Hội nhập kinh tế quốc tế là xu h¬ướng tất yếu và là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và là yêu cầu khách quanđối với các quốc gia trong giai đoạn hiện nay Việt nam cũng không phải là mộtngoại lệ Sự thành công của nền kinh tế Việt nam sau hơn 20 năm đổi mớiphải kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các DNVVN góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và vai trò tích cực trongtiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia trên thế giới Trong những nămgần đây, các DNVVN ở Việt nam được hình thành và từng bước hoàn thiện theo
xu hướng năng động tích cực, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế CácDNVVN dần tạo được thế và lực trong kinh doanh nội địa và từng bước tham giavào thị trường quốc tế, thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài Gần đây Việt namđược đánh giá là quốc gia có môi trường kinh doanh an toàn nhất châu Á - đây là cơhội lớn dành cho các DNVVN của Việt nam Tuy nhiên một trong những khó khănlớn mà các DNVVN gặp hiện nay là vốn Vốn là nhân tố quyết định năng lực hoạtđộng sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính, năng lực thị trường, khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Làm thế nào để tiếp cận được các nguồn vốn đầu tư và sửdụng nguồn vốn đó hiệu quả là bài toán đặt ra cho các nhà quản lý doanh nghiệp,đồng thời nó thu hút sự quan tâm của các nhà tài trợ như các NHTM Bởi hiệu quả
sử dụng vốn vay của doanh nghiệp cao hay thấp có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp, đến thu nhập của các nhà tài trợ trong đó phải kể đến cácnhà tài trợ là các ngân hàng Để mở rộng cho vay và không ngừng nâng cao chất l-ượng cho vay đối với các DNVVN đòi hỏi NHTM phải có các giải pháp cụ thể chovấn đề này
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và trong quá trình thực tập tại ngân
hàng mà em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối
với DNVVN tại Ngân hàng TMCP Á Châu”, nhằm hoàn thiện hơn chất
Hoàng Thị Thu Thủy 1 Lớp 18B - 17
Trang 2lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng doanh nghiệp nói riêng tạiNgân hàng TMCP Á Châu Qua đó, góp phần nâng cao và hiệu quả hoạt độngcủa Ngân hàng TMCP Á Châu.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Á Châu
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Á Châu
Hoàng Thị Thu Thủy 2 Lớp 18B - 17
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặc dù khái niệm về DNVVN đã được biết đến trên thế giới từ những nămđầu của thế kỷ XX và khu vực DNVVN được các nước quan tâm phát triển từnhững năm 50 của thế kỷ XX Để đưa ra khái niệm DNVVN, các nước trên thếgiới đều dựa vào các yếu tố nhất định, đó là: vốn, lao động, doanh thu Tuy nhiêntừng nước sử dụng các tiêu chí này khác nhau Nếu như ở Mỹ chỉ căn cứ vào số laođộng nhỏ hơn 500 người thì Canada có thêm điều kiện là doanh thu nhỏ hơn 20triệu CAD Còn một số nước khác như Nhật Bản và Hong Kong lại chia các tiêuchí cụ thể theo ngành công nghiệp hoặc dịch vụ, bán lẻ hay bán buôn Có thể thamkhảo về tiêu chí xác định DNVVN của các nước ở bảng dưới đây:
Bảng 1: Tiêu chí xác định DNVVN ở một số nước
Nước Số lao động Các tiêu chí áp dụng Tổng vốn Doanh thu
Trang 4phát triển các DNVVN ở mỗi nước Tiêu chí này ở mỗi nước cũng có thể thay đổiphù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ.
Ở Việt Nam, theo nghị định số 90/2001/NĐ - CP của Chính phủ banhành ngày 23/11/2001 đã đưa ra định nghĩa chính thức về DNVVN Theo đó,tiêu chí xác định DNVVN đó là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng
ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷđồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Đây là vănbản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về DNVVN, là cơ sở để các chínhsách và biện pháp hỗ trợ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong vàngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho các DNVVN Như vậy, tất cảcác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh vàthoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là DNVVN
Từ kinh nghiệm của các nước và thực tiễn ở Việt Nam có thể rút rađịnh nghĩa về DNVVN như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh với các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc số lao động phù hợp với các tiêu chí theo quy định của Chính phủ.
Cần thống nhất quan điểm đối với những công ty là thành viên của cácTổng công ty nhà nước có quy mô lớn Các công ty là thành viên có thể thuộcloại DNVVN nhưng là đơn vị trực thuộc một Tổng công ty có quy mô lớn nêncác công ty thành viên đó không thể coi là DNVVN Tương tự như vậy, đốivới công ty cổ phần thuộc loại vừa và nhỏ mà có một công ty hoặc tổng công
ty khác có quy mô lớn sở hữu phần lớn cổ phần cũng không được coi làDNVVN
1.1.2 Đặc điểm của DNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 4 Lớp 18B - 17
Trang 5Đặc điểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô củadoanh nghiệp.
- Về vốn : Do điều kiện để thành lập một DNVVN không đòi hỏi cần
số vốn lớn nên hầu hết các DNVVN có quy mô vốn tự có nhỏ So với cácdoanh nghiệp quy mô lớn, DNVVN thường có hiệu suất sử dụng vốn cao hơn
do lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống
xã hội, nhằm vào những sản phẩm có sức mua cao, ngoài ra chu kì sản xuấtkinh doanh ngắn, lại diễn biến theo mùa nên tốc độ quay vòng vốn nhanh từ
đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp
- Bộ máy tổ chức quản lý của DNVVN: cơ cấu tổ chức thường nhỏgọn, ít cấp bậc và không bị chồng chéo Vì thế đã đem lại hiệu quả điều hànhhết sức linh hoạt và tích cực trong quản trị doanh nghiệp
- DNVVN tồn tại phát triển ở mọi ngành nghề, mọi thành phần kinh tế
và hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả trong lĩnh vực màdoanh nghiệp lớn không muốn tham gia học không thể vươn tới hết Chúngchiếm tới hơn 95% số doanh nghiệp nước ta, tạo ra một lượng hàng hoá dịch
vụ đáp ứng đầy đủ và kịp thời mọi nhu cầu là nhỏ nhất của tất cả các tầng lớp
xã hội
- Lao động: DNVVN có quy mô lao động nhỏ, chủ yếu sử dụng laođộng giản đơn trình độ tay nghề chưa cao do đó có thể tận dụng nguồn nhânlực dồi dào của nước ta
Cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới với quy mô nhỏ,DNVVN Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc giakhác Ngoài ra, do đặc trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạnchuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa nên các DNVVN ở Việt Nam còn có những đặc điểm riêng.Những đặc điểm cơ bản của các DNVVN Việt Nam thể hiện như sau:
Hoàng Thị Thu Thủy 5 Lớp 18B - 17
Trang 6- Các DNVVN ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiềuhình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm DNNN, doanh nghiệp và các công
ty tư nhân đến các HTX Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác nhau không được đối xử bình đẳng bị phân biệt đối
xử Điều đó làm ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanhnghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cậnnguồn lực không như nhau( trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng)
- DNVVN là doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây lànhững doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân Đặc điểm này đãlàm cho các DNVVN gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình
- Khả năng quản lý hạn chế: Các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ
sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp Họ vừa
là người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức
độ chuyên môn trong quản lý không cao Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộphận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham giatrực tiếp vào quá trình sản xuất Phần lớn những người chủ doanh nghiệp đềukhông được đào tạo qua bất kỳ một khoá quản lý chính quy nào
- Trình độ tay nghề của người lao động thấp Các chủ DNVVN không
có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc cho thuê nhữngngười lao động có tay nghê cao do hạn chế về tài chính Bên cạnh đó, địnhkiến của người lao động cũng như người thân của họ về khu vực kinh tế nàyvẫn còn khá lớn Người lao động ít được đào tạo và tái đào tạo do kinh phíhạn hẹp vì vậy thường hạn chế vể trình độ và kỹ năng nghiệp vụ Ngoài ra, sựkhông ổn định khi làm việc cho các DNVVN, cơ hội để phát triển bản thân íttại các doanh nghiệp này đã tác động tới người lao động có trình độ khôngmuốn gắn bó lâu dài cho khu vực kinh tế này
Hoàng Thị Thu Thủy 6 Lớp 18B - 17
Trang 7- Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứutriển khai các dự án, nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiếnnhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hìnhthành công nghệ mới hoặc bị doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ Tuy nhiên, cácDNVVN rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị củadây chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mớicông nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu.Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và đào tạo nên sựkhác biệt về sản phẩm để các DNVVN có thể tồn tại trên thị trường.
