Với xu thế hội nhập và phát triển, các công ty kiểm toán đang hoạt động trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Với xu thế hội nhập và phát triển, các công ty kiểm toán đang hoạt độngtrong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt Họ không những phải nângcao chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng mà cònphải tìm mọi biện pháp để hạn chế rủi ro kiểm toán ở mức thấp nhất mà vẫn đảmbảo thực hiện kiểm toán với chi phí thấp.Mâu thuẫn giữa chi phí và chất lượngdịch vụ cung ứng đặt ra cho họ vấn đề cần khắc phục Nâng cao hiệu quả áp dụngthủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán được xem là một trong những phươngpháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn đó Thủ tục phân tích được nhắc đến như
là người dẫn đường cho mọi cuộc kiểm toán không những thế còn là người bạnđồng hành trong suốt quá trình diễn ra cuộc kiểm toán và thường xuyên đưa ranhững điều chỉnh, tư vấn cho quá trình này theo hướng hợp lý nhất Chính vì vậy,việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình thủ tục phân tích được coi là mộtnhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới trong các công ty kiểm toán tại Việt Nam
để biến nó thành công cụ đắc lực nhất cho mọi cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.Nhận biết được tầm quan trọng của việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán
báo cáo tài chính nên em đã chọn đề tài: “Vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính” để làm đề án Dựa vào những thông tin thu thập
được, đề án của em được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báocáo tài chính
Chương 2: Thực trạng việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báocáo tài chính do Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Việt Nam vàCông ty TNHH KPMG Việt Nam thực hiện
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện thủ tục phân tích trongkiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chínhViệt Nam và Công ty TNHH KPMG Việt Nam
Là một sinh viên chuyên ngành kiểm toán, mong muốn của em là có đượchiểu biết sâu sắc hơn về các phương pháp trong kiểm toán báo cáo tài chính, đặcbiệt là sự vận dụng thủ tục phân tích trong quá trình ấy Chỉ trên cơ sở nắm vững
Trang 2những kiến thức nền về cơ sở lý luận, em mới có thể tiến hành vận dụng vào thựctiễn cuộc kiểm toán hiệu quả hơn
Để hoàn thành báo cáo đề án môn học kiểm toán này, em xin chân thànhcảm ơn ThS Bùi Thị Minh Hải đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình tìmhiểu đề tài Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảonên chắc chắn báo cáo của em còn có nhiều thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhậnđược sự xem xét, đóng góp ý kiến của thầy cô để đề tài nghiên cứu của em đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.
1.1 Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính và thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính.
1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.11 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán không những là một ngành nghề có tính chất “cầm cân này mực”
mà còn được coi là một công cụ quản lý kinh tế Nó không chỉ cần thiết đối vớinhà quản lý mà còn mà còn có vai trò quan trọng đối với quyết định kinh tế củacác nhà đầu tư cũng như các bên liên quan khác
Theo giáo trình Kiểm toán tài chính - chủ biên PGS.TS Vương Đình Huệ,NXB Tài chính năm 2001, trang 5 thì “Kiểm toán tài chính là sự kiểm tra và trìnhbày ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực, hợp lý, tính hợp thức vàhợp pháp của các báo cáo tài chính” Như vậy, có thể nói kiểm toán tài chính làviệc xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính bằng hệ thống phươngpháp kỹ thuật của kiểm toán do kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứngthực hiện dựa trên cơ sở pháp lý đang có hiệu lực
Đối tượng chính của Kiểm toán báo cáo tài chính là các báo cáo tài chính,ngoài ra còn có một số các bảng khai tài chính khác có liên quan Theo chuẩn mựckiểm toán Việt Nam số 200 điểm 04 thì BCTC là hệ thống báo cáo được lập theochuẩn mực và chế độ hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tinkinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị
1.1.1.2 Phương pháp kiểm toán áp dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Đặc điểm chung của kiểm toán tài chính với phương pháp kiểm toán:
Kiểm toán là một hoạt động đặc trưng và nằm trong hệ thống kiểm toán nóichung Cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, để thực hiện chức năng xác minh
và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các phương pháp kiểm toánchứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp và đối chiếu logic) và phươngpháp kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm và điều tra) Tuy nhiên, domỗi loại kiểm toán có chức năng cụ thể khác nhau, đối tượng cụ thể khác nhau và
