Trên thực tế, khái niệm chiến lược đã có từ rất lâu đời. Từ khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên tại Trung Quốc, khi vạch ra kế hoạch và chỉ huy chiến tranh người ta sử dụng các khái niệm “mưu toán” với ý nghĩa là chiến lược.(1)
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH 3
I Khái niệm và nội dung chiến lược phát triển ngành 3
1 Khái niệm chiến lược phát triển 3
2 Khái niệm về chiến lược phát triển kinh tế xã hội 4
3 Khái niệm và nội dung của chiến lược phát triển ngành 5
3.1 Khái niệm chiến lược phát triển ngành 5
3.2 Các đặc trưng của chiến lược phát triển ngành 5
3.3 Nội dung của chiến lược phát triển ngành 6
II Mối tương quan giữa quy hoạch phát triển và chiến lược phát triển 8
III Các nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược phát triển ngành 10
1 Tác động của môi trường vĩ mô 11
1.1 Tác động của môi trường quốc tế 11
1.2 Tác động của môi trường trong nước 12
2 Tác động của môi trường ngành 13
IV.Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển ngành 17
1 Chiến lược phát triển ngành là căn cứ để hoạch định kế hoạch phát triển ngành 17
2 Chiến lược phát triển ngành là cương lĩnh hành động của quản lý kinh tế xã hội riêng từng ngành 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC NGÀNH PHÂN BÓN TẠI TẬP ĐOÀN HÓA CHẤT VIỆT NAM 18
I Khái quát ngành phân bón 18
1 Khái niệm phân bón 18
1.1 Phân bón và lịch sử phát triển 18
1.2 Các loại phân bón 20
1.3 Thành phần phân bón 21
1.4 Phân hiệu quả nhanh và hiệu quả chậm 22
1.5 Phân đơn, phân đa dinh dưỡng và phân đa chức năng 23
Trang 22 Đặc thù ngành phân bón 24
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành 25
3.1 Nhu cầu nông sản 25
3.2 Biến động giá dầu mỏ 26
3.3 Chính sách phát triển ngành phân bón hóa chất trong nước 26
3.4 Chính sách XNK phân bón của các nước cung cấp phân bón chính trên Thế Giới 26
II Khái quát toàn ngành sản xuất phân bón Việt Nam 27
1 Thị trường tiêu thụ 27
1.1 Thị trường thế giới 27
1.2 Thị trường trong nước 29
2 Kênh phân phối 35
3 Nguồn nhân lực 36
3.1 Nguồn nhân lực hiện có 36
3.3 Lực lượng lao động tới năm 2020 37
4 Nguồn nguyên liệu 38
5 Công nghệ kỹ thuật sản xuất 39
6 Cơ sở hạ tầng phụ trợ 40
III Khái quát về Tập đoàn hóa chất Việt Nam 41
1 Giới thiệu chung 41
2 Cơ cấu tổ chức 44
3 Các sản phẩm phân bón của Tập đoàn hóa chất Việt Nam 45
3.1 Phân Supe lân 45
3.2 Phân lân nung chảy 45
3.3 Phân đạm URE: 45
3.4 Phân hỗn hợp NPK: 45
3.5 DAP 45
4 Các đơn vị thành viên thuộc ngành sản xuất phân bón của Tập đoàn hóa chất Việt Nam 45
4.1 Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc 45
4.2 Công ty TNHH một thành viên DAP – VINACHEM 45
Trang 34.3 Công ty Phân bón Bình Điền 45
4.4 Công ty Cổ phần Phân bón Miền Nam 45
4.5 Công ty Cổ phần Phân lân Nung chảy Văn Điển 45
4.6 Công ty Cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao 45
4.7 Công ty Cổ phần Phân lân Ninh Bình 45
4.8 Công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất Cần Thơ 45
4.9 Công ty Cổ phần Công nghiệp Hóa chất Đà Nẵng 45
4.10.Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam 45
IV Thực trạng thực hiện chiến lược ngành phân bón tại Tập đoàn hóa chất Việt Nam 45
1 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành phân bón của tập đoàn (2006 – 2009) 45
1.1 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành phân bón của tập đoàn năm 2006 45
1.2 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành phân bón của tập đoàn năm 2007 48
1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh ngành phân bón của tập đoàn năm 2008 50
2 Đầu tư phát triển 52
3 Công nghệ khoa học môi trường 53
4 Hợp tác quốc tế và phát triển 54
5 Đổi mới sắp xếp doanh nghiệp 54
6 Công tác tài chính, kế toán 55
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH PHÂN BÓN CủA TẬP ĐOÀN HÓA CHẤT VIỆT NAM 57
I Mục tiêu kế hoạch tổng thể phát triển Tổng công ty Hóa chất Việt Nam đến năm 2015, có xét tới năm 2020 57
II Kế hoạch phát triển ngành sản xuất phân bón của Tập đoàn hóa chất Việt Nam đến năm 2015 57
III Một số giải pháp chủ yếu 59
1 Giải pháp về tài chính 59
2 Giải pháp về sản xuất 59
3 Giải pháp về marketing 60
4 Giải pháp về nguồn nhân lực 60
5 Giải pháp về công nghệ kỹ thuật 61
Trang 46 Giải pháp về quản lý và điều hành 61
KẾT LUẬN 63 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1: Lực lượng lao động ước tính đến năm 2020 37
Bảng 2.4: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2006 46
Bảng 2.6: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2008 50
Bảng 2.7: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2009 51
Bảng 3.1: Mục tiêu sản lượng ngành phân bón đến năm 2015 58
Bảng 3.2: Danh mục các dự án chính 58
HÌNH Hình 1.1: Mô hình Kim cương về năng lực cạnh tranh của Micheal Porter 13
Hình 2.1: Sản lượng và tiêu thụ ngũ cốc TG (1996-2008) 25
Hình 2.2: Cơ cấu phân bón nhập khẩu năm 2007 27
Hình 2.3: Tổng cầu phân bón TG năm (2006-2010) 28
Hình 2.4: Diện tích một số loại cây lương thực năm (2008-2009) 29
Hình 2.5: Diện tích gieo trồng một số loại cây công nghiệp năm (2008-2009) 30
Hình 2.6: Sản lượng phân bón sản xuất trong nước từ năm (2008-2009) 31
Hình 2.7: Cơ cấu nhập khẩu các loại phân bón theo giá trị nhập khẩu năm 2009 32
Hình 2.8: Cơ cấu nhập khẩu các loại phân bón theo lượng nhập khẩu năm 2009 32
Hình 2.9: Giá trị nhập khẩu phân bón của Việt Nam tại 10 thị trường lớn nhất năm 2009 33
Hình 2.10: Kim ngạch xuất khẩu phân bón của Việt Nam tới 10 thị trường lớn nhất trong năm 2008 và năm 2009 (đơn vị: triệu USD) 34
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong kỳ học vừa qua, em là Nguyễn Thị Lệ, sinh viên năm cuối Khoa Kinh tế
Kế hoạch _ trường Đại học Kinh tế quốc dân đã có kỳ thực tập lý thú, bổ ích vàhoàn thiện được báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp Để đạt được kết quả đó, emxin chân thành cảm ơn thầy giáo _ PGSTS Nguyễn Tiến Dũng đã tận tình chỉ bảo
và sửa chữa bài chuyên đề thực tập, giúp em xây dựng được chuyên đề tốt nghiệpmột cách hoàn chỉnh nhất Em xin cảm ơn bác Bùi Thế Chuyên – Trưởng ban KếHoạch thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho
em được tiếp cận các thông tin, tài liệu chuyên ngành cũng như đã đưa ra các phântích nhận xét giúp hoàn thiện báo cáo chuyên đề của em Em cũng xin cảm ơn sựgiúp đỡ của các bác, các cô chú, các anh chị trong ban Kế Hoạch đã tạo điều kiện để
em có được kỳ thực tập lý thú và bổ ích này
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Qua khoảng thời gian thực tập vừa qua, với sự chỉ bảo giúp đỡ của thầy giáo _PGSTS Nguyễn Tiến Dũng và bác Bùi Thế Chuyên thuộc Tập đoàn Hóa chất ViệtNam và với sự nỗ lực của bản thân em đã hoàn thành bài báo cáo chuyên đề thựctập của mình
Em xin cam đoan đây là bài báo cáo do tự em viết có tham khảo thêm các sáchbáo tạp chí đã được chú giải như trong chuyên đề, ngoài ra không hề sao chép bất kìtài liệu hay bất kì các bài luận văn, chuyên đề nào khác
Hà Nội, Ngày tháng năm 2010
Chữ ký của sinh viên
Nguyễn Thị Lệ
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nôngnghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 14% GDP của
cả nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề
ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Vì vậy trong cơ cấukinh tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động
xã hội Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trongnhiều năm nữa Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo,
đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Những nông sảnquan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà
Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sảnlượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống,phân bón v.v Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thườngxuyên Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hếtsức quan trọng
Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn(bình quân mỗi năm 8-9 triệu tấn) Tuy nhiên công nghiệp phân bón của Việt Namđang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng được khoảngtrên 5 triệu tấn, số còn lại phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài
Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan tácđộng (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách ) nên việc nhập khẩu phân bóncủa Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi Điều này đã làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnhgây không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông nghiệp
Nhân cơ hội thực tập tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam tôi đã chọn đề tài “chiến lược phát triển ngành phân bón của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam ” để tìm racác yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu, giá cả phân bón trên thịtrường và các chính sách điều tiết của nhà nước nhằm tìm ra những giải pháp cơbản ổn định vấn đề phân bón, thị trường phân bón ở Việt Nam và thị trường nhậpkhẩu phân bón của Việt Nam
Nội dung của chuyên đề thực tập tốt nghiệp là đi sâu nghiên cứu thực trạng
thực hiện chiến lược phát triển ngành phân bón của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam
Trang 9trong giai đoạn hiện nay, đông thời đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựngchiến lược phát triển ngành phân bón của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược phát triển ngành.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chiến lược ngành phân bón của Tập đoàn
Hóa chất Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng chiến lược phát triển
ngành phân bón của Tập đoàn hóa chất Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH.
I Khái niệm và nội dung chiến lược phát triển ngành.
