhiều đầu tư cụ thể chocông nghệ thông tin Song việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đàotạo tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên chưa được phát triển tương xứng
Trang 6Vì các lý do nêu trên tôi chọn đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học thông qua ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên để nghiên cứu.
2 Mục đích của đề tài
Đề tài này nhằm đề ra những biện pháp, yêu cầu, quy định nhằm nângcao chất lượng quản lý đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học thông quaviệc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo, nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo hệ vừa làm vừa học
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những nội dung quản lý liên kếtđào tạo hệ vừa làm vừa học, những khâu trong quá trình có thể sử dụng côngnghệ thông tin có hiệu quả Phạm vi nghiên cứu tại Trung tâm Giáo dụcthường xuyên tỉnh Thái Nguyên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những lý luận về quản lý, quản lý đào tạo
- Nghiên cứu thực trạng của việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạotại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo dựavào việc tăng cường ứng dụng CNTT
5 Giả thuyết khoa học
Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên đã có nhữngthành tựu nhất định trong quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học, nhưng vẫn cònnhững điểm hạn chế Việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo đã mang lạinhững hiệu quả nhất định Nếu tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý đàotạo hệ vừa làm vừa học thì sẽ có những kết quả lớn hơn
Trang 76 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận Gồm những quan điểm, những địnhhướng để soi sáng, định hướng cho quá trình nghiên cứu Nghiên cứu lý luậngiúp cho việc ứng dụng trong thực tế được linh hoạt, theo đúng mục tiêu mụcđích đã xác định
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Gồm các phương pháp điều trabằng anket, phương pháp nghiên cứu thực tế, quan sát, phỏng vấn
- Phương pháp toán học Phương pháp toán học để thống kê, tính toántrên các số liệu thu thập được từ thực tế
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lýthông qua việc ứng dụng CNTT tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnhThái Nguyên
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 64 trang (không kể phụ lục và tài liệu tham khảo), gồmphần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến nghị
Phần mở đầu nêu những vấn đề chung của đề tài
Phần nội dung bố trí thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2 Thực trạng vấn đề nghiên
cứu Chương 3 Một số giải pháp
Phần kết luận và khuyến nghị nêu những kết luận và khuyến nghị củatác giả
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, có thể xác định những quanniệm sau:
- Quản lý là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những conngười kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mụctiêu chung của nhóm
- Quản lý là việc đảm bào sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có
sự biến đổi liên tục ở hệ thống và môi trường để chuyển hệ thống đến trạngthái mới, thích ứng với hoàn cảnh mới
- Quản lý là tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lênkhách thể quản lý bằng một hệ thống các bộ luật, chính sách, nguyên tắc,phương pháp, biện pháp nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của đối tượng
- Quản lý là tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện những đường lốichính quyền quy định, là tổ chức đưa vào định hướng hoạt động tốt
- Quản lý là tác động có mục đích, có kết hoạch của chủ thể quản lýđến tập thể những lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiệnđược những mục tiêu dự kiến
Có thể hiểu quản lý như sau:
Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm hoàn thành công việc thông qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức
Trang 9 Quản lý là những tác động có mục đích lên tập thể người, thành
tố cơ bản của xã hội
Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay là một nhóm xã hội
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bào phối hợp những nỗlực các nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm
Quản lý tồn tại vói tư cách là một hệ thống Vậy quản lý luônluôn có một cấu trúc bao gồm chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mụctiêu quản lý, cơ chế quản lý Quản lý vận động trong một môi trườngxác định nhằm mục đích đưa hệ thống đến mục tiêu đề ra
Từ đó, ta có thể thấy đặc trưng chung cơ bản của hoạt động quản lý làcách thức tác động (sự tác động có mục đích, có hướng đích…) của chủ thểquản lý (người quản lý) lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý bằng cácchế định xã hội, bằng tổ chức - nhân lực, tài lực - vật lực và bằng cả chínhnăng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềmnăng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biếnđộng thường xuyên của môi trường
Quản lý có những chức năng sau đây:
Quản lý là hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ phạm vi cánhân, tập thể, quốc gia Quản lý có ý nghĩa quyết định và sống còn của chủthể tham gia các hoạt động xã hội Quản lý đúng đắn dẫn đến thành công, tồntại, ổn định và phát triển bền vững Quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sựtồn tại, phát triển, còn quản lý sai dẫn đến thất bại, diệt vong của tổ chức
Mỗi tổ chức là sự kết hợp của nhiều người với những mục tiêu giốngnhau Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các nhược điểmcủa mình, liên kết gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo ra niềm tin, sức mạnh
và truyền thống, tận dụng được mọi cơ hội, sức mạnh tổng hợp của tổ chứcqua sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân trong tổ chức
Trang 10Theo các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý, quá trình quản lý có 4chức năng cơ bản Các chức năng này quan hệ mật thiết với nhau để đưa tổchức đạt đến mục tiêu đề ra với kết quả tốt nhất và chi phí nhỏ nhất Bốn chứcnăng đó là: Kế hoạch hóa (planing), tổ chức (organizing), chỉ đạo (leading)kiểm tra (controlling) Các chức năng này có quan hệ khăng khít với nhau tạothành chu trình quản lý.