Trang 4quan hệ chủ thể khách thể kiểm toán khác nhau nên trong kiểm toán tài chính cáchthức kết hợp các phương pháp cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù
Trước hết, việc xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm toán, kiểmtoán tài chính hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán
Để có được những bằng chứng này, kiểm toán tài chính cần triển khai các phươngpháp cơ bản trên theo từng tình huống cụ thể Trong Chuẩn mực Kiểm toán quốc
tế 8500 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500, những cách thức cụ thể nàyđược gọi là phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán Ở đây các phương phápkiểm toán cơ bản được cụ thể tùy tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểmtoán Chẳng hạn, theo hướng chi tiết, phương pháp điều tra có thể thực hiện thôngqua các cách thức như quan sát, trao đổi hoặc phỏng vấn, gửi thư xác nhận…Ngược lại theo hướng tổng hợp các phương pháp đối chiếu logic, đối chiếu trựctiếp, kiểm toán cân đối,…có thể được thực hiện thông qua các thủ tục phân tíchtrong quá trình kiểm toán
Tiếp đến, xét về đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các báo cáo kếtoán và các bảng tổng hợp tài chính đặc biệt khác Các bảng tổng hợp này vừachứa đựng những mối quan hệ kinh tế tổng quát, vừa phản ánh cụ thể từng loại tàisản, từng loại nguồn vốn với những biểu hiện về kinh tế, pháp lý và được lập ratheo những trình tự xác định với những chuẩn mực cụ thể trong quan hệ với cácnghiệp vụ phát sinh Do vậy, kiểm toán tài chính thường là kiểm toán liên kết vàphải hoàn thành những trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phương phápkiểm toán cơ bản để đưa ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp này
Chi phối kỹ thuật kiểm toán tài chính còn có mối liên hệ giữa nội kiểm vàngoại kiểm trên quan điểm hiệu quả Xét về nguyên tắc, để bày tỏ ý kiến về bảngkhai tài chính, trong mọi trường hợp việc xác minh độ tin cậy của các con số vàmức tuân thủ các nguyên tắc, các chuẩn mực phải được thực hiện trong mọi cuộckiểm toán Trong kiểm toán tài chính để đảm bảo tính hiệu quả trình tự phổ biếnđược thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược với trình tự kế toán.Trên thực tế, trình tự kiểm toán rất đa dạng cho từng loại khách thể và từng loạiđối tượng kiểm toán Tuy nhiên, nguyên tắc chung của mọi cuộc kiểm toán chính
là phải thẩm tra lại các thông tin biểu hiện bằng tiền phản ánh trên bảng tổng hợp
Trang 5bằng việc kết hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ theotrình tự và cách thức kết hợp xác định tổng hợp các cách xác minh là các con sốnày được gọi là thử nghiệm cơ bản Đồng thời, nhu cầu về tiết kiệm thời gian,nâng cao hiệu quả kiểm toán nói riêng và hiệu quả quản lý nói chung cũng đòi hỏiphải giảm tối đa những việc “lặp lại” không hiệu quả Do đó, trong kiểm toán tàichính đã hình thành thử nghiệm tuân thủ Thực chất của thử nghiệm này là dựavào kết quả của hệ thống kiểm soát nội bộ khi hệ thống này tồn tại và hoạt động
có hiệu lực Ở đây cần khẳng định nguyên lý chung là thử nghiệm tuân thủ chỉthực hiện khi hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và được đánh giá là hoạt động cóhiệu lực Tuy nhiên ngay trong trường hợp này, thử nghiệm cơ bản (với số lượngít) vẫn cần được thực hiện
Các trắc nghiệm trong kiểm toán tài chính:
Tùy yêu cầu và đối tượng cụ thể cần xác minh, các phép kết hợp giữa cácphương pháp kiểm toán cơ bản cũng khác nhau cả về số lượng và trình tự kết hợp
và từ đó hình thành 3 loại trắc nghiệm cơ bản:
Trắc nghiệm công việc: Là cách thức rà soát các nghiệp vụ hay hoạtđộng cụ thể trong mối quan hệ với sự tồn tại và hoạt động có hiệu lực của hệthống kiểm soát nội bộ, mà trước hết là hệ thống kế toán Trắc nghiệm công việcthường được áp dụng để xác minh đúng đắn trong việc tổ chức hệ thống kế toán từviệc tuân thủ các quy định về lập, xét duyệt và kiểm tra sử dụng chứng từ kế toánđến việc ghi chép, cộng sổ chi tiết đến kết chuyển các số phát sinh vào sổ cái.Chính vì thế, trắc nghiệm công việc hướng tới hai mặt của kế toán là: Mức đạt yêucầu của thủ tục và độ tin cậy của các con số kế toán Tương ứng như thế, trắcnghiệm công việc được chia thành hai loại: Trắc nghiệm mức đạt yêu cầu và trắcnghiệm độ tin cậy
Trắc nghiệm trực tiếp số dư: Là cách thức kết hợp các phương phápcân đối, đối chiếu logic, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và kiểm tra thực tế để xácminh độ chính xác của các số dư cuối kỳ (hoặc tổng phát sinh) ở Sổ cái khi lênBảng cân đối kế toán và Bảng báo cáo kết quả kinh doanh Đây là loại trắc nghiệmbắt buộc áp dụng ở tất cả các cuộc kiểm toán vì nó đem lại những bằng chứngkiểm toán có mức độ tin cậy cao Tuy nhiên loại trắc nghiệm này yêu cầu có chi
Trang 6phí lớn và tiêu tốn thời gian nên số lượng trắc nghiệm trực tiếp số dư cần thựchiện tùy thuộc vào kết quả trắc nghiệm mức đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ tin cậytrong trắc nghiệm công việc cùng trắc nghiệm phân tích có liên quan đến các tàikhoản.