1 Khái niệm chiến lược phát triển.
Trước khi đi sâu nghiên cứu chiến lược phát triển ngành nói riêng, chúng ta
sẽ đi nghiên cứu vê chiến lược phát triển nói chung
Trên thực tế, khái niệm chiến lược đã có từ rất lâu đời Từ khoảng thế kỷ thứ
7 trước Công nguyên tại Trung Quốc, khi vạch ra kế hoạch và chỉ huy chiến tranhngười ta sử dụng các khái niệm “mưu toán” với ý nghĩa là chiến lược.(1)
Còn ở phương Tây, từ chiến lược được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ
“Strategem” hoặc “Strateges” Sau này nhiều nước sử dụng từ chiến lược lý giải về
ý nghĩa chung là “nghệ thuật thống soái”, về sau mới có nội dung của từ chiến lượcngày nay, và nó khác với chiến thuật và chiến dịch.(2)
Trong cuốn “lý luận chung về chiến thuật” do một người Pháp tên là Gilbertviết năm 1772 có nêu ra hai khái niệm “đại chiến thuật” và “tiểu chiến thuật” Kháiniệm “đại chiến thuật” có ý nghĩa tương đương với chiến lược ngày nay, còn “tiểuchiến thuật” có ý nghĩa là chiến thuật như ngày nay.(3) Như vậy cũng đã tồn tại cáchhiểu rằng chiến lược có nghĩa là “nghệ thuật của tướng lĩnh” để tìm ra con đườngđúng đắn nhất giành chiến thắng
Trong một thời gian dài, từ chiến lược chỉ được dùng như một thuật ngữquân sự Trong cuốn “Vấn đề chiến lược trong chiến tranh cách mạng Trung Quốc”,Mao Trạch Đông đã khái quát một cách khoa học khái niệm về chiến lược “Vấn đềchiến lược là vấn đề nghiên cứu quy luật toàn cục của chiến tranh”, “phàm là mangtính chất của các phương diện và các giai đoạn, tất cả đều là toàn cục của chiếntranh”.(4)
Với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội ở thời kỳ cận đại, từ chiếnlược đã dần được sử dụng vào lĩnh vực chính trị, do vậy các khái niệm chiến lượccách mạng, chiến lược chính trị lần lượt được ra đời Với khái niệm chính trị, chiếnlược có ý nghĩa bao quát hơn sách lược Stalin đã viết: “chiến lược và sách lược làkhoa học chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản”, “chiến lược chính là quy địnhhướng tấn công chủ yếu của giai cấp vô sản trong một giai đoạn nhất định của cách
( 1,2,3) trang 5 Giáo trình chiến lược phát triển kinh tế xã hội
( ( 4,5) trang 6 Giáo trình chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Trang 11mạng, là vạch kế hoạch bố trí tương ứng các lực lượng cách mạng (lực lượng hậu bịchủ yếu và thứ yếu), là đấu tranh thực hiện kế hoạch ấy trong suốt quá trình của giaiđoạn cách mạng đó”. (5)
Về mặt lĩnh vực kinh doanh, lập kế hoạch chiến lược cho doanh nghiệp phổbiến vào những năm 1960 đối với các doanh nghiệp lớn khi mà hoạt động củachúng trở nên phức tạp hơn, cạnh tranh gay gắt, đa dạng hơn trong khi các tiến bộ
về khoa học công nghệ trở nên tăng tốc hơn, đòi hỏi phải có những kế hoạch dự trùcho việc hoạt động đạt được hiệu quả cao nhất
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở phương Tây đã lưu hành khái niệmchiến lược Quốc gia Chiến lược Quốc gia là chiến lược ở tầm vĩ mô, là chiến lượccao nhất ở tầm quốc gia Chiến lược này là đại chiến lược
Trong giai đoạn hoà bình, chúng ta có khái niệm chiến lược phát triển kinh tế
và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, “chiến lược là những mưu tính và quyết sách đối với những vấn đề trọng đại có tính chất toàn cục và lâu dài Khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận và phương pháp đưa ra các quyết sách những vấn đề trọng đại và lâu dài gọi
là chiến lược học”.(6)
2 Khái niệm về chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Nếu chiến lược được nhìn từ góc độ quản lý thì đó là quyết sách toàn cục củamột phạm vi không gian rộng lớn trong một thời gian dài Và là sự trù tính của chủthể đối với toàn cục phát triển của sự vật
Ta có, chiến lược phát triển KTXH của mỗi Quốc gia sẽ là sản phẩm củaNhà nước đó Nhà nước trên cơ sở nhận thức các quy luật phát triển kinh tế xã hộikhách quan, các mối quan hệ nội tại trong quá trình phát triển, dựa vào điều kiệnhoàn cảnh bên trong của đất nước và điều kiện quốc tế ở mỗi thời kỳ nhất định đểđưa ra những kế sách chung, có tính toàn cục về sự phát triển kinh tế xã hội trongmột thời gian tương đối dài Thời gian của chiến lược có thể là 10 , 15, 20 năm hoặclâu hơn.(7)
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là hệ thống các mục tiêu phát triển cảlĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, được đặt trong cùng mối quan hệ tác động qualại lẫn nhau cũng như dựa vào đó để đưa ra giải pháp thực hiện đồng bộ và có hiệuquả cao nhất những mục tiêu kinh tế và xã hội đã đặt ra
( (6) Trang 7: Giáo trình chiến lược phát triển kinh tế xã hội
(7) Trang 8: Giáo trình chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Trang 12Chiến lược phát triển kinh tế xã hội về cơ bản được xem là một hệ thống các phân tích đánh giá và lựa chọn về căn cứ của chiến lược, các quan điểm cơ bản (tư tưởng chỉ đạo và chủ đạo), các mục tiêu tổng quát và mục tiêu chủ yếu, các định hướng phát triển chủ yếu trong các lĩnh vực của đời sống đất nước, các giải pháp
cơ bản, chủ yếu là chính sách về cơ cấu và cơ chế vận hành hệ thống kinh tế xã hội, các chính sách về bồi dưỡng, khai thác,huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển, các biện pháp về tổ chức thực hiện chiến lược (8)
3 Khái niệm và nội dung của chiến lược phát triển ngành.
3.1 Khái niệm chiến lược phát triển ngành.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội bao gồm cả chiến lược phát triểnngành, do vậy chiến lược phát triển ngành là một bộ phận của chiến lược phát triểnkinh tế xã hội (xét theo cấp độ quản lý) Chiến lược phát triển ngành phải phục tùngchiến lược Quốc gia
Chiến lược phát triển ngành là một hệ thống các mục tiêu và các biện phápthực hiện của ngành đặt ra
Như vậy, chiến lược phát triển ngành là hệ thống các phân tích đánh giá vàlựa chọn về căn cứ định hướng của chiến lược phát triển, các quan điểm cơ bản (tưtưởng chủ đạo và chỉ đạo), các mục tiêu tổng quát và mục tiêu chủ yếu, các địnhhướng phát triển chủ yếu, các giải pháp cơ bản (chủ yếu thông qua các chính sách,quy hoạch phát triển, bồi dưỡng, khai thác, huy động và phân bổ, sử dụng cácnguồn lực phát triển, biện pháp về tổ chức thực hiện chiến lược dựa trên chiến lượcphát triển kinh tế xã hội chung của cả đất nước)
3.2 Các đặc trưng của chiến lược phát triển ngành.
Đặc trưng của chiến lược phát triển ngành cũng giống chiến lược, nó baogồm những đặc trưng sau đây:
- Chiến lược phát triển ngành có tính lâu dài của chiến lược:
Thời gian của việc thực hiện một chiến lược phát triển ngành là từ 10 năm,
15 năm, 20 năm hoặc lâu hơn
Chiến lược phát triển ngành có tính lâu dài vì nó định hướng các mục tiêu cótính tổng quát cho toàn ngành, nó xác định các mục tiêu cần đạt đến của ngành trongmột khoảng thời gian dài Những mục tiêu tổng quát đó sẽ được thực hiện gắn liền vớinhững thay đổi lớn về khoa học và công nghệ, làm chuyển biến căn bản về lực lượng
(8) Trang 14: Giáo trình chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Trang 13sản xuất, các mối quan hệ sản xuất Hay có thể hiểu mục tiêu tổng quát sẽ được đề ratrên cơ sở các dự báo dài hạn về sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Chiến lược phát triển ngành có tính lâu dài vì nó phải mang tính định hướng,phản ánh xu thế vận động đi lên của toàn ngành cũng như sự phát triển của toànngành trong sự phát triển chung của toàn nền kinh tế
Ngoài ra, chiến lược phát triển ngành có tính lâu dài vì cần phải có thời gianlâu dài mới có được những biến đổi căn bản trong việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cácquan hệ sản xuất mới, các nguồn lực khác…
- Chiến lược phát triển ngành có tính toàn diện:
Cũng giống như chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển ngànhcũng phải phản ánh mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Muốn đạt được những mụctiêu tổng quát đã đặt ra thì trước hết phải đạt được các mục tiêu bộ phận và như vậy cầnphải phán ánh được các mục tiêu bộ phận đó
- Chiến lược phát triển ngành có tính hệ thống: Chiến lược phát triển phải
bao gồm nhiều chiến lược bộ phận tuỳ theo cách tiếp cận Việc thực hiện thànhcông mục tiêu chiến lược phải bao gồm việc thực hiện thành công các mục tiêu bộphận Tính hệ thống được biểu hiện trong tất cả các nội dung của chiến lược.Tính
hệ thống thể hiện tính thống nhất, toàn diện, cân đối trong toàn bộ quá trình pháttriển
- Chiến lược phát triển ngành có tính hiệu quả:
Đây chính là hiệu quả kinh tế xã hội Cần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội vìđây là vấn đề có tính quy luật phổ biến, là quy luật mà bất cứ thời kỳ nào cũng phảiđặt ra Do vậy việc lựa chọn các bước thực hiện hiện chiến lược, các chính sách,giải pháp huy động nguồn mực nhằm mục tiêu tổng quát đều phải được thực hiệntrên nguyên tắc hiệu quả
- Chiến lược phát triển ngành có tính chủ thể Nhà nước:
Nhà nước có hai chức năng là chức năng giai cấp và chức năng xã hội Vaitrò quản lý kinh tế thuộc chức năng xã hội trong đó hoạch định và tổ chức thực hiệnchiến lược phát triển là một nội dung quan trọng
3.3 Nội dung của chiến lược phát triển ngành.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội bao gồm những nội dung sau:
- Các căn cứ của chiến lược phát triển ngành :
Để xây dựng chiến lược phát triển ngành nói riêng cũng như chiến lược pháttriển nói chung, ta đều phải dựa trên kinh nghiệm cũng như lịch sử phát triển của
Trang 14chính quốc gia và các nước khác, dựa trên các số liệu, tài liệu thu thập được trongmột khoảng thời gian gần nhất (khoảng 10 năm trước thời kỳ chiến lược).