Sơ đồ 1: Mối liên hệ của các chức năng quản lý
Chức năng kế hoạch hóa: là hoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của tổchức, bao gồm xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức trong từng giai đoạn,thời kỳ và từ đó định ra biện pháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mụcđích đó
Trang 11Việc lập kế hoạch là phải trả lời được các câu hỏi là làm những gì (nộidung công việc), làm như thế nào (cách thức thực hiện, phương án thực hiện,cách làm), làm khi nào (thời gian thực hiện), ai làm (phân công con người cụthể) Lập kế hoạch là công việc phải có sự suy tính, đòi hỏi có sự bàn bạc, cânnhắc của nhiều người, càng có nhiều người tham gia suy nghĩ thì ý thức tậpthể và tinh thần trách nhiệm chung càng được nâng cao Lập kế hoạch trước
sẽ tránh được các hoạt động rời rạc, tùy tiện, không cân nhắc trước và nó sẽ là
cơ sở đảm bảo cho quá trình quản lý đạt được hiệu quả cao
Có thể coi kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và phương pháptốt nhất để đạt mục tiêu đó Mục tiêu càng cụ thể, càng rõ ràng, càng có cơ sởkhoa học để thực hiện tốt các công việc của tổ chức Đây chính là việc quảntrọng nhất của kế hoạch
Tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thànhviên, giữa các bộ phận trong tổ chức với nhau mà nhờ cấu trúc đó, chủ thểquản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thựchiện thành công kế hoạch, tức là đạt được mục tiêu, mục đích mà kế hoạch đãđặt ra
Tổ chức là thực hiện những việc đã được lãnh đạo xác định trong thực tiễn Chức năng tổ chức trong quản lý gồm 4 nội dung cơ bản
- Xây dựng cơ cấu tổ chức hay bộ máy tổ chức trong đơn vị quản lý.Nội dung này đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm bắt được những công việc màđơn vị cẩn phải thực hiện để đạt được mục tiêu chung Thông qua yêu cầu,tính chất của những công việc, chủ thể quản lý phải xây dựng cho được cơcấu bộ máy để thực hiện tốt, có hiệu quả các nhiệm vụ nhằm đưa tổ chức đếnđược mục đích đề ra
- Xây dựng cơ chế vận hành bộ máy: các kiểu quan hệ quản lý, cácquyền hạn, các vấn đề phân quyền và ủy quyền trong quản lý Trong quản lý
Trang 12đội ngũ công chức hiện nay có năm loại hình quan hệ quản lý, đó là: quan hệchỉ huy - phục tùng, quan hệ chức năng, quan hệ tham mưu, quan hệ hợp tác
và quan hệ đại diện Người quản lý cần lựa và sử dụng phối hợp các kiểuquan hệ cho phù hợp với đối tượng và yêu cầu của cơ cấu tổ chức, của côngviệc cụ thể thì quá trình quản lý mới có hiệu quả tốt
Công tác nhân sự là một khâu trong công tác quản lý con người thểhiện ở tuyển dụng, lựa chọn cán bộ cho bộ máy theo phương châm “đúngngười, đúng việc”, áp dụng đúng chế độ chính sách đối với người lao động,biểu hiện cụ thể ở hoạch định, tuyển chọn, đánh giá cán bộ, duy trì, phát triển,
sử dụng nhân sự và cán bộ Tạo điều kiện cho tài nguyên nhân sự phát triểnthông qua cơ cấu tổ chức nhằm đạt tốt hơn mục tiêu của tổ chức
Tổ chức công việc khoa học theo trình tự từ công việc tới các bộ phậntrong cơ quan Tổ chức lao động theo khoa học là thực hiện công việc sao chođạt năng suất cao, đồng thời bảo vệ sức khỏe, tạo ra niềm vui, cảm giác hạnhphúc, sự hứng thú cho con người trong lao động, đồng thời giúp cho đơn vịphát triển bền vững
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau,
có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những tráchnhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu nhằmđảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích của tổ chức
Cơ cấu tổ chức còn là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vựcquản lý, có tác động đến quá trình hoạt động của tổ chức Cơ cấu tổ chức, mộtmặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi người trong hệ thống, mặt khác tácđộng tích cực trở lại đến việc phát triển của tổ chức
Chức năng tổ chức là chức năng quan trọng tiếp sau chức năng
kế hoạch
Trang 13- Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo) là phương thức tác động của chủ thểquản lý nhằm điều hành sao cho các thành viên, các bộ phận liên kết nhất trícao, động viên cổ vũ họ vận hành theo đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu,mục đích của quản lý.
Chỉ đạo là nhìn cho rõ những “việc phải làm” Lãnh đạo là một quátrình, một nghệ thuật tác động vào con người sao cho họ không những chỉtuân thủ các mệnh lệnh mà còn tự nguyện và hăng hái làm việc để đạt cácmục tiêu của tổ chức Lãnh đạo làm sao cho cán bộ dưới quyền tự nguyệntuân thủ mới là quan trọng, làm sao tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạtđộng theo mục tiêu của tổ chức một cách tự nguyện và hết lòng
- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý tácđộng lên khách thể quản lý, đối tượng quản lý nhằm đánh giá và xử lý các kếtquả vận hành của tổ chức Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đạt được trênthực tế, đối chiếu với các tiêu chuẩn đã xây dựng, thu các thông tin phản hồi,phát hiện những sai lệch và đề ra một chương trình hành động nhằm khắcphục các sai lệch để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch đề ra
Kiểm tra là nhằm chủ động ngăn chặn các nhầm lẫn, sai phạm có thể xảy
ra trong quá trình quản lý tổ chức Kiểm tra là nhu cầu của mọi thành viên đúngmực trong hệ thống, là nhu cầu nhằm hoàn thiện các quy định về nhiều mặt,nhiều lĩnh vực của hệ thống để khẳng định được sự đúng sai của đường lối
Kiểm tra là chức năng làm cho hoạt động quản lý đảm bảo tính phùhợp, thích ứng với môi trưởng, đảm bảo tính khả thi và tính thực tiễn của kếhoạch, tiến tới hoàn thiện mục tiêu, mục đích của tổ chức trong môi trườngbiến đổi không ngừng Kiểm tra giúp cho người lãnh đạo nắm được trạng thái
cụ thể của tổ chức, biết được công việc của tổ chức đang được thực hiện ởmức độ nào, chất lượng công việc như thế nào, công việc đang thực hiện đếnkhâu nào Kiểm tra cần đem lại những thông tin chân thực, đúng đắn, khách
Trang 14quan, giúp cho nhà quản lý có những quyết định quản lý đúng, phù hợp vớithực tế khách quan của tổ chức Chức năng kiểm tra có ý nghĩa rất quan trọngtrong quá trình quản lý, các nhà nghiên cứu đã khẳng định: quản lý, lãnh đạo
mà không có kiểm tra thì coi như không có quản lý, không có lãnh đạo
1.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phốihợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêucầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thườngxuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người,tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục đượchiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thốnggiáo dục quốc dân
Quản lý còn được coi là hoạt động phân công lao động trong một sựhợp tác, cộng tác cùng thực hiện một mục đích Theo cách hiểu này, quản lý
là sự chăm sóc, giữ gìn, sửa sang, sắp xếp để sự phân công trong cộng đồngđược ổn định và phát triển Giáo dục là một bộ phận của kinh tế - xã hội,mạng lưới nhà trường là một bộ phận của hạ tầng kinh tế xã hội, do vậy, quản
lý giáo dục là một quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sựphân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội
Quản lý giáo dục - quản lý nhà trường là sự tổ chức các hoạt động dạyhọc, có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhàtrường phổ thông theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là cụ thể hóa đườnglối giáo dục của Đảng, biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầucủa nhân dân, của đất nước
Trang 15Quản lý giáo dục (cụ thể hơn là quản lý nhà trường) là một hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáodục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa,
mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ tới mụctiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luậtcủa chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thốngnhằm đảm bảo sự vận hành bình thưởng của các cơ quan trong hệ thống giáodục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả vể số lượng vàchất lượng
Đặc điểm của quản lý giáo dục
- Quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý Nếukhông có chủ thể quản lý thì vấn đề quản lý là vô nghĩa Có thể có chủ thểnhưng chỉ là danh nghĩa, hình thức, thực chất là đã không có hoạt động quản
lý trong tổ chức và các cá nhân trong tổ chức hoạt động một cách vô tổ chức.Nếu có nhiều chủ thể quản lý, thì đối tượng bị quản lý khó mà tồn tại pháttriển bình thường, vì việc quản lý thành quá phức tạp, có nhiều tác động củacác chủ thể quản lý khác nhau
- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến quá trình thông tin và đều có mốiliên hệ ngược Thông tin là những tín hiệu mới, được thu nhận, có thể hiểuđược và được đánh giá là có ích đồi với hoạt động quản lý Chủ thể quản lýmuốn tác động lên đối tượng bị quản lý thì phải đưa ra các thông tin điềukhiển (mệnh lệnh, quyết định…) Đối tượng bị quản lý cần định hướng, thayđổi thì cần tiếp nhận thông tin của cấp trên (chủ thể quản lý) cùng các đảm
Trang 16bảo vật chất để thực hiện mệnh lệnh của chủ thể Sau khi đưa ra các quyếtđịnh cùng với những đảm bảo vật chất cho đối tượng, họ phải thường xuyêntheo dõi kết quả thực hiện mệnh lệnh của đối tượng bị quản lý thông qua cácthông tin phản hồi, đó là các liên hệ ngược của quá trình quản lý.
