1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính trong công ty cổ phần

42 701 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cơ Bản Về Phân Tích Tài Chính Trong Công Ty Cổ Phần
Tác giả Nguyễn Đức Đại
Trường học Trường Cao Đẳng Kinh Tế
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 248 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp lần đầu tiên được hình thành trên Thế giới là cách đây hơn 400 năm.

Trang 1

Đề tài: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính

trong công ty cổ phần

1.1 Những vấn đề lý luận hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

1.1.1 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần.

1.1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp lần đầu tiên được hìnhthành trên Thế giới là cách đây hơn 400 năm Loại hình doanh nghiệp nàyđược phôi thai từ đầu thế kỷ thứ XV ở châu Âu, đến thế kỷ thứ XVI, dưới sựtác động của chủ nghĩa trọng thương cùng với sự phát triển mạnh mẽ củathương mại quốc tế đã hình thành nên các công ty hoạt động chủ yếu dựa trênvốn góp cổ phần Và từ đó đến nay, hình thức công ty cổ phần ngày càng pháttriển và đã chứng tỏ được những ưu thế của nó so với hình thức doanh nghiệpkhác Theo đó, công ty cổ phần là một doanh nghiệp trong đó các thành viêncùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần gópvốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ khác của công tytrong phạm vi phần góp vốn của mình

1.1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần:

Hình thức công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau:

cách pháp nhân, tồn tại riêng biệt và độc lập với chủ sở hữu của nó Đượcthành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có condấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức và các cánhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạtđộng sản xuất – kinh doanh của mình

Trang 2

động sản xuất - kinh doanh theo pháp luật quy định, được đa dạng hóa, đượcthay đổi các hoạt động kinh doanh, được đình chỉ hoạt động theo ý công ty màkhông phải tham khảo bất cứ một thẩm quyền nào.

nguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:

góp vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu Vốn góp cổ phần là vốn chủ sởhữu, công ty được toàn quyền sử dụng vốn góp này Tỷ lệ góp vốn của các cổđông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận sau mỗi kỳ hạch toán kinh doanh

Các cổ đông của công ty cổ phần có trách nhiệm góp vốn vào công tynhưng không được quyền rút vốn khỏi công ty trong thời gian công ty hoạtđộng để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty Tuy nhiên, các cổ đông cóquyền bán lại cổ phiếu của mình cho người khác Mọi hoạt động chuyểnnhượng cổ phần này diễn ra với tư cách là cách là các giao dịch cá biệt nênkhông ảnh hưởng đến vốn điều lệ và hoạt động của công ty

lại để làm tăng vốn cho công ty Đây chính là phần vốn mà công ty tự tạo ratrong quá trình sản xuất – kinh doanh

chiếm dụng vốn của các đơn vị khác, công ty chỉ được quyền sử dụng trongmột thời gian nhất định, sau đó phải hoàn trả lại cho chủ nợ kèm theo mộtkhoản nhất định cho chủ nợ, chẳng hạn như lãi suất cho khoản vay ngân hàng,trái tức cho người mua trái phiếu của công ty Khoản vốn vay bao gồm:

- Vốn vay tín dụng ngân hàng: là số vốn mà công ty đi vay của ngânhàng hoặc các tổ chức tín dụng khác Đến thời hạn hoàn trả, công ty phải trả

số tiền gốc đã vay kèm theo một khoản chi phí nữa là lãi phải trả cho cho chủnợ

Trang 3

- Vay từ phát hành trái phiếu trên thị trường vốn: khoản vốn nàythường là vốn trung và dài hạn, được huy động trên thị trường vốn, các cánhân, đơn vị đều có thể là chủ nợ.