Cần phải xác định được điểm xuất phát, ta đang ở giai đoạn nào của quá trìnhphát triển, cơ sở tiển đề cho sự phát triển đấy là gì,…
Cần thực hiện được các đánh giá, dự báo nguồn lực, các lợi thế so sánh vàmôi trường trong nước, quốc tế, các tác động từ bên ngoài đến ngành trong thời kỳchiến lược (địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn,…)
- Các quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển ngành:
Quan điểm cơ bản của chiến lược là những tư tưởng chủ đạo và chỉ đạo thểhiện tính định hướng của chiến lược Nó sẽ quyết định con đường và phương hướngcho các giải pháp lớn Việc xác định các quan điểm cơ bản có ý nghĩa quan trọngtrong việc tìm ra các bước ngoặt của con đường phát triển, tạo động lực cơ bảnxuyên suốt quá trình phát triển
Các quan điểm cơ bản tạo nên một hệ quan điểm, nó sẽ là bộ khung cho việcxác định các mục tiêu phát triển cũng như các giải pháp lớn để đạt được mục tiêu đótrong một thời kỳ nhất định
Như vậy hệ quan điểm chiến lược có ý nghĩa chủ đạo trong việc xây dựngchiến lược, nó là linh hồn, là tư tưởng của bản chiến lược mà trong từng phần nộidung của chiến lược phải thực hiện được Nó sẽ thể hiện những nét khái quát đặctrưng nhất, có tính nguyên tắc về mô hình và con đường phát triển nhằm hướng đếnmục tiêu dài hạn
- Các mục tiêu phát triển ngành:
Mục tiêu phát triển là mức phấn đấu cần phải đạt được qua một thời kỳ nhấtđịnh Mục tiêu bao gồm cả phần định tính và phần định lượng, phản ánh một cáchtoàn diện những biến đổi quan trọng của nền kinh tế Nó phải phản ánh được sựthay đổi về chất của nền kinh tế xã hội
Việc xác định muc tiêu phát triển phải xuất phát từ khả năng thực tế, đòi hỏicủa cuộc sống, yêu cầu của thị trường sao cho phù hợp với bối cảnh trong và ngoàinước, nhằm đạt được sự phát triển bền vững, đạt hiệu quả kinh tế xã hội và tạo đượcđộng lực cho sự phát triển của riêng ngành cũng như tác động cơ bản tới các ngành,lĩnh vực khác trong nền kinh tế
Việc xác định các mục tiêu phải trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo
cơ bản đã đặt ra Mục tiêu phải được lựa chọn trên nhiều phương án sao cho đảmbảo tính hiện thực, tích cực, vững chắc nhưng cũng vừa đảm bảo tính linh hoạt,
Trang 15mềm dẻo Mục tiêu chiến lược phát triển ngành phải vừa hàm chứa cả mục tiêu tổngquát và mục tiêu cụ thể, vừa có mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, vừa có mục tiêudài hạn, vừa có mục tiêu tình thế.
- Các biện pháp và chính sách để thực hiện chiến lược phát triển ngành:
Các biện pháp và chính sách là hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiệnnhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu chiến lược đã đề ra Và để đạt được cácmục tiêu đấy, chúng ta cần xác định được các khâu chủ đạo và chính yếu trong toàn
bộ quá trình phát triển nhằm tạo ra động lực đột phá, thực hiện tốt nhất các nguồnlực phát triển
Chính sách và biện pháp gồm nhiều loại, cần tuỳ thuộc vào tính chất cũngnhư đặc điểm của từng ngành, lĩnh vực mà chúng ta sẽ tiếp cận theo từng nội dungkhác nhau
Các chính sách và biện pháp thể hiện sự hướng dẫn về cách thức thực hiệncác mục tiêu đề ra Nó bao gồm các chính sách và biện pháp về cơ cấu và cơ chếvận hành hệ thống kinh tế xã hội của toàn ngành, các chính sách về khai thác, bồidưỡng, huy động, phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triển
II Mối tương quan giữa quy hoạch phát triển và chiến lược phát triển
Quy hoạch phát triển là một hoạt động tổng hợp với sự tham gia của nhiềungành và nhiều lĩnh vực, do đó cũng có sự khác nhau về cách nhìn nhận Vì vậy,khái niệm quy hoạch phát triển có thể tiếp cận theo các quan điểm khác nhau
Theo cách hiểu cũ về quy hoạch Le Corbusiter nhà quy hoạch người Phápcho rằng quy hoạch phát triển là một sự sắp xếp trên mặt đất những cơ sở hoạt độngcủa con người bao gồm những công trình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, mạnglưới giao thong, rừng cây, khoảng trống nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạtkhác nhau nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của con người
Cùng với quan điểm đó thì Pertxit thì cho rằng, quy hoạch hoạt động lý luận
và thực tiễn về phân bố hợp lý đất trên lãnh thổ các cơ sở sản xuất, phục vụ sảnxuất, các điểm dân cư có tính toán, tổng hợp những vấn đề địa lý, kinh tế xã hội,kiến trúc, được xây dựng dựa trên kết quả dự đoán chiến lược và kinh tế xã hội pháttriển kinh tế tổng thể
Điều trước hết được quan tâm là khái niệm về quy hoạch phát triển phảiđược thống nhất – Quy hoạch phát triển là gì – nó còn là vấn đề mới mẻ chưa đượcxác định thống nhất một cách rõ rang mà còn chứa đựng nhiều ý tứ nước đôi mập
mờ gây không ít khó khăn với những ai bước đầu làm quen với môn học Quy
Trang 16hoạch phát triển là môn học nằm giáo ranh giữa khoa học kinh tế - xã hội, nghệthuật, phân bố lực lượng sản xuất không gian Giữa khoa học về con người và khoahọc về môi trường Sự pha trộn nhiều chiều và đa dạng ấy của quuy hoạch phát triểnkhông phải là do nhận thức của vấn đề quy hoạch phát triển chưa đày đủ mà chính
là do chúng ta ngày càng hiểu biết rõ hơn về vấn đề quy hoạch phát triển
Các nhà quy hoạch kiến trúc của chúng ta coi quy hoạch như là một hoạtđộng nghệ thuật sáng tác, một tác phẩm dung mỹ mà chưa coi trọng yếu tố kinh tế -
xã hội – quản lý kinh doanh đó là một quan niệm chưa đúng và chưa đầy đủ
Cho nên cần khẳng định rằng quy hoạch phát triển là một hoạt động đangành, đa lĩnh vực trong xã hội, liên quan đến môi trường sống, môi trường sảnxuất, kinh doanh Trong đó có sự pha trộn giữa môi trường thiên nhiên để phục vụcho nhu cầu hoạt động của kinh tế xã hội Trong quan điểm của một số nhà hoạch
đô thị Việt Nam hiện nay vẫn luôn cho rằng quy hoạch là bố trí, sắp xếp các yếu tốkhông gian khác nhau của các yếu tố lên trên mặt bằng lãnh thổ (dưới dạng bản đồkhông gian hai chiều) Điều đó có nghĩa là quy hoạch là quy hoạch không gian, làlập các bản vẽ quy hoạch
Ở các nước phương Tây người ta quan niệm quy hoạch không chỉ là việcphân bổ các yếu tố lên mặt bằng lãnh thổ mà phải tính toán đến đời sống dân cư,việc làm, phúc lợi xã hội Có lẽ định nghĩa quy hoạch quy hoạch “cổ điển” nhất làtrường phái Anglo – Saxon đượcT.J CARTWRIGHT diễn dich như sau: “Tôi luôn
có cảm giác rằng chìa khóa cho mọi quy hoạch tốt nằm ở sự thừa nhận hai sự việcsau Thứ nhất quy hoạch là một hoạt động chung, chẳng hạn như nghiên cứu (khoahọc) hay thiết kế, mà người ta có thể làm tốt hay xấu tuy theo các tiêu chí hoàn toànđộc lập với lĩnh vực chúng được vận vào, dù đó là một tổ chức, một đô thị hay thậmchí cả nền kinh tế quốc dân Thứ hai, quy hoạch là một hoạt động ở đó sự phánđoán trực giác và tính sáng tạo (nói gọn lại đó là “nghệ thuật”hãy còn có vai trò tolớn, ngay cả trong thời đại kỹ trị bậc nhất hiện nay”
Qua phát biểu của CARTWRIGHT chúng ta hiểu ra điều quan trọng sau đây:quy hoạch là một chức năng, đúng hơn là một kỹ năng không phải của các điều kiệnbên ngoài mà của các phán đoán chủ quan Muốn quy hoạch tốt cần phải có một ýniệm rõ rang về điều cần phải thực thi Bởi chung ta quy hoạch là để đạt tới cái gì
đó chung ta coi là điều mong đợi và tránh những gì chúng ta xem là điều không khảthi
Trang 17Để thấy rõ hơn thực chất của quy hoạch, xin dẫn ra một định nghĩa khác, lầnnày là của một giáo sư người Anh, Margaret ROBERTS:
“Quy hoạch” là tiến hành chon lựa trong số những phương án cái nào tỏ rarộng mở vào tương lai, rồi tìm cách bảo đảm cho sự thực hiện nó, điều đó lệ thuộcvào sự cung ứng các nguồn lực cần thiết…Vì rằng quuy hoạch là quá trình ra quyếtđịnh và là hoạt động cung ứng nguồn lực cho nên quy hoạch mang tính chính trị,trong đó các phương án được lựa chọn sẽ không mang lại lợi ích một cách đồng đềunhư nhau đối với tất cả các thành viên của xã hội Vì rằng cái duy nhất và rõ rang vềtương lai là cái không thể dự kiến được, cho nên điều cần nói là phải hạ thấp việcđặt trọng tâm vào các mục tiêu sử dụng đát cho tương lai xa phải lưu ý đúng mựcvào những vấn đề nào khả dĩ có thể xử lý thành công trong thời gian ngắn theo mộtkiểu quy hoạch “đối phó với những bất ngờ và uyển chuyển”
Qua nội dung của những khái niệm trên, trên cơ sở thống nhất những quanđiểm chủ yếu chung ta thấy rằng quy hoạch phát triển là hoạt động làm thay đổiđiều kiện không gian theo quy mô trật tự tương lai của cả nước, vùng lãnh thổ Quyhoạch phat triển là một tập hợp các hoạt động hướng tới mục đích nhằm cụ thể hóachiến lược phat triển kinh tế xã hội và là căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch, lựachọn các dự án ưu tiên đầu tư phát triển
- Quy hoạch phát triển là hoạt động làm thay đổi điều kiện không gian theoquy mô trật tự tương lai của cả nước, vùng lãnh thổ Quy hoạch phát triển là mộthoạt động nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và cácvùng lãnh thổ nhằm xác định một cơ cấu ngành không gian của quá trình tái sảnxuất xã hội thông qua việc xác định các cơ sở sản xuất phục vụ sản xuất, phục vụđời sống nhằm không ngừng nâng cao mức sống dân cư, hợp lý hóa lãnh thổ vàphát triển kinh tế bền vững
- Quy hoạch phát triển là một khâu quan trọng tron quy trình kế hoạch hóa,bắt đầu từ đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến quy hoạch phát triển
và được cụ thể hóa bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
III Các nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược phát triển ngành.