- Quản lý luôn có sự thích nghi và biến đổi Điều này được xét trên cảhai khía cạnh Khi đối tượng quản lý phát triển về số lượng, nâng cao về chấtlượng, phức tạp hơn về quan hệ thì chỉ thể quản lý tiếp tục đổi mới quá trìnhquản lý thông qua việc tổ chức lại hệ thống và phân cấp quản lý trong tổ chức.Khi chủ thể quản lý không đáp ứng được nhu cầu quản lý như xơ cứng, độcđoán, lỗi thời thì đối tượng bị quản lý sẽ biến đổi thích hợp để tồn tại, thíchứng với tác động quản lý của chủ thể
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuât:
Nó là khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp luậnriêng, có phương pháp thực hiện cụ thể Quản lý đồng thời là một nghệ thuật
vì nó tùy thuộc vào một phần tài nghệ, bản lĩnh, kinh nghiệm, sự nhạy cảm,
sự phù hợp của chủ thể quản lý Quản lý còn là một nghề với nghĩa các nhàlãnh đạo tổ chức, họ phải được đào tạo, phải tri thức khoa học ở các cấp độkhác nhau, hoặc ít nhất họ phải có chuyên gia về lĩnh vực quản lý làm trợ lýcho họ
Đặc điểm công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học:
- Lịch học linh hoạt, đa dạng, liên kết với nhiều trường khác nhau,phong cách giảng dạy khác nhau với từng loại hình, từng lớp Hoạt động đàotạo vừa làm vừa học được thực hiện trong thời gian địa điểm khác nhau so vớiđào tạo chính quy
Trang 17Bảng 1: Sự khác nhau giữa đào tạo chính quy và vừa làm vừa học
Giảng viên chủ yếu là cơ hữu của
trường
Giảng viên chủ yếu là thỉnh giảng từ các trường
Lịch học cố định theo học kỳ Lịch học có thể thay đổi
Chương trình đầy đủ Chương trình gần như đầy đủ
Thời gian học vào các ngày trong
- Đối tượng quản lý
Giáo viên là các giáo viên từ các trường, các cơ sở đào tạo đến giảngdạy tại Trung tâm
Sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm đa phần là các cán bộ côngchức làm việc trong những cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh và một sốtỉnh lân cận
- Chủ thể quản lý: Chủ thể quản trong đào tạo vừa làm vừa học là sựkết hợp giữa Trung tâm và trường liên kết đào tạo thực hiện Trung tâm chịutrách nhiệm tổ chức quản lý hoạt động học của Trường liên kết quản lýchuyên môn, phối hợp với Trung tâm quản lý việc dạy của giảng viên
- Nội dung quản lý
+ Hoạt động dạy: Khi các trường liên kết cử giáo viên đến giảng dạy,Trung tâm yêu cầu xuất trình giấy báo giảng Giấy báo giảng gồm các thôngtin về giảng viên, môn học, số tiết của môn học, số bài thi và kiểm tra của
Trang 18môn học, thời gian thực hiện môn học Trong quá trình học, Trung tâm theodõi quá trình dạy thông qua nhiều kênh thông tin như qua giáo viên chủnhiệm, qua những người phục vụ, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, diễn biến tâm
lý để điều chỉnh kịp thời Kết thúc môn học, Trung tâm xác nhận số tiết giảngviên lên lớp theo thực tế, nhận xét quá trình thực hiện quá trình dạy của giảngviên, lưu một bản sao
+ Hoạt động học của sinh viên: Khi có lịch học từ các trường liên kết,Trung tâm thông báo tới sinh viên, bố trí phòng học, bố trí các trang thiết bị
đồ dùng dạy học cần thiết cho giảng viên lên lớp Trong quá trình học, Trungtâm theo dõi, đánh giá sự chuyên cần của sinh viên, kết hợp với giảng viênnhận xét sự chuyên cần của sinh viên, quyết định những sinh viên không đủđiều kiện dự thi hết môn
Lực lượng tham gia quá trình quản lý chủ yếu là cán bộ giáo viên củaTrung tâm Ngoài ra, Trung tâm kết hợp với các giảng viên trực tiếp giảngdạy để thực hiện quá trình quản lý Giảng viên đến giảng tại Trung tâm làngười tiếp xúc với đều đặn hàng ngày, nên khi có những biểu hiện bất bìnhthường của sinh viên thì nắm bắt kịp thời Phối hợp với giảng viên giảng dạytại các lớp là biện pháp quản lý rất hiệu quả
Trang 19Hệ thống công nghệ thông tin của Trung tâm Hệ thống CNTT củaTrung tâm đã phụ vụ phần nào cho công tác quản lý, song vẫn đang ở mức độđơn lẻ, không tập trung Chủ yếu là phục vụ lưu trữ, xử lý danh sách, mộtphần giáo viên quản lý lớp đã dùng CNTT để xử lý điểm, xử lý việc đánh giámức độ chuyên cần của sinh viên.