- Vay từ tín dụng thương mại: đây là hình thức công ty mua chịu hàngcủa nhà cung cấp, khi đó, công ty được sử dụng vốn của người khác và chi phícho việc này là một khoản tiền phải trả do chiếm dụng vốn của đơn vị cungcấp

Cổ đông trong công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ

và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp Trongtrường hợp công ty không đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ cho kháchhàng thì cổ đông không chịu trách nhiệm về các khoản nợ này

Chức năng kinh tế của các công ty cổ phần trong nền kinh tế thịtrương: sản xuất sản phẩm, hàng hóa , dịch vụ để bán trên thị trường, bằngcách sử dụng các phương tiện vật chất, tài chính và nhân sự nhằm mục đíchthu lợi nhuận

Cơ cấu lãnh đạo trong mỗi công ty cổ phần gồm ba bộ phận:

công ty, đại biểu bao gồm tất cả các cổ đông

bầu ra nhằm thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu mà đại hội cổ đông đã biểuquyết

phó giám đốc để điều hành công việc hằng ngày, tuân thủ theo chỉ thị và ýchí của đại hội cổ đông và hội đồng quản trị

Trang 4

1.1.2 Những lợi thế và những hạn chế của công ty cổ phần

1.1.2.1 Lợi thế:

Từ khi được hình thành và phát triển cho tới nay, công ty cổ phần làmột trong những hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh được ưu chuộng trênthế giới So với các hình thức công ty hợp doanh, công ty tư nhân và công tyTNHH thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn Những lợi thế cơbản của hình thức công ty cổ phần được thể hiện ở những điểm sau đây:

Trách nhiệm của các cổ đông trong công ty cổ phần chỉ nằm trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty (giống các thành viên góp vốn của công tytrách nhiệm hữu hạn) Ưu điểm này làm cho hình thức công ty cổ phần rất hấpdẫn các nhà đầu tư vì việc đầu tư vào các công ty với trách nhiệm hữu hạnnhư vậy sẽ ít rủi ro hơn là đầu tư và công ty trách nhiệm vô hạn

Vốn kinh doanh của công ty cổ phần được hình thành từ nhiều nguồnkhác nhau, do đó đa dạng về phương thức huy động vốn Một trong nhữngphương thức mà các công ty cổ phần thường sử dụng để tìm kiếm nguồn vốncho mình đó là phát hành cổ phiếu ra thị trường (lợi thế hơn so với công tyTNHH và công ty hợp doanh) Nhờ ưu điểm này mà công ty cổ phần ít bị hạnchế về vốn kinh doanh, do đó có thể thực hiện được các dự án kinh doanh đòihỏi nhiều vốn đầu tư

Cổ phiếu trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty lớn có tỷsuất lợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc muabán cổ phiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty Cổ phiếucủa các công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễdàng được chuyển đổi thành tiền sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các

cổ phần này cho phép các công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài

Một đặc điểm nổi bật nữa về ưu thế của hình thức tổ chức công ty cổphần là sự tách biệt giữa chủ sở hữu với những người điều hành công ty Do

Trang 5

vậy họ thường phải lựa chọn những người điều hành có đủ năng lực và kinhnghiệm chuyên môn thay mình quản lý sản xuất – kinh doanh của công ty.

1.1.2.2 Hạn chế:

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế có được của hình thức này, hình thức

tổ chức công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định, biểu hiện ở một sốmặt như sau:

Chi phí cho việc thành lập và điều hành công ty thường tốn kém hơn

so với các loại hình tổ chức công ty khác

Hàng kỳ (thường là quý hoặc năm), các công ty cổ phần phải côngkhai và báo cáo với các cổ đông (theo nghị quyết và điều lệ của đại hội cổđông) về tình hình sản xuất – kinh doanh và tình hình tài chính của mình Do

đó khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các công ty cổ phầnthường bị hạn chế, nhiều khi gây bất lợi cho công ty trong quá trình cạnhtranh với các đơn vị khác

Phần lớn các cổ đông thường không có kiến thức về kinh doanh vàkhông hiểu biết lẫn nhau (thường 6 tháng hoặc 1 năm mới tổ chức họp đại hộiđồng cổ đông một lần) Số lượng cổ đông lớn cũng dễ dẫn đến sự phân hóakiểm soát và tranh chấp về quyền lợi giữa các nhóm cổ đông

