Thực trạng về hoạt động quản lý đối với công tác thanh tra chuyên môn các trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân.... Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐỖ HỒNG PHONG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TRA
CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Kính thưa các thầy giáo, cô giáo
Thưa các bạn đồng nghiệp!
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại Học Quản Lý Giáo Dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo đã giúp đỡ em trong những năm học tập và đã trang bị cho em những kiến thức cần thiết để em có thể tập dượt nghiên cứu khoa học và hoàn thành được luận văn này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Quốc Bảo, người thầy đã hướng dẫn tận tình và trách nhiệm với em trong suốt quá trình lập đề cương, tổ chức nghiên cứu và viết luận văn
Tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Lê Chân, Ban giám hiệu trường THCS Trương Công Định và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em mong được sự chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, sự góp ý chân thành của bạn bè đồng nghiệp để luận văn được bổ sung
và hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn
Hà nội, tháng… năm 2013
Tác giả
Đỗ Hồng Phong
Trang 3CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 BGD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 CBQL : Cán bộ quản lý
3 CNTT : Công nghệ thông tin
4 CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
19 Sở GD&ĐT : Sở Giáo dục và Đào tạo
20 TTGD : Thanh tra giáo dục
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
7 1.1 Tổng quan 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 10
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, biện pháp quản lý 10
1.2.2 Thanh tra, kiểm tra, giám sát 13
1.3 Mục đích, chức năng, nhiệm vụ và ý nghĩa của hoạt động thanh tra chuyên môn 19
1.3.1 Mục đích của thanh tra chuyên môn 19
1.3.2 Chức năng của thanh tra chuyên môn 20
1.3.3 Nhiệm vụ của thanh tra chuyên môn 23
1.3.4 Ý nghĩa của hoạt động thanh tra chuyên môn 23
1.4 Phòng Giáo dục & Đào tạo với hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở 25
1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Giáo dục & Đào tạo 25
1.4.2 Cơ cấu, tổ chức thanh tra của Phòng Giáo dục & Đào tạo 28
1.4.3 Nội dung, phương pháp thanh tra chuyên môn Trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo 31
1.5 Nội dung quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo 34
Tiểu kết chương 1 37
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH
TRA CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG 38 2.1.Sơ lược về tình hình kinh tế, xã hội, giáo dục của quận Lê Chân
thành phố Hải Phòng 38 2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội quận Lê Chân thành phố Hải Phòng 38 2.1.2 Khái quát về Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân 41 2.2.Thực trạng quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung
học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân, thành phố
Hải Phòng 50 2.2.1 Thực trạng về công tác chuyên môn của các trường Trung học
cơ sở quận Lê Chân 50 2.2.2 Thực trạng về hoạt động thanh tra chuyên môn các trường trung
học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Lê Chân 56 2.2.3 Thực trạng về hoạt động quản lý đối với công tác thanh tra
chuyên môn các trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào
tạo quận Lê Chân 68 2.3 Đánh giá ưu, nhược điểm của hoạt động quản lý công tác thanh
tra chuyên môn của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân 74 2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TRA
CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA PHÒNG
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 78 3.1 Định hướng phát triển giáo dục hiện nay 78 3.2 Biện pháp 80 3.2.1.Nâng cao nhận thức trong đội ngũ cán bộ giáo viên về hoạt động
thanh tra giáo dục, thanh tra chuyên môn 80 3.2.2 Triển khai, cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt
Trang 6động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở phù hợp với thực
tế địa phương 82
3.2.3 Tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra chuyên môn cho đội ngũ cộng tác viên thanh tra trung học cơ sở 85
3.2.4 Kế hoạch hóa công tác thanh tra chuyên môn THCS 89
3.2.5 Xây dựng qui trình thanh tra chuyên môn trường trung học cơ sở đúng qui chế và phù hợp với kế hoạch chuyên môn đã triển khai từ đầu năm học 91
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ của các cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở, các thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra và các đoàn thanh, kiểm tra 96
3.2.7 Sử dụng hiệu quả kinh phí công tác thanh tra Có chế độ khen thưởng và phê bình kịp thời 98
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 101
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận……… …… 105
2 Khuyến nghị……… ……… 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Quy mô giáo dục và Đào tạo quận Lê Chân thành phố
Hải Phòng Năm học 2012-2013 44
Bảng 2.2 Số lượng trường đạt chuẩn quốc gia 45
Bảng 2.3 Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục (Năm học 2012-2013) 46
Bảng 2.4 Kết quả xét tốt nghiệp trung học cơ sở (Năm học 2012-2013) 46
Bảng 2.5 Cơ cấu cán bộ, giáo viên, nhân viên 50
Bảng 2.6 Cơ cấu giáo viên theo môn học 51
Bảng 2.7 Số trường, lớp học sinh cấp trung học cơ sở qua các năm 53
Bảng 2.8 Thống kê số lượng học sinh cấp trung học cơ sở bỏ học qua các năm……… 54
Bảng 2.9 Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh THCS qua các năm……… 55
Bảng 2.10 Thống kê xếp loại học lực học sinh THCS qua các năm 56
Bảng 2.11 Nhận thức chung về hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên môn 57
Bảng 2.12 Nhận thức về nội dung hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên môn 59
Bảng 2.13 Đội ngũ thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra trung học cơ sở nhiệm kì 2011-2013 62
Bảng 2.14 Thực trạng đội ngũ cộng tác viên thanh tra 63 Bảng 2.15 Đánh giá phẩm chất, năng lực người cán bộ thanh tra 64 Bảng 2.16 Kết quả thanh tra hoạt động chuyên môn các trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT Quận Lê Chân 4 năm gần đây và biểu đồ so sánh 65
Bảng 2.17 Số lần được thanh tra về hoạt động chuyên môn tại đơnvị và tỷ lệ bình quân số giáo viên được thanh tra, kiểm tra chuyên môn 66
Bảng 2.18 Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân 68
Trang 8Bảng 2.19 Đánh giá mức độ kết quả các biện pháp đã sử dụng
trong quản lý công tác thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận
Lê Chân 70
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở 102
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở 103
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ 2.1 Kết quả thanh tra hoạt động chuyên môn các trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT Quận Lê Chân trong 4 năm học gần đây 65
Sơ đồ 1.1 Mối liên hệ của thông tin quản lí 22
Sơ đồ 1.2 Vòng liên hệ ngược của thanh tra, kiểm tra trong quản lí 22
Sơ đồ 1.3 Hệ thống tổ chức thanh tra giáo dục 30
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây giáo dục Việt Nam có nhiều sự thay đổi, quy mô tăng nhanh, các hoạt động giáo dục được phát triển dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú Điều đó đã làm cho công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng càng trở nên phức tạp hơn Chính vì thế mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định
chủ đề năm học 2012-2013 là: “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất
lượng giáo dục” Xác định rõ một trong những nguyên nhân chính làm cho
Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) của nước ta chưa phát triển ngang tầm với một số quốc gia trên thế giới và khu vực, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước là do công tác quản lý giáo dục Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ nói riêng và cho đất nước nói chung trong thế kỉ XXI - thế kỷ được mệnh danh
là thế kỷ của công nghệ thông tin, thế kỷ của kinh tế tri thức, thế kỉ mà nền văn minh hậu công nghiệp sẽ tạo nên những biến đổi có tính cách mạng trong sản xuất cũng như trong đời sống xã hội, nhiều quốc gia đã và đang thực hiện những công cuộc cải tổ về hệ thống giáo dục, đặc biệt là hệ thống đào tạo cho phù hợp với yêu cầu mới
Việt Nam, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa có rất nhiều thuận lợi nhưng cũng đứng trước không ít những khó khăn thách thức Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, tất yếu và cấp bách là phải kịp thời đổi
mới sự nghiệp (GD&ĐT) theo đường lối mà Đảng đã đề ra: Giáo dục và Đào
tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để có hướng đi và
cách làm đúng cần có tư duy giáo dục mới, cần tiến hành cuộc “Đổi mới giáo