- Các DNVVN Việt Nam thường sử dụng chính diện tích đất riêng củamình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và khó thuê được các mặt bằng sảnxuất Vì vây, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuấtkinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng Một số doanh nghiệpthuê được đất thì gặp rất nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đềnbù
- Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nướcngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN thường là những doanhnghiệp mới thành lập, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không
có và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô,thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phư-ơng, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn
1.1.3 Các nguồn huy động vốn của DNVVN
Vốn là nguồn lực quan trọng nhất và không thể thiếu cho doanh nghiệpkhi bắt đầu hoạt động, vốn được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trìnhsản xuất Ngoài nguồn vốn tự có doanh nghiệp còn có thể tận dụng các nguồntài trợ từ bên ngoài như:
+ Nguồn phi chính thức:
Hoàng Thị Thu Thủy 7 Lớp 18B - 17
Trang 8- Vay gia đình và bạn bè: Họ là những người tin tưởng vào chủ doanhnghiệp, đây là nguồn vốn dễ tiếp cận thứ nhì sau vốn tự có Tuy nhiên lượngvốn huy động được không nhiều và không có sẵn mọi lúc cần thiết.
- Vay thông qua hình thức trả chậm, chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa cácdoanh nghiệp có quan hệ đối tác Nguồn này có ưu điểm là khá linh hoạt vàchi phí thấp, dựa trên cơ sở lòng tin và không cần tài sản thế chấp Tuy nhiên
nó cũng có nhiều hạn chế như quy mô nhỏ, ngắn hạn… do đó khó có thể đápứng được yêu cầu phát triển DNVVN
+ Các nguồn chính thức
- Các chương trình của chính phủ: chính phủ và chính quyền địa ơng thường có tổ chức chương trình xúc tiến thương mại cho các DNVVN.VD: ở Mỹ, Cục Quản lý doanh nghiệp nhỏ (SBA) hỗ trợ nhiều doanh nghiệpnhỏ bằng cách bảo lãnh cho các khoản vay từ các tổ chức tư nhân cho nhữngngười bình thường không có đủ tài sản thế chấp cho khoản vay thương mại.Còn ở nước ta thì chủ yếu thông qua hoạt động của quỹ hỗ trợ phát triển vàngân hàng chính sách xã hội
phư Các chương trình tín dụng của tổ chức và chính phủ nước ngoài như:Quỹ phát triển DNVVN của cộng đồng Châu Âu (SMEDF), tín dụng hỗ trợcủa Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản( JBIC), công ty tài chính quốc tế tạiViệt Nam (IFC)…
- Nguồn huy động vốn trên TTCK thông qua việc niêm yết và pháthành cổ phiếu, trái phiếu Tuy nhiên không phải DNVVN nào cũng có thể đápứng được các điều kiện niêm yết, phát hành hết sức chặt chẽ trên TTCK
- Thuê tài chính: Trên thế giới cho thuê tài chính đã xuất hiện từ rấtsớm và phát triển mạnh mẽ từ những năm 60 của thế kỷ trước Các sản phẩmcho thuê tài chính ngày càng đa dạng, từ máy fax, máy photocopy cho đến xetải, máy bay, tàu thuỷ… Việc cho thuê tài chính rất hữu ích cho các DNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 8 Lớp 18B - 17
Trang 9thông qua việc cung cấp thiết bị để nâng cao chất lượng, năng suất sản phẩm,tăng hiệu quả kinh doanh Ở Việt Nam hình thức này chưa phát triển tươngxứng với tiềm năng.
- Vay vốn từ các TCTD hiện hành bao gồm NHTM nhà nước, NHTM
cổ phẩn, ngân hàng liên doanh hoặc chi nhánh các ngân hàng nước ngoài…Tuy nhiên theo điều tra mới đây về thực trạng DNVVN của Cục phát triểndoanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy chỉ có 32,38% DNVVN cókhả năng tiếp cận được các nguồn vốn của ngân hàng
1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN
1.2.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Với mục đích hoạt động chính là “đi vay” để “cho vay” thông qua cáchoạt động của mình để điều tiết và định hướng các hoạt động đầu tư, trong đóhoạt động tín dụng dùng để hướng các nguồn từ nhiều vốn khác nhau vàohoạt động kinh tế hiệu quả Tuy nhiên, tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất
và rủi ro cao nhất cho NHTM Qua đó ta có thể hiểu về hoạt động tín dụngnhư sau:
Hoạt động tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (NHTM hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
1.2.2.1 Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin
Điều này được thể hiện khi ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng thìngân hàng đã có sự tin tưởng vào khả năng trả nợ và sự sẵn lòng trả nợ của
Hoàng Thị Thu Thủy 9 Lớp 18B - 17
Trang 10khách hàng Do vậy ngân hàng phải thẩm định kỹ lưỡng khách hàng trước khi
ra quyết định cho vay Điều này rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến
sự an toàn trong kinh doanh của ngân hàng
1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả
Đặc trưng mang tính hoàn trả của TDNH có nghĩa là ngân hàng chỉchuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị cho người sử dụng và sau một thờigian nhất định khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng lượng giá trị lớn hơngiá trị ban đầu, phần tăng thêm chính là giá của khoản vay Nghĩa vụ hoàn trảcủa khách hàng cho ngân hàng phụ thuộc vào thoả thuận giữa hai bên Quathoả thuận đó khách hàng có thể trả một hoặc nhiều lần gốc và lãi tiền vaytrong một khoảng thời gian nhất định cho đến khi hết nợ vay
1.2.2.3 Tín dụng ngân hàng mang tính thời hạn
Đó là sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời gian sử dụngtiền vay Đây là căn cứ để ngân hàng điều hoà giữa thời gian huy động và thờigian giảm thiểu rủi ro thanh toán Đối với khách hàng vay vốn có thể xác địnhthời gian vay vốn căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, tốc độ tiêu thụ sảnphẩm, thời điểm hình thành nguồn thu, tình hình lưu chuyển tiền tệ của doanhnghiệp
1.2.2.4 Tín dụng ngân hàng mang tính rủi ro
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng rủi ro là điều khó tránh khỏi, đó
là xác suất xảy ra các biến cố không mong đợi làm giảm giá trị tài sản và thunhập của ngân hàng, đặc biệt là rủi ro từ hoạt động tín dụng Rủi ro tín dụng
có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân: rủi ro do đạo đức của cán bộ cấp tíndụng, của khách hàng vay vốn, do tác động của chu kỳ kinh tế, lạm phát
1.2.3 Phân loại tín dụng Ngân hàng
Phân loại tín dụng Ngân hàng là việc sắp xếp các khoản vay theo tổngnhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại tín dụng có ý nghĩa
Hoàng Thị Thu Thủy 10 Lớp 18B - 17
Trang 11quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Các Ngân hàng thườngphân loại tín dụng theo các tiêu thức cơ bản sau:
1.2.3.1 Căn cứ vào thời hạn vay
Tín dụng ngắn hạn : Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, được sử
dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp
và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân
Tín dụng trung hạn : Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại tín
dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mởrộng sản xuất và xây dung các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng
để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các côngtrình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn
1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng cấp cho
các nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưuthông hàng hóa
Tín dụng tiêu dùng : là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe ô tô, xe máy, các loại hàng hoábền chắc như tủ lạnh, điều hoà, máy giặt, may chay, cưới hỏi…
1.2.3.3 Căn cứ vào mức độ đảm bảo
Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay
Tín dụng không có đảm bảo : Là hình thức tín dụng không có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc người bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ vay màviệc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng
1.2.3.4 Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng
Hoàng Thị Thu Thủy 11 Lớp 18B - 17
Trang 12Tín dụng trực tiếp : Là hình thức cấp tín dụng không qua một trung
gian tài chính như NHTM hoặc TCTD khác
Tín dụng gián tiếp : Là hình thức cấp tín dụng giữa những người có