1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục
1.2.1 Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (CNTT) là tập hợp các phương pháp khoa học, cácphương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính vàviễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tàinguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon người và xã hội CNTT phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến quản lý Nhànước, nâng cao hiệu quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạtđộng kinh tế - xã hội khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống củanhân dân CNTT được phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệĐiện tử - Tin học - Viễn thông và tự động hoá (Theo Nghị định 49/CP)
1.2.2 Công nghệ thông tin có những đặc điểm sau:
- Công cụ của CNTT là hệ thống máy tính điện tử và hệ thống truyềndẫn thông tin Những công cụ, máy móc của ngành công nghệ thông tin thựchiện những thao tác xử lý thông tin rất nhanh, chính xác Các kết quả của xử
lý thông tin bằng công nghệ thông tin có độ tin cậy cao Những quyết địnhquản lý dựa trên thông tin đã được xử lý bằng nghệ thông tin vì vậy có đượctính chặt chẽ, hợp lý, có tính kịp thời nên có hiệu quả cao
Máy móc có thể hoạt động liên tục không mệt mỏi Việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong công việc có thể làm cho công việc được tiến hànhkhông ngừng trong ngay cả ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc của conngười, giảm bớt sự can thiệp cụ thể của con người
Trang 20- Công nghệ thông tin làm thay đổi tư duy của con người Thực tế chothấy, từ khi công nghệ thông tin phát triển rộng rãi, xã hội đã quen với máytính, điện thoại, và nhiều phương tiện truyền thông khác nhau Trong thời đạiCNTT phát triển, thông tin đến với con người theo nhiều con đường với nhiềuhình thức khác nhau Con người buộc phải thu thập, chọn lọc để có đượcnhững thông tin đáng tin cậy để sử dụng trong công việc Cách tư duy của conngười dần dần cũng thay đổi theo.
- Công nghệ thông tin làm thay đổi thói quen của con người Nhữngthao tác xử lý thông tin theo cách thức truyền thống không còn phù hợp vớicông việc hiện nay Con người phải thay đổi phương thức xử lý thông tin phùhợp với công việc, với hoàn cảnh hiện nay
- Công nghệ thông tin làm thay đổi cách quản lý, trong đó có quản lýđào tạo Công nghệ mới đòi hỏi phải có cách quản lý phù hợp Công nghệthông tin là một công nghệ mới, cách thức quản lý cũ không còn phù hợp nênphải thay đổi
- Công nghệ thông tin làm cho hướng lưu chuyển các luồng thông tinthay đổi cơ bản Trước đây, thông tin thường đến với các lãnh đạo trước rồiđược chuyển qua nhiều cấp đến nhân viên thực thi, thông tin ngược từ nhânviên chuyển qua nhiều cấp đến lãnh đạo xử lý Với xu hướng phát triểnCNTT, thông tin có thể chuyển theo thẳng từ lãnh đạo đến thẳng nhân viên và
từ nhân viên lên thẳng các cấp lãnh đạo mà không cần qua trung gian
Công nghệ thông tin làm thay đổi cách quản lý giáo dục và đào tạo mộtcách toàn diện Công nghệ thông tin tham gia vào tất cả các khâu trong quản
lý giáo dục một cách mạnh mẽ, có hiệu quả Thông tin được lưu chuyểnnhanh hơn, rộng rãi hơn giúp cho các nhà quản lý giáo dục phải tự thay đổimình cho phù hợp hoàn cảnh mới
Trang 21- Nội dung của CNTT đa dạng và phong phú
+ Lĩnh vực công nghệ phần cứng: Đây là lĩnh vực mà CNTT thực hiệnnhững yêu cầu sản xuất các thiết bị phục vụ công việc, tích hợp các thiết bị đểthực hiện các công việc
+ Lĩnh vực ứng dụng CNTT trong truyền thông Thông tin được xử lýtrong một hệ thống, trong một địa điểm cụ thể thì không truyền bá được chonhiều người dùng Truyền thông giúp cho thông tin được truyền đến nhiềungười, nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới, làm thông tin được quảng bárộng rãi CNTT thực hiện khâu chuẩn bị để dữ liệu được đóng gói, đượcchuyển hóa thành tín hiệu phù hợp với yêu cầu của đường truyền dẫn vật lýsẵn có như mạng điện thoại, cáp quang… Lĩnh vực truyền thông là một cơ sởquan trọng của việc ứng dụng internet để truyền dẫn thông tin
+ Lĩnh vực phần mềm ứng dụng Phần mềm là hệ thống chương trìnhchạy trên máy tính để thực hiện một công việc cụ thể nào đó Phần mềm rất
đa dạng và do các hãng phần mềm thiết kế Muốn máy tính thực hiện mộtcông việc cụ thể nào đó, thì cần phải cài đặt phần mềm tương ứng lên máytính đó Như vậy phần mềm rất quan trọng trong việc ứng dụng CNTT vàocông việc
- Các phần mềm quản lý đào tạo Các cơ sở đào tạo khác đã ứng dụngnhững phần mềm chuyên biệt để quản lý đào tạo Đơn cử một số phần mềmnhư sau:
Trang 22+ Phần mềm hỗ trợ ra đề thi trắc nghiệm.
- Khả năng vận dụng vào quản lý đào tạo: Những phần mềm nêu trên
có khả năng ứng dụng lớn trong công tác quản lý đào tạo tại Trung tâm Tuynhiên, do những đặc thù riêng biệt của Trung tâm, những phần mềm đó cònmột số điểm chưa phù hợp
- Điều kiện để ứng dụng CNTT vào quản lý
+ Trình độ về CNTT của cán bộ, giáo viên phải đạt đến mức độ nhất định
+ Hạ tầng cơ sở phải đáp ứng đầy đủ cho ứng dung CNTT vào quản lý:
Hệ thống máy tính, hệ thống mạng nội bộ, mạng internet…
Trong phạm vi đề tại này, khái niệm “CNTT” được hiểu ở mức độphạm vi là quy trình sử dụng các phần mềm ứng dụng và hệ thống mạng máytính trong việc lập kế hoạch, tổ chức đào tạo và quản lý kết quả học tập
1.3 Những vấn đề liên quan đến quản lý đào tạo
1.3.1 Đặc điểm của công tác quản lý đào tạo vừa làm vừa học
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thểquản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm làm cho đơn vị đạt đến mụctiêu đề ra
Quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt động quản lý trong lĩnh vực giáodục nhằm làm cho các cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu đề ra Mục tiêu củacác đơn vị giáo dục là thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo nguồn nhân lựcđáp ứng nhu cầu của xã hội Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất củacác cơ sở giáo dục Ngoài ra, quản lý giáo dục phải tạo được sự phát triểnvững chắc, ổn định cho tổ chức
Giáo dục thường xuyên là một thành tố trong hệ thống giáo dục quốcdân, song song với giáo dục chính quy Giáo dục thường xuyên giúp mọingười vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm nâng cao trình độ học
Trang 23vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm,
tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Một trong những hình thứchọc tập của giáo dục thường xuyên là đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học
Đó là hình thức mà người học vẫn công tác tại đơn vị, tổ chức, doanh nghiệpnhưng vẫn có thể tham gia học tập tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên
để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
Do vậy, đào tạo vừa làm vừa học tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên
có những đặc trưng sau:
- Giáo viên: Trung tâm đào tạo theo nhu cầu xã hội, nên khi xã hội cóyêu cầu một ngành nghề nào đó, Trung tâm sẽ liên kết với cơ sở đào tạo cóthể đào tạo ngành nghề đó Nhu cầu của xã hội rất đa dạng nên Trung tâmphải liên kết với nhiều cơ sở đào tạo khác nhau Ngoài quy chế chung, mỗi cơ
sở đào tạo có những quy định khác nên giáo viên giảng dạy cũng có nhữngphong cách giảng dạy, quản lý khác nhau
- Đối tượng người học: sinh viên hệ vừa làm vừa học chủ yếu là nhữngngười đang làm việc trong một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức Thờigian học của sinh viên được Trung tâm bố trí trong thời gian nghỉ của cán bộcông chức như các buổi tối, thứ bảy, chủ nhật và trong các dịp nghỉ hè đối vớigiáo viên
- Cách thức tổ chức dạy học: vì đặc điểm của như trên, nên cách thứchọc được Trung tâm bố trí cho phù hợp Sinh viên được tổ chức học theo lối
“cuốn chiếu”, tức là học liên tục một học phần Giáo viên lên lớp cả một đợtvài ngày cho một môn học Kết thúc, giáo viên cho đề cương ôn, bài tập yêucầu tự ôn tập, làm bài tập tại cơ sở
- Phương pháp học tập của sinh viên: việc tự học của sinh viên đượccoi trọng hơn, thời lượng học trên lớp của sinh viên vừa làm vừa học có thể
Trang 24ngắn hơn so với thời gian học trên lớp của sinh viên chính quy cùng chuyênngành Mặt khác, số lượng sinh viên trong một lớp của hình thức vừa làm vừahọc thường đông hơn so với chính quy, giảng viên không thể quan tâm chi tiếtđến từng sinh viên nên sinh viên phải tự học nhiều hơn trong thời gian nghỉ.