dục có tính cách mạng, hay nói cách khác là cải cách triệt để và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” [32] và đổi mới sự nghiệp (GD&ĐT), trước hết phải đổi mới
công tác quản lý giáo dục
Trang 10Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Trong công tác quản lý giáo dục, phải đi
sâu vào việc điều tra nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm Chủ trương phải cụ thể, thiết thực, đúng đắn, kết hợp chặt chẽ chủ trương chính sách của trung ương với tình hình thực tế và kinh nghiệm quý báu và phong phú của quần chúng, của cán bộ và của địa phương Đây là những bài học vô cùng quý giá để chúng ta học tập, noi theo và làm tốt
hơn nữa sự nghiệp phát triển GD&ĐT góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Nghị quyết Hội nghị lần hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về “Định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH
đã khẳng định những thành tích to lớn và những yếu kém tồn tại của ngành GD&ĐT trong những năm qua Để phát huy những thành tích đã đạt được và
khắc phục những hạn chế, bất cập Nghị quyết đã chỉ ra là: cần phải “Hoàn thiện
hệ thống thanh tra giáo dục (TTGD), tăng cường cán bộ thanh tra, tập trung vào thanh tra chuyên môn” Nghị quyết cũng chỉ rõ “Công tác quản lý GD&ĐT
có những mặt yếu kém, bất cập Hoạt động thanh tra giáo dục còn yếu kém, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo; chậm phát hiện và thiếu nghiêm túc trong xử lý và khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong ngành GD&ĐT [19]
Có thể khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân ta càng ngày càng coi trọng vai trò của giáo dục, quan tâm nhiều hơn đến giáo dục, song cũng đòi hỏi giáo dục phải đổi mới một cách sâu sắc và toàn diện Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục là phải thực hiện tốt hoạt động thanh tra,
kiểm tra Nghị quyết Đại hội X cũng chỉ ra sự cần thiết phải “Tăng cường
thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục” Về vấn đề này, từ Hội
nghị cán bộ Thanh tra toàn miền Bắc lần thứ nhất ngày 19/4/ 1955 Hồ Chủ
Tịch đã huấn thị: " Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới,
theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tin đưa xuống cho đến lúc kết thúc"
Trang 11Thực tiễn hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra chuyên môn nói riêng các trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong những năm qua có những chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả cao, đóng góp nhiều vào việc nâng cao hiệu quả quản lý của ngành GD&ĐT Lãnh đạo phòng GD&ĐT quận Lê Chân thành phố Hải Phòng đã xác định rõ mục tiêu và trách nhiệm là không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý trong hoạt động thanh tra nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
và nâng cao chất lượng thanh tra chuyên môn trong các cơ sở giáo dục nói riêng Tuy nhiên hoạt động thanh tra chuyên môn cũng còn rất nhiều vấn đề bất cập, hình thức, đạt hiệu quả chưa cao, chưa có tác dụng nhiều đến sự điều chỉnh và định hướng các hoạt động giáo dục của các trường Trung học cơ sở trong quận
Biện pháp quản lý hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra chuyên môn nói riêng các trường Trung học cơ sở được coi là hoạt động trọng tâm của Phòng GD&ĐT trong bối cảnh hiện nay Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của hoạt động thanh tra trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
và bản thân là một cán bộ quản lý hoạt động thanh tra của Phòng Giáo dục &
Đào tạo nên em đã chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay” với
mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Phòng GD&ĐT đối với hoạt động thanh tra nhằm điều chỉnh, định hướng và đánh giá đúng các hoạt động quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường Trung học cơ sở trong quận
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường THCS từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục toàn diện ở các trường Trung học cơ sở
Trang 123 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động thanh tra chuyên môn các trường Trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn của Phòng GD&ĐT quận
Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong những năm qua đã có rất nhiều cố gắng và đạt được những hiệu quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của quận Song, trên thực tế, để nâng cao chất lượng giáo dục của quận, thành phố và đất nước, đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì các biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn của Phòng GD&ĐT còn có bất cập Nếu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn các trường THCS quán triệt căn cứ khoa học và thực tiễn thì góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của quận
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hoạt động thanh tra, kiểm tra; quản lý
hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở
5.2 Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn các trường Trung
học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
5.3 Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn
trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân- Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện giáo dục Trung học cơ sở của quận
6 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và yêu cầu của một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung vào vấn đề: Nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân - Hải Phòng từ năm 2009 đến nay
Trang 137 Các phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các Chỉ thị, Quy định của ngành giáo dục, các tài liệu lý luận về công tác cán bộ, thanh tra, thanh tra giáo dục
và các văn bản có liên quan đến hoạt động thanh tra nhằm đưa ra những cơ sở lý luận để quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân- Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động thanh tra, kiểm tra của đoàn thanh tra giáo dục, các thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra nhằm thu thập thông tin thông qua kết quả thanh tra toàn diện các trường Trung học cơ sở, thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo, thanh tra đổi mới phương pháp Từ đó xử lý các thông tin thu thập được
7.2.2 Phương pháp điều tra
Xây dựng phiếu hỏi và phát phiếu trưng cầu ý kiến đến thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra, cán bộ quản lý, giáo viên các trường Trung học cơ sở, lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các đồng chí lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên có kinh nghiệm trong quản lý giáo dục của Phòng GD&ĐT, các Thanh tra viên của Thanh tra
Sở GD&ĐT Hải Phòng
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Thu thập thông tin trên cơ sở các báo cáo tổng kết, các biểu mẫu thống
kê trong hoạt động quản lý của Phòng Giáo dục & Đào tạo; tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục các đơn vị cơ sở và Phòng Giáo dục & Đào tạo
7.2.5: Phương pháp thống kê toán học
Xử lý, phân tích các số liệu thu thập được
Trang 148 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của hoạt động thanh tra chuyên môn trường
trung học cơ sở của Phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân thành phố Hải phòng trong bối cảnh hiện nay
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường trung
học cơ sở của phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn trường
trung học cơ sở của phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TRA CHUYÊN MÔN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO
TẠO QUẬN LÊ CHÂN- THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Tổng quan
Hoạt động thanh tra là một trong những khâu quan trọng trong quản lý
nhà nước C.Mác và Ăng-ghen đã từng viết “Thanh tra là phạm trù lịch sử
gắn với quá trình lao động xã hội Chính bản chất của quá trình lao động xã
hội đòi hỏi tính tất yếu phải có sự quản lí Nhà nước ”
V.I.Lê-nin cũng rất chú trọng đến hoạt động thanh tra: “Chúng ta phải
tổ chức kiểm tra nghiêm ngặt công tác của chúng ta phải kiểm tra thực sự đúng đắn trên quan điểm nền kinh tế quốc dân mà kiểm tra; phải kiểm tra lại chủ chương của chúng ta đã tuyên bố từng giờ, từng phút, từng giây Ban thanh tra công nông không chỉ có nhiệm vụ, thậm chí không phải chỉ có nhiệm
vụ tóm bắt và vạch mặt mà phải cải tổ Bộ dân uỷ thanh tra công nông để tăng cường sự kiểm tra từ phái quần chúng nhằm tiêu diệt thứ cỏ dại chủ nghĩa quan liêu.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Sự kiểm tra việc thực
hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp cho làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ máy trong bất kì thời gian nào, chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra Thanh tra và kiểm tra thường xuyên, đúng đắn chắc chắn những chỗ hổng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được.”