tiền (hoặc hàng hoá) với người cần sử dụng tiền (hoặc hàng hoá) đó, khôngcần phải thông qua một trung gian tài chính
1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN
1.3.1.Khái niệm chất lượng tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là nghiệp vụ mang lại phần lớndoanh lợi cho ngân hàng Nhưng đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nguy cơ rủi rolớn cho ngân hàng ngay cả với các khoản vay có tài sản cầm cố Sẽ rất sai lầmkhi quan niệm cho vay có đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp không vượtquá tỉ lệ an toàn Bởi năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực thị trường, nănglực tài chính mới là chính là nhân tố quyết định đến khả năng trả nợ và khảnăng duy trì quan hệ khách hàng với ngân hàng trong tương lai
Chất lượng tín dụng thể hiện tập trung ở sự thoả mãn yêu cầu hợp lýcủa khách hàng được lựa chọn Đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theođường lối đổi mới của đất nước, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NHTM
Chất lượng tín dụng có thể được hiểu như sau:
Chất lượng tín dụng là kết quả tổng hoà những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện sự phát triển ổn định vững chắc của nền kinh tế quốc dân, của ngân hàng và khách hàng Chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời khách hàng vay vốn phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng Đối với khách hàng vay vốn chất lượng tín dụng thể hiện vốn vay đợc sử dụng hiệu quả, trang trải được các chi phí hoạt động của doanh nghiệp và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hoàng Thị Thu Thủy 12 Lớp 18B - 17
Trang 13Khái niệm trên được hiểu theo 3 khía cạnh:
Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ,
giới hạn tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân Ngân hàng và đảmbảo cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được đánh giá theo tính chất
phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức lãi suất và kỳ hạn hợp
lý Bên cạnh đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo nguyêntắc tín dụng
Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng được đánh giá qua mức phục
vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm,thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế, hoà nhập với cộng đồng quốc tế
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN
1.3.2.1 Đối với ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN là tăng khả năng cungcấp các dịch vụ ngân hàng của các NHTM, do hoạt động cho vay của ngânhàng có khả năng tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng quay vòng vốn tín dụng vàthu hút thêm nhiều khách hàng Mặt khác, các sản phẩm dịch vụ của ngânhàng ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng ngày càng cao thoả mãn tốtnhững yêu cầu của khách hàng Hơn nữa nó giúp ngân hàng xây dựng thươnghiệu, hình ảnh đẹp và nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN còn giúp ngân hàngthực hiện tốt hai mục tiêu chiến lược là an toàn và lợi nhuận Vì hiệu quả chovay cao sẽ là tăng khả năng sinh lời cho các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng
do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, chi phíthiệt hại do không thu hồi được vốn Mặt khác, nâng cao chất lượng tín dụngtín dụng các DNVVN còn giúp ngân hàng mở rộng thị phần hoạt động, nâng
Hoàng Thị Thu Thủy 13 Lớp 18B - 17
Trang 14cao hiệu quả kinh doanh và đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng do số lượngcác DNVVN trong nền kinh tế rất lớn và có xu hướng mở rộng thêm.
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN giúp cho nền kinh tếtăng trưởng và phát triển, góp phần thực hiện tốt mục tiêu chính sách tiền tệ,kiềm chế lạm pháp
Nâng cao chất lượng tín dụng giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh cóhiệu quả, thu được lợi nhuận lớn, giải quyết công ăn việc làm, giảm tệ nạn xãhội và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
Với những lợi ích trên việc nâng cao chất lượng tín dụng cho vay đối vớicác DNVVN là thật sự cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của NHTM cũngnhư các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng trong nền kinh tế
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu chủ yếu và tổng hợp, có vai tròquan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một ngân hàng Cácchỉ tiêu đánh giá hoạt động và chất lượng tín dụng bao gồm chỉ tiêu định tính
và chỉ tiêu định lượng
1.3.3.1 Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là số tiền ngân hàng đã thực sự giải ngân cho kháchhàng được tính trong một khoảng thời gian nhất định Nó phản ánh khối lư-
Hoàng Thị Thu Thủy 14 Lớp 18B - 17
Trang 15ợng mà ngân hàng đã giải ngân cho DNVVN để đầu tư đổi mới công nghệ,
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Nghiên cứu doanh số cho vay nhiềuthời kỳ sẽ cho thấy xu thế hoạt động cho vay
Để đánh giá doanh số cho vay đối với DNVVN qua từng thời kỳ có thểxác định chỉ tiêu mức tăng doanh số cho vay DNVVN và chỉ tiêu tỷ lệ tăngdoanh số cho vay DNVVN
Mức tăng DSCV = Tổng DSCV đối với DNVVN năm(t) - năm(t-1) đvới DNVVN
Mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN thay đổi phản ánh sự thay đổi vềquy mô tín dụng đối với DNVVN
Mức tăng DSCV đối với DNVVN
Tỷ lệ tăng DSCV = x 100 đvới DNVVN Tổng DSCV đối với DNVVN năm (t-1)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số cho vay năm nay so vớinăm trước là bao nhiêu, từ đó cho biết xu hướng đầu tư vào DNVVN là mởrộng hay thu hẹp
1.3.3.2 Nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn là khoản nợ gốc hay lãi mà DNVVN không trả
đư-ợc khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng giữa doanh nghiệp vàngân hàng Trên thực tế, các khoản vay bị chuyển sang trạng thái quá hạn làcác khoản vay có vấn đề, doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng,khả năng mất vốn của ngân hàng cao, điều đó có nghĩa là tính an toàn của cáckhoản vay Khi đó sẽ liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản, khiếnngân hàng gia tăng chi phí do phải tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và chovay đúng hợp đồng Đồng thời doanh nghiệp phải chịu lãi suất quá hạn sẽkhiến cho doanh nghiệp đã khó lại càng khó khăn hơn trong việc trả nợ
Hoàng Thị Thu Thủy 15 Lớp 18B - 17
Trang 16Nợ quá hạn của DNVVN phán ánh chất lượng tín dụng thấp songkhông một NHTM nào tránh được nợ quá hạn Đôi khi nợ quá hạn xảy rakhông phải do phía doanh nghiệp mà là từ chính ngân hàng Như cán bộ tíndụng không quan tâm đích đáng chu kì kinh doanh của DNVVN, phê duyệt
kỳ hạn nợ không phù hợp với chu kì kinh doanh của doanh nghiệp … điều đótất yếu gây nợ quá hạn Gia tăng nợ quá hạn là điều mà các ngân hàng khôngmong muốn vì nợ quá hạn phát sinh sẽ là gia tăng chi phí của ngân hàng nhưchi phí đòi nợ, chi phí xử lý tài sản bảo đảm Chỉ tiêu này thường được ngânhàng xác định vào một thời điểm nhất định, thường vào cuối tháng, cuối quýhoặc cuối năm
Tuy nhiên, khi xem xét chất lượng cho vay DNVVN không đơn thuầnđánh giá nợ quá hạn mà còn đánh giá chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn DNVVN là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến nhất khiđánh giá về chất lượng cho vay ngân hàng vì nó biểu hiện cho những rủi rotiềm ẩn về khả năng thu hồi gốc và lãi vay mà ngân hàng đang phải đối mặt
Tỷ lệ này cho biết tại thời điểm xác định cứ 100 đồng ngân hàng đã cho vaythì có bao nhiêu đồng ngân hàng không thể thu hồi
Nợ quá hạn của DNVVN
Tỷ lệ nợ quá hạn DNVVN = x 100 Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động cho vay DNVVN của ngânhàng đang gặp khó khăn Cụ thể ngân hàng có nguy cơ mất vốn, khả năngthanh toán và lợi nhuận của ngân hàng suy giảm
Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp chứng tỏ chất lượng tín dụngcàng cao, hoạt động cho vay có hiệu quả
Hoàng Thị Thu Thủy 16 Lớp 18B - 17
Trang 17Để đánh giá chính xác chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn thànhhai loại: Nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năngthu hồi.
Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ nợ quá hạn để đánh giá chất lượngtín dụng sẽ dẫn đến kết luận không chính xác Vì tỷ lệ nợ quá hạn thấp có thể
do doanh số cho vay của ngân hàng thấp hoặc doanh số cho vay tăng nhanhhơn nhiều lần so với nợ quá hạn Mặt khác việc doanh số cho vay tăng quánhanh cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro lớn cho ngân hàng, do vậy để đánh giáchính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng cần phải xem xét các chỉ tiêukhác nữa
1.3.3.3 Nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm: nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm nợnghi ngờ và nhóm nợ có khả năng mất vốn Ở nước ta việc phân loại nhóm nợnày được quy định trong quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005của Ngân hàng Nhà nớc, việc phân loại nợ cụ thể sẽ giúp ngân hàng đưa racác chính sách hợp lý cho từng nhóm nợ, qua đó cũng có thể đánh giá đượcchất lượng tín dụng
- Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): là các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180ngày Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợđiều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu được phân loại vào nhóm 2 Các khoản nợ đ-ược miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theohợp đồng tín dụng
- Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): là các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày tínhtheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạntrả nợ lần thứ hai
Hoàng Thị Thu Thủy 17 Lớp 18B - 17
Trang 18- Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): là các khoản nợ quá hạn trên 360ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu mà quá hạn từ 90 ngàytrở lên tính theo thời hạn trả đã được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấulại lần hai mà quá hạn tính theo thời hạn trả đã được cơ cấu lại lần hai Cáckhoản nợ cơ cấu lại lần ba trở lên Nợ khoanh và các khoản nợ chờ xử lý.
Các chỉ tiêu này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngânhàng Khi chỉ tiêu từ nhóm 3 đến nhóm 5 ở mức độ cao thì hoạt động củangân hàng đang gặp rất nhiều rủi ro, khả năng bảo toàn vốn thấp, có thể đedoạ đến sự tồn tại của ngân hàng
Trong thực tế, do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh là không thểtránh khỏi nên các NHTM hiện nay thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạnnhất định coi như một giới hạn an toàn cho vay đối với NHTM Thông thư-ờng tỷ lệ này được duy trì ở dưới mức 5% là có thể chấp nhận được
DNVVN có dư nợ xấu cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn của ngânhàng thấp, các khoản nợ nghi ngờ vẫn chưa được thu hồi, vốn vẫn bị ứ đọng.Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh chất lượng tín dụng DNVVN, để đánh giáchính xác hơn người ta thường kết hợp với chỉ tiêu tương đối tỷ lệ nợ xấu
+ Dư nợ dưới tiêu chuẩn và tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn
Hoàng Thị Thu Thủy 18 Lớp 18B - 17
Trang 19Nợ dưới tiêu chuẩn là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không
có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Dư nợ nhóm này cao chứng tỏvốn ngân hàng bị tồn đọng và có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
Do đó, ngân hàng cần có biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế việc phải chuyểncác nhóm nợ này sang nhóm nợ xấu hơn Đi kèm với chỉ tiêu tuyệt đối này làchỉ tiêu tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn
Nợ dưới tiêu chuẩn DNVVN
Tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn DNVVN = x 100 Tổng dư nợ DNVVN
Tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn DNVVN phản ánh trong 100 đồng dư nợDNVVN có bao nhiêu đồng là nợ dưới tiêu chuẩn Tỷ lệ này cao chứng tỏ nợdưới tiêu chuẩn DNVVN chiếm phần lớn trong tổng dư nợ DNVVN Tuynhiên, tỷ lệ này tăng trong khi nhóm 4, nhóm 5 giảm cho thấy ngân hàng đã
có những biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi các khoản nợ quá hạn này
+ Dư nợ nghi ngờ và tỷ lệ nợ nghi ngờ
Nợ nghi ngờ là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là khả năng tổnthất cao Dư nợ nghi ngờ cao chứng tỏ khả năng mất vốn của ngân hàng lớn
Để đánh giá chính xác hơn người ta thường đánh giá kết hợp với chỉ tiêu tỷ lệ
Hoàng Thị Thu Thủy 19 Lớp 18B - 17
Trang 20+ Nợ có khả năng mất vốn và tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn
Nợ có khả năng mất vốn là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá làkhông còn khả năng thu hồi, mất vốn Dư nợ nhóm này lớn có thể cho thấyngân hàng mất một lượng vốn lớn, càng chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinhdoanh của kinh tế DNVVN thấp Tuy nhiên để thấy rõ hơn điều này cần đánhgiá thông qua chỉ tiêu tương đối tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn
Nợ có khả năng mất vốn DNVVN
Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn = x 100
DNVVN Tổng dư nợ DNVVN
Tỷ lệ này phản ánh cứ 100 đồng cho vay DNVVN thì có bao nhiêu đồng bịtổn thất Tỷ lệ này cao trong khi nợ quá hạn tăng cho thấy nguy cơ vỡ nợ dẫnđến phá sản ngân hàng là rất lớn Từ đó cho ta thấy được chất lượng tín dụngDNVVN bị giảm sút nghiêm trọng
1.3.3.4 Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng dùng để đánh giá khả năng tổ chức quản lývốn tín dụng và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu vốn của kháchhàng
Hoàng Thị Thu Thủy 20 Lớp 18B - 17
Trang 21nhanh nên ngân hàng có khả năng đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu vốn chocác doanh nghiệp và tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác.