1.1.3 Nội dung của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

1.1.3.1 Hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Hoạt động tài chính trong bất cứ hình thức tổ chức doanh nghiệp nàocũng đóng vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Có thể nói, không một nền kinh

tế nào hoạt động được mà không có tiền Và để đồng tiền có được được quản

lý và sử dụng một cách hiệu quả thì hoạt động tài chính trong doanh nghiệpphải được thực hiện một cách triệt để nhất Chính vì thế, hoạt động tài chínhdoanh nghiệp trong công ty cổ phần nói riêng và trong các doanh nghiệp nói

Trang 6

chung là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động sản xuất - kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinhtrong quá trình sản xuất - kinh doanh và được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.

Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm việc thu – chi vàquản lý thu – chi tiền tệ phát sinh trong doanh nghiệp từ quá trình thực hiện kếhoạch sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động tài chính trongdoanh nghiệp và kết quả kinh doanh có mối quan hệ hai chiều Hoạt động tàichính của doanh nghiệp thực hiện được tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩyhay cản trở mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, và ngượclại, hoạt động sản xuất - kinh doanh tốt hay xấu lại có tác động trở lại đối vớihoạt động tài chính của doanh nghiệp Chẳng hạn, trong một kỳ kinh doanhnào đó, tài chính của doanh nghiệp không cung ứng đầy đủ vốn để doanhnghiệp thực hiện các hoạt động mua các yếu tố đầu vào thì quá trình sản xuất -kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị trì trệ, không diễn ra liên tục được, ảnhhưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Ngược lại, trong

kỳ, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không được tốt lắm do bán được íthàng, điều này làm giảm doanh thu cũng như lợi nhuận, và do đó hoạt độngtài chính của doanh nghiệp cũng sẽ không hoạt động được trơn tru nữa

1.1.3.2 Nguyên tắc của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Để hoạt động tài chính của doanh nghiệp thực sự trở thành công cụ đắclực, thúc đẩy hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quảcao thì hoạt động tài chính của doanh nghiệp trước hết phải dựa trên nguyêntắc cơ bản sau: sử dụng vốn có mục đích, tiết kiệm và có lợi nhằm khôngngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn một cách hợp pháp

Vốn dùng để sản xuất - kinh doanh trong các công ty cổ phần phải được

sử dụng theo đúng mục đích mà đại hội đồng cổ đông đã biểu quyết hoặc theo

Trang 7

đúng điều lệ tổ chức công ty đã được Nhà nước phê duyệt, theo đúng nhiệm

vụ và quyền hạn khi được phép thành lập công ty

Việc sử dụng vốn của công ty cổ phần phải tuân thủ theo các quy địnhtài chính, kỷ luật tín dụng và kỷ luật thanh toán của Nhà nước đã ban hành.Việc cấp phát và thu – chi trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp phải theo đúng chế độ thu – chi của Nhà nước, của đại hội đồng cổđông và hội đồng quản trị Không chi sai phạm vi quy định, không chiếmdụng vốn của ngân sách Nhà nước, của ngân hàng, của các đơn vị và cá nhânkhác Đồng thời, cũng không để các đơn vị khác chiếm dụng vốn của doanhnghiệp Tức là phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có lợi để từ đó khôngngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của mình, tăng lợi nhuận cho toàncông ty

1.1.3.3 Mục tiêu của hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần.

Như trên ta đã biết, hoạt động tài chính là những quan hệ tiền tệ gắntrực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trongquá trình sản xuất - kinh doanh, nó là một trong những nội dung cơ bản củahoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mốiquan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh Do đó, mụctiêu của hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và trong công

ty cổ phần nói riêng là hướng tới việc giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tếthể hiện qua việc thanh toán với các đơn vị có liên quan như ngân hàng, cácđơn vị kinh tế khác, các đối tượng có liên quan mật thiết với doanh nghiệpnhư các cổ đông, người lao động, các cơ quan chức năng Nhà nước mốiquan hệ này được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng, mặtchất và thời gian; hoạt động tài chính phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả,nguyên tắc này đòi hỏi phải tối đa hóa việc sử dụng các nguồn vốn nhưng vẫnđảm bảo quá trình sản xuất - kinh doanh được hoạt động bình thường và mang

Trang 8

lại hiệu quả; hoạt động tài chính được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật,tuân thủ và chấp hành các chế độ về tài chính tín dụng, nghĩa vụ với Nhànước, kỷ luật với các tổ chức, đơn vị kinh tế có liên quan.

Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước:

Doanh nghiệp phải thực hiện đủ, đúng thời hạn các nghĩa vụ về cáckhoản phải nộp ngân sách Nhà nước như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhậpkhẩu (nếu có), thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), thuế thu nhập doanh nghiệp ,không để nợ nần dây dưa kéo dài, gây khó khăn cho các cơ quan chức năngcủa Nhà nước tính toán và thu các khoản nghĩa vụ đó

Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đơn vị khác :

Doanh nghiệp phải thanh toán đầy đủ và đúng kỳ hạn các khoản nợphát sinh khi thực hiện các hoạt động mua hàng hóa, nguyên vật liệu, các dịch

vụ đầu vào, không chiếm dụng vốn của các đơn vị đó một cách bất hợp pháp.Mặt khác, khi cung cấp các hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ do mình tạo ra,doanh nghiệp phải có nghĩa vụ ghi nhận đầy đủ các nghiệp vụ liên quan, vừatạo sự minh bạch trong việc tính toán nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanhnghiệp mình, vừa tạo thuận lợi cho các cơ quan chức năng của Nhà nước kiểmtra việc thực hiện nghĩa vụ của đơn vị đối tác Và doanh nghiệp cũng khôngđược để các đơn vị đó chiếm dụng vốn của mình một cách không hợp lý, điềunày sẽ có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình tài chính của doanhnghiệp do vốn bị ứ đọng ở khâu bán hàng, quay vòng sản xuất chậm

Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên :

Tài chính doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ tiền lương

và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp,không được sử dụng các khoản thu nhập nói trên vào các mục đích khác, gâyảnh hưởng đến đời sống của người lao động

Trang 9

Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các cổ đông :

Đây là mối quan hệ giữa những nhà quản lý doanh nghiệp với chủ sở hữu

về tài sản Mục tiêu của hoạt động tài chính trong giải quyết mối quan hệ này làtạo sự công bằng, hợp lý, công khai trong việc phân chia lợi nhuận theo quyềnlợi và nghĩa vụ của mỗi cổ đông đúng như Đại hội cổ đông đã biểu quyết

1.1.3.4 Nội dung cơ bản hoạt động tài chính trong các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường.

Xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp:

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc phầnlớn vào hoạt động tài chính mà doanh nghiệp thực hiện Vai trò đó của hoạtđộng tài chính được thể hiện ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, trong việcthiết lập các dự án đầu tư ban đầu, dự kiến hoạt động, gọi vốn đầu tư

Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh củadoanh nghiệp đều chịu sự tác động về nhu cầu tài chính Vì vậy, để đảm bảocho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được liên tục,thường xuyên và đạt hiệu quả cao thì khâu đầu tiên là phải xác định được vàđảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Việcxác định nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải căn cứ vào chu kỳkinh doanh của doanh nghiệp và nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp trong kỳ Khi xác định được nhu cầu về vốn kinh doanh của doanhnghiệp rồi thì các nhà quản lý doanh nghiệp cũng có thể căn cứ vào đó để tìm

ra các hướng làm giảm đến mức tối thiểu nhu cầu đó Do đó xác định nhu cầu

về vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản củahoạt động tài chính trong các công ty cổ phần

Trang 10

Tìm kiếm và huy động nguồn vốn để thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu về vốn kinh doanh đã xác định.