Thực tiễn hơn sáu thập kỷ qua, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Ban thanh tra nhà nước đã chứng minh rằng: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lí nhà nước (QLNN) Trong công tác lãnh đạo và quản lý không thể tách rời hoạt động kiểm tra, thanh tra
Trang 16Ngày 29/ 10/ 1988 Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã có quyết định số 1019/QĐ ban hành bản quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục Ngày 28/ 9/ 1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định 358/HĐBT về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục Sau đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 478/QĐ ngày 11/ 3/ 1993 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục và đào tạo Tháng 12 năm 1998, Luật giáo dục nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, (ở mục 4 chương VII từ điều 98 đến điều 103) [30] đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thanh tra giáo dục và đối tượng thanh tra
Trong cuốn “Những bài giảng về quản lí trường học” (tập hai - Nhà xuất bản giáo dục 1985) của tác giả Hà Sỹ Hồ đã khẳng định “Quản lí mà
không kiểm tra thì quản lí sẽ ít hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu.”[26]
Về quản lý trường học, tác giả Trần Kiểm trong cuốn “Khoa học quản
lý nhà trường phổ thông - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội – 2002” đã
viết: "Hiệu quả quản lý nhà trường phụ thuộc nhiều vào chừng mực người
hiệu trưởng sử dụng thông tin khách quan, đáng tin cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời của mỗi giáo viên về chất lượng kiến thức, về mức độ được giáo dục
và tính kỷ luật của học sinh" [28] Thông tin khách quan thu được chủ yếu qua
kết quả thanh tra, kiểm tra
Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Thanh tra giáo dục thực hiện
quyền thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước về giáo dục nhằm đảm bảo việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục” (theo khoản 1, điều 111, mục 4, chương VII,
Trang 17+ Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, qui chế chuyên môn, qui chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ; việc thực hiện các qui định về điều kiện cần thiết đảm bảo chất lượng giáo dục ở cơ sở giáo dục;
+ Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
+ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về xử lí vi phạm hành chính;
+ Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục theo qui định của pháp luật về chống tham nhũng; + Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về giáo dục; đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách qui định của Nhà nước về giáo dục; + Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.”
Luật giáo dục 2005, điều 112, mục 4, chương VII cũng nêu rõ quyền
hạn, trách nhiệm của thanh tra giáo dục: “Thanh tra giáo dục có quyền hạn và
trách nhiệm theo qui định của pháp luật về thanh tra Khi tiến hành thanh tra, trong phạm vi thẩm quyền quản lý của thủ trưởng cơ quan quản lý giáo dục cùng cấp, thanh tra giáo dục có quyền quyết định tạm đình chỉ hoạt động trái pháp luật trong lĩnh vực giáo dục, thông báo cho cơ quan có thẩm quyền để
xử lý và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.”
Từ năm 2010 Luật Giáo dục mới ra đời cùng cùng với Luật Thanh tra 2004, thanh tra chính phủ và Bộ GD&ĐT đã có những văn bản cụ thể về công tác thanh tra giáo dục (TTGD) Những văn bản đang có hiệu lực thi hành là:
Nghị định số 85/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 về tổ chức và hoạt động của TTGD
Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra HĐSP của nhà giáo
Trang 18Trong "Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục" đăng trong tài liệu
"Những vấn đề quản lý nhà nước và quản lý giáo dục" - Trường Cán bộ quản
lý Giáo dục - Đào tạo Trung ương I - 1998, của tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: Quản lý giáo dục có 4 chức năng cụ thể: Kế hoạch hoá, chỉ huy, điều
hành, kiểm tra Trong đó "Kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá tổng
kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu"
Trên thực tế, vấn đề quản lý hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra chuyên môn nói riêng của Phòng GD&ĐT tạo vẫn rất cần tiếp tục được nghiên cứu để nắm rõ thực trạng quản lý hoạt động thanh tra, chỉ ra nguyên nhân, đề xuất những giải pháp phù hợp, hiệu quả nâng cao chất lượng công tác thanh tra Những tài liệu đã dẫn và những tài liệu viết về hoạt động thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục của các nhà nghiên cứu lí luận giáo dục là vô cùng cần thiết và quan trọng cho học viên trong quá trình thực hiện đề tài: nghiên cứu lí luận, biện pháp quản lý hoạt động thanh tra chuyên môn của GD&ĐT; từ đó đề xuất, tăng cường các biện pháp quản lí hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của phòng GD&ĐT, góp phần đổi mới hoạt động thanh tra giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu và thực hiện thành công mục tiêu giáo dục trong giai đoạn đổi mới đất nước
1.2 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, biện pháp quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Tác giả F.W.TayLor - nhà lý luận quản lý Mỹ cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Ngày nay, khái niệm quản lý được định nghĩa rõ ràng hơn:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến
Trang 19Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [12, tr.1]
Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo
quan niệm rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung” và “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể.”
Các định nghĩa được nhìn nhận ở nhiều góc độ, song nhìn chung: quản
lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường Nói cách khác, quản lý là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra
1.2.1.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục đã được các nhà lý luận
và quản lý thực tiễn đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:
Theo chuyên gia giáo dục Liên Xô (cũ) M.I Kônđacốp Quản lý giáo
dục là:“Tập hợp những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch
hoá, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng.”