1.3.2 Ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo
CNTT là ngành khoa học công nghệ cao, nó có nhiều tác dụng trongcuộc sống xã hội, mang lại hiệu quả lớn trong mọi mặt của xã hội trong đó cóquản lý Ứng dụng CNTT làm cho việc quản lý trở nên sâu sát hơn, cụ thểhơn, người quản lý không mất nhiều thời gian vào những việc cụ thể mà dànhnhiều thời gian hơn cho công việc hoạch định chiến lược cho tổ chức, cho đơnvị
- Tác dụng của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy của giáo viên
+ CNTT làm cho tất cả các thông tin được cập nhật nhanh chóng, cácthông tin của đơn vị được công khai với cộng đồng Sự công khai thông tinlàm cho cộng đồng đánh giá được đơn vị, làm cho đơn vị thân thiện với cộngđồng, với người học Thông tin được công khai cũng làm cho cộng đồng chấpnhận đơn vị, làm cho gia đình, đơn vị chủ quản đơn vị nắm được tình hìnhhọc tập của con em, của nhân viên mình kịp thời Ngoài ra, CNTT giúp ngườihọc có thể tham khảo thông tin phục vụ bài học, có thể tự học trong nhữngthời gian khác nhau, ở những địa điểm khác nhau, làm cho trở nên chủ độnghọc tập theo hướng “trường học thân thiện, sinh viên tích cực”
+ CNTT làm cho quá trình quản lý nhanh chóng, chính xác, kịp thời.Máy tính là một công cụ chủ yếu trong CNTT, máy tính thực hiện nhữngphép tính toán rất nhanh và chính xác Công nghệ truyền thông đã dần tiến tớitrình độ hoàn thiện ở mức độ cao nên thông tin được truyền đi nhanh chóng,rộng khắp Nhờ CNTT, thông tin quản lý được truyền đến người quản lý hầu
Trang 25như tức thì, trực tiếp không thông qua khâu trung gian nên người quản lý nắmbắt được thông tin một cách nhanh chóng, chân thực Từ nguồn thông tin đó,người quản lý có thể xử lý thông tin quản lý kịp thời và chính xác.
+ CNTT làm cho những quyết định quản lý sát với thực tế đang diễn ra,làm cho quyết định quản lý có hiệu quả hơn Do xã hội luôn luôn thay đổi nêntrạng thái của đơn vị biến đổi không ngừng Các quyết định quản lý cũng vìvậy mà không đồng nhất như nhau trong thời điểm khác nhau Tốc độ thayđổi của xã hội hiện đại càng nhanh càng yêu cầu người lãnh đạo phải cânnhắc tức thời để ra được quyết định quản lý phù hợp với tình hình thực tế.CNTT giúp cho việc cân nhắc các điều kiện thực tế một cách nhanh chóng,đặc biệt là việc tính toán các đại lượng có thể đo đếm được Khả năng tínhtoán của CNTT có thể là một cơ sở để hỗ trợ cho các nhà quản lý ra quyếtđịnh một cách đúng đắn một cách nhanh nhất, dành nhiều thời gian hơn vàocông việc khác
- Tác dụng của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
+ CNTT làm cho người thầy nhanh chóng nắm bắt thông tin, cập nhậtnhững kiến thức mới, làm cho bài giảng phong phú, sinh động Dưới con mắtcủa người học, người thầy là một tấm gương về tri thức Nguồn tri thức xã hộiluôn phát triển theo dòng thời gian, càng về thời gian gần đây, lượng tri thức
đó càng được phát triển với gia tốc lớn hơn Trong những tri thức đó, cónhững thông tin không có lợi ẩn vào đó, náu mình trong khối thông tin đó,ngụy trang bởi những lý luận có vẻ hợp lý, khoa học Các thông tin đó nhanhchóng đưa lên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nên mọi người đều biết.Muốn giữ vững vị trí của mình trong con mắt của người học, người thầy phảiluôn cập nhật kiến thức mới, những tri thức mới để hướng dẫn cho người học.Hơn nữa, người thầy cần phải phân biệt được thông tin cần thiết cho cuộc
Trang 26sống xã hội, những thông tin nào không có lợi cho cuộc sống để định hướng cho người học để phòng tránh.