Chiến lược phát triển cho một ngành cũng giống như chiến lược phát triểncho một doanh nghiệp, nó phải chịu sự tác động của nhều các nhân tố Bao gồm cácnhân tố bên trong và ngoài ngành cũng như các nhân tố tác động trong nước vàquốc tế đến sự phát triển ngành
1 Tác động của môi trường vĩ mô.
Trang 181.1 Tác động của môi trường quốc tế.
Xu thế vận động và phát triển của nền kinh tế Thế giới một cách liên tục và sôiđộng luôn là nguồn động lực cho sự phát của nền kinh tế của tất cả các nước trên thếgiới Ngày nay, xu thế hội nhập và Quốc tế hoá diễn ra trên toàn thế giới, nó tạo ra sự
mở cửa giao thương giữa các nước, tạo sự chuyển biến liên tục về chuyển giao côngnghệ, khoa học kỹ thuật cũng như hợp tác phát triển song phương và đa phương
Việc tìm hiểu và phân tích sự phát triển của các nước cũng như sự phát triểnngành của các nước sẽ giúp ta rút ra được các bài học kinh nghiệm cho việc xây dựngchiến lược phát triển ngành Trong đó, việc nghiên cứu các yếu tố như khoa học côngnghệ, quan hệ thương mại, thị trường, đầu tư, môi trường văn hóa xã hội, chính trịcủa các nước cũng là căn cứ quan trọng cho việc hoạch định chiến lược phát triểnngành Qua đó giúp tránh được nhưng sai lầm cũng như tìm ra được hướng phát triểnđúng đắn và phù hợp nhất với khả năng thực tế của ngành trong nước
Từ việc phân tích bối cảnh Quốc tế cũng như các nước trong khu vực, ta sẽnhận ra được các cơ hội và thách thức của việc phát triển trong bối cảnh quốc tế vàkhu vực
Những cơ hội đặt ra trong bối cảnh hiện nay là cần tận dụng lợi thế về điềukiện phát triển ổn định của khu vực, tình hình chính trị khu vực bình ổn là cơ hộithuận lợi cho sự phát triển so với nhiều khu vực khác trên thế giới Vì việc ổn định
về chính trị tạo cơ hội thu hút đầu tư trong nước cũng như quốc tế vào trong nước,tạo cơ hội hội nhập và thu hút chuyển giao tiến bộ công nghệ Qua đó nâng cao sứccạnh tranh các mặt hàng trong nước và mở rộng được thị trường trên thế giới
Tuy nhiên những khó khăn đặt ra cũng không phải là nhỏ Việc thu hút côngnghệ và vốn đầu tư nước ngoài tuy tạo điều kiện phát triển trong nước nhưng bêncạnh đó nó cũng gây ra sự phụ thuộc và chịu những điều kiện ràng buộc cho nướcnhận chuyển giao công nghệ và vốn đầu tư Việc không tự phát triển được khoa họccông nghệ trong nước sẽ dần dẫn đến tình trạng luôn tụt hậu so với trình độ pháttriển công nghệ trên thế giới, đây là một trong những khó khăn cần giải quyết.Ngoài ra, việc hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay tạo cơ hội phát triểnnhưng cũng là thách thức không nhỏ vì hợp tác quốc tế tạo ra sức ép cạnh tranh thịtrường thế giới rất lớn
1.2 Tác động của môi trường trong nước.
Mỗi doanh nghiệp hay mỗi ngành khi phát triển đều phải phụ thuộc vào tácđộng của nền kinh tế tại nước mà nó đang phát triển cũng như sự tác động của tất cả
Trang 19các yếu tố tới nền kinh tế đó Nó bao gồm tác động của các môi trường kinh tế,chính trị, pháp luật, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật,….
- Môi trường kinh tế:
Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất mạnh đến sựphát triển của các ngành nghề, lĩnh vự Nó có thể mang lại cơ hội hoặc những tháchthức tiềm ẩn Các yếu tố như lãi suất, tốc độ tăng trưởng, các chính sách tài chínhtiền tệ, … là những yếu tố gây ra những tác động đó
Môi trường kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển của ngành, lĩnh vực Nó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế, mở rộng thịtrường đầu vào và cả thị trường đầu ra cho ngành hay lĩnh vực đó
- Môi trường chính trị pháp luật:
Nó bao gồm các vấn đề: tình hình chính trị quốc gia, các vấn đề điều hànhcủa chính phủ, các hệ thống luật pháp, các thông tư chỉ thị và vai trò của các nhóm
xã hội Do vậy những diễn biến của các yếu tố này ảnh hưởng rất mạnh và cũng rấttrực tiếp đến các quyết định xây dựng chiến lược phát triển ngành
Nếu môi trường chính trị pháp luật ổn định, công bằng thì sẽ tạo điều kiện chonền kinh tế nói chung phát triển cũng như sự phát triển của từng ngành nói riêng
- Môi trường văn hoá:
Con người sống trong bất kì xã hội nào cũng mang bản sắc văn hoá tươngứng với xã hội đó Nền văn hóa có thể ảnh hưởng theo rất nhiều chiều và đa dạng.Văn hoá có thể tạo nên cơ hội hấp dẫn cho cả một ngành nghề kinh doanh Văn hoátạo điều kiện cho sự phát triển của ngành nghề hay lĩnh vực này nhưng có thể lại tạo
ra sự cản bước phát triển của một ngành nghề nào đó
Để có thể tạo được sự phát triển thuận lợi thì việc nghiên cứu kỹ nền văn hoácủa thị trường đang hướng tới là điều rất quan trọng Nó quyết định tới sự phát triểnthành công hay không của ngành nghề, lĩnh vực đó
- Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên có tác động quan trọng đến nguồn thị trường đầu vàocũng như thị trường đầu ra của nhiều ngành nghề lĩnh vực Môi trường tác động đếnviệc sản xuất các nguyên vật liệu, các nguồn năng lượng cho nhiều ngành nghề, đặcbiệt là các ngành nghề thuộc lĩnh vực sản xuất và chế biến nông lâm thuỷ sản
Tính chất của khí hậu thời tiết sẽ tác động nhiều đến việc hình thành đặc tính sảnphẩm của từng ngành, lĩnh vực Qua đó sẽ tạo cơ hội và những thách thức cho ngành
- Môi trường khoa học kỹ thuật:
Trang 20Khoa học kỹ thuật và khoa học ứng dụng mang đến cho con người nhữngbước tiến vượt bậc trong cuộc sống, ngày càng tạo ra sự thoải mái trong nhu cầungày càng cao của con người Do vậy, việc bắt kịp với nhịp độ phát triển của khoahọc kỹ thuật trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành, năngsuất cao hơn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn, sản phẩm làm ra đáp ứng nhucầu thị trường nhanh nhạy hơn,…Yêu cầu đặt ra là luôn theo sát trình độ phát triểnkhoa học kỹ thuật trên thế giới mới có thể đẩy mạnh được sự phát triển ngành, lĩnhvực so với mặt bằng chung cả trong nước và quốc tế.
2 Tác động của môi trường ngành.
Để đánh giá khả năng phát triển của một ngành, chúng ta có thể đánh giáthông qua nhiều mặt khác nhau, tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu này, chúng ta sẽ
đi vào đánh giá theo các năng lực cạnh tranh của ngành theo mô hình “Kim cương”của Micheal Porter _ Giáo sư kinh tế học Đại học Harvard Mô hình sẽ đánh giátheo các năng lực cạnh tranh như trong hình dưới đây:
Hình 1.1: Mô hình Kim cương về năng lực cạnh tranh
của Micheal Porter
Nguồn: Năng lực cạnh tranh quốc gia của Micheal Porter
- Các điều kiện về yếu tố sản xuất:
Bao gồm các đầu vào được sử dụng như những yếu tố của quá trình sản xuấtđược chia làm 2 loại: căn bản và tiên tiến
Trang 21Các yếu tố căn bản bao gồm các nguồn tài nguyên, địa lý, các nguồn laođộng không qua đào tạo.
Các yếu tố tiên tiến là các có được nhờ sáng tạo chứ không phải được thừahưởng bao gồm lao động lành nghề, trình độ quản lý, cơ sở hạ tầng, các phương tiệnnghiên cứu, kỹ năng công nghệ
Các yếu tố này đóng vai trò mang lại lợi thế cạnh tranh vì các nước kháckhông thể dễ dàng có hay bắt chước được các yếu tố này Theo Micheal Porter, cácyếu tố tự nhiên không thuận lợi hay việc thiếu các nguồn lực tự nhiên có thể giúpmột quốc gia trở nên cạnh tranh hơn vì nó bắt buộc phải có sự sang tạo để vượt qua
sự khó khăn và thiếu thốn các nguồn lực này
Ví dụ như Thuỹ Sĩ là nước đầu tiên bị thiếu hụt lao động, do vậy họ đã từ bỏcác ngành sử dụng nhiều lao động và tập trung vào sang tạo sản xuất các sản phẩmđồng hồ chất lượng cao Còn Thuỵ Điển, do mùa xây dựng ngắn và chi phí xâydựng cao nên họ sáng tạo ra kiểu nhà đúc sẵn
- Điều kiện về sức cầu:
Theo M.Porter, thị trường nội địa yêu cầu cao về sản phẩm là yếu tố quantrọng để tạo ra cạnh tranh và thúc đẩy lợi thế cạnh tranh Các công ty phải đối mặtvới thị trường trong nước khắt khe, yêu cầu các sản phẩm chất lượng cao thì sẽbuộc các doanh nghiệp này phải bán các sản phẩm cao cấp Ngoài ra việc tiếp cậnsát với khách hàng trong nước sẽ giúp các doanh nghiệp này có hiểu biết tốt hơn vềnhu cầu và mong muốn của khách hàng Nếu các giá trị riêng có này được xuấtkhẩu sang các Quốc gia khác thì các doanh nghiệp trong nước sẽ có sức cạnh tranhtoàn cầu (Ví dụ như rượu vang Pháp, nước hoa và thời trang của Italia,…)
Việc quan tâm đến thị trường trong nước không chỉ giúp doanh nghiệp đadạng hoá sản phẩm, tăng doanh thu, là chỗ dựa khi thị trường xuất khẩu gặp khókhăn mà còn giúp cac doanh nghiệp nâng cao, tăng sức cạnh tranh của mình
Trang 22- Chiến lược, cấu trúc và môi trường cạnh tranh trong ngành:
Chiến lược: Các điều kiện trong nước ảnh hưởng tới chiến lược của công ty.