Tác giả Phạm Minh Hạc xác định: “Quản lý nhà trường phổ thông (có
thể mở rộng ra là việc quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy -
Trang 20học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác
để dần tới mục tiêu giáo dục” [27 tr.71]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục (và nói riêng,
quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [37]
Tác giả Đặng Quốc Bảo đã khái quát “Quản lý giáo dục theo định
nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”
Từ những quan niệm trên có thể định nghĩa: Quản lý giáo dục (QLGD)
là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến hệ thống giáo dục làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nghuyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện quá trình dạy học - giáo dục, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu giáo dục đề ra
1.2.1.3 Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra Trong QLGD, các biện pháp quản lý để thực hiện có hiệu quả hoạt động thanh tra có ý nghĩa rất quan trọng, nó tác động vào đối tượng quản lý bằng việc xem xét, đánh giá, kết luận việc thực hiện công tác quản lý của hiệu trưởng, giảng dạy và công tác của giáo viên, cũng như các hoạt động toàn diện của nhà trường để tư vấn, thúc đẩy các hoạt động giáo dục (HĐGD) đạt đến mục đích đề ra Các biện pháp thực hiện nhằm đạt tới mục tiêu: Thực hiện công việc năng suất; chất lượng; hiệu quả
Trang 211.2.2 Thanh tra, kiểm tra, giám sát
1.2.2.1 Kiểm tra
Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản trong quá trình quản lí,
nó giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với hoạt động quản lí xã hội Kiểm tra là giai đoạn kết thúc của một chu trình quản lí, đồng thời nó cũng bắt đầu việc chuẩn bị tích cực cho chu trình quản lí tiếp theo Mặt khác, kiểm tra còn được thực hiện ngay trong từng giai đoạn (chức năng) của chu trình quản lí
Trong khoa học quản lý, khái niệm kiểm tra có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Theo tác giả Hà Thế Ngữ đã viết: "Kiểm tra là xem xét thực tế để tìm ra
những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã qui định; phát hiện ra trạng thái thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra; khi phát hiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp thời" (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 4 - 1984) [33]
Theo Từ điển Tiếng Việt - Nxb Khoa học Xã hội - Hà Nội 1992: “Kiểm
tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”; Kiểm tra được hiểu với
nghĩa là một dạng hoạt động để rút ra nhận xét, đánh giá nhằm tác động, điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu đề ra
Trong thanh tra toàn diện trường phổ thông, kiểm tra được xác định:
“Kiểm tra là phản ánh thực trạng tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường và công tác quản lý của hiệu trưởng, đối chiếu thực trạng đó với qui định của Điều lệ nhà trường và các văn bản liên quan; kết quả kiểm tra là cơ sở để thực hiện tiếp các nhiệm vụ đánh giá, tư vấn và thúc đẩy.”
Đối với thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên, kiểm tra được xác
định: “Xem xét cụ thể việc thực hiện các nhiệm vụ và kết quả thực hiện của
giáo viên, đối chiếu với những yêu cầu, tiêu chuẩn, những qui định để xem giáo viên đạt hay chưa đạt, làm tốt hay chưa tốt các nhiệm vụ được giao Kết quả kiểm tra là cơ sở chủ yếu cho việc đánh giá, tư vấn và thúc đẩy.” (Hướng
Trang 22dẫn về nghiệp vụ thanh tra toàn diện trường phổ thông và thanh tra hoạt động
sư phạm giáo viên phổ thông số 106/TTr ngày 31 tháng 3 năm 2004) [27]
Từ những định nghĩa trên đây, chúng ta có thể hiểu: Kiểm tra là công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và các bộ phận phối hợp để tin rằng công việc và các hoạt động tiến hành có phù hợp với kế hoạch và mục tiêu hay không; chỉ ra những sai lệch và đưa ra những tác động để điều chỉnh, uốn nắn, giúp đỡ, đảm bảo hoàn thành kế hoạch Kiểm tra trong quản lý là hệ thống những hoạt động đánh giá - phát hiện - điều chỉnh, nhằm đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới mục tiêu dự kiến và đạt trình độ chất lượng cao hơn
1.2.2.2 Thanh tra
Khái niệm thanh tra đã có từ lâu trong xã hội; xã hội càng phát triển thì nhận thức về nội hàm và nội dung của nó càng phong phú và hoàn thiện hơn
Khái niệm thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc Latin (inspectore) có
nghĩa là "nhìn vào bên trong" Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1992) với nghĩa thứ nhất: "Thanh tra là kiểm soát, xem xét
tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp"; với nghĩa thứ hai chỉ
nghề nghiệp, tên gọi chức danh của những người làm nhiệm vụ thanh tra
“Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài hoạt động của một đối tượng nhất định” Từ điển Luật học (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm
1988) viết: "Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang
thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - Sự tác động có tính trực thuộc"
Từ điển Luật học, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 1998 “Thanh tra là sự
tác động của chủ thể đến đối tượng và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - Sự tác động có tính trực thuộc” [41]
Theo Luật thanh tra năm 2004 thì: "Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh
giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm
Trang 23quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong luật thanh tra và các qui định khác của pháp luật Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành [29]
Chủ tich Hồ Chí Minh huấn thị tại Hội nghị thanh tra toàn miền Bắc lần thứ
nhất năm 1957 đã nói: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới; theo
dõi Chỉ thị, Chính sách, Thông tư đưa xuống cho đến lúc kết thúc” [41]
Từ các quan điểm trên về nội dung thanh tra, kiểm tra đã khẳng định: Thanh tra, kiểm tra là một trong những chức năng của hoạt động QLNN; nếu không thanh tra, kiểm tra thì không thể làm tốt chức năng quản lí nhà nước và làm cho quá trình quản lí mất đi một chức năng thiết yếu, do vậy không thể mang lại hiệu quả cao trong hoạt động quản lí
* Thanh tra giáo dục: Tại Điều 1, Nghị định số 101/2002 của Chính
Phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục (TTGD) ghi: “TTGD là
thanh tra chuyên ngành về giáo dục TTGD thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi QLNN về giáo dục, nhằm đảm bảo việc thi hàn pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực giáo dục”
Tóm lại: có thể hiểu thanh tra giáo dục là kiểm tra có tính chất Nhà
nước của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân cấp dưới do tổ chức thanh tra thực hiện nhằm đánh giá, phát hiện, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng thanh tra để phát huy nhân tố tích cực, bảo đảm pháp chế, kỷ cương, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục và Đào tạo
1.2.2.3 Phân biệt hoạt động thanh tra và kiểm tra
Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm bao hàm nhau Khái niệm kiểm tra bao hàm khái niệm thanh tra nghĩa là hoạt động thanh tra cũng là hoạt động kiểm tra đòi hỏi có những đặc tính nhất định; còn hoạt động kiểm tra thì có nhiều mức độ khác nhau
