1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc

126 863 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học - Hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên đã và đang được thực hiện nhưng còn thiếu sự đồng bộ, chưa có được nhiều sự quan tâm và đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ MINH HUỆ

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BÌNH XUYÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ MINH HUỆ

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BÌNH XUYÊN,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ quý báu của Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng các Quý Thầy, Cô trực tiếp giảng dạy đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt khoá học

Đặc biệt chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trịnh Văn Minh

đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô cán bộ quản lý và giáo viên tiếng Anh các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi và dành thời gian quý báu để tham gia góp ý kiến, giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu đề tài!

Mặc dù đã cố gắng song luận văn vẫn còn những thiếu sót, chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được thông tin đóng góp, giúp đỡ của Quý Thầy Cô và đồng nghiệp

Xin chân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Lê Thị Minh Huệ

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ( xếp theo A B C ) ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các biểu đồ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT 6

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 6

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Quản lý 9

1.2.2 Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục 10

1.2.3 Quản lý trường học 13

1.2.4 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học 14

1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học 16

1.2.6 Phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học 16

1.3 Dạy học Tiếng Anh ở trường THPT 22

1.3.1 Chương trình tiếng Anh THPT; mục tiêu, nội dung chương trình tiếng Anh THPT 22

1.3.2 Phương pháp dạy học tiếng Anh ở trường THPT 24

1.3.3 Đổi mới PPDH môn tiếng Anh THPT 26

1.4 Quản lý hoạt động đổi mới PPDH mônTiếng Anh ở trường THPT 28 1.4.1 Khái niệm quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT 28 1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT 29 1.5 Những yếu tố tác động tới quản lý hoạt động đổi mới PPDH tiếng

Trang 6

Anh THPT 33

1.5.1 Quan điểm chỉ đạo của các cấp về công tác quản lý việc giảng dạy môn tiếng Anh và vai trò của công tác quản lý việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự nghiệp giáo dục 33

1.5.2 Định hướng đổi mới PPDH ở trường THPT 34

1.5.3 Đề án dạy học ngoại ngữ đến năm 2020 của bộ GD-ĐT 35

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 38

2.1 Vài nét khái quát về huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 38

2.1.1 Vị trí địa lí, dân cư 38

2.1.2 Về kinh tế - xã hội 38

2.1.3 Về phát triển giáo dục 39

2.2 Chọn mẫu khảo sát, tổ chức qui trình khảo sát 40

2.2.1.Mẫu khảo sát 40

2.2.2.Cách chọn mẫu 40

2.2.3.Nội dung điều tra và cách xử lý số liệu 41

2.3 Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 43

2.3.1 Sơ lược về các trường THPT tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 43

2.3.2 Nhận thức về hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 44

2.3.3 Việc sử dụng các PPDH hiện đại trong dạy học tiếng Anh ở các trườ ng THPT huyê ̣n Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 47

2.3.4 Đánh giá kết quả hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 52

2.3.5 Nguyên nhân của thực trạng 55

2.4 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 59 2.4.1 Nhận thức tầm quan trọng về công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH

Trang 7

môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 60

2.4.2 Quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 60

2.4.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 69

2.4.4 Nguyên nhân của thực trạng 71

Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 79

3.1 Nguyên tắc để xây dựng các biê ̣n pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 79

3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống 79

3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 79

3.1.3.Nguyên tắc tính hiệu quả 79

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyê ̣n Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc 80

3.2.1 Nâng cao nhận thức về việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT 80

3.2.2.Tăng cường công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, và kiểm tra đánh giá việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh 82

3.2.3 Tăng cường công tác quản lý và sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh 86

3.2.4 Thực hiện hợp tác trong nước cũng như quốc tế nhằm nâng cao trình độ của GV cũng như HS 88

3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 90

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Sơ lược về các trường THPT tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

(2012-2013) 43

Bảng 2.2: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mục đích của việc đổi

mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên 46 Bảng 2.3 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ sử dụng các

PPDH hiện đại trong dạy học tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên 48 Bảng 2.4: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện các

nội dung đổi mới PPDH trong giờ học môn tiếng Anh tại các trường THPT

huyện Bình Xuyên 51 Bảng 2.5: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về kết quả động đổi mới

PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên 55 Bảng 2.6 : Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về những khó khăn trong

việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên 56 Bảng 2.7: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả việc kế hoạch hóa đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại

huyê ̣n Bình Xuyên 61 Bảng 2.8: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các

trường THPTtại huyện Bình Xuyên 64 Bảng 2.9: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH tiếng Anh ở các

trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 67 Bảng 2.10: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về nguyên nhân của thực

trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT tại

huyê ̣n Bình Xuyên 73 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 91

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.1: Nhận thức của CBQL và GVTA về tầm quan trọng của hoạt động

đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 45

Biểu đồ 2.2: Đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ đồng bộ trong việc thực

hiện hoạt động đổi mới PPDH tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên 58 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của CBQL và GVTA về những hoạt động của Sở GD-ĐT Vĩnh Phúc và Hội Đồng Anh nhằm hỗ trợ cho công tác đổi mới PPDH môn

tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên 59 Biểu đồ 2.4: Đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ cần thiết của công tác quản

lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên

60

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, hoà cùng xu thế phát triển chung của thế giới, nước

ta đã và đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao

về chất lượng và quản lý chất lượng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh

tế-xã hội Từ các cấp lãnh đạo đến tầng lớp nhân dân đều quan tâm đến chất lượng mọi mặt của cuộc sống, chất lượng môi trường, chất lượng sản phẩm và nhất là chất lượng giáo dục Ở nước ta, đổi mới quản lý giáo dục nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đã và đang là một nhiệm vụ có tính chiến lược trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải đổi mới đồng bộ, trong đó đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là then chốt Bởi lẽ, PPDH là yếu tố năng động sáng tạo trong quá trình dạy học, nó phụ thuộc vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nghệ thuật giảng dạy của người giáo viên(GV) -lực lượng quyết định chất lượng giáo dục Bên cạnh đó, để thực hiện được mục tiêu này thì công tác quản lý giáo dục (QLGD), mà cụ thể là công tác quản lý việc đổi mới PPDH thực sự trở thành một trong những vấn đề then chốt nhằm đảm bảo thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục Yêu cầu của thời đại đòi hỏi người cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục các cấp cần phải xác định mục tiêu của từng bậc học và cấp học một cách nghiêm túc để nhằm đáp ứng mục tiêu chung và cung cấp nguồn nhân lực có đủ tiêu chuẩn theo nhu cầu phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, trước nhu cầu hội nhập khu vực và thế giới, xu thế biến đổi mạnh của nền kinh tế thị trường, khoa học công nghệ và ngoại ngữ là những điều kiện, phương tiện cần thiết đối với mọi tầng lớp xã hội và các thành phần kinh tế ở các nước đã và đang phát triển Trong nhà trường phổ thông Việt Nam, tiếng Anh là một trong những môn học bắt buộc và là môn thi tốt nghiệp bên cạnh hai môn học chính truyền thống là Toán và Văn, tiếng Anh cũng được quan tâm ngay từ những lớp đầu cấp Nắm được xu hướng phát triển, và sự cần thiết của tiếng Anh, Bộ Giáo Dục đã chỉ đạo nhiều bước cải cách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh Đó là việc đưa vào giảng dạy sách giáo khoa mới

Trang 11

từ lớp 6 đến lớp 12 với hình thức, nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng học tập tích cực, chú trọng sự phối hợp các kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp

Đổi mới PPDH hiện nay không chỉ là phong trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc với mọi giáo viên tiếng Anh Tuy nhiên, qua quan sát thực tế và kinh nghiệm dạy học trong nhiều năm chúng tôi thấy tỷ lệ GV thực hiện được đổi mới PPDH theo yêu cầu ở các trường trung học phổ thông (THPT) chưa phải là nhiều, việc thực hiện đổi mới PPDH ở nhiều nơi còn mang tính bột phát hoặc hình thức, chiếu

lệ do chưa có những biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả

Mặt khác, đổi mới PPDH không thể là hoạt động ngày một ngày hai, cần có

sự kiên trì và cần có sự đầu tư về mọi mặt; vì vậy cần phải có cách nhìn nhận đổi mới PPDH trong tư duy hệ thống và phải có sự tác động của nhiều yếu tố Những vấn đề đặt ra trong thực hiện đổi mới PPDH, những cản trở quan sát được trong thực tế sẽ khó được giải quyết nếu chỉ dựa vào sự tự giác, ý chí, điều kiện chủ quan của giáo viên mà bỏ qua nhiều yếu tố khác thuộc các cấp độ khác nhau, như hệ thống quản lý từ bộ môn đến nhà trường và các cấp quản lý ngành

Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là

GV và là CBQL bộ môn chúng tôi băn khoăn về chất lượng hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh và mối quan hệ với công tác chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH trong nhà trường THPT hiện nay ở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Phải chăng những kết quả về đổi mới PPDH môn tiếng Anh chưa được thể hiện rõ nét thông qua chất lượng học tập của học sinh là do chưa được quan tâm đúng mức, nói cách khác chưa có sự chỉ đạo, quản lí một cách hiệu quả ? Để đi tìm câu trả lời cho

những băn khoăn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt

động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc”

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả xác định mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động đổi mới PPDH nói chung và môn tiếng Anh nói riêng thông qua một

số biện pháp quản lý hiệu quả của các cấp

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn

Trang 12

tiếng Anh ở bậc THPT;

3.2 Khảo sát thực trạng hoạt động đổi mới PPDH môn Tiếng Anh và thực trạng

công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc;

3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác

quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnhVĩnh Phúc

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

5 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2007 đến năm 2013 Tuy nhiên để có được các giải pháp quản lý hiệu quả, đề tài sẽ dành một phần quan trọng nghiên cứu thực trạng hoạt động đổi mới PPDH nói chung và môn tiếng Anh nói riêng ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh phúc

6 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là: Họat động đổi mới PPDH môn tiếng Anh hiện nay ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh phúc diễn ra như thế nào ? Vai trò của công tác quản lý các hoạt động đổi mới đó ở đâu ? Và cần những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao hiệu quả của những hoạt động đổi mới PPDH đối với môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh phúc?

7 Giả thuyết khoa học

- Hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên đã và đang được thực hiện nhưng còn thiếu sự đồng bộ, chưa có được nhiều sự

quan tâm và định hướng chỉ đạo của đội ngũ những nhà quản lý

Trang 13

- Việc nâng cao nhận thức về đổi mới PPDH và áp dụng một số biện pháp quản lý phù hợp từ lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh hiện nay ở các trường

THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và các trường THPT nói chung

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận:

Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh hiện nay ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu qủa cho hoạt động này

8.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT trong cả nước

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lý các hoạt động chuyên môn nhà trường; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm

cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành

cơ sở lý luận cho đề tài

9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề

hoạt động đổi mới PPDH, quản lý hoạt động đổi mới PPDH nói chung và môn tiếng Anh nói riêng Đối tượng khảo sát sẽ là HS, giáo viên tiếng Anh (GVTA), CBQL nhà trường

từ bộ môn đến Ban giám hiệu (BGH) và chuyên viên Sở giáo dục

- Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về

một số vấn đề cốt lõi của đề tài Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GVTA và CBQL

9.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ để đánh giá chất lượng

Dựa trên các số liệu thống kê được về chất lượng học lực của học sinh về bộ môn tiếng Anh qua từng năm học gần đây; về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy bộ môn tiếng Anh của CBQL qua các nguồn số liệu, nhằm đưa ra những nhận

Trang 14

định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các nhà trường

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng

Anh ở trường THPT

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở

các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn

tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Tổng quan nghiên cứu quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở trường THPT

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Đổi mới PPDH là một vấn đề cấp bách và thường xuyên được đặt ra đối với giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng, nhằm góp phần không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Do đó trong lĩnh vực giáo dục, đổi mới PPDH vẫn luôn là một vấn đề được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỷ qua Các nhà nghiên cứu PPDH đã không ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới của lí luận dạy học hiện đại để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân loại

Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức trong quá trình học tập A.Kômenski xem tạo hứng thú là một trong các con đường chủ yếu để "làm cho học tập trong nhà trường trở thành niềm vui" KĐ.Usinski xem hứng thú là một cơ chế bên trong bảo đảm học tập có hiệu quả Hứng thú là yếu tố dẫn tới sự tự giác Như vậy, hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí đảm bảo tính tích cực và độc lập sáng tạo trong học tập các bộ môn nói chung và bộ môn tiếng Anh nói riêng

PPDH lấy HS làm trung tâm đã bắt nguồn từ thế kỷ thứ 18 với nhà giáo dục, triết gia Pháp nổi tiếng Jean-Jacques Rousseau, tiếp đến là sự đóng góp của các nhà giáo dục Pestalozzi, Francis, Parker, Ovide, Decroly và Maria Montessori Đến cuối

thế kỷ XX, quan điểm “lấy người học làm trung tâm” đã được định hình một cách

rõ ràng trong giáo dục của thế giới, và được hiểu là sẽ thay thế cho quan điểm “lấy

thầy giáo làm trung tâm”; định hướng đổi mới PPDH đã được thống nhất theo tư

tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của HS dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV, phương pháp này đòi hỏi HS tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm

vụ nhận thức và ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức kỹ năng đã thu nhận được Đối với việc dạy học môn ngoại ngữ ở trường THPT thì quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm các phương tiện

Trang 16

giao tiếp và sử dụng chúng trong việc thực hiện giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình[23, tr.59,60]

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ CBQL trong việc quản lý hoạt động dạy học ( HĐDH) trong nhà trường P.V.Zimin, M.I.Konđakốp, N.I.Saxerđôtôp đã đi sâu nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong công tác quản lý

Trong nhà trường THPT, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu phải đạt được của quá trình dạy học, và quản lý HĐDH, đây cũng là công việc chiếm thời gian nhiều nhất và khó khăn nhất của người CBQL Trên thực tế, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu HĐDH và quản lý HĐDH, trong đó có hoạt động đổi mới PPDH và quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh để tìm ra những biện pháp quản lý tốt hơn như V.A Xukhomlinxki, Jaxapob, P.V.Zimin, M.I.Kôndakốp, N.I.Saxerđôlốp v.v…[21, tr.8]

Như vậy có thể nói, việc nghiên cứu về đổi mới PPDH và công tác quản lý việc dạy học ở các nước đã có những thành quả quan trọng, đóng góp vào trào lưu cải cách giáo dục hiện đại

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam có nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu PPDH phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong các giáo trình giáo dục học hoặc trên tạp chí nghiên cứu giáo dục như Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Đặng Thành Hưng,…Bộ giáo dục và đào tạo đưa ra nhiều văn bản về việc đổi mới PPDH, tổ chức nhiều đợt tập huấn về đổi mới PPDH cho GV trong cả nước được tiến hành ở tất cả các tỉnh, thành phố

Trong lĩnh vực quản lý đã có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam về quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy và học, có thể kể

đến những tác phẩm : Những bài giảng về quản lý trường học,Hà Sĩ Hồ (l987);

Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nguyễn Đăng Dậu, Nguyễn Mạnh Quân (1993); Những khái niệm cơ bản về lí luận quản lý Giáo dục, Nguyễn Ngọc Quang (1989); Quản lý giáo dục và trường học, Trần Kiểm (1997)…

Trang 17

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định: “Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường”, “Quản lý nhà trường thực chất

là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy…” [19, tr.8, 24]

Với môn Tiếng Anh, liên quan đến nghiên cứu về cải tiến PPDH, có thể kể đến các tác giả như Vũ Thị Lợi, Nguyễn Hạnh Dung , Dương Thị Nụ, Hồ Thị Thanh Hà, Hoàng Văn Vân, Nguyễn Hải Châu, Hoàng Thị Xuân Hoa…

Một số luận văn thạc sỹ quan tâm tới đề tài nhằm nâng cao chất lượng dạy

học Tiếng Anh ở các trường THPT tại một số địa phương như : Biện pháp quản lý

hoạt động dạy học Tiếng Anh đối với các trường Trung học phổ thông huyện Thường Tín, Hà Tây - Nguyễn Thị Thúy Phương, ĐH Giáo dục, 2007; Thực trạng và biện pháp quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông quận 6, thành phố Hồ Chí Minh - Bùi Hồng Dung, ĐHSP TP Hồ Chí

Minh, 2010…

Tóm lại, các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài đã tập trung nghiên cứu

về PPDH và quản lý HĐDH, đã đưa ra được một số giải pháp quản lý hoạt động giảng dạy cũng như quản lý việc đổi mới PPDH ở nhà trường tốt hơn, hiệu quả hơn,

trong đó có bộ môn tiếng Anh Những biện pháp đưa ra theo hướng “lấy người học

làm trung tâm” nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của người học, trong đó

tập trung vào việc giải quyết các mục tiêu, nội dung, chức năng và các biện pháp quản lý HĐDH trong nhà trường THPT nói chung và ở bộ môn tiếng Anh nói riêng Điều này cho thấy quản lý HĐDH nói chung và quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh nói riêng ở các trường THPT thực sự là vấn đề quan trọng đã được quan tâm và cần được tiếp tục nghiên cứu

Các công trình trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của việc giảng dạy Tiếng Anh, như đổi mới phương pháp, nội dung, mục tiêu, cơ sở vật chất mà ít bàn về vấn đề quản lý, những vấn đề cụ thể về tổ chức thực hiện điều hành và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT chưa được đề cập một cách có hệ thống và cụ thể Đây cũng là vấn đề đổi mới đòi hỏi các nhà quản lý các cấp cần nghiên cứu, tìm hiểu nhằm đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả nhất

Trang 18

Mặt khác, việc nghiên cứu để cụ thể hóa tại một địa phương với những đặc điểm riêng, đặc thù như địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc chưa có tác giả

nào đề cập Do vậy, vấn đề thiết thực mà chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm hiểu

thực trạng việc thực hiện và quản lý việc thực hiện đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên; từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý phù

hợp, mang tính khả thi đối với một bối cảnh nhất định và cần thiết để góp phần cải thiện chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở trường các trường THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Trước khi đi vào tập trung nghiên cứu hiện trạng của vấn đề khoa học được nêu ở trên, chúng tôi thấy cần thiết xác định nội hàm của một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản phản ánh nội dung chính của đề tài

Theo H.Koontz, O.Donnell và H.Weihrich: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [9, tr12]

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [16, tr13]

Trang 19

Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động ( chức năng) kế hoạch hóa,

tổ chức, chỉ đạo ( lãnh đạo) và kiểm tra” [2, tr9]

Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau song theo chúng tôi khái niệm quản lý đều mang một số dấu hiệu chung có thể khái quát như sau:

- Quản lý là một hoạt động mang tính xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính khoa học và tính nghệ thuật rất cao Hoạt động quản lý tất yếu nảy sinh khi con người lao động tập thể và cùng hướng tới mục tiêu chung

- Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) một cách có kế hoạch và hợp qui luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một hệ thống, nhằm làm cho hệ thống này vận hành đến mục tiêu mong muốn

1.2.2 Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

QLGD là quản lý một lĩnh vực xã hội Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống Giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần QLGD cho thấy điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách đưa ra cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài

Về khái niệm QLGD có nhiều cách hiểu khác nhau:

- QLGD theo nghĩa tổng quát là một hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người, cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

- QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo

Trang 20

dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên một trạng thái mới về chất” [18, tr54]

Như vậy, QLGD là tổng hợp các biện pháp tổ chức kế hoạch hóa nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống giáo dục Hệ thống giáo dục

là một hệ thống xã hội, QLGD cũng chịu sự chi phối của quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội Trong QLGD các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý

sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành hoạt động quản lý thống nhất

Từ những khái niệm nêu trên chúng tôi thấy cần có cách hiểu chung nhất, đó là: QLGD là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục QLGD là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt mục tiêu xác định

1.2.2.2 Chức năng quản lý giáo dục

Chức năng quản lý là các dạng hoạt động khác nhau của hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý

“Tổ hợp các chức năng quản lý sẽ tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội dung lao động của đội ngũ CBQL và là cơ sở cho việc phân công lao động quản lý giữa những người CBQL và là nền tảng để hình thành và hoàn thiện cấu trúc tổ chức của sự quản lý” [18, tr.55]

Theo tác giả Hồ Văn Liên, QLGD là hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản và chủ yếu sau [13]

- Kế hoạch hóa là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Là quá trình

xác định các mục tiêu phát triển của nhà trường và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: xác định và hình thành mục tiêu; xác định và đảm bảo các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được những mục tiêu đó Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch Có ba loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược (giải quyết mục tiêu chiến lược); kế hoạch chiến thuật (giải quyết mục tiêu chiến thuật) và kế hoạch tác nghiệp (giải quyết mục tiêu tác nghiệp)

Trang 21

- Tổ chức được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế hoạch đã

đề ra Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Đó là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực Nội dung chủ yếu của tổ chức: xây dựng cơ cấu tổ chức; xác định nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận; quản lý nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức các hoạt động

- Chỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt

động của bộ máy, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc hợp lí, nhịp nhàng; động viên khuyến khích người lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Khi thực hiện chức năng này, người quản lý cần chú ý đến nguyên tắc tuân thủ hệ thống mệnh lệnh

- Kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động

đạt tới các mục tiêu của tổ chức Theo lí thuyết thông tin, kiểm tra là quá trình thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Hoạt động kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực

có hệ thống nhằm thực hiện bốn chức năng: kiểm soát phát hiện, động viên phê phán, đánh giá và thu thập thông tin Nhờ có kiểm tra mà người quản lý đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức

Trong chu trình quản lý, cả bốn chức năng trên phải được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối từ chu kỳ này sang chu

kỳ sau theo hướng phát triển Trong đó yếu tố thông tin luôn giữ vai trò xuyên suốt, không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý

Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu

diễn bằng sơ đồ chu trình quản lý như sau:

Trang 22

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý [17]

1.2.3 Quản lý trường học

Quản lý trường học là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ việc học và việc dạy của cán bộ, nhân viên trong trường Nhà trường là đơn vị, cơ sở trực tiếp giáo dục và đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục và đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục

Trường học là một thể chế xã hội – nhà nước, là một đơn vị tổ chức hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục và đào tạo của nhà nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống

Mục tiêu giáo dục- đào tạo của nhà trường được xác định trong các nghị quyết của Đảng, đó là: “ Hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo nên những người lao động có đạo đức, sức khỏe, học vấn và nghề nghiệp; gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và XHCN; có ý thức cộng đồng và phát huy có giá trị văn hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có tính