Trắc nghiệm phân tích (Thủ tục phân tích): Là cách thức xem xét cácmối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việckết hợp các phương pháp: Đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, kiểm toán cânđối…giữa các trị số của cùng một chỉ tiêu hoặc của các chỉ tiêu có mối quan hệtrực tiếp với nhau
1.1.2 Thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.2.1 Khái niệm thủ tục phân tích
Theo chuẩn mực Kiểm toán số 520: “Thủ tục phân tích là việc phân tích các
số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động
và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc
có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”
Theo giáo trình Kiểm toán tài chính 2006 (Đồng chủ biên GS.TS NguyễnQuang Quynh-TS.Ngô Trí Tuệ) thì “Thủ tục phân tích là cách thức xem xét cácmối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việckết hợp các phương pháp: Đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối…giữa cáctrị số của cùng một chỉ tiêu hoặc của các chỉ tiêu có liên quan với nhau hoặc củacác bộ phận cấu thành chỉ tiêu”
Các khái niệm trên đây cho thấy thủ tục phân tích là quá trình dự đoán, sosánh, đối chiếu, đánh giá mối quan hệ để xác định tính hợp lý của các số dư tàikhoản trên các khía cạnh khác nhau Các mối quan hệ bao gồm quan hệ giữa cácthông tin tài chính với nhau, như mối quan hệ giữa doanh thu và giá vốn hàng bánhay mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính như mối quan
hệ giữa doanh thu với số lượng hàng bán
1.1.2.2 Các loại thủ tục phân tích
Phân tích xu hướng
Là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của các số dư tài khoản,nghiệp vụ Phân tích xu hướng thường được KTV sử dụng qua so sánh thông tin
Trang 7tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước hoặc giữa các tháng vơi nhauhoặc so sánh số phát sinh của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ Điều nàykhác với việc kiểm tra tính hợp lý chỉ bao gồm việc phân tích những biến độngtrong một kỳ kế toán Thông qua việc phân tích xu hướng, KTV có khả năng pháthiện ra những biến động bất thường, đạt được một số hiểu biết về nguyên nhângây nên xu hướng biến động của số dư tài khoản hay nhóm nghiệp vụ Từ đó KTV
có thể so sánh ước tính này với số liệu được ghi sổ Bằng cách này, KTV có thểnhận diện được những sai phạm tiềm tàng ngay cả khi có rất ít hoặc không có biệnđộng nào trong số dư của năm hiện thời so với kỳ trước
Phân tích tỷ suất
Phân tích tỷ suất là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tươngquan của các chỉ tiêu và số dư các khoản mục khác nhau trên BCTC Đây là thủtục phân tích phổ biến thức hai trong các thủ tục phân tích Nếu phân tích xuhướng tập trung vào một tài khoản cụ thể và không đi sâu vào phân tích mối quan
hệ giữa các số dư tài khoản thì phân tích tỷ suất lại tập trung vào việc phân tíchmối quan hệ này Phân tích tỷ suất chủ yêu áp dụng đối với Bảng cân đối kế toán
và Báo cáo kết quả kinh doanh Tuy nhiên phân tích tỷ suất đối với các tài khoảntrên Bảng cân đối kế toán thường không đem lại hiệu quả cao do số dư này đượcđưa ra tại một thời điểm cụ thể, không thể phản ánh được biến động mang tínhthời kỳ Trong khi đó phân tích các tỷ suất đối với các khoản mục trên BCKQKDlại hiệu quả hơn do nó phản ánh sự biến động kết quả hoạt động kinh doanh trongmối liên hệ với các khoản mục khác trong một kỳ kế toán
Phân tích tính hợp lý:
Thường bao gồm những so sánh cơ bản như: So sánh giữa số liệu thực tếvới số liệu kế hoạch, dự đoán …Từ kết quả so sánh tiến hành điều tra các chênhlệch lớn giữa thực tế và kế hoạch sẽ giúp KTV phát hiện những sai sót trongBCTC hoặc các biến động lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.Một số phương pháp so sánh mà KTV hay sử dụng là: So sánh số liệu báo cáo củakhách hàng với số liệu kế hoạch, so sánh số liệu của đơn vị với các chỉ tiêu bìnhquân ngành, với số liệu ước tính của KTV, nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tintài chính và thông tin phi tài chính…
Trang 81.2 Vận dụng thủ tục phân tích trong các giai đoạn của kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1 Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thực hiệntrong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điềukiện cần thiết cho kiểm toán Có ba lý do để KTV tiến hành lập kế hoạch kiểmtoán một cách thích hợp: để có thể thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy
đủ và có hiệu lực, để giữ chi phí kiểm toán ở mức hợp lý và tránh những bất đồng
có thể xảy ra với khách hàng Thủ tục phân tích chính là một phương pháp đơngiản và hiệu quả để thực hiện những mục tiêu đó
Các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm hướngtới các mục tiêu sau đây:
+ Thu thập hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến đổi quan trọng
về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra trong năm tàichính
+ Tăng cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của kháchhàng và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vẫn về khả năng hoạt dộng liên tụccủa công ty khách hàng
+ Đánh giá khái quát sự hiện diện của các sai phạm có thể tồn tại trênBCTC
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV thực hiện thủ tục phân tích sơ
bộ theo 3 bước sau:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
Các thông tin này bao gồm: các thông tin về nghĩa vụ pháp lý như Giấyphép thành lập, Điều lệ công ty, các Báo cáo tài chính, các thay đổi trong thịtrường và công nghệ ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, các thông tin cập nhật
về hệ thống kiểm soát nội bộ, sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý,…Việc thu thập thôngtin phải đảm bảo rằng các KTV đã đạt được sự hiểu biết nhất định về nội dung củaBCTC, những thay đổi quan trọng kế toán và hoạt động kinh doanh của kháchhàng Qua những thông tin này, KTV còn có thể xác định các vấn đề nghi vấn về
Trang 9khả năng hoạt động liên tục của khách hàng, đánh giá sự hiện diện của các saiphạm tiềm ẩn có thể có trên BCTC.