Trang 24* Sự giống nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra giống nhau ở tính mục đích Thông qua thanh tra, kiểm tra phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý Nhà nước
Cả công tác thanh tra và kiểm tra đều phát hiện, phân tích, đánh giá thực tiễn một cách chính xác, khách quan, trung thực làm rõ đúng, sai, nguyên nhân dẫn đến sai phạm, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm Thanh tra và kiểm tra đều có chức năng cơ bản là tạo lập thông tin phản hồi trong quản lý, cung cấp cho nhà quản lý các thông tin cậy để nhà quản lý điều chỉnh các hoạt động có hiệu quả
* Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra có thể được xem xét ở các bình diện sau:
+ Về mục đích: Kiểm tra chỉ nhằm đôn đốc, uốn nắn, theo dõi việc thực
hiện; để phát hiện những cái cần điều chỉnh, bổ sung Thanh tra thì phải đánh giá được mức độ đúng sai, tốt xấu, qui rõ được trách nhiệm
+ Về chủ thể: Người kiểm tra có thể tuỳ yêu cầu là thủ trưởng hoặc cán
bộ kiểm tra, hoặc lập một đoàn kiểm tra và một cá nhân thực hiện kiểm tra hoạt động của mình; người thực hiện thanh tra phải có tư cách pháp lí, là tổ chức thanh tra chuyên nghiệp Nhà nước: Là những thanh tra viên được bổ nhiệm hay những cán bộ được cấp có thẩm quyền quyết định tham gia đoàn thanh tra
+ Về nghiệp vụ: Thanh tra viên và cộng tác viên phải có nghiệp vụ giỏi, có
khả năng chuyên môn sâu, am hiểu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội để có thể thu thập được thông tin, chứng cứ, xác minh, đối chiếu, phân tích, đánh giá tình hình, đi đến kết luận chính xác, khách quan; chủ thể kiểm tra về nghiệp vụ không nhất thiết phải đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra và hoạt động kiểm tra ít phức tạp hơn và lực lượng kiểm tra rộng lớn, phổ biến, quần chúng
Trang 25+ Về cách thức: Kiểm tra có thể chỉ nghe báo cáo, xem xét qua hồ sơ,
hiện trạng còn thanh tra thì phải xem xét kĩ lưỡng, cụ thể; thường phải so sánh kết quả đạt được hoặc hiện trạng với những văn bản pháp qui hiện hành
để kết luận, đánh giá
+ Về phạm vi hoạt động: Thanh tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục
ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng, phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn, hoạt động thanh tra thường có chọn lọc,
sử dụng thời gian dài hơn hoạt động kiểm tra Nhìn chung ở từng cấp, số lượng đề tài thanh tra và địa điểm thanh tra ít hơn số lượmg đề tài kiểm tra và địa điểm kiểm tra
+ Về sản phẩm: Sản phẩm của kiểm tra có thể chỉ là lời khuyên, có thể
chỉ ghi vào sổ tay theo dõi hay để báo cáo; còn thanh tra thì phải có văn bản kết luận; trong đó, có sự đánh giá và những kiến nghị mang tính pháp lí, có tính bắt buộc
+ Về thời gian tiến hành: Trong hoạt động thanh tra, thường có nhiều
vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất công phu, nhiều mối quan hệ đều được làm rõ cho nên phải sử dụng thời gian dài so hơn với kiểm tra Tuy nhiên, nếu
so sánh từng cuộc kiểm tra đơn lẻ, đôi khi có cuộc kiểm tra kéo dài hơn thanh tra, song nhìn tổng quát thì thời gian thanh tra dài hơn thời gian kiểm tra
- Mối quan hệ qua lại giữa kiểm tra và thanh tra
Sự phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra chỉ là tương đối Thường là trước khi tiến hành thanh tra thì phải tiến hành nhiều hoạt động kiểm tra hoặc khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc thì lựa chọn nội dung để thanh tra Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại với nhau Như vậy khi nói đến một khái niệm nào người ta thường nhắc đến cặp với tên gọi: Kiểm tra, thanh tra hay thanh tra, kiểm tra
Như vậy, với vai trò quản lí của Phòng GD&ĐT khi thực hiện chức năng kiểm tra không thể chỉ sử dụng hình thức thanh tra, mặc dù thanh tra đã mang đầy đủ yêu cầu của kiểm tra nhưng hoạt động thanh tra không thể thay
Trang 26thế cho việc kiểm tra Khi triển khai một chỉ thị, một nghị quyết, một cuộc vận động, một chuyên đề chuyên môn mới rất cần sự kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, uốn nắn; những hoạt động đó không có yêu cầu cao về mặt pháp lí như thanh tra nhưng không thể thiếu trong công tác quản lí của Phòng GD&ĐT Ngược lại, chỉ dừng lại ở việc kiểm tra, kể cả kiểm tra chuyên môn cũng như kiểm tra các hoạt động khác thì chưa có tác dụng quản lí bằng pháp chế, do đó Phòng GD&ĐT sẽ không thực hiện được vai trò quản lí nhà nước về giáo dục trên địa bàn quận được Chính bởi vậy, trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhận thức rất rõ vai trò của hoạt động kiểm tra trong quản lí, nhưng những phần tiếp theo chúng tôi chỉ nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp về quản lí hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở của Phòng GD&ĐT quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
1.2.2.4 Thanh tra chuyên môn
Điều 1 Nghị định 101/2002/NĐ-CP ngày 10/12/2002 của Chính phủ về
tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục ghi rõ: "Thanh tra giáo dục là
thanh tra chuyên ngành giáo dục Thanh tra giáo dục thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước về giáo dục, nhằm đảm bảo thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục"
Từ năm 1993, sau khi có Quyết định về thanh tra giáo dục số 478/QĐ ngày 11/ 3/ 1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động thanh tra giáo dục các cấp đã tập trung thanh tra ba đối tượng quản lí của ngành: Hoạt động chuyên môn, hoạt động quản lí nhà trường và hoạt động quản lí chế độ chính sách của các đơn vị, trường học
Thanh tra chuyên môn là kiểm tra có tính chất nhà nước của cơ quan quản
lí giáo dục cấp trên (Bộ, Sở, Phòng Giáo dục) đối với các hoạt động dạy và học ở các đơn vị giáo dục cơ sở Thanh tra chuyên môn bao gồm: thanh tra việc thực hiện các qui chế chuyên môn (theo qui định của ngành Giáo dục) của nhà trường;
Trang 27thanh tra chất lượng giảng dạy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên và thanh tra việc học cùng kết quả học tập, rèn luyện của học sinh
1.2.2.5 Giám sát
Một cách hiểu thông dụng có thể định nghĩa giám sát là theo dõi, trông nom và kiểm điểm xem xét công việc có thực hiện đúng điều quy định không Giám sát thực hiện từ cấp trên xuống cấp dưới, giám sát thực hiện chéo (ngang cấp) và thực hiện từ cấp dưới với cấp trên (giám sát của nhân dân) Người thực hiện việc giám sát đảm bảo sao cho “Đối tượng giám sát” thực hiện những công việc được giao trong phạm vi chất lượng, chi phí và sự an toàn chấp nhận được Việc giám sát không bao gồm việc quyết định tuyển dụng người và sa thải người Giám sát cũng không liên quan tới quyết định thu chi tài chính Có thể có giám sát về công tác nhân sự, công tác tài chính, nhưng không đưa ra các quyết định về nhân sự và thu chi mà chỉ định hướng cho việc tiến hành các vấn đề thuộc các lĩnh vực này có động thái tốt lên, chất lượng hơn, hiệu quả hơn [42 Tập thể tác giả ]
1.3 Mục đích, chức năng, nhiệm vụ và ý nghĩa của hoạt động thanh tra chuyên môn
1.3.1 Mục đích của thanh tra chuyên môn
Hoạt động thanh tra giáo dục nói chung và thanh tra chuyên môn nói riêng nhằm mục đích kiểm tra việc thực hiện qui định pháp luật về giáo dục và đào tạo, đánh giá thực chất hoạt động chuyên môn của đối tượng được thanh tra một cách khách quan, góp phần thực hiện mục tiêu quản lý giáo dục bằng sự tác động vào đối tượng quản lý trong việc thực hiện tốt các quyết định quản lý