Trang 23

tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp; đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [22]

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với môn giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS”[18, tr.15]

Như vậy quản lý trường học là quản lý một hệ thống các hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thể hiện được tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà mục tiêu là giáo dục thế hệ trẻ, là quá trình dạy – học

và đào tạo cho đất nước nguồn nhân lực không chỉ có trình độ chuyên môn giỏi mà còn có những phẩm chất đạo đức tốt, có đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, có lòng yêu nghề yêu tổ quốc, có kiến thức văn hoá, khoa học, lao động tự chủ sáng tạo,… đáp ứng với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đó là nguồn nhân lực vừa hồng vừa chuyên, nguồn nhân lực vừa có đức vừa có tài

1.2.4 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học

1.2.4.1 Hoạt động dạy học

HĐDH là quá trình truyền thụ, lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nhận thức của con người Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt của thầy giáo (dạy) và người học (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học… Nhiệm vụ dạy trong nhà trường không chỉ đảm bảo cho người học có một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành, phát triển nhân cách của họ

Quan niệm trên về HĐDH đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này không tách rời nhau, là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới đáp ứng được yêu cầu của thời đại Ngày nay trong quá trình hoạt động chung đó, vai trò chủ đạo của người giáo viên là tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học để giúp họ tự khám phá tri thức Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp người học sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có của mình, những tri thức họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của mình

Trang 24

Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất tốt đẹp của con người mới

Tóm lại, HĐDH là hoạt động trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo

của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập

1.2.4.2 Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý HĐDH là một bộ phận cấu thành, chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý hoạt động giáo dục đào tạo trong trường học Quản lý HĐDH bao gồm:

- Quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học

- Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy học

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học

Trong việc quản lý toàn diện quá trình giáo dục của người CBQL thì quản lý HĐDH là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, nó là bản chất của quá trình quản lý đối với CBQL vì HĐDH là hoạt động quan trọng của nhà trường

Nói đến quản lý HĐDH tức là nói đến quản lý chất lượng dạy học, đòi hỏi người CBQL phải quán triệt và ý thức sâu sắc về quá trình dạy học là hệ thống toàn vẹn các nhân tố cơ bản như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá Các nhân tố đó có sự tác động hai chiều, tác động qua lại lẫn nhau trong môi trường giáo dục của nhà trường và môi trường kinh tế xã hội ở địa phương Quản lý HĐDH mặc dù do nhà trường tổ chức chỉ đạo, nhưng nó có mối quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức văn hóa, kinh tế, xã hội bên ngoài nhà trường

Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dạy học phải nâng cao chất lượng của tất cả các nhân tố của quá trình dạy học, người CBQL trường THPT cần thực hiện tốt mối quan hệ cộng đồng hợp tác liên thông này, đây là một trong những điều kiện để tối

ưu hóa việc quản lý HĐDH

Tóm lại, HĐDH ở trường THPT có vai trò và vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc học, cấp học Vì thế quản lý HĐDH cũng

Trang 25

chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ nội dung quản lý trường THPT HĐDH là

do nhà trường tổ chức thực hiện, nhưng quá trình và kết quả của hoạt động này cũng chịu sự tác động và chi phối của các nhân tố bên ngoài nhà trường Các biện pháp chỉ đạo quản lý HĐDH rất phong phú và đa dạng, nó phải là một tổng thể các tác động tối ưu, là sự phối hợp hài hòa các nguồn lực, các điều kiện bên trong và bên ngoài nhà trường Tính khoa học và tính nghệ thuật thể hiện đậm nét ở người CBQL trong việc quản lý hoạt động trung tâm này của nhà trường Người CBQL ở trường THPT cũng cần có nhận thức đầy đủ, có tâm huyết và nỗ lực cao, phải kiên trì và bền bỉ trong quá trình chỉ đạo quản lý HĐDH này

1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học

- Khái niệm biện pháp: Theo từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Ngọc Bích và nhóm tác giả), Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Hà Nội – 2005, biện pháp là các hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích Biện pháp tích cực là phòng bệnh, bất đắc dĩ mới chữa bệnh; Hành động có cơ sở pháp lý hay dựa trên một quyền lực Biện pháp thi hành kỷ luật

- Khái niệm biện pháp quản lý: Biện pháp quản lý là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để đạt mục tiêu quản lý

- Khái niệm biện pháp quản lý HĐDH:

+ Biện pháp quản lý HĐDH là những cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý hơn nữa còn giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý HĐDH, làm cho việc quản lý HĐDH được vận hành đạt mục tiêu dạy học và giáo dục của cấp học đề ra

+ Biện pháp quản lý HĐDH của CBQL trường THPT là các cách thức tiến hành của CBQL để tác động đến các lĩnh vực trong quản lý HĐDH nhằm nâng cao hiệu quả HĐDH, thực hiện mục tiêu cấp học

1.2.6 Phương pháp dạy học va ̀ đổi mới phương pháp dạy học

Trang 26

động học tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt các mục tiêu dạy học [23, tr.25]

Từ các định nghĩa trên chúng ta nhận thấy đặc trưng nổi bật của PPDH là cách thức hoạt động phối hợp giữa GV và HS trong những điều kiê ̣n da ̣y ho ̣c xác

đi ̣nh nhằm đa ̣t mu ̣c đích da ̣y ho ̣c , trong đó phương pháp dạy qui định và chi phối phương pháp học, còn phương pháp học ảnh hưởng đến phương pháp dạy

1.2.6.2 Các phương pháp dạy học cơ bản trong nhà trường phổ thông

Dựa vào mục đích dạy học cơ bản và phương tiện dạy học, có thể chia PPDH thành 4 nhóm, đó là:

- Nhóm phương pháp dùng lời gồm phương pháp thuyết trình, đàm thoại và

sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo

- Nhóm phương pháp trực quan gồm phương pháp quan sát, phương pháp biểu diễn thí nghiệm

- Nhóm phương pháp thực tiễn gồm phương pháp ôn, luyện tập và phương pháp làm việc trong phòng thí nghiệm

- Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS, gồm kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết và kiểm tra thực hành

Khi nghiên cứu và phân tích ưu, nhược điểm của các PPDH nêu trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

- Các PPDH nêu trên khi áp dụng trong thực tiễn dạy học không quá phức tạp và không đòi hỏi quá nhiều thời gian và công sức của cả thầy và trò

- Phải thừa nhận các PPDH truyền thống đã phát huy cả vai trò chủ đạo của thầy và vai trò chủ động của trò, nhưng chỉ ở mức trung bình, kết quả mà các PPDH này mang lại cho người học nặng về tri thức hơn là phát triển phương pháp học tập

- nhận thức ở người học

- Những PPDH truyền thống nêu trên vẫn được áp dụng trong dạy học ở nhà trường Việt Nam và cả trên thế giới Tuy nhiên, trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, điều kiện dạy học thay đổi nhờ sự hỗ trợ của các thế hệ máy tính, thì các PPDH truyền thống cần được cải tiến theo hướng pháp huy tính tích cực, độc lập của HS, đồng thời áp dụng các PPDH hiện đại có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của dạy học hiện đại

Trang 27

1.2.6.3 Đổi mới phương pháp dạy học

Do đặc điểm của HĐDH trong giai đoạn hiện nay đó là thông tin bùng nổ, phương tiện thông tin đại chúng được cài đặt đến từng hộ gia đình người dân, sức khỏe và độ bền trí tuệ của học sinh được cải thiện đáng kể, thông tin mang tính toàn cầu, dạy học được hỗ trợ của máy tính, nên tri thức mà học sinh tiếp thu ở nhà trường trở nên kém phong phú và đa dạng hơn rất nhiều thông tin mà HS tiếp thu từ gia đình và xã hội Do đó, nhà trường cần dạy học sinh phương pháp lựa chọn và xử

lí thông tin hơn là cung cấp thông tin có sẵn cho HS Cần phải đổi mới PPDH, nhưng theo hướng nào?