Mỗi Quốc gia có chiến lược riêng trong lĩnh vực quản trị kinh doanh có thể thúcđẩy hoặc cản trở các doanh nghiệp của Quốc gia đó tạo dựng lợi thế cạnh tranhQuốc tế trong một ngành nào đó Các quốc gia có cách nhìn triển vọng ngắn hạn sẽ
có sức cạnh tranh lớn hơn trong đầu tư ngắn hạn và ngược lại, cách nhìn triển vọngdài hạn sẽ cho lợi thế cạnh tranh trong các ngành đầu tư dài hạn
Cấu trúc tổ chức: Mỗi ngành sẽ có cấu trúc riêng phù hợp nhất với nó Nó có
thể là tổ chức quản lý theo thứ bậc, cũng có thể là quản lý theo các công ty nhỏ điềuhành bởi gia đình,… tuỳ theo đặc trưng và khả năng vào sự phù hợp đối với từngquốc gia
Đối thủ cạnh tranh: Đứng riêng vào vị thế của từng công ty thì tất nhiên các
doanh nghiệp này không thích có sự cạnh tranh Tuy nhiên, đứng trên góc độ mộtngành, một quốc gia trong một khoảng thời gian dài thì môi trường cạnh tranh cànglớn sẽ càng tạo sức ép cho các doanh nghiệp phải cải tiến, sáng tạo, nâng cao chấtlượng sản phẩm Môi trường cạnh tranh trong nước càng cao sẽ nâng cao khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước và do đó sẽ giảm được áp lực khi hộinhập quốc tế
*Các yếu tố trên có sự tác động tới năng lực cạnh tranh của một ngành và
có cả sự tác động qua lại lẫn nhau như một hệ thống:
Điều kiện về các yếu tố sản xuất chịu tác động của sự cạnh tranh và sức cầutrong nước để tạo ra các yếu tố sản xuất mới, nâng cao lợi nhuận, tăng sức cạnhtranh và thoả mãn nhu cầu của khách hàng; còn các ngành hỗ trợ và các ngành cóliên quan thúc đẩy việc tạo ra các yếu tố sản xuất có thể di chuyển được
Điều kiện về cầu trong nước cũng chịu tác động của môi trường cạnh tranh.Cạnh tranh giữa các nhu cầu trong nước càng quyết liệt thì tạo cho nhu cầu trongnước ngày càng lớn và đòi hỏi cao hơn Các yếu tố sản xuất thuận lợi, tiên tiến sẽgiúp thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cầu sản phẩm trong nước
Một ngành nào đó có các ngành hỗ trợ hoạt động, có sức cạnh tranh thì sẽthu hút hấp dẫn nhu cầu nhu cầu từ nước ngoài cho thị trường sản phẩm đó
Các ngành hỗ trợ có liên quan cũng sẽ có điều kiện phát triển nếu các yếu tốsản xuất dễ dàng di chuyển Nhu cầu trong nước lớn sẽ khuyến khích các ngànhcung ứng phát triển và do vậy tạo sự cạnh tranh dẫn đến hình thành một ngành cungcấp các sản phẩm trung gian, khuyến khích việc chuyên môn hoá
Trang 23Ngoài ra, môi trường cạnh tranh cũng chịu tác động của các yếu tố sản xuất,các ngành công nghiệp phụ trợ và điều kiện về cầu Khi các yếu tố này thuận lợi sẽtạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển trong ngành, do vậy sẽ làmsức cạnh tranh ngày càng lớn.
Sự tương tác giữa các yếu tố vừa kể trên chặt chẽ với nhau được ví như mốiliên kết trong cấu tạo của một viên kim cương đã cho thấy mối liên kết đó chặt chẽđến mức độ nào
Theo Micheal Porter, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay phụthuộc vào sự sáng tạo và khả năng cạnh tranh năng động trong ngành của quốc gia
đó Khi nền tảng cạnh tranh chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức thì vai trò củaquốc gia ngày càng tăng lên Các quốc gia thành công trong trong một số ngànhtrên toàn cầu vì môi trường của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất
- Vai trò của Nhà nước:
Ngoài khả năng cạnh tranh của các ngành được quyết định bởi các đối thủmạnh trong nước, các nhà cung cấp có khả năng, sự phong phú của nhu cầu kháchhàng trong nước va sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ thì chúng ta cần phảixét đến vai trò của Nhà nước
Nhà nước có sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực đến những yếu tốtrên thông qua hệ thống các chính sách của mình (trợ cấp, tín dụng ưu đãi, tín dụng,
…) thực hiện khuôn khổ nhu cầu trong nước thông qua các quy định về tiêu chuẩnchất lượng; thông qua các chính sách thuế, chống độc quyền để định hướng sự pháttriển của các ngành;…
Bên cạnh đó, yếu tố tác động khá lớn tới khả năng cạnh tranh của ngành làchính sách tỉ giá hối đoái Thông qua đó đã giúp khuyến khích các ngành hàng xuấtkhẩu Đây là chính sách quan trọng trong thời mở cửa hội nhập _ là công cụ cạnhtranh trong quan hệ quốc tế Một quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihóa thì việc nâng tỉ giá danh nghĩa (nâng giá trị đồng nội tệ) sẽ tạo lợi thế cho việcnhập khẩu và hạn chế các khoản nợ nước ngoài, tuy nhiên lại làm hạn chế việc xuấtkhẩu Và ngược lại, tăng tỉ giá danh nghĩa giúp tăng cường xuất khẩu và hạn chếnhập khẩu
Nhà nước thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả 4 yếu tố trên đểtạo ra sự phát triển tương xứng, hài hoà tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trongnước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế
IV Sự cần thiết phải có chiến lược phát triển ngành.
Trang 241 Chiến lược phát triển ngành là căn cứ để hoạch định kế hoạch phát triển ngành.
Hoạt động quản lý ngành được thực hiện theo các kế hoạch trung hạn, ngắnhạn của Nhà nước, các địa phương và vùng lãnh thổ, nó sẽ có các đối tượng vànhiệm vụ riêng Tuy nhiên các kê hoạch đó đều phải chịu sự chỉ đạo chung củachiến lược và chiến lược ngành đã quy định những phương châm và chính sáchchung cho toàn ngành trong một thời kỳ nhất định
Chiến lược phát triển trở thành chỗ dựa và là căn cứ cơ bản để xây dựng vàchỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển ngành
Xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển giúp các nhà lãnh đạoxem xét và xác định đất nước sẽ đi theo hướng nào và khi nào sẽ đạt tới điểm cụthể nhất định
2 Chiến lược phát triển ngành là cương lĩnh hành động của quản lý kinh tế
xã hội riêng từng ngành.
Trong điều kiện kinh tế thị trường mở, môi trường cho sự phát triển kinh tếnói chung cũng như từng ngành nói riêng luôn biến đổi nhanh chóng, những biếnđổi này thường tạo ra các cơ hội cũng như các thách thức cho sự phát triển ngành.Việc quản lý bằng chiến lược giúp các nhà quản lý nhằm vào các cơ hội trong tươnglai, tận dụng cơ hội và giảm bớt các nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường.Xây dựng và quản lý bằng chiến lược phát triển giúp các nhà lãnh dạo đưa ra đượccác quyết định tác nghiệp phù hợp
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC NGÀNH PHÂN BÓN
TẠI TẬP ĐOÀN HÓA CHẤT VIỆT NAM.
I.Khái quát ngành phân bón.