Thanh tra chuyên môn là quan sát, theo dõi, phát hiện, kiểm nghiệm và đánh giá khách quan tình hình công việc, việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng, tác động đến mức cần thiết công tác của cán bộ, giáo viên và nhà trường; phát hiện ưu điểm, nhân rộng điển hình, khắc phục nhược điểm, khen chê kịp thời, xử lý cần thiết để cải tiến công tác quản lý và nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục và đào tạo
Trang 28Như vậy, mục đích của thanh tra chuyên môn nhằm: phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm về chuyên môn, giúp đỡ đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ
Thanh tra chuyên môn GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền Công tác thanh tra, kiểm tra giúp các cơ quan chức năng nhận thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm được giao Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT được đề cập tới ở đây bao gồm tất cả các cơ quan có thẩm quyền quản lý về GD&ĐTnói chung và các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra GD&ĐT tạo nói riêng
1.3.2 Chức năng của thanh tra chuyên môn
Thanh tra giáo dục nói chung và thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở
của Phòng GD&ĐT nói riêng có những chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kiểm tra: Là chức năng đầu tiên của hoạt động thanh tra,
kiểm tra là xem xét tình hình thực tế của các hoạt động để đánh giá, nhận xét kết quả thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường và công tác quản lý của Hiệu Trưởng, đối chiếu thực trạng đó với các quy định của pháp luật về giáo dục, các văn bản có liên quan nhằm xác định thực chất hiệu quả trong hoạt động chuyên môn của giáo dục Trung học cơ sở
- Chức năng phát hiện: Thanh tra để phát hiện ra những ưu điểm, mặt
tốt để động viên, khuyến khích, nhân rộng điển hình đồng thời tìm ra những tồn tại, sai sót, lệch lạc, yếu kém, những gì còn chưa đạt so với mục tiêu đặt
ra, những khó khăn trở ngại, những thất bại, những vấn đề mới nảy sinh cần giải quyết, những nguyên nhân tồn tại…trong hoạt động chuyên môn của giáo dục Trung học cơ sở để giúp đỡ đối tượng và điều chỉnh quá trình quản lý của các cấp quản lý giáo dục Phát hiện bao gồm:
+ Phát hiện kịp thời những lệch lạc, sai sót, những gì chưa đạt được so với chuẩn;
+ Đo lường mức độ của những sai lệch đó một cách chính xác và cụ thể; + Tìm nguyên nhân của những thành công và tồn tại
Trang 29- Chức năng đánh giá: Thanh tra để phân tích, đánh giá giá trị thực
trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động chuyên môn, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành
ở thời điểm thanh tra so với mục tiêu, kế hoạch đã được đặt ra Đánh giá còn nhằm thẩm định những yếu tố chủ quan, khách quan, những lệch lạc, sai sót…để giúp đối tượng thanh tra uốn nắn, sửa chữa, điều chỉnh các quyết định, làm cho các hoạt động quản lý đạt hiệu quả hơn Đánh giá bao gồm:
+ Xác định những chuẩn mực;
+ Thiết kế hệ thông tin liên hệ ngược;
+ Đo lường thành tích đã đạt được bằng cách so sánh thành tích đạt được với những chuẩn mực đã xây dựng
- Chức năng điều chỉnh: Điều chỉnh là sửa đổi, sắp xếp lại (có thể loại
bỏ ít nhiều) chương trình, kế hoạch, những giải pháp quản lí cho phù hợp hơn
để đưa hệ quản lí đến mục tiêu đã định Hành động điều chỉnh bao gồm:
+ Hành động phát huy;
+ Hành động uốn nắn;
+ Hành động xử lí
- Chức năng phòng ngừa: Bằng hoạt động của mình, thanh tra giáo dục
có chức năng phòng trước không để (hoặc hạn chế) cái xấu, cái không hay trong giáo dục có thể xảy ra
- Chức năng giúp đỡ: Thực hiện các chức năng trên, TTGD đã giúp đỡ
các đơn vị, tập thể, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao
- Chức năng tư vấn: Đưa ra lời khuyên phù hợp về những kinh nghiệm
và biện pháp quản lý đê đạt được mục tiêu giáo dục của các đơn vị, cá nhân trong những bối cảnh cụ thể
- Chức năng thúc đẩy: Nhằm khẳng định các kinh nghiệm của các đơn
vị, các cá nhân trong những bối cảnh cụ thể
- Chức năng thu thập thông tin: Thu thập thông tin là chức năng trung
tâm của hoạt động thanh tra Qua kiểm tra, đánh giá mới có được những thông
Trang 30tin đáng tin cậy, chính xác, từ đó giúp cho người quản lý khen chê đúng đắn
và động viên kịp thời Việc xử lý đúng đắn các thông tin sẽ giúp cho người quản lý cấp trên có thể điều chỉnh mục tiêu và ra quyết định đúng đắn kịp thời cho cấp dưới
b’
a
b
Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ của thông tin quản lí
a Mối liên hệ thông tin thuận
b Mối liên hệ thông tin ngược ngoài
b' Mối liên hệ thông tin ngược trong
Theo sơ đồ trên: b b' là nền tảng của sự điều chỉnh (do kiểm tra, thanh tra đem lại) gồm hai quá trình: Điều chỉnh của nhà quản lí và tự điều chỉnh của người dưới quyền
Hệ thống phản hồi - Thanh tra giáo dục, được trình bày theo quan niệm toàn diện và hiện thực theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Vòng liên hệ ngược của thanh tra, kiểm tra trong quản lí
Xác định
các sai lệch
So sánh kết quả thực tế với các tiêu chuẩn
Đo lường kết quả thực tế
Kết quả thực tế
Thực hiện các điều chỉnh
Kết quả mong muốn
Trang 31Đây là hệ thống phản hồi đo lường đầu ra của quá trình rồi đưa vào hệ thống hoặc đầu vào của hệ thống những tác động điều chỉnh để thu được kết quả mong muốn Song để thu được các kết quả có chất lượng, hoạt động thanh tra cần dựa vào các cơ sở khoa học, các phương tiện khoa học kĩ thuật, các thông tin chuẩn của hoạt động sư phạm để đánh giá sát thực, khách quan, công bằng
1.3.3 Nhiệm vụ của thanh tra chuyên môn
Thanh tra trường phổ thông cần thực hiện 04 nhiệm vụ: Kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy Thanh tra chuyên môn nhà trường có nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, qui chế chuyên môn; việc thực hiện các qui định về điều kiện cần thiết bảo đảm hoạt động chuyên môn ở các nhà trường Trung học cơ sở
+ Đánh giá, kết luận khách quan, chính xác việc thực hiện các qui chế chuyên môn của nhà trường; kiến nghị việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo về hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực giáo dục
+ Tư vấn cho đối tượng thanh tra những vấn đề cần thiết thuộc lĩnh vực chuyên môn, đưa ra những lời khuyên, biện pháp phù hợp về những kinh nghiệm và biện pháp quản lý nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế để đạt được mục tiêu giáo dục trong những hoàn cảnh cụ thể
1.3.4 Ý nghĩa của hoạt động thanh tra chuyên môn
Với mục đích, chức năng, nhiệm vụ nêu trên, hoạt động thanh tra giáo dục nói chung, thanh tra chuyên môn nói riêng có một ý nghĩa hết sức to lớn, thực sự là mắt xích quan trọng trong tiến trình quản lí, thể hiện ở những mặt nổi bật sau:
Thứ nhất: Thanh tra giáo dục đã góp phần tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa Thực chất thanh tra giáo dục chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện qui định pháp luật về GD&ĐT của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT Hoạt động thanh tra, đặc biệt là thanh tra chuyên môn sẽ
Trang 32giúp các đối tượng được thanh tra nhận thức một cách đầy đủ quyền và nghĩa