+ CNTT giúp cho sinh viên quan sát những hiện tượng tự nhiên lớnmột cách dễ dàng, giúp sinh viên quan sát những thí nghiệm nguy hiểm màkhông làm ảnh hưởng đến sức khỏe của sinh viên, giúp tiết kiệm những đồdùng dạy học đắt tiền Một trong thế mạnh của công nghệ thông tin là sự môphỏng các hiện tượng tự nhiên Công nghệ mô phỏng làm cho thế giới tựnhiên trở nên trực quan, sinh động hơn Sinh viên có thể quan sát trên những
mô phỏng về một số hiện tượng thực tế mà con người không thể quan sát trựctiếp được Từ đó giúp cho người học nắm vững kiến thức hơn Người họccảm thấy những giờ học nhẹ nhàng hơn, hứng thú hơn, góp phần làm chotrường học trở nên một môi trường thân thiện
+ CNTT làm cho quá trình dạy học được mở rộng về không gian vàthời gian, giúp cho các giáo viên có trình độ cao có thể giảng cho nhiều sinhviên cùng học Công nghệ truyền dẫn thông tin của ngành CNTT làm chothông tin được truyền đến nhiều nơi trên thế giới một cách nhanh chóng vàvới giá thành càng ngày cảng giảm Việc giá thành truyền thông tin giảmnhanh làm cho việc truyền thông tin trở nên phổ biến và nhiều người có thể sửdụng được công nghệ này Sự phổ biến của CNTT thể hiện ở hệ thống mạnginternet Hiện nay, mạng internet phổ biến khắp mọi nơi từ thành phố đếnnông thôn và trở nên thân thiện với người sử dụng Số lượng người biết sửdụng internet và số thuê bao internet tăng lên nhanh chóng Sự gia tăng nàycàng thúc đẩy các hãng kinh doanh trong lĩnh vực thông tin đầu tư vào việcthu thập, lưu trữ thông tin, tăng cường việc cải tiến, bổ sung tính năng của cácchương trình tìm kiếm nhằm làm cho người sử dụng dễ dàng tìm kiếm thôngtin trên kho dữ liệu khổng lồ trên toàn hành tinh Hiện nay, hầu hết nhữngthông tin con người cần đến đều có thể tìm được trên internet
Trang 27+ CNTT làm cho người học hứng thú trong giờ học Sự ứng dụngCNTT trong dạy học làm cho các kiến thức của thầy giáo luôn sống động,luôn được cập nhật Chương trình mô phỏng những hiện tượng tự nhiên khiếncho người học không chỉ được nhìn thấy một cách trực quan mà còn làm chongười học có thể tương tác với các hiện tượng đó thông qua máy tính Thôngqua những hoạt động, quá trình nhận thức của người học trở nên tự nhiên, sâusắc hơn.
- Tác dụng của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
+ CNTT làm cho quá trình quản lý người học được rõ ràng, chính xác.Chương trình quản lý người học giúp cho các thông tin về người học luônđược xử lý một cách tự động Người học luôn biết được kết quả học tập củabản thân một cách nhanh nhất để có được những điều chỉnh cần thiết tronghọc tập của minh nhằm đạt kết quả cao hơn Thông qua những chương trìnhhọc tập, người học cũng tự đánh giá được mức độ nhận thức mà bản thân dạtđược Những thông tin về quá trình phấn đấu của người học làm cho ngườiquản lý điều chỉnh cách thức quản lý để đạt mục đích của đơn vị đề ra
+ CNTT làm cho những thông tin về quá trình học tập và phấn đấu củasinh viên được công khai hóa làm cho gia đình, xã hội được biết những nhậnxét đánh giá nhà trường đối với sinh viên Các cơ sở giáo dục cần công khainhững thông tin về quá trình phấn đấu tu dưỡng, kết quả học tập của ngườihọc cho gia đình, xã hội, cơ quan chủ quản của người học Việc công khai cácthông tin đó làm cho người học có động lực học tập hơn, làm cho người học
có ý thức học tập cao hơn CNTT và mạng internet thực hiện việc công khaihóa những thông tin đó một cách rất nhanh chóng, dễ dàng, hiệu quả Người
sử dụng chỉ cần kích chuột là có thể có được thông tin về kết quả học tập củamình, người nhà, nhân viên của mình
Trang 28+ Ứng dụng CNTT trong khâu lập kế hoạch: Hoạt động lập kết hoach
là hoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức, bao gồm xác định mụctiêu, mục đích của tổ chức trong từng giai đoạn, thời kỳ và từ đó định ra biệnpháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó CNTT giúp cho việctính toán, ước lượng, thu thập thông tin là cho kế hoạch của đơn vị sát vớimục tiêu của đơn vị, phù hợp với môi trường của đơn vị hơn Việc lập kếhoạch sát với mục tiêu, phù hợp với trạng thái của đơn vị giúp cho đơn vị chủđộng hơn trong việc thực hiện kế hoạch, làm cho đơn vị chủ động đối phó,thích ứng vơi sự thay đổi của môi trường giáo dục
+ Ứng dụng CNTT trong khâu tổ chức: Tổ chức là sự hình thành nêncấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chứcvới nhau mà nhờ cấu trúc đó, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lýmột cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện thành công kế hoạch, tức là đạt đượcmục tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt ra Khâu tổ chức cần thông tin chínhxác, rõ ràng, chân thực CNTT giúp cho việc thu thập thông tin nhanh, rõràng, chính xác, chân thực Những thông tin này giúp cho công tác tổ chứctrong quản lý giáo dục được chính xác, có hiệu quả
+ Ứng dụng CNTT trong khâu chỉ đạo: Chỉ đạo là hoạt động điều khiển
hệ thống, làm cho hệ thống tiến đến mục tiêu đề ra Người quản lý cần nắmđược thực trạng của hệ thống đang có vấn đề gì? Các cấp quản lý ý thức nhưthế nào về vấn đề đó? Để giải quyết vấn đề thì cần những nguồn lực nào?Hiện trạng hệ thống đã có những nguồn lực nào, đã đủ điều kiện để giải quyếtvấn đề chưa? Khâu này cần nhiều thông tin có tính khách quan, trung thực,chính xác, rõ ràng Thông tin thu được còn phải được xử lý qua các khâu ướclượng, kiểm định Thông tin làm cho người có trách nhiệm nắm được hiệntrạng của đơn vị, nắm được vị trí của đơn vị trong quá trình thực hiện mụctiêu, mục đích đề ra Việc nắm những thông tin một cách đầy đủ, trung thực
Trang 29giúp cho người quản lý ra được những quyết định sáng suốt, đúng đắn, phùhợp với trạng thái của đơn vị, giúp đơn vị đạt đến mục tiêu với một chi phíthấp nhất.
+ Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là hoạt độngnhằm thẩm đinh, xác định trạng thái của hệ thống, của đơn vị Như vậy, kiểmtra là thu thập, ghi chép các thông tin về hệ thống và so sánh các thông tin nàyvới một thước đo nhằm xác định xem hệ thống đang ở vị trí nào trong quátrình thực hiện mục tiêu của Kiểm tra có hai quá trình: thiết lập hệ thốngthang đo và thu thập các thông tin về trạng thái của hệ thông, so sánh nó vớithang đo đề ra
CNTT là một ngành rất thuận lợi cho phép triển khai kỹ thuật trắcnghiệm khách quan Kỹ thuật kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm kháchquan cho phép người quản lý tăng cường kiểm tra một cách sâu sát hơn, mởrộng hơn Người quản lý có thể thực hiện kiểm tra trắc nghiệm khách quanđến từng người học Công nghệ internet cho phép người học có thể tự kiểmtra, tự đánh giá kết quả học tập của bản thân Làm cho người học tự thẩm địnhchính mình, chuyển dần quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Việc kiểm tra để nắm bắt trạng thái của hệ thống rất quan trọng Kiểmtra cho phép đánh giá mức độ, chất lượng các công việc mà đơn vị đã thựchiện trong quá trình thực hiện mục tiêu để có những điều chỉnh kịp thời, làmcho đơn vị thực hiện mục tiêu đề ra một cách tối ưu nhất
Ứng dụng CNTT trong kiểm tra giúp cho các thông tin thu được chínhxác, chân thực, nhanh chóng làm cho kết quả kiểm tra phản ánh đúng trạngthái của hệ thống Thông tin về trạng thái đúng đắn, rõ ràng, nhanh chónggiúp cho nhà quản lý có điều kiện tăng cường hoạt động kiểm tra, giúp chonhà quản lý nhanh chóng nắm bắt được những biến đổi của hệ thống, có đượccác quyết định điều chỉnh kịp thời, làm cho hiệu quả công tác quản lý đượcnâng cao
Trang 30+ Điều kiện để đảm bảo ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo có hiệuquả Để đảm bảo việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo có hiệu quả cần
có hai yếu tố: Cơ sở vật chất đầy đủ và trình độ sử dụng CNTT của đội ngũcán bộ quản lý
Cơ sở vật chất cần đáp ứng một số điều kiện sau đây: Hệ thống thiết bịCNTT đáp ứng được những yêu cầu đề ra như cấu hình phải đảm bảo cácchương trình quản lý phải sử dụng được, hệ thống mạng nội bộ phải luônthông suốt với một tốc độ nhanh, hệ thống phải được bảo mật tốt, tránh đượcnhững can thiệp từ những người không có quyền truy cập
Trình độ CNTT của cán bộ quản lý trong đơn vị phải đạt các yêu cầu:
sử dụng thành thạo hệ thống thông tin bao gồm các chương trình ứng dụng,các chương trình quản lý, hệ thống mạng nội bộ, hệ thống mạng internet Vớicán bộ quản lý, cần biết sử dụng internet trong việc thu thập, tìm kiếm thôngtin, gửi nhận thư điện tử, biết sử dụng các chương trình ước lượng, kiểm trathông tin Với cán bộ giáo viên, cần biết các chương trình phục vụ việc giảngdạy của bản thân, biết tìm kiếm thông tin trên internet theo chủ đề, biết lưu trữ
và tổ chức lưu trữ trên hệ thống riêng của mình, hoặc lưu trữ trên hệ thốngmạng chung
Hai điều kiện nói trên phải tương xứng với nhau để những khoản đầu tưkhông bị lãng phí Nếu đầu tư tràn lan mà không nâng cao trình độ CNTT củacán bộ thì lãng phí cơ sở vật chất, nếu không đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ,phù hợp thì lãng phí năng lực của cán bộ giáo viên Cả hai trường hợp nóitrên đều dẫn đến việc ứng dụng CNTT vào quản lý không có hiệu quả
Tóm lại, CNTT có vai trò quan trọng trong quản lý giáo dục nói chung,quản lý đào tạo nói riêng Việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo vừa làmvừa học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo,chất lượng quản lý đào tạo được nâng cao dẫn đến chất lượng đào tạo đượcnâng cao
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm chung của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên
Năm 1986, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới toàn diện đấtnước, nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường với định hướng
Xã hội chủ nghĩa Những biến đổi to lớn đó mang lại nhiều thành quả cho xãhội và giáo dục cũng vì vậy mà biến đổi sâu sắc Kinh tế tri thức hình thành
và dần dần phát triển Tình hình trên đã tác động mạnh vào các cấp học,ngành học của tỉnh
Luật giáo dục xác định GDTX là nằm trong hệ thống giáo dục quốcdân GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằmhoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyênmôn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việclàm và thích nghi với đời sống xã hội
Trước tình hình đó, được sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và củaTỉnh ủy, năm 1992, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái (cũ) ra quyết định thànhlập Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng vừa làm vừa học Đến năm 1994 được đổitên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bắc Thái Năm 1997, tỉnhBắc Thái được tách thành hai tỉnh Thái Nguyên va Bắc Kạn, Trung tâm đượcđổi tên thành Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên
- Nhiệm vụ chính trị được giao
Theo các quyết định số 191/QĐ-UB ngày 25/11/1992 của Ủy ban nhândân tỉnh Bắc Thái (cũ), quyết định số 2461/QĐ ngày 07/11/1992 của Bộ Giáodục và Đào tạo bàn hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáodục thường xuyên tỉnh, quyết định số 874/TTg ngày 20/11/1996 của Thủ
Trang 32tướng đã quy định các chức năng nhiệm vụ của Trng tâm Giáo dục thường xuyên, Trung tâm có những nhiệm vụ cơ bản sau
- Tổ chức bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên của hệ thống giáo dụcthuộc địa phương, bao gồm:
+ Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường Mầm non, Tiểu học,Trung học cơ sở
+ Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên chongành giáo dục (cán bộ công đoàn, tổ trưởng chuyên môn, cán bộ quản
lý thư viện, thiết bị, cán bộ phụ trách y tế học đường…)
- Liên kết với các trường Cao đẳng, Đại học để đào tạo nâng chuẩn chođội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- Liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng để đào tạo theo phươngthức vừa làm vừa học cho đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động trongtỉnh đạt trình độ Đại học, Cao đẳng
- Tổ chức dạy ngoại ngữ, tin học theo yêu cầu của người học
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên
Trong giai đoạn này, độ ngũ cán bộ Trung tâm đã được phát triển cả về
số lượng và chất lượng Ban giám đốc đặc biệt quan tâm, đạo điều kiện đểnâng cao trình độ đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới Hàng năm,Trung tâm có kế hoạch cử cán bộ giáo viên đi đào tạo thạc sỹ hoặc đại họcbằng thứ hai
Số giáo viên cơ hữu của Trung tâm chủ yếu làm nhiệm vụ bồi dưỡngchuyên môn và nghiệp vụ quản lý trường học Nhiệm vụ đào tạo nâng chuẩn,đào tạo bổ sung, đào tạo mới đội ngũ cán bộ giáo viên các cấp, Trung tâm liênkết với Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Đại học Sư phạm
Trang 33Hà Nội, Học viện Quản lý giáo dục, Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Ngoạingữ Hà Nội… để đào tạo Cán bộ giáo viên của Trung tâm chỉ thực hiệnnhững nhiệm vụ tổ chức, quản lý, theo dõi quá trình đào tạo của các lớp Cáctrường liên kết với Trung tâm thực hiện quá trình đào tạo.