Xu hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là:

có thể được tổ chức theo hình thức dạy học không giáp mặt với hệ thống tài liệu in

và tài liệu điện tử

Công nghệ hóa hoạt độngdạy học được hiểu theo nghĩa hẹp là sử dụng

các thiết bị kĩ thuật vào dạy học mà ở đây là công nghệ thông tin

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào hướng đổi mới thứ nhất

là tích cực hóa HĐDH và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

*Tích cực hóa HĐDH trong các PPDH truyền thống

Như đã trình bày ở trên, đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ nhận các PPDH truyền thống mà kế thừa có sáng tạo, phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền thống cũng là một cách đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực, độc lập của HS trong học tập

- Đối với phương pháp thuyết trình

GV nên chuyển sang thuyết trình nêu vấn đề Thuyết trình nêu vấn đề là một dạng của thuyết trình, nó vẫn giữ nguyên bản chất của thuyết trình là GV sử dụng ngôn

Trang 28

ngữ trình bày tài liệu từ đầu đến cuối mà không dừng lại phát vấn HS Cốt lõi của thuyết trình nêu vấn đề là GV nêu vấn đề và tự mình giải quyết vấn đề

Thuyết trình nêu vấn đề ngoài những ưu điểm của thuyết trình nó còn có tác dụng kích thích sự tập trung chú ý của HS, hứng thú học tập và HS còn học được cách đặt và giải quyết vấn đề của GV - đây là một kĩ năng rất quan trọng cần hình thành, rèn luyện ở HS

- Đối với phương pháp đàm thoại

GV sử dụng đàm thoại gợi mở thay vì đàm thoại thông báo tái hiện Đàm thoại gợi mở mang đầy đủ các đặc điểm của đàm thoại, điểm khác biệt ở chỗ các câu hỏi GV đưa ra mang tính gợi mở đòi hỏi HS phải lựa chọn tri thức, tổ chức lại tri thức hoặc tìm ra tri thức mới so với bản thân Câu hỏi gợi mở có nhiều hơn một câu trả lời đòi hỏi HS phải lựa chọn câu trả lời hợp lí nhất và nói rõ vì sao lại trả lời như vậy Đây chính là khả năng tìm các phương án khác nhau để giải quyết một vấn

đề và lựa chọn phương án giải quyết tối ưu

- Đối với phương pháp trực quan

Trực quan không chỉ có tác dụng minh họa cho bài dạy mà GV sử dụng trực quan như là một tình huống dạy học nảy sinh vấn đề Như vậy bản thân phương tiện trực quan đã chứa đựng tình huống có vấn đề và hấp dẫn, thôi thúc HS giải quyết

- Đối với phương pháp kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng kĩ xảo ở HS

Câu hỏi kiểm tra không đơn thuần là kiểm tra mức độ tái hiện tri thức mà kiểm tra mức độ hiểu và vận dụng tri thức, kĩ năng

Đề kiểm tra giữa, cuối môn học không chỉ bó hẹp tri thức trong một bài, chương mà bao hàm tri thức ở nhiều bài, nhiều chương đòi hỏi HS phải lựa chọn, sắp xếp tri thức đáp ứng yêu cầu của bài kiểm tra và diễn đạt tri thức theo ngôn ngữ của bản thân

Việc áp dụng các PPDH truyền thống trình bày ở trên có tác dụng hình thành khái niệm, phương pháp học tập, phương pháp tư duy ở HS để HS có khả năng chuyển sang tình huống học tập mang tính độc lập cao hơn,đó là tình huống dạy học gợi mở và áp dụng các PPDH tương ứng

* Áp dụng các PPDH hiện đại

Hiểu thế nào là PPDH hiện đại? PPDH hiện đại theo chúng tôi là những

Trang 29

PPDH phù hợp với trình độ phát triển của nhà trường và đáp ứng yêu cầu của dạy học trong giai đoạn hiện nay đồng thời phát huy cao độ tính tự giác, tích cực độc lập và sáng tạo của HS trong học tập

Các PPDH hiện đại thuộc kiểu dạy học giải quyết vấn đề, trong đó có nhiều PPDH cụ thể

Dạy học giải quyết vấn đề là một hệ dạy học chứ không hiểu nó như là một PPDH cụ thể Trước hết cần làm sáng tỏ một vài nội hàm mang tính tiền đề liên quan:

Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích

muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương tiện (tri thức, kĩ năng, ) để giải quyết

Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lí thuyết nhận thức Giải quyết vấn

đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề (Rubinstein)

Dạy học giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ở người học Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp người học lĩnh hội tri thức kĩ năng và cả phương pháp nhận thức

Dạy học giải quyết vấn đề là một hệ dạy học nên trong nó bao gồm nhiều PPDH bộ phận Dựa vào tính tích cực của tư duy ở HS, ta có thể chia dạy học giải quyết vấn đề theo các mức độ sau:

+ Thuyết trình mang tính nêu vấn đề (chúng tôi đã trình bày ở trên)

+ Giải quyết từng phần (dạy học theo nhóm nhỏ)

+ Giải quyết trọn vẹn vấn đề (phương pháp nghiên cứu, dạy học theo dự án)

- PPDH theo nhóm

Khái niệm dạy học theo nhóm nhỏ: A.T Francisco (1993): “Học tập nhóm là một phương pháp học tập mà theo phương pháp đó học viên trong nhóm trao đổi, giúp đỡ, và hợp tác với nhau trong học tập”

Thực hiện dạy học theo nhóm nhỏ, GV lưu ý:

+ Tổ chức nhóm học tập Việc phân chia nhóm thường dựa trên số lượng học viên, chủ đề bài học và đặc điểm của học viên Qui mô nhóm có thể là 4, 5, 9

HS Nhóm học tập có thể giữ nguyên trong suốt môn học nhưng cũng có thể thay

Trang 30

đổi tùy tình huống lớp học Trong thực tiễn dạy học ở nhà trường Việt Nam, do lớp chật, số lượng HS đông, bàn ghế không tiện di chuyển, GV nên chia nhóm học tập theo bàn (hai bàn quay mặt lại với nhau), theo dãy

+ GV nêu câu hỏi, bài tập thật rõ ràng để HS nhận thức được nhiệm vụ học tập của nhóm Có thể cả lớp cùng làm một bài tập, có thể mỗi nhóm, mỗi dãy bàn thực hiện các nhiệm vụ riêng biệt

+ GV quan sát và can thiệp sư phạm khi cần thiết (như cố vấn, trọng tài, điều động) để nhóm học tập đạt được kết quả và kích thích từng thành viên của nhóm tham gia tích cực

+ GV nhận xét, bổ sung và chốt lại các ý chính, nội dung quan trọng từ các

ý kiến thảo luận của các nhóm để HS lĩnh hội được nội dung bài học

- PPDH theo dự án

Dạy học theo dự án có nguồn gốc từ châu Âu (thế kỉ 16, ở Ý và Pháp)

Đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho dạy học dự án

(Richard, J.Dewey,.v.v.), và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học

định hướng vào người học, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi

GV là trung tâm Ban đầu PPDH dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội Hiện nay PPDH dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển

Dạy học dự án được hiểu như một phương pháp hay hình thức dạy học, trong đó người học tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành

Hay có thể hiểu: Dạy học dự án là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm người học thiết lập một dự án có nội dung gắn kết với nội dung học tập Dựa vào tri thức, kinh nghiệm và kĩ năng vốn có, trên cơ sở phân tích thực tiễn thuộc phạm vi học tập, cùng với tài liệu, phương tiện, người học đề xuất ý tưởng, thiết kế dự án, soạn thảo và hoàn chỉnh dự án

Một số đặc điểm của dạy học dự án:

+ Định hướng vào người học: Trong dạy học dự án, người học tham gia

tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xác định mục

Trang 31

đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình

và kết quả thực hiện GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ

+ Định hướng hoạt động thực tiễn: Trong quá trình thực hiện dự án, có sự

kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành Chủ đề dự án gắn liền với hoàn cảnh cụ thể, với những tình huống của thực tiễn xã hội, nghề nghiệp, đời sống

1.3 Dạy học tiếng Anh ở trường THPT

1.3.1 Chương trình tiếng Anh THPT; mục tiêu, nội dung chương trình tiếng Anh THPT

1.3.1.1 Vị trí, vai trò của môn tiếng Anh trong chương trình giáo dục THPT

Tiếng Anh, với tư cách là môn ngoại ngữ, là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục THPT, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông Môn tiếng Anh ở trường THPT cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới

để tiếp thu những tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế vượt qua rào cản về ngôn ngữ Do đặc trưng riêng, môn tiếng Anh ở trường THPT góp phần phát triển tư duy (trước hết là tư duy ngôn ngữ) và hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt, góp phần đổi mới PPDH, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường THPT Cùng vớicác môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của HS, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường THPT

Trang 32

1.3.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình môn tiếng Anh

Chương trình môn tiếng Anh ở trường THPT được biên soạn theo quan điểm giao tiếp coi hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc, viết

là mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp

Nội dung dạy học trong chương trình môn tiếng Anh được xây dựng theo quan điểm chủ điểm Quan điểm chủ điểm lấy hệ thống chủ điểm làm cơ sở để lựa chọn và sắp sắp xếp nội dung ngữ liệu Theo quan điểm chủ điểm, người xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa và thực hiện quá trình dạy học có thể có những thuận lợi như: Chương trình môn tiếng Anh ở trường THPT chú trọng quan điểm coi HS là chủ thể của quá trình học tập HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp GV

là người tổ chức, hướng dẫn, điều kiện quá trình hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp của HS

1.3.1.3 Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT

Theo Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT- Môn tiếng Anh của Bộ

GD-ĐT, dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT nhằm giúp HS:

- Sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết

- Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi

- Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh ; biết tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc mình

1.3.1.4 Nội dung chương trình tiếng Anh ở trường THPT

Nội dung chương trình tiếng Anh ở trường THPT được biên soạn theo 6 chủ điểm

(theme) lặp lại, mở rộng từ lớp 6 đến lớp 12 Dưới hệ thống các chủ điểm là chủ đề (topic)

Hệ thống chủ điểm và chủ đề là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng ngôn ngữ Các khả năng ngôn ngữ được hình thành và phát triển song song với việc cung cấp kiến thức

Trang 33

ngôn ngữ : ngữ âm, từ ngữ và ngữ pháp Nội dung chủ điểm được phát triển một cách tự nhiên và phong phú nhằm phát huy tối đa các khả năng ngôn ngữ cần có trong giao tiếp Các khả năng ngôn ngữ và kiến thức ngôn ngữ được lựa chọn và sắp xếp một cách linh hoạt nhằm đáp ứng những yêu cầu giao tiếp trong các chủ điểm Hoạt động giao tiếp được

tổ chức theo chủ điểm, nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp và các kiến thức ngôn ngữ phù hợp với nhu cầu, sở thích, trình độ khác nhau của HS

1.3.1.5 Về đồ du ̀ ng và thiết bị dạy học

Để thực hiện đường hướng lấy người học làm trung tâm và đường hướng giao tiếp còn yêu cầu cả thầy và trò đều phải biết sử dụng các thiết bị hỗ trợ dạy như băng cát xét, băng hình, đĩa CD, tranh ảnh, máy tính: phòng học tiếng (language lab),… Sử dụng thành thạo những đồ dùng và thiết bị dạy học sẽ làm giảm nhẹ công việc của GV ở trên lớp, làm phong phú thêm các hình thức truyền thụ và tương tác

giao tiếp giữa GV và HS, và do đó, làm tăng hiệu quả của giảng dạy và học tập

1.3.2 Phương pháp dạy học tiếng Anh ở trường THPT

Nhìn lại quá trình phát triển của PPDH ngoại ngữ từ trước đến nay, ta nhận thấy xuất hiện nhiều quan điểm, nhiều PPDH khác nhau nhưng tựu trung lại có thể chia làm hai nhóm phương pháp chính:

* Nhóm phương pháp dựa trên hình thức/ ngữ pháp ngôn ngữ (formed-based)

- Phương pháp Ngữ pháp-Dịch (Grammar-Translation Method)

- Phương pháp trực tiếp (Direct Method)

- Phương pháp Nghe-Nói (Audio-Lingual Method)

* Nhóm phương pháp dựa trên chức năng ngôn ngữ (function-based) mà tiêu biểu là Phương pháp dạy học theo đường hướng giao tiếp (Communicative Approach)

1.3.2.1 Phương pháp Ngữ pháp- Dịch

Phương pháp này có những đặc trưng sau:

- Về giáo trình: chủ yếu chia làm 2 phần Một phần giới thiệu các qui luật ngữ pháp, cách biến hóa của ngôn ngữ cần thiết để người học học thuộc lòng Phần kia gồm có một số câu dịch xuôi, dịch ngược

- Về giảng dạy ngữ pháp: dạy các qui luật và các cách biến hóa bao gồm các trường hợp ngoại lệ Khi dạy các thầy giáo chú trọng đến việc diễn giải các qui tắc

Trang 34

khó, phức tạp của ngữ pháp tiếng nước ngoài (target language) Thầy giáo sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học trong quá trình giảng dạy

- Về dịch: dạy dịch một cách máy móc từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng nước ngoài và ngược lại Dịch từng từ, từ câu riêng lẻ, phi tình huống Chú trọng việc dịch các văn bản cổ điển

- Về từ vựng: dạy từ vựng riêng lẻ HS chủ yếu học và ghi nhớ theo bảng từ Không tính mối liên hệ giữa những từ trong câu và mối liên hệ giữa những bài học trước và bài học sau

- Về kỹ năng: ít chú trọng kỹ năng Nghe-Nói, chỉ chú trọng đến việc đọc và dịch, chủ yếu là những bài văn cổ điển chứ không phải ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày

1.3.2.2 Phương pháp trực tiếp

Trong những năm đầu tiên của hậu bán thế kỷ XX , do nhu cầu giao lưu dần dần người ta đã thấy rõ hơn vai trò của ngoại ngữ, thấy được mặt tồn tại chính yếu của nó Người ta không còn chỉ dựa vào bài văn viết, hiểu nó thông qua dịch, và người ta thấy rằng ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói Trong phương pháp này từ

“trực tiếp” độc lập với từ “gián tiếp” mà gián tiếp có nghĩa là dịch Phương tiện có

vẻ rất đơn giản Muốn làm cho người học hiểu, chỉ cần “chỉ trỏ” Vì vậy người ta cần dùng một sơ đồ vật, hình vẽ, điệu bộ

So với phương pháp truyền thống, phương pháp trực tiếp đã có tiến bộ hơn Trong khi chỉ trỏ, người ta phải dùng lời nói kèm theo Như vậy ngôn ngữ nói chiếm