Trong các công ty cổ phần, vốn kinh doanh được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau: vốn góp ban đầu của các cổ đông; vốn vay từ các nguồn ngắnhạn và dài hạn như phát hành trái phiếu công ty, vay tín dụng ngân hàng, tíndụng thương mại ; vốn bổ sung từ lợi nhuận đạt được của quá trình sản xuất -kinh doanh; vốn từ các quỹ được hình thành trong doanh nghiệp như quỹ đầu

tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi, nguồn vốn xây dựng cơ bản

Căn cứ vào việc phân tích tình hình tài chính, đánh giá thực trạng hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp mình, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ xácđịnh rõ những nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việchuy động mọi nguồn lực, tài lực, nguồn vốn đã có nhằm luôn luôn đáp ứngmọi nhu cầu về vốn cho mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp, đảm bảo sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có

Sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.

Sau khi đã xác định được nhu cầu về nguồn vốn kinh doanh và huyđộng được các nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó, doanh nghiệp cầnphải sử dụng nguồn vốn đó một cách hợp lý và đạt hiệu quá cao nhất trongsản xuất - kinh doanh nghiệp Đó chính là một nội dung của hoạt động tàichính trong các công ty cổ phần

Mặt khác, việc sử dụng vốn hợp lý và đạt hiệu quả cao còn được biểuhiện ở chỗ: Phải biết kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng tiết kiệm vốn hiện có,vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp luôn luônđược tiến hành liên tục, không bị ngừng trệ trong quá trình sản xuất - kinhdoanh vì thiếu vốn, thiếu tiền

Trang 11

1.2 Phân tích tài chính trong công ty cổ phần.

1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu cơ bản trong tài chínhdoanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp.Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm,phương pháp và công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính,khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa

ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi

ro phá sản tác động tới doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanhtoán, đánh giá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năngsinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tụcnghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mứcdoanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phântích tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính – một trong các hướng dự đoán củadoanh nghiệp Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo nhiều hướngkhác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ), với mụcđích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích (trong doanhnghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp)

1.2.2 Vai trò và mục tiêu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

1.2.2.1.Vai trò của phân tích tài chính trong hệ thống quản lý của các công ty

Trang 12

nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vựckinh doanh Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, kháchhàng kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quantâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Cácđối tượng quan tâm đến thông tin về công ty cổ phần có thể được chia thànhhai nhóm: nhóm có quyền lợi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp:

Nhóm có quyền lợi trực tiếp:

Trong công ty cổ phần, các cổ đông là người đã bỏ vốn đầu tư vào công

ty và họ có thể phải gánh chịu rủi ro Những rủi ro này liên quan tới việcgiảm giá cổ phiếu trên thị trường, dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, quyết định của họ đưa ra luôn có sự cân nhắc giữa mức độ rủi

ro và doanh lợi đạt được Vì thế, mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông làkhả năng tăng trưởng, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị chủ sở hữu trongcông ty cổ phần Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ.Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinhdoanh hàng năm, các nhà đầu tư sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triểnvọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó đưa ra những quyết định phù hợp.Các nhà đầu tư sẽ chỉ chấp thuận đầu tư vào một dự án nếu ít nhất có một điềukiện là giá trị hiện tại ròng của nó dương Khi đó lượng tiền của dự án tạo ra

sẽ lớn hơn lượng tiền cần thiết để trả nợ và cung cấp một mức lãi suất yêu cầucho nhà đầu tư Số tiền vượt quá đó mang lại sự giàu có cho những người sởhữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu nguồntài trợ của công ty cổ phần cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coitrọng vì nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ Ta biết rằng thu nhập của

cổ đông bao gồm phần cổ tức được chia hàng năm và phần giá trị tăng thêm

Trang 13

của cổ phiếu trên thị trường Một nguồn tài trợ với tỷ trọng nợ và vốn chủ sởhữu hợp lý sẽ tạo đòn bẩy tài chính tích cực vừa giúp doanh nghiệp tăng vốnđầu tư vừa làm tăng giá cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) Hơnnữa các cổ đông chỉ chấp nhận đầu tư mở rộng quy mô doanh nghiệp khiquyền lợi của họ ít nhất không bị ảnh hưởng Bởi vậy, các yếu tố như tổng sốlợi nhuận ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trênmột cổ phiếu năm trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn địnhcủa thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tưluôn được các nhà đầu tư xem xét trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính.