vụ của mình, nhận thức được vai trò quan trọng của chính sách phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ hình thành ý thức tuân thủ qui định pháp luật nói chung và những qui định về chuyên môn trong Giáo dục và Đào tạo nói riêng
Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực quản
lí nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền Không chỉ về phía các tổ chức, cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT mà ngay cả về phía cơ quan QLNN trong lĩnh vực GD&ĐT cũng cần phải có sự chấp hành pháp luật một cách triệt để Hoạt động thanh tra giúp các cơ quan chức năng nhận thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm được giao Các cơ quan quản
lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được đề cập tới ở đây bao gồm tất cả các cơ quan có thẩm quyền quản lý về GD&ĐT nói chung và các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nói riêng
Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nhằm nâng cao năng lực quản lí
cho người đứng đầu các cơ sở giáo dục Quá trình thanh tra đã giúp người đứng đầu cơ sở giáo dục nhận thức rõ hơn những ưu, khuyết điểm của đơn vị
và của bản thân trong công tác quản lí nhất là công tác chỉ đạo các hoạt động chuyên môn; những sai lầm, thiếu sót (nếu có) sẽ kịp thời được phát hiện và
có biện pháp xử lý cho phù hợp; những ưu điểm, những mặt tích cực sẽ kịp thời được biểu dương và phát huy một cách có hiệu quả góp phần thực hiện tốt các yêu cầu GD&ĐT được giao theo chương trình kế hoạch của cơ quan quản
lí nhà nước cấp trên Đồng thời có thể kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhằm điều chỉnh, bổ sung chủ trương, biện pháp đã đưa ra hoặc đáp ứng yêu cầu cấp bách của cơ sở
Thứ tư: Thông qua hoạt động thanh tra giáo dục, những vi phạm, thiếu
sót kịp thời được phát hiện, khắc phục và xử lí nghiêm minh theo đúng qui định của pháp luật Việc khắc phục và xử lí các vi phạm sẽ loại bỏ những nhân
tố tiêu cực góp phần thanh lọc, chấn chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức
Trang 33và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT, nâng cao chất lượng GD&ĐT Đây là một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của công tác thanh tra, kiểm tra vì trong quá trình hoạt động, các cơ sở giáo dục và đào tạo khó tránh được những sai lầm, vi phạm
Thứ năm: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT còn có quan hệ chặt chẽ với
giám sát, vừa có vai trò giám sát, vừa có vai trò hỗ trợ cho giám sát việc thực hiện những chủ trương, đường lối, những quy định của Nhà nước, của Ngành tại các cơ sở
Như vậy, để tăng cường vai trò quản lý trong lĩnh vực GD&ĐT thì cần phải tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục cơ quan quản lý nhà nước có thể đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục và đào tạo, phát hiện, điều chỉnh, xử lý kịp thời các sai phạm trong lĩnh vực GD&ĐT, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm cải tiến cơ chế quản lý, hoàn thiện chu trình quản lý mới phù hợp và có hiệu quả hơn Ngoài ra, hoạt động thanh tra giáo dục còn giúp các tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo hạn chế được các vi phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức
và cá nhân khác
1.4 Phòng Giáo dục & Đào tạo với hoạt động thanh tra chuyên môn trường Trung học cơ sở
1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Giáo dục & Đào tạo
Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/ 02/ 2008 của Chính phủ qui định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Phòng GD&ĐT là cơ quan tham mưu, giúp
Uỷ ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực GD&ĐT
Thông tư liên tịch số 35/2008/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 14/ 7/ 2008 của Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Nội vụ đã chỉ rõ chức năng và nhiệm vụ của Phòng GD&ĐT
Trang 341.4.1.1 Chức năng
- Phòng GD&ĐT là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện (Quận), tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân huyện (Quận) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về GD&ĐT bao gồm: mục tiêu, chương trình, nội dung GD&ĐT; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ, đảm bảo chất lượng GD&ĐT; về các công việc thuộc phạm vi quản lý của phòng theo quy định của pháp luật; thực hiện một
số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân huyện
- Chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân huyện; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở GD&ĐT; có tư cách pháp nhân và được phép sử dụng con dấu
- Phòng GD&ĐT làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể; đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng phòng, Phó trưởng phòng và các thành viên trong cơ quan
1.4.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Một là: Trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện (Quận):
- Dự thảo văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách, pháp luật, các quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về hoạt động giáo dục trên địa bàn;
- Dự thảo quyết định, chỉ thị, kế hoạch 5 năm, hàng năm và chương trình, nội dung cải cách hành chính nhà nước về lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn;
- Dự thảo quy hoạch mạng lưới các trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học (từ cấp trung học phổ thông), trường tiểu học, cơ sở giáo dục Mầm non và Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT;
- Dự thảo các quyết định thành lập, sát nhập, chia tách, đình chỉ hoạt động, giải thể các cơ sở giáo dục công lập, gồm: trường trung học cơ sở,
Trang 35trường phổ thông có nhiều cấp học (trừ cấp trung học phổ thông), trường tiểu học, cơ sở giáo dục mầm non; cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động, giải thể các trường, các cơ sở giáo dục ngoài công lập thuộc quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật
Hai là: Hướng dẫn và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản
quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, tổ chức thực hiện các
cơ chế, chính sách về xã hội hoá giáo dục; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về giáo dục; chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực giáo dục trên địa bàn; thực hiện mục tiêu, chương trình nội dung, kế hoạch, chuyên môn, nghiệp vụ, các hoạt động giáo dục, phổ cập giáo dục; công tác tuyển sinh, thi cử, xét duyệt, cấp phát văn bằng, chứng chỉ đối với các cơ sở GD&ĐT trên địa bàn
Ba là: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục các ngành học, cấp học trong phạm vi quản lý của huyện sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Bốn là: Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học công
nghệ tiên tiến trong giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương
Năm là: Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và tổ chức thực hiện công tác
thi đua, khen thưởng đối với các cơ sở GD&ĐT trên địa bàn; xây dựng và nhân điển hình tiên tiến về giáo dục trên địa bàn huyện
Sáu là: Hướng dẫn, kiểm tra các cơ sở Giáo dục và Đào tạo công lập
thuộc phạm vi quản lý của huyện xây dựng kế hoạch biên chế; tổng hợp biên chế của các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý của huyện, trình cấp có thẩm quyền quyết định
Bảy là: Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra
việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức, biên
Trang 36chế, tài chính các cơ sở GD&ĐT công lập theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và quy định của pháp luật
Tám là: Phối hợp với phòng Tài chính - Kế hoạch lập dự toán và phân
bố ngân sách giáo dục; dự toán chi các chương trình mục tiêu quốc gia hàng năm về giáo dục của huyện theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT và Sở Tài chính
Chín là: Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm theo thẩm quyền việc
thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch, chương trình, đề án và các qui định của cấp có thẩm quyền trong lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo; giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật
Mười là: Quản lý biên chế, thực hiện tuyển dụng, hợp đồng làm việc,
điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và thực hiện chế độ, chính sách, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Phòng theo quy định của pháp luật và ủy quyền của UBND cấp quận (Huyện)
Mười một: Quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất được giao theo quy
định của pháp luật và uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện
Mười hai: Thực hiện công tác báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình
thực hiện nhiệm vụ được giao với Uỷ ban nhân dân cấp Huyện và Sở Giáo dục
và Đào tạo
Mười ba: Thực hiện những nhiệm vụ khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp Huyện giao và theo quy định của pháp luật
1.4.2 Cơ cấu, tổ chức thanh tra của Phòng Giáo dục & Đào tạo
Theo Điều 36 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
Điều 13 Luật giáo dục năm 2005, Nhà nước thống nhất quản lí hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng v.v Như vậy, Nhà nước
Trang 37giao cho Bộ Giáo dục & Đào tạo thực hiện chức năng quản lí chuyên ngành về
lĩnh vực GD&ĐT Hệ thống quản lí nhà nước về GD&ĐT được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, trong đó có cơ quan thanh tra, kiểm tra GD&ĐT cũng được tổ chức và sắp xếp tương ứng
Hệ thống thanh tra giáo dục (theo Điều 113 – Luật giáo dục ngày 14/ 6/ 2005) bao gồm:
- Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Thanh tra Bộ)
- Thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Thanh tra Sở)
- Hoạt động thanh tra ở cấp quận, huyện do Trưởng phòng GD&ĐT trực tiếp phụ trách theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của Thanh tra Sở
Như vậy hệ thống thanh tra giáo dục gồm 3 cấp: Bộ, Sở và Phòng GD&ĐT Thanh tra Phòng GD&ĐT tuy không có tổ chức thanh tra nhưng có chức năng thanh tra như một cơ quan quản lí nhà nước; là cấp cuối cùng trong
hệ thống thanh tra giáo dục nên có rất nhiều lợi thế trong công tác thanh tra
chuyên môn các bậc học (Sơ đồ 1.3)
Tổ chức thanh tra Phòng GD&ĐT do Trưởng phòng giáo dục trực tiếp phụ trách chỉ đạo và theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của Thanh tra Sở; được Giám
đốc Sở GD&ĐT bổ nhiệm bao gồm các thành phần sau:
- Các cán bộ chỉ đạo chuyên môn của Phòng GD&ĐT, vừa chỉ đạo chuyên môn, vừa là thanh tra viên chuyên ngành
- Các thanh tra viên kiêm nhiệm với danh nghĩa là cộng tác viên thanh tra, gồm các cán bộ quản lí, giáo viên giỏi ở các nhà trường
- Các cán bộ nghiệp vụ khác được huy động theo tính chất các đợt thanh tra
Trang 38Sơ đồ 1.3: Hệ thống tổ chức thanh tra giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tổ thanh tra
Thanh tra tỉnh, Thành phố
Thanh tra Quận, Huyện
Quốc hội Nước Cộng hòa XHCNVN
Chính phủ Nước Cộng hòa XHCNVN
Thanh tra chính phủ
Trang 391.4.3 Nội dung, phương pháp thanh tra chuyên môn Trường Trung học cơ
sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo
1.4.3.1 Nội dung hoạt động thanh tra chuyên môn Trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo
Theo Thông tư 43/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo thì thanh tra Trung học cơ sở chính là kiểm tra có tính chất nhà nước của Phòng GD&ĐT đối với các đơn vị, cá nhân trong phạm vi quản lí của mình về việc thực hiện chủ trương, chính sách, chế độ, các qui định của Nhà nước và của ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở giáo dục theo qui định của Luật giáo dục, Điều lệ nhà trường; định kỳ thanh tra các giáo viên Trung học cơ sở, thanh tra các hoạt động giáo dục, dạy và học ở các trường và công tác quản lí của hiệu trưởng; tổ chức đánh giá kết quả dạy và học, giúp đỡ các trường, các giáo viên cải tiến công tác giáo dục giảng dạy, duy trì kỉ cương, nền nếp dạy và học ở bậc học tiểu học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của giáo viên, học sinh và nhân dân trong phạm vi giáo dục Trung học
cơ sở
Cũng theo Thông tư 43/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo; trên cơ sở nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất của bậc Trung học cơ sở, nội dung thanh tra chuyên môn các trường Trung học cơ sở của Phòng Giáo
dục & Đào tạo tập trung vào những vấn đề sau:
- Thanh tra công tác tuyển sinh, thực hiện chỉ tiêu, số lượng học sinh theo khối, lớp
- Thanh tra việc tổ chức giảng dạy, học tập, thực hiện chương trình nội dung, kế hoạch dạy học nói chung và kế hoạch dạy học các môn tự chọn của nhà trường
- Thanh tra việc thực hiện qui chế chuyên môn về kiểm tra, thi, đánh giá xếp loại học lực học sinh của nhà trường
Trang 40- Thanh tra kết quả tốt nghiệp, thi học sinh giỏi (nếu có) 3 năm liền kề tại thời điểm thanh tra
- Thanh tra việc xác nhận hoặc cấp phát văn bằng, chứng chỉ của cơ sở giáo dục
- Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của tổ nhóm chuyên môn theo qui định của Điều lệ trường Trung học cơ sở
- Thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên Trung học cơ sở bao gồm: + Thanh tra về trình độ nghiệp vụ sư phạm, gồm hai nội dung cơ bản là: thanh tra về trình độ nắm yêu cầu của nội dung chương trình, kiến thức, kỹ năng, thái độ cần xây dựng cho học sinh và thanh tra về trình độ vận dụng phương pháp giảng dạy và giáo dục, đặc biệt là tình hình đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo tinh thần của Bộ Giáo dục và Đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các phương tiện dạy học theo tinh thần đổi mới
+ Thanh tra việc thực hiện qui chế chuyên môn gồm: thanh tra việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy, giáo dục, việc soạn bài, chuẩn bị đồ dùng theo qui định; thanh tra quĩ đề, hình thức và chất lượng đề kiểm tra; thanh tra việc kiểm tra học sinh và chấm bài theo qui định; thanh tra việc bảo đảm thực hành thí nghiệm; thanh tra việc bảo đảm các hồ sơ chuyên môn theo qui định, việc tự bồi dưỡng và tham dự các hình thức bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ
+ Thanh tra kết quả giảng dạy: điểm kiểm tra, điểm thi hoặc kết quả đánh giá môn học (đối với những môn học đánh giá bằng nhận xét) của học sinh từ đầu năm học đến thời điểm thanh tra; kết quả kiểm tra chất lượng lớp giáo viên chủ nhiệm so với chất lượng chung của của toàn trường, của địa phương trong năm học đó
1.4.3.2 Phương pháp thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở của Phòng Giáo dục & Đào tạo
Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để thanh tra chuyên môn Trung học cơ sở Tuy nhiên, để thanh tra đúng trình tự và thu nhận được thông tin