1.3.3.5 Mức sinh lời từ hoạt động cho vay
Tổng lãi chi phí hoạt động
Mức sinh lời từ cho vay - cho vay
Hoạt động cho vay =
Dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này càng cao phản ánh ngân hàng đã có những cách thức thíchhợp nhằm thu được hiệu quả cao từ hoạt động cho vay như mở rộng đối tượngcho vay, tăng dư nợ và giảm chi phí hoạt động cho vay Do vậy khi mức sinhlời đạt mục tiêu đề ra sẽ là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng phát triển Tuynhiên ngân hàng không nên quá chú trọng vào việc mở rộng dư nợ cho vay vàcắt giảm chi phí hoạt động cho vay vì điều này sẽ ảnh hưởng đến chất lượngcho vay của ngân hàng Mà chất lượng cho vay chỉ thực sự có ý nghĩa khi nógóp phần nâng cao mức sinh lời của ngân hàng đồng thời đảm bảo an toànvốn cho ngân hàng
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN
1.3.4.1 Các nhân tố khách quan
a.Môi trường kinh tế
Để ngân hàng có thể huy động được nhiều nguồn vốn, mở rộng hoạtđộng cho vay phục vụ cho việc phát triển kinh tế thì phải có một nền kinh tếphát triển ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng của ngânhàng Về phương diện tổng thể, nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện cho việcnâng cao hoạt động tín dụng
Hoàng Thị Thu Thủy 21 Lớp 18B - 17
Trang 22Một nền kinh tế phát triển ổn định, không có lạm phát hay khủng hoảng
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vànhư vậy khả năng vay mượn và trả nợ không bị biến động lớn Ngân hàngkhông phải chịu những thiệt hại do sự mất giá của đồng tiền, tránh được sựgiảm thấp của chất lượng tín dụng
Tuy nhiên để xã hội tồn tại và phát triển đòi hỏi nền kinh tế phải tăngtrưởng Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử dụng mức lạmphát vừa phải để tăng trưởng tín dụng, kích thích đầu tư Nhưng nếu như mởrộng tín dụng quá giới hạn sẽ xảy ra lạm phát tốc độ cao, dẫn đến đồng tiềnmất giá và chất lượng tín dụng bị giảm thấp
Một trong những nhân tố có tác động không nhỏ tới chất lượng tín dụng
là chu kỳ phát triển kinh tế Nếu thời kỳ kinh tế hưng thịnh, sản xuất kinhdoanh mở rộng dẫn đến nhu cầu vốn tăng, hiệu quả tín dụng cũng được tănglên, giảm bớt rủi ro tín dụng Mặt khác trong thời kỳ kinh tế suy thoái, sảnxuất trì trệ, kinh doanh bị thua lỗ, nhu cầu vốn tín dụng giảm và nếu vốn tíndụng được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng hiệu quả Ngoài ra các chínhsách kinh tế và sự tác động điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền đều cónhững ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
b Môi trường chính trị, xã hội
Chính trị xã hội ổn định là điều kiện tiền đề để dân chúng tin vào ờng lối lãnh đạo của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi thu hút cácnguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ phát triển kinh tế Bên cạnh đónhu cầu vay vốn của các DNVVN có điều kiện được thoả mãn tốt hơn
đư-Về phía các ngân hàng có nhiều cơ hội mở rộng cho vay và nâng caochất lượng tín dụng đối với các DNVVN Ngược lại môi trường chính trị, xãhội không ổn định sẽ làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư, các nhà quản
Hoàng Thị Thu Thủy 22 Lớp 18B - 17
Trang 23lý DNVVN, do vậy quy mô đầu tư bị thu hẹp kéo theo nhu cầu vay vốn ngânhàng giảm sút, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
c Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng Sự đồng
bộ, của các bộ luật, chính sách của Nhà nước tạo ra một môi trường pháp lýđầy đủ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Pháp luật là một bộ phậnkhông thể thiếu được bất kỳ một nền kinh tế nào Không có pháp luật hoặcpháp luật ban hành không phù hợp thì sẽ trở thành một bức tường cản trở sựphát triển của hoạt động kinh doanh Một môi trường pháp lý đầy đủ và tạođiều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư, tăngtrưởng kinh tế Vì vậy nhân tố pháp lý có vị trí hết sức quan trọng đối vớihoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng
d Môi trường tự nhiên
Mặc dù mối quan hệ trong vay vốn giữa ngân hàng và DNVVN đượcthiết lập trên cơ sở lòng tin, sự ưu đãi và tuân thủ nghiêm túc của các bên thìchất lượng tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN cũng có thể giảm sút donhững rủi ro bất khả kháng Đó là rủi ro xảy ra do các hiện tượng tự nhiên nh-
ư hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn Môi trường tự nhiên không thuận lợi làmột trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng và hiệu quả đầu tư củaDNVVN, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của DNVVN vay vốn, từ đó làmgiảm chất lượng tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN
1.3.4.2 Nhân tố chủ quan
a Chính sách cho vay
Chính sách cho vay là một trong những chính sách quan trọng nhất củangân hàng Có chính sách đúng đắn sẽ đưa ra được hình thức cho vay phù hợpvới nhu cầu, thu hút được khách hàng, đồng thời khuyến khích khách hàng trả
Hoàng Thị Thu Thủy 23 Lớp 18B - 17
Trang 24nợ đúng hạn Chất lượng tín dụng có tốt hay không phụ thuộc vào việc xâydựng một chính sách tín dụng của ngân hàng có đúng đắn hay không.
b Công tác tổ chức của ngân hàng
Tổ chức ngân hàng sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợpthống nhất từ trên xuống dưới, từ ban lãnh đạo đến từng nhân viên nghiệp vụ
Tổ chức ngân hàng làm cho hoạt động của ngân hàng được linh hoạt, chặtchẽ, nhịp nhàng Đây là cơ sở để tiến hành nghiệp vụ tín dụng lành mạnh vàquản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng
c Thông tin tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, người nào nắmbắt được thông tin nhanh nhất, chính xác nhất thì người đó đã nắm được đaphần thắng Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng đối với chất lượng tíndụng Nhờ có thông tin tín dụng mà giúp cho cán bộ tín dụng đa ra quyết địnhđúng đắn, kịp thời liên quan đến cho vay và theo dõi khoản cho vay
Cho vay vốn không phải là một vấn đề đơn giản vì thực tế không phảidoanh nghiệp nào cũng sử dụng vốn có hiệu quả và đúng mục đích Nắm bắtkịp thời và chính xác các luồng thông tin là điều kiện để phân tích, quyết địnhcho vay hay không cho vay, cũng như đề phòng những rủi ro có thể xảy ra
Thông tin có thể thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau như : từ ngânhàng, các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng, các nguồn khác như đài báo,internet
d Trình độ cán bộ tín dụng
Nhân tố con người là nhân tố trung tâm của mọi hoạt động Nếu trình
độ cán bộ tín dụng được nâng cao thì sẽ thực hiện đúng và tốt quy trình tíndụng Ngược lại nếu trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế về kiến thức chuyênmôn, về xã hội, về khách hàng… sẽ ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng
Hoàng Thị Thu Thủy 24 Lớp 18B - 17
Trang 25Việc thẩm định, đánh giá tài chính của khách hàng không đúng sẽ dẫn đến rủi
ro tín dụng
e Vấn đề kiểm tra, kiểm soát, thanh tra
Việc kiểm tra, kiểm soát kịp thời sẽ nắm bắt được đầy đủ tình hìnhchấp hành chế độ, thể lệ tín dụng, phòng ngừa rủi ro xảy ra Công tác kiểm trakhông chỉ thực hiện với khách hàng mà còn được thực hiện với ngân hàng
Nâng cao chất lượng tín dụng đi kèm với việc kiểm tra, kiểm soát đểsớm phát hiện ngăn ngừa và xử lý kịp thời những sai phạm trong hoạt độngtín dụng Do đó trình độ năng lực và trách nhiệm của cán bộ thanh tra là rấtquan trọng đối với mỗi ngân hàng
Tóm lại, trong điều kiện cạnh tranh hiện nay chất lượng tín dụng cao làmục tiêu phấn đấu của hầu hết các ngân hàng Và để đạt được điều đó thì cácNHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Á Châu ACB nói riêng phải nắm rõcác nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Trong quá trình hoạt động tùytheo tình hình thị trường và điều kiện của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ
mà ngân hàng có thể coi trọng yếu tố này hơn yếu tố kia để nâng cao chất ượng tín dụng Bởi chất lượng tín dụng cao chính là một trong những nhân tốquyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
l-Hoàng Thị Thu Thủy 25 Lớp 18B - 17
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN
TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG
2.1.1 Lịch sử hình thành
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (Asia Commercial Bank ACB) là một trong những ngân hàng được thành lập sớm sau khi hai pháplệnh ngân hàng ra đời Ngân hàng TMCP Á Châu được Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam cấp giấy phép hoạt động số 0032/NH-GP ngày 24/4/1993 với thờihạn hoạt động 50 năm Vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng Việt nam, Ngânhàng TMCP Á Châu được thành lập vào ngày 13/5/1993 và bắt đầu hoạt độngvào ngày 4/6/1993
-Ngay từ khi thành lập, Ngân hàng TMCP Á Châu đã phải đối mặt vớinhiều thách thức, nhưng với những nỗ lực của mình, Ngân hàng đã tự khẳngđịnh mình và có một chỗ đứng vững chắc, tạo được uy tín cao trên thị trường.Tính đến ngày 31/12/2009, vốn điều lệ của ACB là 7.814 tỷ VND Khôngnhững thế, ACB còn đặt kế hoạch nâng vốn điều lệ từ 7.814 tỷ VND lên9.355 tỷ VND Với số vốn điều lệ này, ACB được Ngân hàng Nhà nước ViệtNam đánh giá là một trong những NHTM cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất tạiViệt Nam
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, đến đầu quý 1/2010 ACB
đã có 246 chi nhánh và phòng giao dịch, mạng lưới hoạt động được mở rộng
từ Hà Nội đến Cà Mau ACB đã hoàn thành việc xây dựng mạng diện rộngdùng riêng kết nối các chi nhánh, phòng giao dịch với Hội sở và với nhau.Nghĩa là ACB đã chuyển từ một hệ thống các đơn vị phân tán (các chi nhánhhoạt động độc lập tương đối) thành một hệ thống tập trung thống nhất: thống
Hoàng Thị Thu Thủy 26 Lớp 18B - 17
Trang 27nhất về thông tin, thống nhất về dữ liệu, về ứng dụng và quan trọng nhất trongphương thức phục vụ khách hàng.