Vai trò của phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần đối với cácngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng là giúp các đối tượng này đánh giáđược khả năng trả nợ của doanh nghiệp để từ đó đưa ra quyết định có cho vayhay hưởng các chính sách tín dụng hay không Họ chú ý đặc biệt đến số lượngtiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số

nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Bêncạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới

số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trongtrường hợp doanh nghiệp bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổitheo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vaydài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều quan tâm đến cơ cấu tài chínhbiểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay

Đối tượng này cần các thông tin để kiểm soát và chỉ đạo tình hình sảnxuất - kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin do các báo cáo tài chínhcung cấp thường không đáp ứng đủ cho nhu cầu thông tin của họ Nhằm đápứng thông tin cho đối tượng này, các công ty cổ phần cũng như các doanh

Trang 14

nghiệp khác thường phải tiến hành các hoạt động nghiên cứu tài chính trongnội bộ doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ, khác với phân tíchtài chính bên ngoài do nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Mục đíchcủa phân tích tài chính nội bộ là cung cấp thông tin phục vụ cho việc quản lýdoanh nghiệp và giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá tình hình tàichính đã qua, từ đó tiến hành cân đối tài chính, hợp lý hóa các chỉ tiêu về khảnăng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp.Bên cạnh đó định hướng các quyết định của ban giám đốc tài chính, quyếtđịnh đầu tư, tài trợ, phân tích lợi tức cổ phần Các thông tin do quá trình phântích tài chính nội bộ cung cấp chỉ được sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp,theo yêu cầu quản lý của các nhà quản trị mà không được cung cấp cho cácđối tượng sử dụng ở bên ngoài.

Tất cả các tổ chức kinh tế đều phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế đối với Nhànước Do đó, để các cơ quan thuế có thể xác định được đúng số thuế màdoanh nghiệp phải nộp, việc nghiên cứu hoạt động tài chính có ý nghĩa quantrọng

Nhóm có quyền lợi gián tiếp:

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, qua việc phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của Ban giám đốc, từ

đó đưa ra các quyết định quản lý vĩ mô nền kinh tế cũng các quyết định đầu tư

bổ sung vốn cho các công ty cổ phần mà Nhà nước có nắm giữ cổ phần

Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ của doanh nghiệp,người được hưởng lương trong các công ty cổ phần cũng rất quan tâm tới cácthông tin tài chính của của doanh nghiệp Điều này cũng dễ hiểu bởi kết quả

Trang 15

hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thunhập chính của người lao động Ngoài ra trong một số công ty cổ phần, ngườilao động được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất định Như vậy,

họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệmgắn với doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay,các doanh nghiệp ngoài việc quan tâm đến tình hình tài chính của mình còncần phải quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu cũng như các chỉ tiêu tàichính khác của các đối thủ cạnh tranh với doanh nghiệp mình trong điều kiện

có thể để tìm biện pháp cạnh tranh hiệu quả nhất Do đó, việc phân tích tìnhhình tài chính các công ty cổ phần cũng có vai trò đối với các đối thủ cạnhtranh của các công ty cổ phần

Ngoài các đối tượng trên, việc phân tích tình hình tài chính trong cáccông ty cổ phần còn có vai trò khá quan trọng đối với các nhà nghiên cứu vềkinh tế và các sinh viên, học viên trong ngành kinh tế Các đối tượng này sửdụng các thông tin này để nghiên cứu, phân tích, phục vụ cho những mục đích

cụ thể của họ

1.2.2.2 Mục tiêu chủ yếu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

Như chúng ta đã biết, mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằmtrong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hìnhtài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt độngkinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó, nêu lên một cách tổnghợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu, biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh

tế - kỹ thuật – tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh doanh theo cơchế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, các doanh nghiệp đều bình