1 Khái niệm phân bón
I.1 Phân bón và lịch sử phát triển
Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cầnthiết cho cây trồng được bón vào đất hay hòa nước phun, xử lý hạt giống, rễ và câycon Gần như tất cả các nguyên tố có mặt trên vỏ quả đất đều có mặt trong thànhphần của cây Mỗi yếu tố đều có chức năng riêng chỉ khác nhau về tâm quan trông
và số lượng nhiều hay ít Nguyên tố dinh dưỡng thực vật là nguyên tố cần thiếtcho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật một cách bình thường, chức năng sinh
lý của chúng không thể thay thế bằng các nguyên tố khác
Cây lấy các yếu tố dinh dưỡng càn thiết cho sự sinh trưởng và phát triển từđất Nhiều nguyên tố cây cần nhiều mà đất không cung cấp đầy đủ càn phải bồ sungthêm, các nguyên tố này được gọi là nguyên tố phân bón: Ban đầu chỉ có 3 nguyên
tố nitơ, phôtpho, kali được xem là nguyên tố phân bón Khi sản xuất đi vào thâmcanh tăng vụ, một số nguyên tố khác, đất cũng cung cấp không đủ, phải bổ sungbằng phân bón Số nguyên tố mở rộng thêm là 6 nguyên tố N, P, K, Mg, S, Ca N,
P, K là nguyên tố phân bón chính S, Mg, Ca là các nguyên tố phân bón thứyếu Những nguyên tố có hàm lượng trong cây rất ít, trong đất lại chứa nhiều sovới nhu cầu của cây, nhưng trong một số điều kiện, do độ chua của đất, sự yếm khíhoặc quá nhiều hữu cơ mà nguyên tố đó ở dạng ít hòa tan không cung cấp đủ chocây, cũng vẫn phải cung cấp bằng phân bón với lượng ít Các nguyên tố này gọi lànguyên tố phân bón vi lượng Người ta quy ước phân nhóm các yếu tố phân bónnhư sau: Các nguyên tố phân bón chính: N, P, K Các nguyên tố phân bón thứyếu: Ca, Mg, S Các nguyên tố phân bón vi lượng: Fe, Mn, Cu, B, Mo, Cl Danhsách các nguyên tố phân bón còn nhiều thêm mãi Có xu hướng muốn xem cácnguyên tố Na, Si như nguyên tố phân bón thứ yếu và bổ sung Co, Va, Zn, Al, Pbvào danh sách các nguyên tố phân bón vi lượng, đặc biệt khi người ta chú ý đếnphẩm chất nông sản về mặt thức ăn và làm thuốc chữa bệnh cho người và giasúc Phân nitơ (phân đạm) là loại phân quan trong bật nhất đối với cây trồng Để
có được một tấn hạt lúa mì, khoảng 20kg nitơ bị lấy đi từ đất Đây là năng suất thấp
Trang 26Với năng suất cao hơn (5tấn/ha), 100kg nitơ bị lấy đi từ đất Với năng suất cao hơnnữa (10tấn/ha), 200kg nitơ bị lấy đi từ đất Hiện nay, ở hơn một nữa số nước trênthế giới, năng suất ngũ cốc chỉ mới đạt gần 3tấn/ha với lượng urê bón vào là khoảnggần 100kg/ha Có thể thấy, lượng phân đạm còn thiếu rất nhiều để đạt năng suất caonhất Từ năm 1950 đến 1990, lượng phân nitơ sản xuất ra tăng lên 10 lần Năm
1990, thế giới sản xuất được 80 triệu tấn, đáp ứng được 1/3 nhu cầu Dự kiến đếnnăm 2020, lượng phân nitơ phải tăng lên gấp 2 lần: 160 triệu tấn Để sản xuất 1tấn phân nitơ hóa học cần 1,3 tấn dầu Để sản xuất 80 triệu tấn phân nitơ hóa họccần 100 triệu tấn dầu, bằng 1,4% số dầu sử dụng trên toàn cầu Dầu là nguồn tàinguyên thiên nhiên Dầu cần cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thôngvận tải, v.v… Khai thác quá mức thì nguồn tài nguyên này cũng sẽ cạn kiệt, khôngcòn cho các thế hệ sau Phân nitơ được sản xuất từ khí nitơ (N2) có trong khôngkhí Khí nitơ chiếm 78% không khí Đây là nguốn nitơ vô tận, nhưng cây trồngkhông hấp thụ được Cây trồng chỉ hấp thụ được nitơ ở dạng NH3 Muốn chuyển
N2 thành NH3 các nhà máy cần dùng áp lực và nhiệt độ cao
Áp lực cao N2 và NH3 nhiệt độ cao Phôpho là thức ăn không thể thiếu đốivới cây trồng Phôtpho được chế biến từ quặng khó tan Nó được chế biến bằngcách dùng axit H2SO4 để tác động vào quặng hoặc dùng nhiệt độ cao Tưong tựnhư nitơ và phôtpho, kali là thức ăn không thể thiếu đối với cây trồng Vi lượng, cácchất điều hòa sinh trưởng đều là những chất cần cho cây trồng, tất cả những chất kểtrên đều được tổng hợp bằng con đường hóa học và chúng là phân bón vô cơ
H2SO4 Quặng khó tan và Superphotpho và Photpho nung chảy Nhiệt độcao Để sản xuất ra được phân bón vô cơ đòi hỏi rất nhiều nhiên liệu và phân bón
vô cơ rất khó đáp ứng được năng suất, đảm bảo cho sự gia tăng dân số trên thếgiới Việc sử dụng phân bón vô cơ lâu dài với khối lượng lớn còn ảnh hưởng xấuđến chất lượng đất, ô nhiễm môi trường nước, không khí và chất lượng sản phẩmnông nghiệp Do vậy, nảy sinh yêu cầu cần thiết phải bón phối trộn phân vô cơ vàphân hữu cơ Phân vô cơ mới chỉ xuất hiện trước đây nữa thế kỉ, còn trước nữa,người nông dân chỉ biết đến phân hữu cơ Phân hữu cơ rất cần cho cây trồng, nóvừa cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, vừa duy trì độ phí cho đất Phân hữu cơ baogồm phân chuồng, phân xanh, phân ủ, và gần đây là phân vi sinh Phân xanh baogồm bèo hoa dâu, cây điền thanh, phần thải của các loại cây họ đậu Phân xanh cóthể bón trực tiếp hoặc qua quá trình ủ với phân chuồng Vài chục năm gần đây, bèohoa dâu và cây điền thanh hầu nhu bị lãng quên, cho dù cây là nguồn phân hữu cơ
Trang 27quan trọng Còn phân chuồng không thể đáp ứng diện tích trồng trọt hiện nay, đặcbiệt là như cầu về năng suất Do phân hữu cơ quá thiếu nên người ta phải đưaphân hoá học vào nông nghiệp để thay thế, đảm bảo năng suất lương thực cao Diệntích đất canh tác nông nghiệp trên thế giới ngày càng bị thu hẹp do tốc độ phát triểndân số và đô thị hoá nhanh Để đảm bảo không xảy ra nạn đói, vấn để năng suất trởnên quan trọng, đặc biệt là năng suất các cây lương thực Đạt năng suất cao mà vẫnđảm bảo sự phát triển bền vững, không gây ảnh hưởng xuất đến môi trường là mụctiêu chung của xã hội hiện nay Phân hữu cơ giữ vai trò không thể thiếu để pháttriển nông nghiệp bền vững Để bổ sung cho nguồn phân hữu cơ đang bị thiếunghiêm trọng, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu loại phân hữu cơ mới –Phân Vi Sinh
I.2 Các loại phân bón
Vật phẩm có chứa các chất dinh dưỡng dùng bón vào đất hoặc phun lên lácây để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây được gọi là phân bón Nó có thể là mộthợp chất vô cơ hoặc hữu cơ, hoặc là một hỗn hợp nhiều hợp chất Tuỳ theo thể rắnhay lỏng mà có loại phân bón rắn (ở dạng bột tinh thể hay dang viên), loại phân bónlỏng còn gọi là phân dung dịch (ở dạng hoàn toàn trong suốt hay đục, không hoàntoàn trong suốt có hạt nhỏ lơ lửng trong nước) Các loại phân dạng lỏng dùng để
phun lên lá nên còn gọi là phân bón lá Tuỳ theo loại hợp chất mà chia ra phân hữu cơ và phân vô cơ Phân vô cơ còn gọi là phân khoáng hay phân hoá học Phân
hữu cơ ban đầu có nguồn gốc tự nhiên như chất bài tiết của người và gia súc, giacầm, tàn dư thực vật, than bùn, các phế thải trong nghề chế biến thuỷ sản, súc sản.Cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá học và sinh học, nhiều hoạt chất hữu cơđược sản xuất công nghiệp như urê, các loại phân vi sinh cũng được sản xuất côngnghiệp Mặt khác, một số chất vô cơ được khai thác tự nhiên đem sử dụng làmphân bón không qua quy trình chế biến công nghiệp như bột phôtphorit, phân lân,một số loại phân kali Cho nên loại phân mà các nhà nông nghiệp hữu cơ hô hào
là sử dụng phân tự nhiên chưa qua quá trình chế biến công nghiệp, không hoàn toàn
là chất hữu cơ Từ đó cần phân biệt hai từ phân công nghiệp và phân tựnhiên Công nghệ sinh học được ứng dụng để giải quyết vấn đề phân bón từ đầuthế kỉ XX, nhằm mục đích cải thiện hệ vi sinh vật đất để cung cấp chất dinh dưỡngtốt hơn hoặc còn để giải quyết các vấn đề khác như kích thích sự phát triền của câytrồng, cung cấp chất kháng sinh phòng trừ sâu bệnh hại Các vật phẩm này được gọi
là phân vi sinh Tuỳ theo loại vi sinh vật mà được gọi là phân vi sinh cố định đạm
Trang 28cộng sinh, phân vi sinh cố định đạm tự do, phân vi sinh vật phân giải lân, phân visinh vật phân giải kali, phân vi sinh vật kháng sinh, v.v… Phân vi sinh là sảnphẩm sống Các loại phân không có sinh vật sống, chỉ có chứa các loại men do visinh vật tiết ra, có một số tác dụng nhất định được các nhà sản xuất gọi là phân sinhhọc Danh từ phân sinh học xuất hiện gần đây và nhiều khi lẫn lộn với phân vi sinh.Thực ra hai loại này hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc, thành phần, cơ chế, tácđộng, hiệu quả và cách sự dụng Những thành tựu của sinh học ảnh hưởng rất lớnđến phân bón Quan điểm nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệpbền vững cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng phân bón Trong hoàn cảnh đómột số nhà kinh doanh phân bón đưa ra tên các loại phân bón quảng cáo hấp dẫnnhư phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh, v.v… Các loạiphân này chưa có vị trí chính thức trong danh mục phân bón quốc tế vì hiệu quả
thực tế chưa được kiểm nghiệp rộng rãi Phân sinh hoá là các chất vô cơ hoặc hữu
cơ chiết xuất từ tự nhiên hay sản xuất từ công nghệ hoá học, công nghệ sinh họcđược sử dụng cung cấp cho cây để súc tiến các quá trình chuyển hoá vật chất theohướng có lợi cho năng suất và phẩm chất sản phẩm thu hoạch Danh từ thôngthường được gọi là chất điều hoà sinh trưởng ( kích thích hoặc hạn chế sinh dục vàphát triển của cây) Phân có chứa yếu tố dinh dưỡng từ hai trở lên được gọi là
phân đa nguyên tố dinh dưỡng gọi tắt là phân đa nguyên tố hay phân đa dinh dưỡng Loại phân mà trong thành phần ngoài chất dinh dưỡng cần thiết cho cây
trồng ra còn có các chất thực hiện những chức năng khác như cung cấp chất hữu cơ,cải thiện thành phần vi sinh vật đất, cải tạo lí tính đất, điều hòa sinh trưởng và phát
dục của cây, tác động đến phẩm chất, v.v… được gọi là phân đa yếu tố hay phân đa chức năng.