Vào thời điểm ngày 28/02/2010, tổng số nhân viên của Ngân hàng là6.749 nhân viên Trong đó nhân viên quản lý, cán bộ có trình độ đại học vàtrên đại học chiếm 93% và thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn,nghiệp vụ tại Trung tâm đào tạo riêng của ACB Số lượng cổ đông trong nướccủa Ngân hàng hiện nay là 36.119 cổ đông, trong đó 320 cổ đông là cácdoanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,35.799 cổ đông là cá nhân trong nước Còn số lượng cổ đông nước ngoài củaNgân hàng là 21 cổ đông, trong đó 18 cổ đông là pháp nhân và 3 cổ đông làthể nhân Tổng số là 548.017.519 cổ phần
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Hoàng Thị Thu Thủy 27 Lớp 18B - 17
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
TRỊ BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Khối khách hàng doanh nghiệp
Khối phát triển kinh doanh
Khối vận hành
Khối quản trị nguồn lực
Trung tâm công nghệ thông tin
Trang 282.1.3 Tình hình hoạt động tín dụng đối với DNVVN của Ngân hàng TMCP Á Châu
Trên cơ sở nguồn vốn ổn định và tăng trưởng vững chắc qua các năm
đã tạo tiền đề thuận lợi cho hoạt động sử dụng vốn tại ACB Cụ thể diễn biếntình hình sử dụng vốn trong thời gian qua tại ACB như sau:
Tổng DSCV năm 2008 là 64.576 tỷ đồng, tăng so với năm 2007 là9.189 tỷ đồng, tốc độ tăng là 14,2% Với tổng dư nợ là 34.832 tỷ đồng, tăng
so với năm trước là 3.002 tỷ đồng, tốc độ tăng là 9,5%
Còn tổng DSCV năm 2009 là 121.879 tỷ đồng, tăng so với năm 2008 là48.123 tỷ đồng, tốc độ tăng là 65% Với tổng dư nợ là 62.357 tỷ đồng, tăng sovới năm trước là 27.525 tỷ đồng, tốc độ tăng là 79%
Quý I, năm 2010 DSCV của ACB đạt 64.708 tỷ đồng, tổng dư nợ chovay là 58.436 tỷ đồng
Nhìn vào bảng 2 ở dưới ta càng thấy rõ hơn
Bảng 2 Tình hình cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu
Trang 29(*) Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007,2008,2009, quý 1/2010
Hoàng Thị Thu Thủy 29 Lớp 18B - 17
Trang 30Phân tích về cơ cấu theo kỳ hạn ở biểu đồ 2.1 cho ta thấy dư nợ ngắnhạn đều chiếm tỷ trọng cao hơn d nợ trung dài hạn, cụ thể:
+ Dư nợ ngắn hạn năm 2009 so với năm 2008 tăng 19.674 tỷ đồng
và dư nợ trung dài, hạn tăng 7.851 tỷ đồng, tốc độ tăng là 41,5%
+ Dư nợ ngắn hạn quý I năm 2010 đã đạt 29.480 tỷ đồng chiếm50,4% tổng dư nợ và dư nợ trung và dài hạn chiếm 49,6% tổng dư nợ
Qua phân tích trên cho thấy, trong 4 năm qua dư nợ cho vay tại Ngânhàng có xu hướng tăng lên, trong đó chủ yếu là tăng dư nợ cho vay ngắn hạncòn giảm dư nợ cho vay dài hạn Sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư như trên chính
là sự thay đổi về chính sách của ngân hàng để thích ứng với tình hình mới
Biểu đồ 2.1 Dư nợ cho vay theo kỳ hạn
Tuy nhiên riêng năm 2008 thì dư nợ ngắn hạn lại thấp hơn dư nợ trung
và dài hạn là 2.944 tỷ đồng (hay 8,6%) Việc thấp hơn này là do sự biến độngkinh tế trong và ngoài nước đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp Việc tiếp cận được vốn tín dụng từ ngân hàng
Hoàng Thị Thu Thủy 30 Lớp 18B - 17
Trang 31của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn dẫn đến tâm lý không muốn trảcác khoản nợ đến hạn từ các phía khách hàng Các doanh nghiệp khó khăn vềtài chính và đều gặp phải trở ngại trong việc thanh toán tiền hàng, việc thutiền bán hàng chậm, doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn dẫn đến các ngânhàng phải điều chỉnh kỳ hạn nợ.