ưu thế, tuy nhiên đây chỉ là một biểu hiện bề mặt, vì thực ra còn một khoảng cách quá thực tế bên ngoài với những khuôn mẫu biểu đạt dạy cho người học và muốn hay không cũng tồn tại “cái dịch” trong đầu người học Hơn nữa, người ta không thể chỉ trỏ được tất cả mọi thứ, và vô hình chung, người ta đã dạy một thứ ngôn ngữ giả tạo

(artificial language), không đúng với thứ ngôn ngữ người học cần có

1.3.2.3 Phương pháp Nghe- Nói

Phương pháp này có một số đặc trưng sau:

- Về ngữ pháp: Mỗi lần chỉ dạy một cấu trúc và luyên tập cấu trúc ấy qua thực hành mẫu câu Các quy luật ngữ pháp được học theo lối quy nạp, thầy giáo không giải thích như trong phương pháp dịch

Trang 35

- Về từ vựng: Dạy từ vựng trong văn cảnh chứ không dạy riêng lẻ Ngữ liệu dùng để giảng dạy chủ yếu là các mẫu đối thoại Vì vậy từ vựng phản ánh cuộc sống hàng ngày chứ không phải thiên về ngôn ngữ văn học như trong phương pháp dịch

- Về kỹ năng: Dạy kỹ năng Nghe–Nói–Đọc–Viết theo trật tự nhất định đó Xem

kỹ năng Nghe–Nói là quan trọng Chú ý đến trọng tâm và ngữ điệu Trong phương pháp này, thầy giáo phải tích cự sử dụng thiết bị hỗ trợ như các phương tiện nghe nhìn để luyện các kỹ năng–kỹ xảo cho HS

1.3.2.4 Phương pháp dạy học theo đường hướng giao tiếp

Phương pháp dạy học theo đường hướng giao tiếp có những đặc trưng sau:

- Nắm vững ngôn ngữ tức là phải có năng lực giao tiếp Vì vậy mục tiêu tối hậu của quan điểm này là dạy năng lực giao tiếp

- Sử dụng ngoại ngữ một cách hợp lí

- Sử dụng phương pháp dịch khi HS cần hoặc có lợi cho HS

- Chấp nhận việc phạm lỗi của HS trong quá trình học (về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng)

- Việc rèn luyện được thực hiện, nhưng không chiếm vị trí quan trọng

- Những bài đàm thoại được sử dụng để dạy xoay quanh chức năng giao tiếp và thường không được học thuộc lòng

- Mọi phương tiện (thủ pháp, giáo cụ trực quan, máy ghi âm) cho HS học tốt đều được chấp nhận (phù hợp với lứa tuổi, hứng thú, động cơ…)

- GV bằng mọi cách phải tạo điều kiện tối đa để động viên, giúp các em hoạt động, sử dụng ngoại ngữ để học tập

1.3.3 Đổi mới PPDH môn tiếng Anh THPT

1.3.3.1 Khái niệm đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

Đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các PPDH ngoại ngữ truyền thống có những yếu tố tích cực với những PPDH ngoại ngữ hiện đại Tập trung vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PPDH tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học nhằm phát huy vai trò chủ động tích cực của người học trong việc rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ

Trang 36

1.3.3.2 Nội dung đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

Khi nhắc đến việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT hiện nay, ta nhận thấy xuất hiện chủ trương đi theo hai quan điểm đang thịnh hành trong giáo dục học và giáo học pháp ngoại ngữ trên thế giới và trong nước: quan điểm lấy người học làm trung tâm (the learner-centred approach) và quan điểm giao tiếp (the communicative language approach) (trong giảng dạy ngoại ngữ) Lí do của việc lựa chọn hai quan điểm này là vì chúng có nhiều điểm tương đồng: chúng đều coi HS là trung tâm của quá trình dạy-học và đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, coi ho ̣c như

là một quá trình tương tác để pháp triển các kĩ năng và khám phá ra những tri thức mới Trong giảng dạy truyền thống, người GV thường đóng vai trò là trung tâm của quá trình dạy-học theo hình thức "thông báo đồng loạt" - thầy nói và cả lớp lắng nghe Trong dạy học lấy người học làm trung tâm và giao tiếp, thầy không phải chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn có vai trò là người giúp đỡ, người cố vấn, người nêu vấn đề, người điều khiển, và quan trọng hơn là người cùng tham gia vào quá trình học tập với học sinh Về phía HS, các em không chỉ ngồi đối diện với thầy, nghe thầy giảng bài mà còn là người đàm phán, người được giao tư cách hợp pháp để cùng giáo viên xây dựng nên chương trình, kế hoa ̣ch và phương pháp giảng da ̣y phù hợp Muốn vâ ̣y, các em phải thực thi các nhiệm vụ giao tiếp theo cặp và theo nhóm, hay tương tác với cả lớp học như là một môi trường văn hoá xã hội, sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ (ngôn ngữ và giao tiếp) được giao một cách tự giác, tích cực dưới sự giám sát và giúp đỡ của thầy Các nhà giáo học pháp ngoại ngữ tin rằng các hình thức tương tác đa dạng, cộng với môi trường học tập thuận lợi và động cơ học tập mạnh mẽ của HS là những yếu tố cực kì quan trọng quyết định thành công trong việc học một ngoại ngữ của người học Trong dạy học truyền thống, năng lực ngôn ngữ (linguistic competence) như phát âm đúng, sử dụng từ vựng và các cấu trúc ngữ pháp đúng được cho là đích cuối cùng của giảng dạy Trong quan điểm giao tiếp, năng lực giao tiếp thông qua các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết được cho là đích của quá trình dạy một ngoại ngữ, còn năng lực ngôn ngữ được cho là phương tiện phải được cung cấp để HS có thể sử dụng đúng và phù hợp trong các hoạt động giao tiếp [23, tr.58-94]

Trang 37

1.4 Quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

1.4.1 Quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của ngành Giáo dục mà Luật Giáo dục Việt Nam

2005 đã đề ra: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, và nghề nghiệp, năng động, sáng tạo; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [15, tr.1], chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ngành giáo dục Việt Nam mong muốn đào tạo những con người phát triển toàn diện Muốn được như vậy thì một trong những điều kiện đầu tiên nhằm giúp con người nắm bắt và cập nhật trí tuệ nhân loại trong xu thế hội nhập toàn cầu là việc nắm vững ít nhất một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ,

mà ở đây là tiếng Anh- một trong những ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới Từ đó có thể thấy rõ ràng rằng nhiệm vụ của công tác quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT là nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Để thực hiện tốt vai trò quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT, người CBQL cần nắm vững những yêu cầu và quy trình đổi mới PPDH, cần có

sự quan tâm đúng mức và luôn đặt vấn đề đổi mới PPDH trong sự phối hợp với các hoạt động khác trong nhà trường BGH cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến kinh nghiệm về việc đổi mới PPDH dù nhỏ hay lớn của mỗi GV Hơn thế nữa người CBQL cũng cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp mỗi GV nắm vững cách vận dụng cũng như phối hợp các PPDH mới một cách nhuần nhuyễn và phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của HS mình đang giảng dạy, và điều kiện dạy và học tại địa phương nơi mình gỉảng dạy Tất cả những điều này sẽ góp phần làm hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh nói riêng và các môn học khác ở trường THPT nói chung ngày càng mở rộng và có hiệu quả hơn

Tóm lại, vấn đề quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT đòi hỏi người CBQL phải:

- Luôn có ý thức coi vấn đề đổi mới PPDH là một mục tiêu, nhiệm vụ quản lý, là một bộ phận của kế hoạch năm học