Bước 2: So sánh thông tin
Trong bước này, KTV sử dụng các thông tin tài chính và phi tài chính đãthu thập được để tiến hành so sánh, phân tích KTV thường thực hiện các loại thủtục phân tích sau để lập kế hoạch kiểm toán:
- Phân tích tỷ suất, phân tích xu hướng và phân tích tính hợp lý: Để đạtđược sự hiểu biết tốt hơn về khách hàng, trong giai đoạn này KTV thường sử dụngcác tỷ suất tài chính cho biết về khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanhtoán nợ dài hạn và khả năng sinh lời Các tỷ suất này được sử dụng để so sánh với
số liệu chung của toàn ngành hay số liệu của đơn vị như so sánh với số tương ứng
kỳ trước, so với số liệu dự toán Ngoài ra việc so sánh số dư các tài khoản giữanăm nay với năm trước cũng được tiến hành một cách phổ biến nhằm phát hiện ra
số dư các tài khoản có sự thay đổi đáng kể để từ đó có kế hoạch phân tích chi tiếthơn
- Rà soát các số liệu: KTV có thể rà soát các số liệu trên BCTC để pháthiện ra những vấn đề bất thường Thủ tục này cũng có thể được áp dụng cho thôngtin tài chính theo từng quý
- Phân tích sử dụng các thước đo phi tài chính: nhằm đánh giá một cáchhiệu quả hơn các loại rủi ro trong quá trình hoạt động khi sử dụng các thước đophi tài chính: thị phần, sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng, thời gian trung bình choviệc tung sản phẩm ra thị trường,
Bước 3: Đánh giá kết quả so sánh ban đầu
Từ các so sánh trên, KTV tiến hành đánh giá xem các biến động trên BCTC
có phù hợp với dự đoán và hiểu biết của mình hay không Nếu sự biến động làtrọng yếu, KTV cần phải thảo luận với giám đốc của đơn vị và đánh giá sự giảithích của họ về sự hợp lý của các biến động này
Qua kết quả của thủ tục phân tích sơ bộ, KTV có thể xác định rủi ro kiểmtoán cho từng khoản mục trên BCTC, từ đó lựa chọn ra các khoản mục chứa đựngnhiều rủi ro nhất để tập trung nhiều hơn trong quá trình thực hiện kiểm toán
1.2.2.Vận dụng thủ thục phân tích trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trang 10Trong giai đoạn này, việc tổ chức thực hiện thủ tục phân tích cũng đòi hỏinhiều ở sự phán đoán của KTV Mục tiêu chủ yếu của quy trình này là nhằm thuthập bằng chứng kiểm toán có chất lượng, đáng tin cậy với chi phí thấp, giảmthiểu các thử nghiệm chi tiết, giảm thời gian của cuộc kiểm toán Thông thường,thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua những giai đoạn chủ yếu sau:
Bước 1: Phát triển một mô hình
Khi phát triển một mô hình, KTV xác định các biến tài chính hoặc hoạtđộng và mối quan hệ giữa chúng Chẳng hạn, chi phí về khấu hao TSCĐ có thể làsản phẩm của các biến số như: nguyên giá TSCĐ, thời gian ước tính sử dụng, sốngày sử dụng trong năm,…Việc lựa chọn những biến cụ thể để xây dựng mô hìnhcăn cứ vào mục đích cụ thể của việc áp dụng thủ tục phân tích và nguồn thông tin
về dữ liệu Như vậy với mỗi mô hình cần xác định rõ việc phát triển mô hình là để
dự đoán số dư tài khoản hiện tại hay dự đoán sự thay đổi so với số dư của nămtrước
Bước 2: Xem xét tính độc lập và tin cậy của các dữ liệu tài chính thu thập được
Sau khi đã xác định được các biến cụ thể để xây dựng mô hình, KTV tiếnhành công việc thu thập thông tin để lượng hóa những mô hình đó Những thôngtin này có thể được thu thập từ nhiều nguồn nhưng điều kiện tiên quyết là phảiđảm bảo không phụ thuộc vào số liệu của đơn vị khách hàng, hơn nữa phải chínhxác và đầy đủ Để đánh giá tính tin cậy của dữ liệu cần xem xét trên nhiều mặtnhư: nguồn của dữ liệu, hệ thống KSNB của khách hàng, tính kế thừa và phát triểncủa thủ tục kiểm toán dữ liệu từ những năm trước, mở rộng phạm vi dữ liệu sửdụng
Bước 3: Ứơc tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ
Dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu độc lập và tin cậy thu thập được,KTV có thể so sánh ước tính này với giá trị ghi sổ Phép so sánh này cần chú ý tớhai xu hướng sau:
- Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiêncứu: Mối quan hệ cụ thể này càng được đánh giá thường xuyên thì tính nhất quáncũng như độ tin cậy của mối quan hệ trong phân tích càng cao
Trang 11- Tính biến động tất yếu và biến động bất thường: Khi so sánh giá trịhàng tháng của đối tượng phân tích với nhau, chênh lệch phát sinh có thể là biếnđổi tất yếu theo mùa vụ và do đó không thể có giá trị bất biến hay biến động nhỏhàng tháng Để có được chênh lệch này ở mức hợp lý, KTV cần phải so sánh vớitháng cùng kỳ năm trước hoặc số tổng cộng trong cả năm
Bước 4: Phân tích nguyên nhân chênh lệch
Chênh lệch phát sinh có thể do số dư tài khoản hay loại nghiệp vụ kiểmtoán chứa đựng sai phạm nhưng cũng có thể chênh lệch được hình thành từ chínhước tính trong phân tích Do đó, lời giải thích cần được tìm hiểu từ những nhânviên của đơn vị được kiểm toán Nếu qua tiếp xúc vẫn chưa có lời giải đáp hợp lýthì cần xem xét lại giả định và dữ liệu sử dụng để ước tính Nếu vẫn còn chênhlệch qua xem xét lại giả định và dữ liệu sử dụng để ước tính Nếu vẫn còn chênhlệch qua xem xét quá trình thủ tục phân tích thì bằng chứng kiểm toán thích hợpcần được tìm kiếm qua các thủ tục kiểm tra chi tiết
Bước 5: Xem xét những phát hiện qua kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán thu được từ thủ tục phân tích cần được đánh giá dophát hiện qua kiểm toán không chỉ bao gồm những sai sót trong số dư tài khoản
mà còn liên quan tới cả những quan sát về sự vận hành của hệ thống kiểm soát nội
bộ cũng như hệ thống thông tin Do vậy mọi chênh lệch được phát hiện trong kiểmtoán cần được điều tra về tính chất, nguyên nhân trên các khía cạnh về cơ sở dẫnliệu, mục tiêu kiểm toán cũng như tình hình kinh doanh của khách hàng
Để áp dụng quy trình phân tích trong giai đoạnh thực hiện kiểm toán chohiệu quả nhất, KTV phải xem xét các yếu tố sau:
Mục tiêu của phân tích và độ tin cậy của kết quả thu được
Đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hóa thông tin
Khả năng sẵn có của các thông tin tài chính và phi tài chính
Độ tin cậy và tình thích đáng của các thông tin
Nguồn gốc thông tin
Khả năng so sánh của thông tin
Trang 12 Những hiểu biết có được từ cuộc kiểm toán những kỳ trước cùng vớihiểu biết về tính hiệu quả của hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và cácvấn đề nảy sinh dẫn đến bút toán điều chỉnh (nếu có) trong những kỳ trước.