Trang 16

đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đốitượng quan tâm đến tình hình tài chính của mình như các nhà đầu tư, nhà chovay, nhà cung cấp, nhà quản trị doanh nghiệp, các cổ đông, người laođộng Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệptrên những góc độ khác nhau Song nhìn chung, họ đều quan tâm đến khảnăng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợinhuận tối đa Bởi vậy phân tích tình hình tài chính và phân tích tình hình tàichính trong các công ty cổ phần nói riêng phải đạt được các mục tiêu sau:

Một là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ, kịp thời,

trung thực hệ thống các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay

và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyếtđịnh đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay

Hai là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những

thông tin quan trọng nhất cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhàcho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khả năng

và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quảnhất vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Ba là : Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin về

nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất

- kinh doanh nghiệp, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn vàcác khoản nợ của doanh nghiệp

Trên đây là các mục tiêu chủ yếu của phân tích tài chính trong các công

ty cổ phần Các mục tiêu này có quan hệ mật thiết với nhau, chúng góp phầncung cấp những thông tin nền tảng đặc biệt quan trọng cho bộ phận quản trị ởcác công ty cổ phần, giúp cho quản trị doanh nghiệp khắc phục được nhữngthiếu sót, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triểncủa doanh nghiệp trong tương lai Trên cơ sở đó, quản trị doanh nghiệp đề ra

Trang 17

được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưucho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp.

Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp choviệc ra quyết định về mặt tài chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương laicủa doanh nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giớihạn trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp mà còn sử dụng đến các thông tin bênngoài doanh nghiệp Tất cả những thông tin đó đều giúp cho các nhà phân tích

có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng, để từ đó cóthể có được những quyết định đúng đắn

1.2.3.1 Thông tin của bản thân công ty cổ phần:

Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp thìnhững thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp được xem là nguồn thôngtin quan trọng bậc nhất Với những đặc trưng hệ thống, đồng nhất và phongphú, kế toán hoạt động như một nhà cung cấp quan trọng những thông tinđáng giá cho phân tích tài chính Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phầnđược thực hiện trên cơ sở những thông tin về chiến lược, sách lược kinhdoanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, những thông tin về tình hình vàkết quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình tạo lập, phân phối

và sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán Những thông tin này đượcthể hiện qua những giải trình của các nhà quản lý, qua các báo cáo tài chính(Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền

tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính)

1.2.3.2 Thông tin ngoài doanh nghiệp.

Những thông tin liên quan đến doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng,khi phân tích tình hình tài chính, các nhà phân tích không chỉ sử dụng nhữngthông tin và giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính của một công

Trang 18

ty cổ phần, mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin bên ngoài liên quan đến tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, bao gồm các thông tin về tình hình kinh tế vĩmô; thông tin về các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước; thôngtin về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin này

có tác động mạnh mẽ tới kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, chúng cóảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh của doanh nghiệptrong từng thời kỳ

Thông tin kinh tế vĩ mô:

Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp cần phải được đặt trongbối cảnh chung của nền kinh tế trong nước, trong khu vực và Thế giới Do đó,cần phải xem xét, kết hợp những thông tin về tình hình nền kinh tế trong quátrình phân tích, có như vậy mới có thể đánh giá được đầy đủ, toàn diện hơntình hình tài chính của doanh nghiệp Các thông tin vĩ mô cần được quan tâmbao gồm: tình hình chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơhội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội về kỹ thuật – công nghệ, nhịp độ phát triểncủa các chu kỳ kinh tế, sự tăng trưởng hoặc suy thoái của nền kinh tế, độ lớncủa thị trường, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, lạm phát

Thông tin về các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước:

Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động mạnh mẽ đối với hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và tình hình tài chínhnói riêng từ khi doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động Chỉ cầnmột sự thay đổi nhỏ trong các chính sách quản lý, điều hành nền kinh tế củaNhà nước cũng đã tạo ra những biến đổi lớn trong hoạt động của doanhnghiệp, buộc các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh trong hoạt động củamình để thích ứng Do đó, khi phân tích, các nhà phân tích phải đặc biệt chútrọng tới những thông tin về chính sách kinh tế của Nhà nước cũng như sựthay đổi có thể có của chúng trong tương lai gần để có những xử lý thích hợp