Trang 38

- Nắm bắt và phổ biến kịp thời đến GV những thông tư, chỉ thị của các cấp quản

lý về việc đổi mới PPDH, thường xuyên cử người đi tập huấn các chương trình bồi dưỡng về việc đổi mới PPDH (đặc biệt là các buổi hội thảo do Hội đồng Anh phối hợp với Sở GD-ĐT tổ chức hằng năm)

- Tổ chức những chuyên đề sinh hoạt về đổi mới PPDH, thao giảng trong phạm

vi trường hoặc cụm trường để các GV có cơ hội ngồi lại trao đổi, rút kinh nghiệm, học hỏi những cái hay, cái mới từ bạn bè đồng nghiệp Bên cạnh đó, có thể tổ chức nghiên cứu khoa học về nội dung đổi mới PPDH cho toàn thể GV trong trường

- Có ý thức coi việc đổi mới PPDH là một trong những tiêu chí đánh giá giờ dạy, nhằm có biện pháp phù hợp trong việc kiểm tra, đánh giá cũng như có kế hoạch giúp đỡ GV trong quá trình thực hiện việc đổi mới PPDH

- Quan tâm và có sự đầu tư phù hợp và kịp thời đối với vấn đề trang bị các phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm hỗ trợ cho hoạt động đổi mới PPDH của GV trên lớp

- Có các biện pháp, chế tài quản lý như thưởng, phạt kịp thời

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

1.4.2.1 Kế hoạch hóa hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

Việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế hoạch Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý Vì thiếu tính kế hoạch, quá trình này khó đạt được kết quả cao

Lập kế hoạch là quyết định trước cái gì cần phải làm, làm như thế nào, khi nào làm, ai làm cái đó và sản phẩm cần đạt

Lập kế hoạch là một quá trình đòi hỏi có tri thức, xác định đường lối và đưa ra các quyết định trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng

Muốn kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả cần phải đầu tư suy nghĩ để hoạch định từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể, từ những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề mang tính chiến thuật trong mỗi giai đoạn Khi xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT, người cán bộ quản lý cần dựa trên những cơ sở sau:

Trang 39

- Phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, từ đó xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh Kế hoạch này là kế hoạch cụ thể về một bộ môn quan trọng của nhà trường, trong đó thể hiện sự thống nhất và hài hòa giữa các bộ môn trong toàn bộ chương trình học, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường

- Nghiên cứu đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, nhận thức của người dân nói chung và phụ huynh HS nói riêng, cũng như đường lối, chủ trương, chính sách của địa phương

- Phân tích thực trạng việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh của trường trong năm học vừa qua Thực trạng này thể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học qua đó, thấy được ưu và nhược điểm của công tác quản lý việc đổi mới PPDH môn tiếng Anh tại trường, những vấn đề gì còn tồn tại, từ đó xếp ưu tiên từng vấn đề cần giải quyết

- Tìm hiểu các PPDH ngoại ngữ hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong các môi trường học tập tiên tiến hiện nay, và xu thế đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT trên thế giới

- Xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường

Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT:

- Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ

- Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém , cũng

cố ưu điểm , vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành ý thức đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT ở mỗi GVTA

- Kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp kiểm tra, đánh giá

- Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý của hiệu trưởng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể

Do đó, trong công tác xây dựng kế hoạch giáo dục nói chung và đặc biệt là

kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT nói riêng, người CBQL cần quan tâm nhiều đến hiệu quả xã hội, và động lực, mục tiêu của nhà trường đưa ra

Trang 40

cần mang tầm nhìn mới, cần có sự tuyên truyền để làm biến đổi nhận thức và hành động của các thành viên trong nhà trường

Việc thành lập kế hoạch không đơn thuần là quá trình lí thuyết mà phải thực hiện theo mục tiêu đã đề ra, do đó phải có yếu tố con người tham gia vào Vì vậy, xây dựng kế hoạch không những được coi là quá trình tương tác giữa con người với con người, con người với kế hoạch mà còn phải có sự giải thích, quyết định và lựa chọn Kế hoạch phải được thảo luận, bàn bạc thống nhất để đi tới cam kết thực hiện giữa các bên

1.4.2.2 Tổ chức hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

Tổ chức thực hiện kế hoạch là xếp đặt một cách khoa học những yếu tố, những lượng người, những dạng hoạt động của tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn, bảo đảm cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu, đưa hệ tới mục tiêu

Tổ chức là sinh thành ra hệ toàn vẹn, tạo ra hiệu ứng tổ chức Tổ chức thực hiện kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT cho HS phải xuất phát

từ quan điểm phát huy tính tích cực chủ động của HS HS là chủ thể của hoạt động nhận thức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV Có như vậy thì những kiến thức ngôn ngữ của nhân loại sẽ trở thành những vốn kiến thức riêng của mỗi HS

Tổ chức thực hiện đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT là một bộ phận cấu thành và có liên quan mật thiết đến việc tổ chức các hoạt động học tập văn hóa khác trong nhà trường

Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:

- Giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở trường THPT

- Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch

- Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế Khi sắp xếp, bố trí nhân sự, người CBQL phải nắm vững được phẩm chất

và năng lực cũng như mặt mạnh, mặt yếu của từng người; nếu cần có thể phân công theo từng nhóm để công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả

- Định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện cũng như thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc Trong việc tổ chức thực hiện, người CBQL cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ

Ngày đăng: 10/10/2015, 17:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý [17] - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý [17] (Trang 22)
Bảng 2.1: Sơ lược về các trường THPT tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (2012-2013) - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.1 Sơ lược về các trường THPT tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc (2012-2013) (Trang 52)
Bảng 2.2: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mục đích của việc đổi mới PPDH môn - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.2 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mục đích của việc đổi mới PPDH môn (Trang 55)
Bảng 2.3. Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ sử dụng các PPDH hiện đại - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.3. Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ sử dụng các PPDH hiện đại (Trang 57)
Bảng 2.4: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về  mức độ thực hiện các nội dung đổi mới - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.4 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện các nội dung đổi mới (Trang 60)
Bảng 2.5: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về kết  quả động đổi mới PPDH môn tiếng - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.5 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về kết quả động đổi mới PPDH môn tiếng (Trang 62)
Bảng 2.7: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả việc kế hoạch - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.7 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả việc kế hoạch (Trang 70)
Bảng 2.8: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác tổ  chức, chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.8 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên (Trang 73)
Bảng 2.9: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác kiểm  tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.9 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về mức độ thực hiện và hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT tại huyê ̣n Bình Xuyên (Trang 76)
Bảng 2.10: Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 2.10 Thống kê đánh giá của CBQL và GVTA về nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt (Trang 82)
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi  của các biện pháp đề xuất - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 100)
Bảng 1.4.1. Thống kê đánh giá của HS  về mức độ sử dụng các PPDH hiện  đại trong dạy học tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.4.1. Thống kê đánh giá của HS về mức độ sử dụng các PPDH hiện đại trong dạy học tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên (Trang 123)
Bảng 1.4.2: Thống kê đánh giá của HS về  mức độ thực hiện các nội dung đổi mới  PPDH trong giờ học môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.4.2 Thống kê đánh giá của HS về mức độ thực hiện các nội dung đổi mới PPDH trong giờ học môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Bình Xuyên (Trang 124)
Bảng 1.4.3: Thống kê đánh giá của HS về kết  quả động đổi mới PPDH môn tiếng  Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên - Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường trung học phổ thông huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc
Bảng 1.4.3 Thống kê đánh giá của HS về kết quả động đổi mới PPDH môn tiếng Anh ở các trường THPT huyện Bình Xuyên (Trang 125)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w