1.2.3 Vận dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
Giai đoạn kết thúc kiểm toán là một giai đoạn đóng vai trò quan trọng trongmột cuộc kiểm toán vì ngay cả khi các giai đoạn khác của cuộc kiểm toán đượcthực hiện tốt mà giai đoạn kết thúc kiểm toán lại thực hiện sơ sài, qua loa thì chấtlượng của cuộc kiểm toán sẽ bị giảm sút nghiêm trọng
Mục tiêu chủ yếu của việc vận dụng thủ tục phân tích ở giai đoạn này đó là
có được kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọng yếu của BCTCcủa khách hàng Quy trình phân tích giúp KTV khẳng định lại cuộc kiểm toán cóđang diễn ra theo đúng chiều hướng kế hoạch ban đầu và những nhận định tronggiai đoạn lập kế hoạch đều đã được giải quyết thỏa đáng Thủ tục công tác soát xétBCTC thường bao gồm các bước sau:
Bước 1: So sánh thông tin
Kiểm toán viên tiến hành so sánh kết quả đã được kiểm toán của năm nayvới năm trước Từ đó kiểm tra xem liệu tất cả những biến động hay chênh lệchphát hiện ra đã được giải thích thỏa đáng chưa, nếu chưa thì việc thiết kế các thủtục kiểm toán bổ sung hay mở rộng thủ tục soát xét cần nhanh chóng được thựchiện
Bước 2: Phân tích kết quả
Dựa vào những bằng chứng kiểm toán thu thập được cùng với sự hiểu biếtcủa mình về khách hàng, KTV thực hiện phân tích soát xét nhằm kiểm tra lạinhững thay đổi trong BCTC của khách hàng Dựa trên những phân tích đánh giácuối cùng này, KTV phát hành ý kiến kiểm toán về tính trung thực và hợp lý củacác BCTC của đơn vị được kiểm toán
Trang 13CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẪN TÀI CHÍNH VIỆT NAM VÀ CÔNG TY TNHH KPMG VIỆT NAM
2.1 Thực trạng việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn tài chính Việt Nam
2.1.1 Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn tài chính Việt Nam
Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn tài chính Việt Nam được thành lập vàongày 05 tháng 05 năm 2006 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
0102026255 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp, đăng ký hànhnghề kiểm toán được Bộ tài chính xác nhận ngày 25 tháng 6 năm 2006 Tên gọiđầy đủ bằng tiếng Việt Nam là:
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH VIỆT NAM
Chức năng nhiệm vụ của Công ty được quy định rất rõ trong giấy phép kinhdoanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cụ thể lĩnh vực hoạt độngchính của Công ty là: Kiểm toán và dịch vụ có liên quan, Dịch vụ tư vấn tài chính,Dịch vụ kế toán, Dịch vụ định giá tài sản, Dịch vụ chuyển đổi báo cáo
Trong số lĩnh vực hoạt động chính đã kể ở trên thì Công ty cũng xác địnhmảng trọng tâm là kiểm toán BCTC Vì đây là dịch vụ cung cấp cho khách hàngthường xuyên nhất và có tỷ trọng doanh thu đem về cao nhất (chiếm tới 65% tổngdoanh thu năm 2008)
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty đãđược chú trọng đầu tư Chỉ sau một thời gian ngắn sau khi thành lập Công ty đãtiến hành trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật như: Trụ sở làm việc với đầy đủ tiệnnghi tạo điều kiện tốt nhất cho làm việc, máy móc thiết bị, máy tính các loại…nhằm giúp KTV rút ngắn thời gian làm việc mà vẫn đạt hiệu quả cao
Thực tế Công ty mới chỉ đi vào hoạt động được 4 năm nhưng do sự nỗ lựckhông ngừng của ban lãnh đạo cũng như tập thể nhân viên trong Công ty nên banđầu đã tạo dựng được uy tín và đã tạo dựng được niềm tin với khách hàng Tuynhiên vì mới đi vào hoạt động kinh doanh lại cung cấp các dịch vụ khá mới mẻ ở
Trang 14thị trường Việt Nam nên công tác tìm kiếm khách hàng và chất lượng dịch vụ cònnhiều hạn chế Công ty đang hoàn thiện quy trình kiểm toán chuẩn trong đó cóTTPT, nên TTPT được áp dụng trong các giai đoạn của kiểm toán tài chính cònnhiều vấn đề phải cần sửa đổi hoàn thiện.