I.3 Thành phần phân bón
Phân bón thường là một hỗn hợp của nhiều chất, thành phần thay đổi theonguồn gốc phân, nguyên liệu sản xuất và quy trình Các thành phần trong phân ảnhhưởng đến tính chất đất và sinh trưởng của cây -Thành phần có lợi: là chất dinhdưỡng, nếu là phân vô cơ; là các vi sinh vật có ích, các loại men, chất kháng sinh có lợicho cây trồng, v.v… nếu là phân hữu cơ hay phân vi sinh.-Thành phần có thể gây hại:
là các chất hoặc các vi sinh vật gây hại Thông thường không có chất nào có thể hoàntoàn gây hại cả Khi có nhiều thì gây độc hại, khi có ít, có khi không những gây hại mà
lại có lợi Vì vậy, người ta thường nói đến ngưỡng cho phép và ngưỡng hữu ích Để tính thành phần các chất dinh dưỡng trong phân thường dùng hai cách: Một là,
Trang 29tính theo phần trăm (%) so với lượng phân có ghi kèm theo độ ẩm hoặc % trọng lượngkhô kiệt Hai là, các yếu tố vi lượng thường dùng đơn vị mg/100g hoặc ppm – ppm là
tỉ lệ phần triệu, tức là phẩn triệu so với trọng lượng phân Có hai cách biểu hiện, biểuhiện dưới dạng nguyên tố hay ôxit: Nitơ (đạm) thường biểu hiện dưới dạng nguyên
tố và ghi với chữ N sau chữ % Ví dụ phân urê có chứa 46 % N Phôtpho ( lân) vàkali được biểu hiện dưới dạng nguyên tố, % P hay % K hoặc ở dạng oxit: % P2O5 hay
%K2O, tuỳ theo tập quán và quy ước từng nước Ví dụ hàm lượng lân trong supe lân cóthể 6,9 % P hay 16% P2O5, hàm lượng kali trong KCl có thể ghi 41.5% K hay 50%
K2O Các loại yếu tố canxi, magiê thường được biểu hiện ở dạng ôxit magiê haycanxi ( Cao, MgO ) đôi khi còn biểu hiện ở dạng cacbonat ( CaCO3, MgCO3 ); ít khitính bằng Ca, Mg Lưu huỳnh thường được biểu hiện ở dạng SO4 -2 hoặc S Các còn
lại thường biểu hiện dưới dạng nguyên tố -Thành phần tổng số và dễ tiêu Thành
phần tổng số tức là toàn bộ chất dinh dưỡng có trong phân, còn thành phần dễ tiêu làphần chất dinh dưỡng phân có thể sẽ dễ dàng cung cấp cho cây ( là các chất tan đượctrong nước hay axit yếu)
I.4 Phân hiệu quả nhanh và hiệu quả chậm
Độ hòa tan của các chất dinh dưỡng trong phân khác nhau nên cung cấp chấtdinh dưỡng cho cây nhanh chậm khác nhau Nếu phân dễ hoà tan thì cây dễ sửdụng, hiệu quả sử dụng tức thì nhưng cũng dễ dàng bị rửa trôi, mất đi, có khi gâyảnh hưởng xấu đến môi trường Phân đạm dễ hòa tan hiệu quả nhưng dễ mất Phânlân có ba nhóm khác nhau Phân supe lân, DAP dễ hòa tan, tác dụng nhanh nhưngcũng dễ dàng tác dụng với các chất khác hoặc bị keo đất hấp phụ chuyển thành dạngcây khó sử dụng Các loại phân lân chế biến từ quặng tự nhiên bằng phương phápgia nhiệt, ít hòa tan hơn, hiệu quả chậm nhưng lại chuyển dần cho cây sử dụng từ
từ, hiệu quả kéo dài đến các vụ sau Trước đây người ta thường ưa chuộng cácdạng phân hiệu quả nhanh Gần đây trong xu hướng nông nghiệp bền vững, nhằmgiảm bớt ảnh hưởng xấu của phân bón hóa học đến môi trường, người ta đã chú ýsản xuất các loại phân hiệu quả chậm Các loại phân trên thị trường chia làm banhóm: + Nhóm dễ hòa tan trong nước hiệu quả nhanh gồm các loại phân đạm,phân kali, các loại supe lân đơn, supe lân kép, DAP + Nhóm ít hòa tan gồm cácloại phân lân tự nhiên, phân lân kết tủa, phân supe lân axit hóa một phần, phân lânnung chảy Các loại phân đạm dễ hòa tan hơn bằng cách bọc bằng màng lưu huỳnh,màng bentonit + Nhóm khó hòa tan, thường là các loại phân lân khai thác từ tựnhiên không qua chế biến như bột phôtphorit, phôtphat sắt hóa trị 2 và các quặng tự
Trang 30nhiên có chứa kali Trong xu hướng bảo vệ môi trường, hiện nay các nhà nôngnghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ đang khuyến cáo sử dụng nhiều hơn các loạiphân này.
I.5 Phân đơn, phân đa dinh dưỡng và phân đa chức năng
Phân đơn và phân chỉ có một trong ba yếu tố phân bón Ví dụ phân urê, phânnitrat amôn, phân supe lân, phân kali clorua, v.v… Phân đa dinh dưỡng (đanguyên tố dinh dưỡng, nhân gian còn gọi là phân NPK) là phân có chứa nhiềunguyên tố dinh dưỡng, thông thường có 2 đến 3 yếu tố dinh dưỡng chính Ngày naytrên thị trường đã lưu hành rộng rãi các loại phân có chứa trên 6 yếu tố dinh dưỡng
N, P, K, Mg, S, Ca và các yếu tố vi lượng Phân đa chức năng (đa yếu tố) là phân
có chứa các yếu tố khác ngoài yếu tố phân bón như chất điều hòa sinh trưởng, chấthữu cơ, vi sinh vật có lợi, thuốc trừ sâu bệnh hại, thuốc trừ cỏ, v.v… Phân đa dinhdưỡng và phân đa chức năng chuyên dùng Để phục vụ yêu cầu bón phân cân đối,các nhà sản xuất kinh doanh phân bón đã đưa ra thị trường các loại phân có chưanhiều chất dinh dưỡng chuyên dùng cho một loại cây, có lúc đi xa hơn, cho các thời
kì sinh trưởng của cây và cho các loại đất khác nhau Đó là phân đa dinh dưỡngchuyên dùng Có khi còn trộn thêm với các chất có chứa năng khác thì gọi là phân
đa chức năng chuyên dùng
1.6 Hàm lượng và tỉ lệ Hàm lượng là số lưỡng chất dinh dưỡng chứa trong
phân Ví dụ phân urê có chưa 45 % N Phân đa dinh dưỡng 16-16-8 chứa 16% N,16% P2O5 và 8% K2O Khi ghi hàm lưỡng các chất dinh dưỡng trong phân thườngghi theo thứ tự N, P, K và vì đã quy ước nên không cần ghi rõ nguyên tố Khi cótrên ba yếu tố dinh dưỡng thì ghi rõ tên của yếu tố thứ 4 Ví dụ 16-16-8-8 Mg -5S,v.v… Tỉ lệ chất dinh dưỡng trong phân là tỉ lệ giữa các chất dinh dưỡng khác sovới đạm Ví dụ loại phân nói trên có tỉ lệ 1-105-0,5Mg-0,31S
1.7 Lượng Bón Chỉ số lượng của một yếu tố phân bón hay số lượng phân
thường sử dụng (ví dụ kg N/ha hay kg supe lân/ha) Cách biểu hiện bằng kg phânthương trường thường được dùng trong các tài liệu khuyến nông của từng địaphương và ghi rõ hàm lượng yếu tố trong phân
1.8 Năng suất do bón phân Tỉ số giữa sản phẩm tăng thêm và sản lượng
khi không bón phân tính bằng % là tỉ lệ tăng năng suất do bón phân Hiệu suất phânbón là số sản phẩm tăng lên do bón 1kg phân bón tính theo nguyên tố hoặc tính theophân thương trường Ví dụ dùng 100kg urê 46% N bón cho lúa năng suất tăng từ
3 tấn lên 4 tấn thì lượng tăng năng suất là 4t - 3t - 1t , tỉ lệ tăng năng suất là 1/3 =
Trang 3133% , hiệu suất 1kg N dùng ở dạng urê là 1000: 100 = 10kg thóc/1kg urê Hiệu suất1kg N dùng ở dạng urê là 1000: 46 = 21kg thóc/1kg N
1.9 Hệ số sử dụng phân bón Cây chỉ hút đựơc một phần hệ số dinh
dưỡng bón vào đất Tỉ số giữa lượng chất dinh dưỡng được bón vào đất là lượng
chất dinh dưỡng cây hút được gọi là hệ số sử dụng chất dinh dưỡng Đáng lẽ phải gọi là hệ số sử dụng phân bón biểu kiến vì số lượng chất mà cây hút được một phần
là từ phân, một phần là từ đất Muốn tình được hệ số sử dụng phân bón thực phảidùng phương pháp đồng vị phóng xạ, cho nên trong các nghiên cứu thông thườngchỉ áp dụng khái niệm hệ số sử dụng phân bón biểu kiến nhưng vẫn gọi tắt là hệ số
sử dụng phân bón
2 Đặc thù ngành phân bón
Phân bón là ngành hỗ trợ quan trọng trong nông nghiệp, có mối liên hệ mậtthiết với tính mùa vụ và mật độ diện tích gieo trồng cây nông nghiệp Ở nước ta,cây nông nghiệp có diện tích gieo trồng lớn nhất và là cây lương thực chính củangành là cây lúa với diện tích gieo trồng tập trung tại 2 khu vực chính của ngành làcây lúa với diện tích gieo trồng tập trung tại 2 vựa lúa chính của cả nước là ĐBSông Cửu Long và ĐB Sông Hồng Vì thế, thị trường tiêu thụ phân hóa mạnh và tậptrung tại hai thị trường Miền Bắc và Miền Nam
Do phụ thuộc vào tính mùa vụ của cây lúa nên các doanh nghiệp sản xuất vàxuất khẩu phân bón thường hay chuẩn bị hàng trước các vụ mùa ít nhất một thángnhằm đảm bảo có thể phân phối kịp thời cho mùa vụ tại từng khu vực Thị trườngmiền Nam sản xuất phục vụ xuất khẩu nên yêu cầu chất lượng phân bón cao, thịtrường ổn định Nhưng thị trường miền Bắc thường cạnh tranh về giá và ưa chuộnggiá rẻ nên hay gặp nạn phân bón giả gây lũng loạn thị trường
Nhu cầu sử dụng phân bón hàng năm vẫn ở mức khá cao: ure khoảng 2 triệutấn, phân lân NPK ước 2,5 triệu tấn, phân lân 1,3 triệu tấn… nhưng các doanhnghiệp thuộc ngành chỉ đáp ứng được khoảng 50%, còn lại phải nhập khẩu từ thịtrường Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Indonesia… Cá biệt có những sản phẩm phảinhập 100% như DAP, Kali, SA Thêm vào đó, nguồn nguyên liệu đầu vào để sảnxuất phân bón chủ yếu là khí khô Vì thế, giá cả trong nước sẽ chịu tác động bởi giádầu thô, giá lương thực thế giới Ngoài ra cũng chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi tỷgiá cũng như tình hình biến động giá than, giá điện trong nước – những chi phí đầuvào chủ yếu của ngành
Trang 32Trong nước hiện chỉ cung cấp được 3 loại phân bón: đạm ure do nhà máy ĐạmPhú Mỹ và Đạm Hà Bắc cung ứng, đáp ứng được 50% nhu cầu và đang đầu tư xâydựng hoàn thiện phân lân NPK do Cty Supe Photphat và Hóa Chất Lâm Thao, SupePhotphat Long Thành, CTCP Phân lân Ninh Bình và CTCP Phân lân nung chảy VănĐiển cung cấp đáp ứng được 2/3 nhu cầu và cuối cùng là phân NPK phối trộn.