Đội ngũ cán bộ giáo viên tại Trung tâm:
Tổng số: 37
- Cán bộ công chức: 22
- Công chức hợp đồng theo Nghị định 68: 03
- Hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế: 02
- Hợp đồng ngắn hạn: 10 (số nhân viên hợp đồng ngắn hạn làm nhiệm
vụ phục vụ quá trình học tập như bảo vệ, phụ vụ, vệ sinh…)
Chất lượng đội ngũ
- Trình độ thạc sỹ: 7
- Trình độ cử nhân: 14 trong đó 3 người có 2 bằng đại học
- Cao đẳng: 01
- Nhân viên kỹ thuật: 01
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm: theo yêu cầu công tác trong giaiđoạn mới, Ban giám đốc xác định cơ cấu tổ chức thành 4 phòng Haiphòng chuyên môn là Phòng Tin học - Ngoại ngữ, Phòng Bồi dưỡng vàNghiên cứu khoa học (NCKH) Hai phòng chức năng là Phòng Đào tạo,Phòng Hành chính - Tổ chức
Trang 34BAN GIÁM ĐỐC
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDTX tỉnh Thái Nguyên
Kết quả đào tạo bồi dưỡng
Trong nhiều năm qua, với sự nhanh nhạy, linh hoạt của Ban giám đốc,Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên đã đào tạo bồi dưỡng rấtnhiều loại hình cán bộ công chức cho ngành giáo dục và cho xã hội Các khốiđào tạo bồi dưỡng có thể được chia làm các loại hình
- Khối bồi dưỡng: bao gồm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ chongành giáo dục và xã hội như bồi dưỡng hiệu trưởng trường học, bồi dưỡngnghiệp vụ tổ trưởng chuyên môn, tổ trưởng công đoàn, nghiệp vụ thanh tra,bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và sử dụng thiết bịthí nghiệm, nghiệp vụ thư viện, bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thôngtin trong dạy học, nghiệp vụ đấu thầu, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lýtài chính
- Khối đào tạo đáp ứng nhu cầu của ngành giáo dục: bao gồm đào tạonâng chuẩn, đào tạo bằng hai các ngành như toán học, văn học, sinh học,ngoại ngữ (Tiếng Trung và Tiếng Anh), giáo dục công dân, quản lý giáo dục,giáo dục tiểu học, giáo dục mầm non, âm nhạc, mỹ thuật, sư phạm tin học
Trang 35- Khối đào tạo đáp ứng nhu cầu của cán bộ công chức, người lao độngcủa xã hội gồm các ngành như kế toán doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp,báo chí, luật, xây dựng, thủy lợi, tin học.
- Định hướng phát triển
Căn cứ vào những quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhànước về tiếp tục đổi mới giáo dục một cách toàn diện, đưa giáo dục đào tạotiếp tục phát triển vững chắc, tiến tới hội nhập thế giới Trung tâm xác định rõràng là GDTX phục vụ mục đích nâng cao dân trí, bồi dưỡng năng lực làmviệc cho người lao động, đáp ứng cho nhu cầu học tập thường xuyên, học tậpsuốt đời, biến xã hội thành xã hội học tập Xuất phát từ thực trạng và xu thếphát triển chung của giáo dục và những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế xãhội của tỉnh, Trung tâm không ngừng đổi mới toàn diện, tập trung vào nhữngvấn đề sau:
- Tiếp tục quán triệt những tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước vềgiáo dục và đào tạo Đặc biệt là bốn quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết TW2khóa VII và các nghị quyết, văn kiện liên quan đến chiến lược phát triển giáodục đào tạo
- Bám sát những biến đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội của đấtnước, địa phương và khu vực, tăng cường điều tra nắm bắt nhu cầu của thịtrường lao động, xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của cán bộ công chức,người lao động Mở rộng các loại hình, các chuyên ngành đào tạo, đáp ứng nhucầu đa dạng của các loại hình, các chuyên ngành đào tạo, đáp ứng nhu cầu đadạng của các loại hình lao động trong xã hội Giữ vững qui mô đào tạo cácchuyên ngành truyền thống, xây dựng kế hoạch đào tạo các chuyên ngành mới
- Tiếp tục đào tạo các chuyên ngành cho đối tượng là sinh viên đã tốtnghiệp phổ thông trung học và tương đương nhưng không có điều kiện theohọc tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp chính quy
Trang 36- Nghiên cứu lựa chọn hình thức học tập thích hợp với nhiều đốitượng theo học để thu hút mọi đối tượng là cán bộ, công chức, người laođộng theo học.
- Thực hiện chủ trương “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn” và “Công chức hóa cán bộ cấp xã, phường”, Trung tâm cầnphải linh hoạt, mềm dẻo lựa chọn các chuyên ngành, loại hình, phươngthức đào tạo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và xu thế phát triển của từngđịa bàn cụ thể
- Nhạy bén, năng động tổ chức đào tạo các chuyên ngành đáp ứng nhucầu hội nhập kinh tế thế giới
- Có kế hoạch hợp lý, khả thi để từng bước nâng cao phẩm chất đạođức, năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhânviên Trung tâm
- Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy họchiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác tổ chức đào tạo, nângcao thêm chất lượng đào tạo cho trong Trung tâm
2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thái Nguyên
- Về cơ sở vật chất về công nghệ thông tin gồm
+ 01 phòng máy tính phục vụ việc học tập của với số máy là 48 chiếc.+ 16 máy tính tại các phòng để phục vụ công việc quản lý của cán bộgiáo viên Trung tâm
+ 02 máy tính và 04 máy chiếu projector phục vụ việc giảng dạy củagiáo viên
+ Tất cả các máy tính của Trung tâm đều kết nối mạng nội bộ và kếtnối mạng internet
Trang 37- Quản lý cơ sở vật chất về công nghệ thông tin gồm:
+ Phòng máy tính phục vụ cho việc học tập do Phòng Tin học Ngoạingữ phụ trách
+ Các máy tính tại các phòng làm việc do phòng phụ trách, quản lý và
sử dụng
+ Máy tính và máy chiếu phục vụ giảng dạy do Phòng Đào tạo quản lý
- Việc sử dụng cơ sở vật chất về công nghệ thông tin trong công việc Trung tâm dùng một số phần mềm phục vụ công việc như sau:
+ Phần mềm kế toán phục vụ cho việc quản lý tài chính do bộ phận Tài
vụ sử dụng
+ Phần mềm quản lý tài sản phục vụ cho quản lý tài sản do phòng Hànhchính - Tổ chức sử dụng
+ Phần mềm quản lý nhân sự do phòng Hành chính - Tổ chức sử dụngvào việc quản lý nhân sự
Như vậy, Trung tâm đã có một cơ sở vật chất về CNTT khá đầy đủ Đó
là một điều kiện thuận lợi để phát triển ứng dụng CNTT vào quản lý Nhưngcũng có thể thấy rằng Trung tâm cần có thêm một số phần mềm ứng dụng vàoquản lý, như quản lý học viên, quản lý quá trình dạy học