2.1.2 Quy trình vận dụng thủ tục phân tích trong các giai đoạn của cuộc kiêm toán Báo cáo tài chính.
2.1.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch
Việc vận dụng thủ tục phân tích được áp dụng trong giai đoạn này nhằm cácmục tiêu sau: đạt được sự hiểu biết về nội dung các BCTC và những biến đổi quantrọng hoạt động kinh doanh của khách hàng, xác định các vấn đề nghi vấn về khảnăng hoạt động kinh doanh của khách hàng, đánh giá sự hiện diện của các sai số
có thể có trên BCTC từ đó phát hiện ra các rủi ro, các sai sót trọng yếu Các bướcthực hiện thủ tục phân tích như sau:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và phi tài chính
Tại Công ty Facom các thông tin chung về khách hàng sẽ được KTV cậpnhật và lưu vào hồ sơ kiểm toán gồm những thông tin như Hoạt động sản xuấtchính, chế độ kế toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ…Trong các cuộc kiểmtoán hàng năm trong giai đoạn lập kế hoạch, việc đánh giá về khách hàng sẽ đượcthực hiện bởi KTV có năng lực và kinh nghiệm Công việc này sẽ được tiến hànhtrên giấy làm việc như bảng bên dưới:
Trang 15CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH VIỆT NAMFACOM
VIETNAM AUDITING AND FINACIAL CONSULTING
3 Mục tiêu và chiến lược hoạt động
Một số nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh
Về mặt chính trị, kinh tế xã hội:
Bảng 2.1: Bảng thu thập thông tin chung về khách hàng
Sau khi thu thập được thông tin tài chính và phi tài chính, KTV tiến hànhxem xét ban đầu về các thông tin liên quan đến hoạt động của Công ty, vị trí củakhách hàng trên thị trường Từ đó, KTV có thể xác định những rủi ro tiềm tàng cókhả năng xuất hiện trên BCTC cũng như đánh giá khả năng hoạt động liên tục củaDoanh nghiệp
Bước 2: So sánh thông tin thu thập được
Để tăng cường hiểu biết của KTV về khách hàng và hỗ trợ việc lập kếhoạch kiểm toán, KTV sử dụng các thông tin tài chính và phi tài chính thu thập
Trang 16được để tiến hành so sánh số dư năm nay với năm trước Nguồn dữ liệu sử dụng làBCĐKT, BCKQKD.
Bước 3: Phân tích thông tin và xác định các rủi ro
Từ kết quả so sánh thực hiện ở bước 2, KTV đưa ra những đánh giá sơ bộ
về BCĐKT, BCKQKD và BCLCTT của Công ty khách hàng Hai bước công việcnày được thực hiện trên giấy tờ làm việc như sau:
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH VIỆT NAM FACOM
VIETNAM AUDITING AND FINACIAL CONSULTING
Trên BCĐKT thì KTV cần chú ý các điểm sau:
1 Khoản mục tiền và TĐT
2 Khoản phải thu …
…
Trang 17Trên từng khoản mục có chênh lệch đáng kể, xác định nguồn dữ liệu cầnthu thập để xác minh, để giải thích cho chênh lệch đáng kể đó
Bước 4: Nhận xét
Như vậy, kết thúc giai đoạn phân tích sơ bộ KTV đã khoanh vùng đượcphần nào rủi ro và khoản mục đánh giá là có thể xảy ra sai sót nên cần tập trungkiểm tra, một số khoản mục thường xuyên xảy ra sai phạm trọng yếu nhất là:Doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp,TSCĐ và khấu hao cùng các nghiệp vụ phát sinh liên quan
2.1.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Sau khi thực hiện những phân tích sơ bộ trên BCĐKT, BCKQKD trong giaiđoạn lập kế hoạch, KTV sẽ thực hiện các trắc nghiệm trong giai đoạn này Trong
số các khoản mục được xác định là chứa đựng nhiều rủi ro thì doanh thu thườngđược coi là quan trọng nhất Doanh thu là khoản mục nằm trên BCKQKD việc sửdụng thủ tục phân tích vào khoản mục này bởi vì chỉ tiêu này phản ánh số lũy kếcủa nhiều nghiệp vụ tương tự nhau phát sinh trong một kỳ kế toán Chúng thường
có mối liên quan với số liệu trên nhiều tài khoản khác nhau Do vậy thủ tục phântích chi tiết đem lại hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết vì sử dụng thủ tục kiểmtra chi tiết thì số lượng mẫu nhiều và tốn thời gian và chi phí hơn Do đó các KTVthường vận dụng thủ tục phân tích để rút ngắn thời gian cũng như khối lượng côngviệc cần thực hiện
Bước 1: Phát triển một mô hình với các biến tài chính và các biến hoạt động
Khi phát triển một mô hình, Công ty thường xác định các biến tài chínhhoặc hoạt động và mối quan hệ giữa chúng.Thủ tục phân tích chi tiết thường đượcCông ty áp dụng cho những khoản mục: Doanh thu, khấu hao tài sản cố định, chiphí nhân công, giá vốn hàng bán…Với khoản mục doanh thu, KTV cần thu thậpbằng chứng để đảm bảo các mục tiêu kiểm toán như: Đầy đủ, hiện hữu, chính xác