Biểu đồ 2.2 Dư nợ cho vay theo loại tiền tệ
Phân tích về cơ cấu loại tiền vay cho thấy trong năm 2007, 2008, 2009
và quý I năm 2010 dư nợ cho vay bằng VND chiếm tỷ trọng chủ yếu, có xuhướng tăng Ngược lại tỷ trọng cho vay ngoại tệ quy VND ngày càng giảmlàm cho dư nợ cho vay loại tiền này ngày càng giảm Từ biểu đồ trên chothấy:
Năm 2008 so với năm 2007: Dư nợ cho vay tăng 3.022 tỷ đồng với tốc
độ tăng 9,5% trong đó :
- Dư nợ cho vay VND tăng 3.046 tỷ đồng với tốc độ tăng 14,1%
- Dư nợ cho vay ngoại tệ quy ra VND lại giảm đi chút ít là 24 tỷ đồng
Hoàng Thị Thu Thủy 31 Lớp 18B - 17
Trang 32Năm 2009 so với năm 2008: năm 2009 là năm kinh tế thế giới cũngnhư kinh tế Việt nam hồi phục do vậy sản xuất kinh doanh trong nước cũngtăng trưởng mạnh Điều này có thể nhận thấy luồng tiền đổ vào các DNVVNtăng, cụ thể dư nợ cho vay tăng 27.525 tỷ đồng với tốc độ tăng 79%, là do dư
nợ cho vay VND và dư nợ cho vay ngoại tệ quy VND đều tăng, trong đó chủyếu là do tăng dư nợ cho vay VND Trong đó:
- Dư nợ cho vay VND tăng 26.989 tỷ đồng với tốc độ tăng 109,8%
- Dư nợ cho vay ngoại tệ quy VND tăng 563 tỷ đồng với tốc độ tăng là 5,2%.Quý I năm 2010 dư nợ cho vay của ACB đã là 58.436 tỷ đồng trong đó:
- Dư nợ cho vay VND là 45.494 tỷ đồng
- Dư nợ cho vay ngoại tệ quy VND là 12.942 tỷ đồng
Diễn biến tăng dư nợ cho vay ngoại tệ quy VND tại ngân hàng cho thấytrong thời gian qua ACB có xu hướng mở rộng cho vay ngoại tệ, chủ yếu chocác doanh nghiệp để thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu, cho cá nhânvay đi du học, chữa bệnh, đi du lịch Đây là kết quả tốt cho thấy ACB ngàycàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay ngoại tệ của khách hàng
Về nợ quá hạn của ngân hàng ACB trong thời gian qua có diễn biến như sau:Năm 2008 nợ quá hạn là 139 tỷ đồng với tỷ lệ Nợ quá hạn /Tổng dư nợ
là 0,4% so với năm 2007 thì tỷ lệ Nợ quá hạn / Tổng dư nợ giảm 0,03%
Năm 2009 nợ quá hạn là 336 tỷ đồng với tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
là 0,38% So với năm 2008 thì Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ giảm 0,02% nhưng
do doanh số cho vay và dư nợ của năm 2009 cao hơn năm 2008 nên nợ quáhạn năm 2009 lớn hơn 2008 là 197 tỷ đồng
Như vậy trong 3 năm 2007, 2008, 2009 và quý I năm 2010 tỷ lệ nợ quáhạn của Ngân hàng đều thấp hơn quy định, qua đó cho ta thấy chất lượng tíndụng là tốt Đây là kết quả nỗ lực của ACB trong công tác quản lý kháchhàng, tìm kiếm và lựa chọn được những khách hàng chất lượng tốt để cho
Hoàng Thị Thu Thủy 32 Lớp 18B - 17
Trang 33vay, thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ vay đúng hạn nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả hoạt động tín dụng.
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sức mạnh hoạtđộng cho vay của một ngân hàng truyền thống trong quá trình cạnh tranh đểtồn tại và phát triển
Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ phía cả ngân hàng vàkhách hàng vay Vì vậy trước khi cho vay ngân hàng phải thẩm định kỹ kháchhàng, phải nắm rõ tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực thị tr-ường của khách hàng vay vốn đó chính là cơ sở để đảm bảo chất lượng khoản vay
Về phía khách hàng vay vốn phải có trách nhiệm với khoản vốn vay: sửdụng vốn đúng mục đích, lựa chọn đầu tư vào các phương án dự án có tínhkhả thi cao, mức độ rủi ro thấp, cam kết hoàn trả vốn vay đúng hạn, có bảođảm tín dụng cho khoản vay
Chất lượng tín dụng của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng khôngchỉ ảnh hưởng tới sự tồn tại của riêng ngân hàng mà còn có tác động dâytruyền tới toàn hệ thống ngân hàng, tới sự tăng trưởng và phát triển của nềnkinh tế Chất lượng cho vay đối với DNVVN của một Ngân hàng được phảnánh qua nhóm các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng Song trong khuônkhổ bài viết chủ yếu tập trung phân tích nhóm chỉ tiêu định lượng bao gồmcác chỉ tiêu sau: Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, nợ quá hạn, nợ xấu,vòng quay vốn tín dụng, mức sinh lời từ hoạt động cho vay đối với kháchhàng là các DNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 33 Lớp 18B - 17
Trang 342.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng đối với DNVVN
2.2.1.1 Tình hình cho vay đối với DNVVN
Trong những năm gần đây ACB đã không ngừng mở rộng cho vay đốivới DNVVN Để thấy rõ hơn, ta có thể phân tích số liệu ở bảng 3 ở dưới đây
Trong 3 năm 2007, 2008, 2009 và quý I năm 2008 doanh số cho vay đốivới DNVVN của ACB đã đạt được mức tăng trưởng khá nhanh chóng, cụ thể:
Năm 2007 doanh số cho vay DNVVN là 34.225 tỷ đồng, chiếm 53%tổng doanh số cho vay của toàn Ngân hàng, trong đó ngắn hạn là 28.406 tỷđồng và trung dài hạn là 5.819 tỷ đồng
Năm 2008 doanh số cho vay DNVVN là 42.040 tỷ đồng, chiếm 57%tổng doanh số cho vay của toàn Ngân hàng, trong đó ngắn hạn là 31.109 tỷđồng và trung dài hạn là 10.931 tỷ đồng
Năm 2009 doanh số cho vay DNVVN là 78.002 tỷ đồng, chiếm 64%tổng doanh số cho vay của toàn Ngân hàng, trong đó ngắn hạn là 70.201 tỷđồng và trung dài hạn là 7.801 tỷ đồng
Ba tháng đầu năm 2010 thì con số này là 44.001 tỷ đồng, chiếm 68% tổng doanh số cho vay trong 3 tháng đầu năm 2010 trong đó doanh số cho vayngắn hạn 40.920 tỷ đồng còn trung dài hạn là 3.081 tỷ đồng
Bảng 3 Tình hình cho vay đối với DNVVN
Trang 35(*) Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007,2008,2009, quý 1/2010
Diễn biến trên phản ánh tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN có xu ướng tăng lên, trong đó doanh số cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trongtổng doanh số cho vay DNVVN của Ngân hàng Thực tế trong thời gian quaACB mở rộng cho vay ngắn hạn đối với DNVVN là vì cho vay ngắn hạn tốc
h-độ thu hồi vốn nhanh, lại giảm bớt rủi ro do biến h-động lãi suất, giảm rủi ro tíndụng Hơn nữa, trong thời gian qua các DNVVN làm ăn khá hiệu quả, sảnphẩm tiêu thụ tốt do vậy nhu cầu vay vốn lu động mở rộng sản xuất kinhdoanh ngày càng tăng
Về sự thay đổi cơ cấu đầu tư của ACB theo hướng tăng cho vay khốiDNVVN và giảm cho vay đối với các đối tượng khác ACB đầu tư đối với cácDNVVN để khai thác tối đa tiềm năng phát triển của thành phần kinh tế này
Do vậy, Ngân hàng ACB đã sử dụng nhiều biện pháp để thực hiện mở rộngcho vay đối với các DNVVN như đa dạng hoá các hình thức cho vay, áp dụngchính sách lãi suất linh hoạt
2.2.1.2 Tình hình thu nợ
Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển DNVVN vàchủ trương thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ tín dụng ACB không chỉquan tâm đến mở rộng doanh số cho vay DNVVN mà còn thực hiện các biệnpháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN Một trong nhưng cốgắng đó là công tác thu nợ cho vay của DNVVN có sự tăng trưởng đángkhích lệ
Nhìn vào bảng số liệu 4 ta thấy :
Năm 2007, doanh số thu nợ đạt 22.731 tỷ đồng, trong đó thu nợ ngắnhạn là 20.003 tỷ đồng chiếm 88% tổng thu nợ DNVVN; trung dài hạn là2.728 tỷ đồng chiếm 12% tổng thu nợ DNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 35 Lớp 18B - 17
Trang 36Năm 2008, doanh số thu nợ đạt 31.254 tỷ đồng, tăng 8.523 tỷ đồng sovới năm 2007, tốc độ tăng là 37,5% trong đó thu nợ ngắn hạn là 28.441 tỷđồng và thu nợ trung dài hạn là 2.813 tỷ đồng.