Trang 19

Thông tin về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:

Các thông tin này bao gồm: nhịp độ tăng trưởng và xu hướng phát triểncủa ngành; cơ cấu và vị trí của ngành trong nền kinh tế; nhu cầu của thịtrường đối với sản phẩm của ngành; mức độ cạnh tranh và nguy cơ từ phía cácđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Tuy nhiên, những thông tin thu thập được khi tiến hành phân tích tàichính không phải tất cả đều được biểu hiện bằng số liệu cụ thể, mà có nhữngtài liệu chỉ được thể hiện thông qua sự miêu tả đời sống kinh tế của doanhnghiệp hoặc của ngành nghề liên quan đến doanh nghiệp mà không có số liệuhoặc số lượng cụ thể Do đó, để có những thông tin cần thiết phục vụ cho quátrình phân tích tài chính, người làm công tác phân tích phải sưu tầm đầy đủ vàthích hợp những thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Tínhđầy đủ thể hiện ở thước đo số lượng của thông tin và tính thích hợp được phảnánh bởi chất lượng của thông tin

1.2.4 Các phương pháp phân tích tài chính trong các công ty cổ phần.

Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, bao gồm hệ thống cáccông cụ, biện pháp, các kỹ thuật và cách thức nhằm tiếp cận, nghiên cứu các

sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịchchuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêutổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tínhchất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Từ đó giúp các đối tượng sử dụng các thông tin có được đưa rađược những quyết định phù hợp tùy theo mục đích và yêu cầu của mình Đểđáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng thông tin phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp, người ta có nhiều phương pháp phân tích khác nhau Cácphương pháp cơ bản thường được vận dụng trong phân tích tình hình tài chínhdoanh nghiệp nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng bao gồm: phương

Trang 20

pháp so sánh, phương pháp phân tích tỷ số, phương pháp loại trừ, phươngpháp liên hệ

1.2.4.1 Phương pháp so sánh.

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng

Nó được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kỳ một hoạt động phântích nào của doanh nghiệp Trong phân tích tình hình hoạt động tài chính củadoanh nghiệp, nó được sử dụng rất đa dạng và linh hoạt nhằm nghiên cứu sựbiến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, đồng thời chobiết được xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu đó Điều đó được thểhiện: các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chínhđược xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung vàchúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng pháttriển của các hiện tượng kinh tế - tài chính của doanh nghiệp

Để áp dụng phương pháp so sánh vào phân tích các báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp, trước hết phải xác định số gốc để so sánh Việc xác định sốgốc để so sánh là tùy thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích Gốc để so sánhđược chọn là gốc về mặt thời gian và không gian Kỳ phân tích được chọn là

ký thực hiện hoặc kỳ kế hoạch, hoặc là kỳ kinh doanh trước Giá trị so sánh cóthể chọn là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân

Điều kiện so sánh:

Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thời gian, cần đảmbảo thỏa mãn các điều kiện so sánh sau đây:

hiện vật, giá trị và thời gian)

Trang 21

Khi so sánh mức đạt được trên các chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau,ngoài các điều kiện đã nêu, cần đảm bảo các điều kiện khác như cùng phươnghướng kinh doanh, điều kiện kinh doanh tương tự nhau.

Tất cả các điều kiện trên đây gọi chung là đặc tính “có thể so sánhđược” hay tính chất “so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích

Mục tiêu so sánh:

Khi thực hiện phân tích tài chính bằng phương pháp so sánh, cần xácđịnh mục tiêu so sánh trong phân tích các báo cáo tài chính Mục tiêu so sánhtrong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến độngtương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích (năng suất tăng, giáthành giảm)

hai kỳ Kỳ thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước

này với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ sốcủa chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉtiêu phân tích

Khi vận dụng phương pháp so sánh trong phân tích tài chính, người ta

so sánh ba nội dung chủ yếu sau đây:

doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tàichính của doanh nghiệp Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp

định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi hoạt động tàichính của doanh nghiệp

Ngày đăng: 18/04/2013, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w