và phân loại trình bày Dựa vào phân tích sơ bộ BCKQKD, KTV đã đặt nghi ngờ
là doanh thu có thể bị khai khống nên chọn sử dụng thủ tục kiểm tra tính hợp lý vàphân tích xu hướng biến động của khoản mục doanh thu để làm rõ những nghi ngờ
đã được đặt ra KTV tiến hành thu thập doanh thu bán hàng theo tháng và theo
Trang 18loại sản phẩm Với khoản mục khấu hao tài sản cố định, KTV cũng dựa vào tàiliệu thu thập được về thời gian trích khấu hao, giá trị tài sản cố định, phương phápkhấu hao để tính ra số khấu hao trong kỳ Chi phí tiền lương có thể là sản phẩmcủa các biến số như: số lượng nhân viên, mức tiền lương bình quân hoặc số lượngsản phẩm và đơn giá tiền lương hoặc tỷ lệ tiền lương và tổng chi phí hay doanhsố…
Bước 2: Xem xét độ tin cậy và tính độc lập của thông tin
KTV sẽ đánh giá độ tin cậy của tài liệu thu thập được liên quan đến môhình đã phát triển Ví dụ các tài liệu cần đánh giá cho khoản mục doanh thu gồmdoanh thu tiêu thụ sản phẩm của các tháng, các hợp đồng kinh tế, các chính sáchcho việc bán hàng Một số căn cứ mà Công ty hay sử dụng để đánh giá tính tin cậycủa thông tin là: nguồn dữ liệu, tính kế thừa và phát triển của thủ tục kiểm toán dữliệu từ những năm trước…
Bước 3: Phân tích thông tin và xác định rủi ro kiểm toán
Mục đích của việc phân tích là để đảm bảo rằng khoản mục đang phân tíchcủa Công ty không ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC KTV tiến hành đề nghị kháchhàng chuẩn bị một số tài liệu liên quan đến khoản mục đang phân tích Ví nhưtrong phân tích khoản mục doanh thu KTV yêu cầu khách hàng chuẩn bị: bảng kê
về giá bán các loại sản phẩm, các đơn đặt hàng của khách, các chính sách bánhàng, sổ sách liên quan tới tài khoản doanh thu…KTV thông qua các thông tin thuthập được sẽ phát hiện được một số nguyên nhân sự biến động của khoản mụcđang phân tích
Bước 4: Xác định số chênh lệch có thể chấp nhận được
Bước 5: Phân tích nguyên nhân chênh lệch
Hai bước công việc này sẽ được tiến hành cùng lúc và trên cùng giấy tờ làmviệc để có thể tiến hành công việc được dễ dàng
VD: KTV sẽ tiến hành phân tích cho từng tháng để tìm ra sự bất hợp lý,KTV thực hiện ước tính giá trị hợp lý cho doanh thu tháng 12 để tiến hành phântích
KTV sẽ ước tính doanh thu theo công thức sau:
Trang 19Doanh thu = Số lượng * Gía bán
Do giá bán không có nhiều biến động nên giá sử dụng cho ước tính là giátrung bình cho từng mặt hàng bán ra Công ty chủ yếu bán hàng theo các hợp đồngnên về số lượng từng mặt hàng bán ra có thể thống kê được
Ta có bảng tính chênh lệch như sau:
Doanh thu ước tính 2.957.584.000
Doanh thu trên sổ 4.509.179.769
Chênh lệch(VNĐ) 1.551.595.759
Bảng 2.3: Bảng tính chênh lệch doanh thu
So sánh với mức trọng yếu được xác định, nếu thấy chênh lệch là trọng yếucần tiến hành kiểm tra chi tiết
Bước 6: Xem xét các phát hiện qua kiểm toán
Thông qua việc vận dụng thủ tục phân tích, KTV đã khoanh vùng và xácđịnh được các rủi ro và việc thực hiện kiểm tra chi tiết đã giúp tìm kiếm các saiphạm KTV cần xác định sai phạm được phát hiện là sai phạm trọng yếu haykhông trọng yếu và đơn vị đã điều chỉnh theo ý kiến của KTV hay chưa để có cơ
sở đưa ra ý kiến kiểm toán KTV thực hiện thủ tục phân tích đối với một số khoảnmục còn lại trên BCKQKD để kiểm tra tính hợp lý của chúng Cách thực hiện cóthể sẽ khác nhau tuy nhiên nó vẫn không nằm ngoài mục đích là xác định các rủi
ro và giúp giảm nhẹ khối lượng công việc kiểm tra chi tiết
2.1.2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Bước 1: So sánh thông tin
Sau khi kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV sẽ tiến hành các côngviệc soát xét cuối cùng trước khi phát hành báo cáo kiểm toán Lúc này KTV sẽbắt đầu soát xét lại BCĐKT, BCKQKD lần cuối cùng để tìm ra những điểm bấthợp lý còn tồn tại Trên BCĐKT và BCKQKD KTV dùng số liệu đã được điềuchỉnh đúng thông qua thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết ở giai đoạn thựchiện kiểm toán để so sánh với số liệu đã được kiểm toán của kỳ trước
Bước 2: Phân tích kết quả
Trang 20Qua việc thực hiện thủ tục phân tích một cách linh hoạt mà KTV đã nhanhchóng phát hiện ra những sai phạm và điều chỉnh lại cho đúng theo nội dung kinh
tế nghiệp vụ phát sinh và chế độ kế toán hiện hành Sau khi điều chỉnh đã đưa ra