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ngành
3.1 Nhu cầu nông sản
Là một ngành phụ trợ cho sản xuất nông nghiệp thì ngành phân bón sẽ chịuảnh hưởng trực tiếp từ nhu cầu đối với nông sản bao gồm nông sản phục vụ cho nhucầu dùng làm thực phẩm và làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp (bôngvải, cao su…)
An ninh lương thực đang là vấn đề căng thẳng của nhiều quốc gia Theothống kê của FAO cho dù lượng cung ngũ cốc hằng năm tăng liên tục trong suốtgiai đoạn 1996 – 2008 vẫn gần như không theo kịp mức tăng nhu cầu Lượng dự trữlương thực thế giới giai đoạn 2007/2008 có thể được ghi nhận ở mức thấp nhấttrong hai thập kỷ qua Dân số tăng nhanh là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạngthiếu hụt này Sử dụng ngũ cốc cho mục đích sản xuất nhiên liệu sinh học là mộtnguyên nhân khác Nhưng năm gần đây tiêu thụ ngũ cốc trong công nghiệp đã tăngnhanh hơn nhiều so với sử dụng làm lương thực Giai đoạn từ 2003 – 2007, tiêu thụngô trong công nghiệp trên toàn thế giới đã tăng 80%, trong khi đó sử dụng làmlương thực chỉ tăng 5%
Hình 2.1
Trang 333.2 Biến động giá dầu mỏ
Sự biến động giá dầu mỏ có mối tương quan thuận chiều với giá phân bón Dầu
mỏ tác động lên ngành phân bón nhiều khía cạnh Thứ nhất, giá dầu mỏ biến động sẽảnh hưởng lên chi phí sản xuất và giá cả của các nguyên liệu sản xuất phân bón có gốcdầu mỏ Thứ hai, chi phí vận chuyển và nhập khẩu phân bón cũng sẽ giảm theo biếnđộng của dầu mỏ Ở cẩ hai khía cạnh này, biến động dầu mỏ đã tác động lên giá cả cácloại phân bón Ngoài ra giá đầu mỏ tăng cao còn gián tiếp ác động lên cầu phân bónkhi nó làm tăng nhu cầu đối với nhũng loại ngũ cốc dùng sản xuất nhiên liệu sinh học,được sử dụng như một nhiên liệu có thể thay thế cho dầu mỏ
3.3 Chính sách phát triển ngành phân bón hóa chất trong nước
Trước tình hình nhu cầu phân bón trong nước tăng nhanh để đảm bảo chonguồn cung ổn dịnh, những năm qua Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyếnkhích cho ngành phân bón Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nhà nước sẽ hỗ trợgiá nguyên liệu đầu vào như bù giá khí và giá than cho sản xuất phân đạm Đối vớicác doanh nghiệp nhập khẩu phân bón cũng được ưu tiên cho vay ngoại tệ để nhậpkhẩu phân bón Tuy nhiên, thời gian tới thì các chính sách ưu đãi sẽ giảm bớt
3.4 Chính sách XNK phân bón của các nước cung cấp phân bón chính trên Thế Giới.
Do ngành phân bón nước ta còn phụ thuộc khá nhiều vào nhập khẩu nênchính sách xuất khẩu của các quốc gia cung cấp phân bón lớn trên thế giới đều cóảnh hưởng đến tình hình phân bón tại Việt Nam Đặc biệt Trung Quốc, một quốcgia sản xuất và tiêu thụ phân bón lớn nhất trên thế giới cũng là nhà cung cấp chiếmđến 60% cơ cấu nhập khẩu phân bón của Việt Nam, thì bất kỳ thay đổi trong chínhsách của nước này sẽ có tác tộng trực tiếp đến Việt Nam Trong năm 2007, nhậpkhẩu phân bón về thị trường Trung Quốc tăng khá mạnh, tăng tới 70% về lượng vàtăng 94% về trị giá so với năm 2006, đạt 2,1 triệu tấn, trị giá trên 579 triệu USD.Chủng loại phân bón nhập về chủ yếu từ thị trường Trung Quốc là Urê, DAP, SA vàMAP Cơ cấu chủng loại phân bón nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2007: Phân Urê,DAP, SA, MAP, NPK, phân lân, kali, MOP
Trang 34Hình 2.2
Cụ thể, từ đầu năm đến nay khi giá phân bón leo thang, để đảm bảo cho nhucầu trong nước, chính phủ Trung Quốc đã hai lần tăng thuế xuất khẩu với mặt hàngphân bón Trong lần tăng thuế thứ hai của năm vào tháng 9/2008 thuế xuất khẩu đặcbiệt đối với phân Nitơ và Amoniac tăng lên mức 150%, ngoài hai loại phân bón nóitrên Trung Quốc tiếp tục thu 100% thuế xuất khẩu đặc biệt đối với các loại phânbón và nguyên liệu phân bón khác Thuế xuất khẩu Urê tăng 25% lên 175% Thuếxuất khẩu các loại phân: DAP, MAP, NPK, NP, PK là 120% (tăng thêm 20%), thuếvới phân TSP, SSP, KCl, K2SO4, muối Kali … là 130%(tăng thêm 30%)
II Khái quát toàn ngành sản xuất phân bón Việt Nam
1 Thị trường tiêu thụ
1.1 Thị trường thế giới
Cuộc suy thoái kinh tế thế giới đã bắt đầu kết thúc và nền kinh tế toàn cầuđang dần phục hồi trở lại với một bước khởi đầu mạnh mẽ hơn so với dự báo củaQuỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Theo dự báo mới nhất của IMF, sản lượng thế giới năm
2010 sẽ tăng lên 4% thay vì 3,1% như trong dự báo Triển vọng kinh tế thế giới ravào tháng 10/2009 của tổ chức này Tuy nhiên, tốc độ phục hồi kinh tế lại khácnhau theo từng khu vực Ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến, sự phục hồi tỏ ra chậm
Trang 35chạp, bên cạnh đó ở các nền kinh tế mới nổi, hoạt động kinh tế được dự đoán tươngđối sôi động chủ yếu là do nhu cầu nội tại của các nền kinh tế này
Trong 3 năm qua, giá phân bón trên thị trường thế giới luôn bám sát với xuhướng giá ngũ cốc, chỉ khác nhau ở tốc độ và mức độ thay đổi Trong niên vụ2008/09, trong bối cảnh giá phân bón tăng cao cộng thêm sản lượng thất thườngtrong ngành nông nghiệp, rất nhiều nông dân đã áp dụng phương pháp sử dụng ítphân bón cho những mảnh đất có độ màu mỡ trung bình hoặc cao Điều này đãmang lại thành công cao vì mặc dù sử dụng ít phân bón nhưng nông dân ở Mỹ vàPháp vẫn có được vụ mùa bội thu
Trong bối cảnh đó, để người nông dân quay lại sử dụng phân bón cần mộtkhoảng thời gian dài, ít nhất là sau 1 vụ mùa khi mà đất trồng cần được chăm sóc đểphục vụ cho 1 vụ mùa trồng trọt mới Chính vì vậy, theo đánh giá của các chuyêngia ngành nông nghiệp, trong thời gian tới cầu về phân bón sẽ tăng lên khi giá củacác mặt hàng nông sản ổn định và người nông dân sử dụng lại phân bón cho mảnhruộng của mình
Hình 2.3
161,2
167,6
156,4 158 150
(Nguồn: Hiệp hội phân bón thế giới)
Với triển vọng kinh tế thế giới phục hồi trở lại vào năm 2010, Hiệp hội phânbón thế giới IFA dự báo cầu phân bón thế giới 2009/2010 sẽ hồi phục nhẹ khoảng1% so với niên vụ 2008/2009 lên mức 158 triệu tấn Trong đó, cầu về phân bón nitơ
Trang 36sẽ tăng khoảng 1,6%, cầu phân bón phốt pho tăng mạnh hơn, ở mức 3% và cầu vềKali tiếp tục giảm thêm 4,5% so với niên vụ 2008/2009 Các khu vực tăng trưởngcầu chính vẫn là Nam Á, Bắc Mỹ và Tây Á.
Châu Đại Dương, Mỹ Latinh vẫn tiếp tục là những khu vực giảm nhu cầu sửdụng phân bón trong niên vụ 2009/2010 Các khu vực Đông Á, Đông Âu, Trung Á,Châu Phi, Tây và Trung Âu có mức tăng cầu nhẹ
1.2 Thị trường trong nước
1.2.1 Nhu cầu phân bón Việt Nam
Năm 2009, trong khi diện tích cây lúa tăng nhẹ thì diện tích gieo trồng một
số loại cây lương thực khác như ngô, sắn, khoai lang lại giảm nhẹ Diện tích gieotrồng lúa năm 2009 ước đạt 7.4401,1 nghìn ha; tăng 39,9 nghìn ha so với năm 2008;trong đó diện tích lúa Đông Xuân tăng 47,6 nghìn ha, lúa Hè Thu giảm 10,4 nghìn
ha, lúa mùa tăng 2,7 nghìn ha
Diện tích ngô năm 2008 ước đạt 1086,8 nghìn ha, giảm 53,4 nghìn ha, dotrận lụt lịch sử cuối năm 2008 ảnh hưởng nặng tới diện tích gieo trồng ngô vụ đôngtại các tỉnh phía Bắc
Lúa Ngô Sắn Khoai lang
Diện tích một số loại cây lương thực năm 2008 - 2009 (nghìn ha)
2008 2009
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Bộ NN và PTNT)
Việc giá mía năm 2008 đạt thấp khiến nhiều diện tích trồng mía được chuyểnsang trồng các loại cây khác Diện tích mía năm 2009 ước giảm khoảng 10,6 nghìn
ha so với năm 2008 xuống còn 260 nghìn ha
Trang 37Năm 2007 – 2008, giá nhiều loại nông sản như cao su, cà phê, chè, hạt tiêu,hạt điều được giá trên thị trường quốc tế khiến nhiều địa phương mở rộng diện tíchgieo trồng hoặc thay thế nhiều diện tích già cỗi bằng những giống mới cho năngsuất, chất lượng cao hơn Tính chung cả năm 2009, diện tích chè tăng 2,1%, cà phêtăng 1,1%, cao su tăng 6,8%, hồ tiêu tăng 1,3% so với năm 2008 Riêng hạt điều lạigiảm 2,1% do nhiều diện tích trong giai đoạn thay đổi, cải tạo giống mới.
Hình 2.5
0 100 200 300 400 500 600
Cà phê Hạt điều Chè Hạt tiêu Cao su
Diện tích gieo tr ồng một số loại cây công nghiệp năm 2008 - 2009 (nghìn ha)
2008 2009
(Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Bộ NN và PTNT)
1.2.2 Các nguồn cung phân bón
1.2.2.1 Nguồn cung trong nước
Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, tổng lượng phân bón hóa họcsản xuất trong năm 2009 ước đạt 2.387 nghìn tấn, giảm 5,4% so với năm 2008 vàgiảm 4,5% so với năm 2007 Tuy nhiên, tính chung cho giai đoạn từ năm 2000 –
2009, sản lượng phân hóa học sản xuất trong nước tăng trung bình 8,7%/năm