Năm 2009 là 57.246 tỷ đồng, tăng 25.992 tỷ đồng so với năm 2008 vàtốc độ tăng là 83,6% trong đó thu nợ ngắn hạn là 53.238 tỷ đồng và thu nợtrung dài hạn 4.008 tỷ đồng
Quý I năm 2010 doanh số thu nợ là 31.863 tỷ đồng trong đó thu nợngắn hạn là 25.490 tỷ đồng, thu nợ trung dài hạn là 6.373 tỷ đồng
Bảng 4 Tình hình thu nợ đối với DNVVN
(*) Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007,2008,2009, quý 1/2010
Kết quả trên phản ánh công tác thu hồi nợ trong thời gian qua đượcACB thực hiện rất tốt, thể hiện tốc độ tăng thu nợ cho vay của DNVVN lớnhơn tốc độ tăng doanh doanh số cho vay DNVVN Thực tế để đạt được kếtquả cao trong công tác thu nợ như trên ACB đã áp dụng nhiều biện pháp nhưđôn đốc khách hàng có nợ vay sắp đến hạn, phân chỉ tiêu thu nợ cụ thể chotừng cán bộ tín dụng, có kế hoạch xử lý thu hồi nợ đối với từng trường hợp cụthể, đối với trường hợp phát sinh nợ quá hạn thì có biện pháp xử lý linh hoạt,chẳng hạn yêu cầu khách hàng giải trình lý do, thuyết phục yêu cầu kháchhàng cam kết hẹn lịch trả nợ cụ thể hoặc xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNVVN
2.2.2.1 Tình hình nợ quá hạn đối với DNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 36 Lớp 18B - 17
Trang 37Khi phân tích tình hình cho vay của ACB đối với khách hàng là DNVVNcần nghiên cứu tình hình nợ quá của loại hình doanh nghiệp này Nếu như mở rộng
dư nợ cho vay được coi là mặt tích cực thì nợ quá hạn là mặt trái để đánh giá toàndiện kết quả hoạt động cho vay của ACB Thực trạng nợ quá hạn của các DNVVNtại ACB trong thời gian qua được thể hiện qua số liệu ở bảng 5 ở dưới
Số liệu bảng 5 cho thấy: Tỷ lệ nợ quá hạn của DNVVN so với dư nợDNVVN qua các năm đã có phần giảm đi cụ thể :
Năm 2007 nợ quá hạn của DNVVN là 121 tỷ đồng, chiếm 0,65% tổng dư
nợ DNVVN Trong đó nợ quá hạn DNNQD VVN là 109,6 tỷ đồng chiếm 90,6%
dư nợ quá hạn DNVVN và nợ quá hạn DNNN VVN là 11,4 tỷ đồng, chiếm 9,4%
Năm 2008 so với năm 2007 nợ quá hạn đối với DNVVN tăng 3 tỷđồng, tốc độ tăng 2,48% Trong đó dư nợ quá hạn DNNQD VVN tăng 4,2 tỷđồng, tốc độ tăng là 3,83%
Năm 2009 so với năm 2008 nợ quá hạn đối với DNVVN tăng 81 tỷ đồng,tốc độ tăng 65,3% Trong đó nợ quá hạn DNNQD VVN tăng 76,7 tỷ đồng, tốc độtăng là 67,4% và nợ quá hạn DNNN VVN tăng 4,3 tỷ đồng, tốc độ tăng là 42,2%
Quý I năm 2010 nợ quá hạn DNVVN là 135 tỷ đồng Trong đó nợ quáhạn DNNQD VVN là 126,9 tỷ đồng, chiếm 94% nợ quá hạn DNVVN và nợquá hạn DNNN VVN là 8,1 tỷ đồng, chiếm 6%
Hoàng Thị Thu Thủy 37 Lớp 18B - 17
Trang 38Bảng 5 Tình hình nợ quá hạn đối với DNVVN
(*) Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007,2008,2009, quý 1/2010
Nợ quá hạn trong 3 năm 2007, 2008, 2009 và quý I/2010 đều có chiềuhướng gia tăng cả về tỷ trọng trong tổng dư nợ quá hạn DNVVN và tỷ lệ trêntổng dư nợ DNVVN Điều này chứng tỏ tình hình nợ quá hạn DNVVN có ảnhhưởng đến hoạt động tín dụng DNVVN và cũng ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh của ngân hàng
Về cơ cấu nợ quá hạn đối với DNVVN tập chung chủ yếu vào DNNQDVVN Kết quả trên phản ánh chất lượng tín dụng đối với các DNNQD VVNcủa ACB khá cao Nhìn vào biểu đồ 5.1 ở dưới ta lại càng thấy rõ điều này
Biểu đồ 3.1 Nợ quá hạn DNVVN theo thành phần kinh tế
Hoàng Thị Thu Thủy 38 Lớp 18B - 17
Trang 39Tuy nhiên nhìn chung ACB cũng đã tập trung thu hồi nợ gốc và mộtphần lãi đồng thời có biện pháp thắt chặt tín dụng đối với các doanh nghiệp
có nợ quá hạn phát sinh Tiến hành phân tích sắp xếp các loại dư nợ, phân tíchtình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn để có biện pháp chuyển dần dư
nợ có vấn đề sang khu vực an toàn
Ngoài ra, thực hiện theo quyết định số 493/2005/QĐ - NHNN củaThống đốc ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dựphòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD,ACB đã thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý,
nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Nhiều khoản nợ ước đây không được chuyển nợ quá hạn kịp thời theo bản chất rủi ro và khikhông thực hiện bằng cưác biện pháp gia hạn điều chỉnh kỳ hạn trả nợ thìbuộc phải chuyển sang nợ quá hạn
tr-Ngân hàng TMCP Á Châu đã thực hiện phân loại nợ như sau :
Bảng 6 Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ DNVVN
(*) Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007,2008,2009, quý 1/2010
Theo bảng số liệu về phân loại nợ DNVVN theo nhóm nợ của ngânhàng ta thấy Chủ yếu dư nợ DNVVN thuộc nhóm 1 nợ đủ tiêu chuẩn vànhóm 2 nợ cần chú ý Còn nhóm 3 đến nhóm 5 chiếm tỷ lệ thấp Cụ thể là :
Hoàng Thị Thu Thủy 39 Lớp 18B - 17
Trang 40Năm 2008 so với năm 2007 thì nhóm 1 và nhóm 2 lần lượt tăng 2.123
Thực tế, nợ quá hạn có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau vàcác ngân hàng hiện nay không thể theo đuổi một tỷ lệ nợ quá hạn / Tổng dự
nợ bằng không mà chỉ thực hiện biện pháp nhằm hạn chế tối đa các khoản nợ
có thể xảy ra quá hạn, giảm rủi ro cho khách hàng và đảm bảo an toàn tronghoạt động cho vay của ngân hàng
2.2.2.2 Tình hình nợ xấu đối với DNVVN
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ: Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn,nhóm nợ nghi ngờ và nhóm nợ có khả năng mất vốn Hay chính là các khoản
nợ đã quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ đáng lo ngại Thực trạng nợxấu của DNVVN tại ngân hàng thể hiện qua các chỉ tiêu như sau:
a Phân tích diễn biến dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của DNVVN
Nợ xấu của DNVVN cũng có diễn biến tương tự nợ quá hạn đối vớiDNVVN
Hoàng Thị Thu Thủy 40 Lớp 18B - 17