hệ thống BCTC sau và phần công việc cuối cùng là xem xét tính hợp lý của cácbáo cáo này Việc xem xét tính hợp lý này dựa trên chênh lệch được phát hiện ởgiai đoạn lập kế hoạch và những phát hiện đã được điều chỉnh ở giai thực hiệnkiểm toán
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN TÀI CHÍNH VIỆT NAMFACOM
VIETNAM AUDITING AND FINACIAL CONSULTING
Mã số:…
Trang:…
Báo cáo kết quả kinh doanh( đơn vị tính: đồng)
Trang 212 Chi phí bán hàng năm 2008 tăng nhiều là do …
…
Bước 3: Nhận xét
Sau khi đã xem xét và kiểm tra lại toàn bộ các khoản mục trọng yếu và cóbiến động bất thường trên BCTC, KTV tiến hành các thủ tục phân tích đánh giátính hợp lý và giải thích nguyên nhân và đi đến kết luận không phải tiến hànhthêm các thủ tục kiểm toán bổ trợ đối với cuộc kiểm toán BCTC của Công tykhách hàng Sau khi Công ty khách hàng đã tiến hành điểu chỉnh những sai sóttheo ý kiến của KTV, KTV đã đưa ra ý kiến và phát hành báo cáo kiểm toán vềbảng khai tài chính cho niên độ kế toán kết thúc vào ngày 31/12/N
Như vậy, thông qua việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán màKTV đã tiết kiệm được thời gian bởi giảm bớt được các thủ tục kiểm tra chi tiết.KTV có thể xác định được các khoản mục trọng yếu và tập trung kiểm tra, bỏ quamột số khoản mục không trọng yếu để tiết kiệm chi phí
2.2 Thực trạng việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH KPMG Việt Nam
2.2.1 Tổng quan về Công ty TNHH KPMG Việt Nam
KPMG là một trong số những Công ty đa quốc gia sớm thâm nhập thịtrường Việt Nam Năm 1992, KPMG đã có văn phòng đại diện tại Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh và văn phòng vệ tinh tại Hải Phòng Đến năm 1994, KPMGchính thức đi vào hoạt động theo hình thức Công ty 100% vốn nước ngoài theoGiay phép đầu tư số 863/GP do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 17/7/1994 vớitên gọi Công ty TNHH KPMG đặt trụ sở chính tại Hà Nội
Từ khi bắt đầu hoạt động tại Việt Nam, KPMG không ngừng lớn mạnh vàđược xem là một trong những chi nhánh hoạt động nổi bật tại khu vực Châu ÁThái Bình Dương Với kinh nghiệm ở Việt Nam, KPMG đã có được những amhiểu sâu sắc về môi trường địa phương trong các lĩnh vực như kế toán, kiêm toán,thuế, kinh doanh và pháp lý Cùng với các Công ty kiểm toán khác như PriceWaterhouse Cooper hay Ernst and Young…, KPMG góp phần không nhỏ vào việcphát triển ngành kế toán, kiểm toán, tài chính tại Việt Nam
Các dịch vụ chính của KPMG bao gồm:
Trang 22+ Kiểm toán: Kiểm toán BCTC, kiểm toán theo luật định, các dịch vụ kiểmtoán có liên quan.
+ Thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp quốc tế, thuế kinh doanh, thuế giánthu, thuế thu nhập cá nhân
+ Tư vấn: Các dịch vụ tư vấn tài chính (Tài chính Công ty, Sát nhập, muabán và giải thể, Dịch vụ điều tra gian lận) Các dịch vụ tư vấn rủi ro (Quản lý rủi
ro thông tin, Quản lý hoạt động, Các dịch vụ pháp lý và tuân thủ, Quản lý rủi rotài chính, Các dịch vụ tư vấn kế toán) Tư vấn gia nhập thị trường (Tư vấn chiếnlược gia nhập thị trường và cơ cấu đầu tư, Hoàn thành thủ tục cấp Giay phép đầu
tư, Tư vấn các thủ tục sau cấp phép, Tư vấn nhân lực)
Là một trong những Công ty lớn nhất thế giới, KPMG không ngừng tự hoànthiện nhằm khẳng định vị trí trên thị trường Từ khi mới thành lập, Công ty TNHHKPMG Việt Nam đã được thừa hưởng phương pháp kiểm toán hiệu quả của hơnmột trăm năm tích lũy và năng lực chuyên môn của các nhân viên chuyên nghiệpđến từ nhiều nước khác nhau trên thế giới Là một Công ty có lịch sử hình thành
và phát triển từ khá sớm so với các Công ty kiểm toán tại Việt Nam, Công tyTNHH KPMG Việt Nam có nhiều kinh nghiệm hữu ích trong hoạt động kinhdoanh của mình Với nguồn vốn đầu tư không ngừng được bổ sung, thị trườngkhông ngừng được mở rộng, số lượng khách hàng ngày càng tăng, cùng đội ngũnhân viên được đào tạo thường xuyên với chất lượng cao, bộ máy quản lý hợp lý
có thể phát huy được tối đa những lợi thế sẵn có của công ty và quy trình kiểmtoán áp dụng trên toàn cầu của KPMG quốc tế, KPMG Việt Nam đang ngày càngphát triển và khẳng định vị trí của mình trên thị trường cung cấp dịch vụ kiểmtoán, thuế, tư vấn tài chính Các kỹ thuật thu thập bằng chứng đặc biệt là việc vậndụng TTPT được thực hiện theo một quy trình chuẩn được nêu trong phương phápkiểm toán của Công ty
2.2.2 Quy trình vận dụng thủ tục phân tích trong các giai đoạn của kiểm toán Báo cáo tài chính
2.2.2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán