Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội .... Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LƯƠNG THỊ HUYỀN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Hà Nội - 2013
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên đầy đủ
CNH-HĐH Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa ĐTTC&BD Đào ta ̣o ta ̣i chức và bồi dưỡng
PGS.TS Phó Giáo sư, Tiến sỹ
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp số khóa học đã và đang đào ta ̣o tính đến năm học
2012 của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 34 Bảng 2.2: Thống kê các chuyên ngành đào tạo trình độ cao đẳng hệ
vừa làm vừa ho ̣c từ năm 2006 đến năm 2012 43 Bảng 2.3: Thống kê số lượn g ho ̣c viên trình đô ̣ cao đẳng hê ̣ vừa làm
vừa ho ̣c qua các năm ho ̣c 43 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát xây dựng chương trình đào tạo 57 Bảng 2.5: Khảo sát, thăm dò ý kiến của trường về mức độ sử d ụng
các phương pháp giảng dạy của giảng viên 62 Bảng 2.6: Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 63 Bảng 2.7: Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới phương pháp giảng
dạy và đánh giá giờ dạy của giảng viên 64 Bảng 2.8: Thực trạng hoạt động học tập của học viên các lớp cao
đẳng hệ vừa làm vừa học 68 Bảng 2.9: Bảng lựa chọn hình thức thi hết học phần của học viên 71 Bảng 2.10: Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong thi cử các
lớp cao đẳng hệ vừa làm vừa học 71 Bảng 2.11: Đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lý về những vấn
đề cần quan tâm trong nhà trường hiện nay 74 Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của
các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ VLVH
của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 103 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tổng thể số lượng cán bộ viên chức giảng viên,
Trang 4nhân viên của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (năm 2012) 38
Hình 1.1: Mô hình quản lý hoạt động đào tạo 10
DANH MỤC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 15
Sơ đồ 1.2: Các chức năng của quản lý 16
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 37
Sơ đồ 3.1: Hình thức 1: Cá nhân có nhu cầu ĐT-BD để làm việc tốt hơn 81
Sơ đồ 3.2: Hình thức 2: Cá nhân có nhu cầu đào tạo - bồi dưỡng để tuyển 81
dụng luân chuyển công tác, đề bạt chức vụ hoặc để nâng ngạch lương 81
Sơ đồ 3.3: Tổ chức, đơn vị có nhu cầu đào tạo - bồi dưỡng 82
Sơ đồ 3.4: Đào tạo - bồi dưỡng đối với xã hội 82
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục bảng, biểu đồ, hình vẽ iii
Danh mục sơ đồ iv
Mục lục v
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học 5
1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Khái niệm đào tạo 8
1.2.2 Hoạt động đào tạo 8
1.2.3 Hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học 10
1.2.4 Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học 11
1.3 Quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của trường đại học 21
1.3.1 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của trường đại học 21
1.3.2 Những đặc điểm trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học 23
1.3.3 Nội dung quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học 26
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học ở trường đại học 29
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 32
2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Tiền thân là Trường Trung cấp Văn thư Lưu trữ và Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội) 32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 32
2.1.2 Mục tiêu, đối tượng đào tạo của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 33
2.1.3 Quy mô và ngành nghề đào tạo củ a nhà Trường 33
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường 35
2.1.5 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên 38
Trang 62.1.6 Công tác nghiên cứu khoa học của nhà Trường 39 2.1.7 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ đào tạo 40 2.2 Thực trạng đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 41 2.2.1 Chủ trương của nhà Trường về đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa
làm vừa học 41 2.2.2 Quy mô ngành nghề và chất lượng đào tạo trình độ cao đẳng hệ
vừa làm vừa học 42 2.2.2 Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học 45 2.3 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa
làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 47 2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học 47 2.3.2 Cơ sở pháp lý để quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ
vừa làm vừa học 50 2.3.3 Thực trạng quản lý công tác tuyển sinh trình độ cao đẳng hê ̣ VLVH 50 2.3.4 Thực trạng quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đào
tạo trình độ cao đẳng hê ̣ vừa làm vừa học 54 2.3.5 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên, hoạt
động học tập của học viên 60 2.3.6 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đào
tạo trình độ cao đẳng hê ̣ vừa làm vừa học 69 2.4 Đánh giá thực trạng 72 2.4.1 Những mặt được về quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng
hệ vừa làm vừa học của nhà Trường 72 2.4.2 Những mặt tồn tại về quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao
đẳng hệ vừa làm vừa học của nhà Trường 73 2.4.3 Nguyên nhân hạn chế và những bài học rút ra 74 Tiểu kết chương 2 75
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ QUÁ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 76 3.1 Định hướng phát triển của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 76 3.1.1 Định hướng phát triển nhà trường trong giai đoạn 2012-2015
tiến đến năm 2020 76 3.1.2 Định hướng phát triển hệ vừa làm vừa học trong thời gian tới 78 3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 78
Trang 73.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 78
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 79
3.2.3 Nguyên tắc kế thừa và phát triển 80
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 80
3.3.1 Biện pháp 1: Tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo, hoàn thiện quy trình tuyển sinh 80
3.3.2 Biện pháp 2: Đổi mới nội dung chương trình đào tạo 84
3.3.3 Biện pháp 3: Tăng cường đổi mới hình thức dạy học 88
3.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của học viên 91
3.3.5 Biện pháp 5: Hoàn thiện quản lý công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 96
3.3.6 Biện pháp 6: Phối hợp có hiệu quả với các cơ sở liên kết đào tạo trong quản lý hoạt động đào tạọ trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo 99
3.3 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 102
3.3.1 Mục đích khảo sát 102
3.3.2 Đối tượng khảo sát 102
3.3.3 Phương pháp khảo sát 103
3.3.4 Kết quả khảo sát 103
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 111
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội học tập là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển nhân loại
ở thời đại ngày nay Nó đòi hỏi sự phát triển toàn diện của con người, đòi hỏi một nền giáo dục hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá… thông tin để xã hội tiến kịp sự phát triển của tri thức nhân loại Trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng KH&CN, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu tức giáo dục từ nhà trẻ đến đại học và trên đại học lại có thể đủ cho cả đời người Vì vậy, phải tiếp tục học tập, học không bao giờ ngừng, phải thay đổi tư duy giáo dục phù hợp với xu thế chung, xem giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia
Xây dựng một xã hội học tập với các hình thức đào tạo đa dạng là điều
mà Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm và hướng tới Bên cạnh hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy, các hình thức đào tạo khác cũng được xác lập, củng
cố và phát triển
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học (VLVH) là một trong các hình thức đào tạo của giáo dục thường xuyên được Bộ Giáo dục và đào tạo cấp văn bằng Hình thức đào tạo này là một chủ trương của Đảng nhằm nhanh chóng đào tạo được đội ngũ cán bộ có trình độ đáp ứng nhu cầu của xã hội Điều 44 Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập”
Trang 9Như vậy trách nhiệm thuộc về các nhà quản lý giáo dục là phải tổ chức
và quản lý việc học tập và giảng dạy của hệ VLVH làm sao để đạt hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu xã hội
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (tiền thân là Trường Cao đẳng Nội vụ
Hà Nội được nâng cấp lên đại học ngày 14/11/2011 theo Quyết định số 2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) là một Trường đại học công lập trực thuộc Bộ Nội vụ chuyên đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, cung cấp cho
xã hội đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu, tay nghề vững vàng trong lĩnh vực công tác nội vụ, văn phòng và các ngành nghề khác cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội từ Trung ương đến địa phương Một trong những nhiệm vụ chính trị của nhà trường là thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo và đã có những thành tựu đáng kể trong việc phát triển quy mô các ngành đào tạo hệ vừa làm vừa học Tuy nhiên công tác quản lý các hoạt động hệ đào tạo này còn nhiều bất cập, theo lối mòn, thói quen truyền thống, điều này sẽ ảnh hưởng chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhà trường
Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, từ thực tiễn công tác, là cán bộ của Khoa Đào tạo tại chức và bồi dưỡng, tác giả nhận thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, nhằm rút ra những kinh nghiệm góp phần đề ra các biện pháp quản lý đào tạo một cách đồng bộ, có tính khả thi cao, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đáp ứng được mục tiêu phát triển của nhà trường
Với tất cả lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp
quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ với mong muốn khắc
phục được những vấn đề bất cập trong thực tiễn quản lý, qua đó hoàn thiện được các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả quản lý đào tạo của nhà trường
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý nhằm đóng góp, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được các mục đích nghiên cứu, tác giả đề tài
thực hiện các nhiệm vụ sau:
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động quản lý đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học
4.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý khoa học, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu người học theo hướng đổi mới nội dung, đổi mới phương pháp, chương trình đào tạo, tăng cường trách nhiệm, mở rộng hoạt động liên kết đào tạo sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng
hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
6 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ các khóa học 2006 cho đến nay
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các văn bản của nhà nước, Bộ GD&ĐT, sách, báo, các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi (Sử dụng phiếu điều tra, bảng hỏi đối với đối tượng là các nhà quản lý, giảng viên, học viên và cán
bộ sử dụng sau đào tạo)
+ Phương pháp phỏng vấn (gặp gỡ và trao đổi với lãnh đạo Khoa Đào
tạo tại chức và bồi dưỡng, giảng viên, học viên hệ vừa làm vừa học, lãnh đạo các địa phương liên kết đào tạo với nhà trường)
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê (sử dụng các phương
pháp xứ lý số liệu thống kê để bổ trợ, bổ sung việc xử lý kết quả)
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học
UNESCO đã có khuyến cáo đúng đắn khi coi giáo dục của thế kỷ 21 là nền giáo dục của xã hội học tập suốt đời cho mọi người Quan điểm này có từ rất sớm, nó xuất phát từ quan điểm “Giáo dục bình đẳng trong tư tưởng của Mác-Ăngen cho đến tư tưởng Hồ Chí Minh đó là “Mọi người ai cũng được học hành” Như vậy, giáo dục không thể tách rời xã hội mà giáo dục và xã hội
là một khối thống nhất Nguyên lý “giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động giáo dục - đào tạo ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung theo 04 tiêu chí giáo dục của UNESCO “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”
Để đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc nói chung và trên địa bàn từng tỉnh, từng khu vực nói riêng thì nhu cầu đào tạo hệ vừa làm vừa học sẽ tăng rất cao trong những năm tới, đặt ra một nhu cầu rất lớn cho các cơ sở đào tạo
Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học hiện đang là một
“điểm nóng” của dư luận xã hội Trong thời gian qua có rất nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học về thực trạng của hệ đào tạo vừa làm vừa học để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đạo tạo của hệ này
Bộ Giáo dục và Đào tạo thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo vừa làm vừa học Có rất nhiều ý kiến xoay xung quanh vấn đề này Có ý kiến phản đối yêu cầu giảm thiểu đáng kể tiến tới loại bỏ hoàn toàn hình thức đào tạo này Bên cạnh đó đại đa số ý kiến ủng hộ chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục cho đào tạo loại hình này nhưng cần phải được “cải tổ”
Trang 13Tại diễn đàn “Việt Nam học tập suốt đời – xây dựng xã hội học tập”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã thẳng thắn thừa nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo hệ vừa học vừa làm còn hạn chế Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cũng cho rằng đào tạo CĐ, ĐH hệ không chính quy của nhiều trường không chỉ mất cân đối về cơ cấu ngành nghề mà còn cả về hình thức đào tạo, trình độ đào tạo Chính vì thế, từ năm 2011, Bộ GD&ĐT khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường ĐH tốp đầu, giảm dần quy mô đào tạo
hệ vừa học vừa làm Bộ cũng sẽ đẩy mạnh công tác kiểm tra hoạt động liên kết đào tạo theo hình thức vừa học vừa làm nhằm khắc phục và tiến tới xóa bỏ về
cơ bản hiện tượng học thuê, thi thuê
Giáo sư Phạm Phụ - giảng viên Trường Đại học Bách khoa thành phố
Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định chất lượng của hệ đào tạo vừa làm vừa học được nhìn từ phía đơn vị đào tạo và người học Về phía đơn vị đào tạo, hệ vừa làm vừa học đã bị buông lỏng quản lý từ trường cho đến Bộ GD-ĐT và hệ đào tạo này được xem như “nồi cơm” của các trường, một nguồn để tăng thêm thu nhập nên đã phát triển nhanh về số lượng, liên kết đào tạo chưa chặt chẽ Về phía người học, đa phần học viên hệ vừa làm vừa học là những người không
đủ khả năng đậu vào hệ chính quy Gọi là sinh viên tại chức là chưa đúng bởi học tại chức lẽ ra là những người đang đi làm, có lợi thế là đã trải qua công việc thực tế và có chuyên môn Người học tại chức cần một chương trình đào
tạo mang tính thực dụng hơn (Tuổi trẻ online, số ra ngày 24/5/2010)
Nhà giáo Đỗ Văn Khiêm thì cho rằng đào tạo hệ vừa làm vừa học là hình thức đào tạo linh hoạt phù hợp cho các học viên có nhiều điều kiện khác nhau Do đó phải xác định đây là hình thức cần thiết tồn tại trong một xã hội học tập Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy nhiều khóa sinh viên hệ vừa làm vừa học, tác giả nhận thấy nội dung và cách đánh giá chất lượng của các lớp này còn nhiều vấn đề Chương trình đào tạo thực bị cắt xén quá nhiều về số môn học lẫn số tiết học Giảng viên có tâm lý đánh giá thấp học viên và cho rằng học viên ít thời gian nên thường “chủ động” giảm số tiết giảng dạy, hơn nữa
Trang 14giảng viên dạy ban ngày đã quá mệt rồi Về phía học viên, đa số đi làm ban ngày đã mệt nên thường có mặt vào những tiết đầu để biết học môn gì, điều kiện thi cuối kỳ ra sao và vào những tiết cuối để xem thầy giới hạn thi chương nào Một số học viên có quan niệm không đúng là mình học tại chức nên không cần đào sâu nghiên cứu Đặc biệt, các trung tâm hợp tác đào tạo không muốn mất học viên nên thường dễ dãi trong đánh giá kết quả học tập Điều này nhiều người thấy nhưng thường không nói ra, nhất là người học
Chúng ta không cực đoan khi đánh giá văn bằng loại nào Tuy nhiên, đến khi nào chúng ta nghiêm túc quản lý quá trình đào tạo và phương pháp đánh giá (bài thi, kiểm tra trình độ như nhau) thì hai bằng cấp hệ vừa làm vừa học và chính quy mới thực sự tương đương
Với thành phố Đà Nẵng, trong tờ trình về Kế hoạch biên chế hành chính
sự nghiệp, trong đó có nội dung từ năm 2011, Đà Nẵng sẽ không tuyển dụng sinh viên hệ tại chức vào làm việc Ông Nguyễn Văn Quế - Giám đốc Sở Nội vụ Hải Dương cũng cho biết sẽ từ chối người có bằng tại chức Hải Dương chỉ tuyển dụng chính quy không nằm ngoài mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Nối tiếp Đà Nẵng, Hải Dương là Nam Định và Vĩnh Phúc cũng “nói không” với hệ tại chức Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đầu ra của sản phẩm tức là người học Tại sao học viên hệ vừa làm vừa học lại kém hơn sinh viên hệ chính quy và biện pháp nào để thay đổi cách nhìn của mọi người đối với hình thức vừa làm vừa học?
Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ xin đề cập đến vần đề quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ VLVH của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Đây là một vấn đề hiện chưa có tác giả nào nghiên cứu Từ những kết quả nghiên cứu về công tác quản lý đào tạo đã đạt được trong những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu hơn những cái được và chưa được trong công tác quản lý đào tạo nói chung và hệ VLVH nói riêng nhằm đề xuất những biện pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo hệ VLVH của nhà trường
Trang 151.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm đào tạo
Theo Từ điển Giáo dục học, đào tạo được hiểu là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đào đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” [20, tr 76]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho học viên có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả” [15, tr 45]
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định
1.2.2 Hoạt động đào tạo
Hoạt động đào tạo là một hoạt động chính và quan trọng nhất trong mỗi nhà trường Hoạt động đào tạo, với quan niệm là một loại hình chuyển giao và phát triển các kiến thức, kỹ năng lao động chuyên biệt, hình thành nhân cách nghề nghiệp của con người trong một loại hình lao động nhất định đã hình thành và phát triển rất sớm
Nhiệm vụ chính của hoạt động đào tạo là:
- Cung cấp tiềm năng, tiềm lực cho người học;
- Cung cấp khả năng vận dụng những tiềm năng đó thành kỹ năng riêng của mình trong thực tiễn
Đào tạo được thể hiện:
Trang 16- Đào tạo gắn với một vấn đề, một kỹ năng hoặc một dự án cụ thể
- Đào tạo dạy nghề để nâng cao một tay nghề cụ thể nào đó hoặc những hành động, thao tác cụ thể để làm một việc cụ thể
- Đào tạo chung để nâng cao trình độ
Theo trình tự công việc thì hoạt động đào tạo bao gồm các nội dung sau: tuyển sinh, đào tạo, theo dõi sau đào tạo Ở mỗi nội dung gồm các công việc cụ thể sau:
- Công tác tuyển sinh: Soạn thông báo tuyển sinh, tư vấn, tiếp nhận hồ
sơ tuyển sinh, lập Kế hoạch tuyển sinh, thành lập Hội đồng, Ban giúp việc Hội đồng thi tuyển sinh (Ban đề thi, Ban coi thi, Ban chấm thi….), lập danh sách thi, lịch thi tuyển sinh, tổ chức thi tuyển sinh, xét điểm chuẩn, họp xét trúng tuyển, gửi giấy báo trúng tuyển, gọi nhập học
- Quá trình đào tạo: lập Kế hoạch đào tạo, kế hoạch giảng dạy, kế hoạch thi học kỳ, thực hiện việc giảng dạy, thi kiểm tra các học phần, thực tập tốt nghiệp, xét điều kiện thi tốt nghiệp, báo cáo thực tập tốt nghiệp, khóa luận cuối khóa, thi tốt nghiệp, xét điều kiện tốt nghiệp, bế giảng phát bằng tốt nghiệp
- Theo dõi sau đào tạo (theo dõi việc sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp)
+ Sử dụng đúng chuyên môn đào tạo;
+ Sử dụng khác chuyên môn đào tạo
Mỗi giai đoạn kể trên có vai trò hết sức quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau Nếu làm tốt công tác tuyển sinh, tức là chúng ta có đầu vào tốt (có sự sàng lọc cao, điểm chuẩn tốt) thì đến giai đoạn đào tạo sẽ thuận lợi, đầu ra sẽ có chất lượng cao Giai đoạn đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng,
là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo của người học Thực tiễn cho thấy nếu đầu vào tuyển sinh ở mức độ nhất định nhưng trong quá trình đào tạo thực hiện tốt thì kết quả đào tạo sẽ rất cao, được xã hội ghi nhận Giai đoạn theo dõi
Trang 17sau đào tạo giúp nhà trường bổ sung, điều chỉnh những vấn đề cần thiết trong các giai đoạn tuyển sinh, đào tạo phù hợp với thực tế, nhu cầu xã hội
Hình 1.1 Mô hình quản lý hoạt động đào tạo Tác giả: Nguyễn Đức Trí Quản lý quá trình đào tạo, Viện chiến lược và
chương trình giáo dục Hà Nội, 2002
1.2.3 Hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học
Hình thức “đào tạo hệ vừa làm vừa học” hay còn gọi là “đào tạo tại chức” trước đây Đây là một loại hình đào tạo (thuộc phương thức giáo dục không chính quy) dành cho đại đa số những người vừa đi học vừa đi làm để hoàn thiện kiến thức chuyên môn hoặc muốn học thêm một ngành khác với ngành mình đang làm Hệ vừa làm vừa học thường học ngoài giờ hành chính, chương trình được xây dựng trên cơ sở chương trình hệ chính quy Nội dung
- Tình hình việc làm sau khi TN;
Giảng viên, sinh viên
Kết quả đào tạo
Người tốt nghiệp với:
- Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo;
- Đánh giá đầu ra thường xuyên
- Kiểm tra, đánh giá quá
trình và chương trình;
- Cấp văn bằng
Thông tin phản hồi
Trang 18chương trình hệ này phải bảo đảm các yêu cầu về nội dung của chương trình
hệ chính quy cùng trình độ đào tạo, sau khi tốt nghiệp, học viên được cấp bằng
hệ vừa làm vừa học
Trong thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về hệ vừa làm vừa học, trong luận văn này, chúng tôi dựa vào quan điểm được nêu trong Nghị định và các văn bản pháp quy của Nhà nước ta về vấn đề đào tạo vừa làm vừa học như sau:
Giáo dục thường xuyên (GDTX) được thực hiện bằng nhiều hình thức (như không tập trung, không chính quy, tại chức, bổ túc, từ xa….) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên, suốt đời, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng người, tạo ra một xã hội học tập, đáp ứng những nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, văn học và nghệ thuật
Giáo dục hệ VLVH là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
1.2.4 Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học
1.2.4.1 Quản lý
* Khái niệm
Trong lịch sử phát triển xã hội, từ khi con người biết kết hợp với nhau
để tự vệ hoặc mưu sinh, thì bên cạnh lao động chung của mỗi con người đã xuất hiện những hoạt động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển như một tất yếu khách quan nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định Dạng lao động đặc thù đó được gọi là quản lý
Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời là sản phẩm
có tính lịch sử K Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc
Trang 19cá thể và hoàn thành chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [34, tr 19]
Như vậy K Mark đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động
để điều khiển lao động Hoạt động này là tất yếu và vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người
Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người
đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
- Theo F.W.Taylor (1856-1915) người được coi là “cha đẻ của thuyết
quản lý khoa học” đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và quản lý chặt chẽ” Theo ông:
“Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm " [34, tr 23]
- Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Theo Hard Koont: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức” [34, tr 25]
- Theo Peter F Druker cho rằng: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
Trang 20Tùy theo mỗi cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Theo quan điểm triết học “Quản lý được xem như một quá trình kiên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đó”
Theo quan điểm chính trị, xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [12, tr 7]
- Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [29, tr 43]
Thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, khoa học quản lý được coi là chìa khóa vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức Ở nước ta cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu khái niệm quản lý
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12, tr 3]
Theo GS Đặng Quốc Bảo: bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới
Quản lý = Quản + Lý
Trong đó Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định
Lý là sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới và phát triển
Trang 21Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren
Vậy Quản lý = ổn định + phát triển [2, tr 14]
Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quản lý bao gồm hai thành phần cơ bản: chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương
hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữ hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ đồng cấp, có tỉnh bắt buộc
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận độn của thông tin
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “Quản lý”, tuy nhiên
ta nhận thấy điểm chung, có thể hiểu và đúc kết về khái niệm này như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Quản lý có điểm chung như sau:
- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động xã hội loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để cho xã hội tồn tại, vận hành và phát triển
- Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người
bị quản lý, học giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung Bản chất đó có thể được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Trang 22
Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
* Chức năng quản lý:
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau Thông qua cách tiếp cận và xem xét quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý có 4 chức năng:
Lập kế hoạch: Hoạch định trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng
mà tương lai có thể xảy ra, xây dựng các chỉ tiêu cần thiết cho hoạt động dự kiến các giải pháp thực hiện Thực chất lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức và cách thức thực hiện mục tiêu đó trong điều kiện nhất định Việc lập kế hoạch sẽ kết nối khoảng trống giữa vị trí hiện tại với mục tiêu mà tổ chức mong muốn đạt đến trong tương lai Chức năng này được coi là chức năng cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý Nhà quản lý lập kế hoạch bao ồm
cả việc tuyển chọn nhân viên, tổ chức các nguồn lực, kiểm tra và phối hợp con người và các hoạt động để đảm bảo đạt được các mục tiêu
Tổ chức: Tổ chức là đảm bảo tất cả các hoạt động và các tiến trình
được sắp xếp, giúp cho một tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đề ra Nội dung quan trọng nhất của tổ chức là tìm đúng người, đúng việc, xác định được
CÔNG CỤ, PP QUẢN LÝ
MỤC TIÊU QUẢN LÝ
Trang 23trách nhiệm của họ, thiết kế một tổ chức và cơ cấu đảm bảo các nhân viên đều hiểu rõ họ làm việc gì, ở đâu và với ai hay báo cáo cho ai, phải rõ ràng quyền lực, trách nhiệm để tránh tình trạng hỗn loạn Đảm bảo một môi trường lành mạnh, tích cực và khuyến khích làm việc hiệu quả
Lãnh đạo điều khiển, phối hợp: Các nhà quản lý phải làm sao lãnh
đạo có hiệu quả, học phải có cách làm việc với mọi người, cách chi phối và động viên người khác để đảm bảo công việc được thực hiện một cách đồng bộ Các công nhân, nhân viên trong mỗi tổ chức đều có cách suy nghĩ riêng và cũng sẽ làm những việc họ muốn nếu học không thích những mệnh lệnh hoặc các chỉ dẫn của các nhà quản lý đưa ra
Kiểm tra, đánh giá: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra đánh giá là
khâu quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định Mặt khác, kiểm tra, đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạn chế của hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những điều kiện cần thiết có thể phải điều chính cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý
Tuy nhiên việc xác định các chức năng trong quá trình quản lý không thể rạch ròi, riêng biệt từng chức năng mà là quá trình đan xen, kết hợp để thực hiện mục tiêu cuối cùng của một quá trình quản lý
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ chức năng quản lý
Kế hoạch
Chỉ đạo Thông tin
Trang 241.2.4.2 Quản lý giáo dục
* Khái niệm
Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị, xã hội khác nhau mà trách nhiệm là của Nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương
QLGD là sự tác động có ý thức của bộ máy QLGD đến hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến kết quả mong đợi Quan hệ căn bản của hoạt động QLGD là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan hệ khác biểu hiện trong mối quan
hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (giảng viên-sinh viên), giữa con người với cơ sở vật chất và điều kiện phục vụ giáo dục Khoa học QLGD là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ quá trình dạy học Giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [28, tr 12]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan
là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [3, tr 31]
Nói chung, QLGD được hiểu là sự tác động của chủ thể QL đến các khách thể QL trong lĩnh vực hoạt động, công tác giáo dục Nói một cách đầy
đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trng hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo
Trang 25dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển
xã hội
* Mục tiêu của QLGD: Là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ
thống giáo dục, đối với trường học, hoặc đối với thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường Những thông số này được xác định trên
cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước
* Đối tượng của QLGD: Là hoạt động của cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh
viên và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GDĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao
1.2.4.3 Quản lý nhà trường đại học, cao đẳng
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa nhà trường là cơ sở để tiến hành dạy học và các hoạt động giáo dục khác nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước với các loại hình công lập, bán công,
tư thục Nhà trường chịu sự quản lý Nhà nước của các cơ quan QLGD theo sự phân công, phân cấp chính phủ Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, có chính sách khuyến khích tổ chức cá nhân mở trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của
xã hội Mỗi nhà trường thành lập tổ chức và hoạt động theo quy định của cấp có thẩm quyền và theo điều lệ nhà trường, gia đình, xã hội
Nhà trường là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới xã hội,
là một thiết chế xã hội được tổ chức và hoạt động theo một mục đích xác định, với một nội dung giáo dục được chọn lọc và sắp xếp hệ thống, với những phương pháp giáo dục cơ sở khoa học và thực tiễn, với những nhà sư phạm đã được trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học và phẩm chất đạo đức
Trang 26Theo cách tiếp cận hệ thống, NT là một hệ thống xã hội với các thành tố sau đây:
- Thành tố con người bao gồm: trước hết là hai thành viên cơ bản là người dạy và người học, kế đó là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ, nhân viên giúp việc
- Thành tố vật chất của NT bao gồm: các cơ sở trường lớp, trang thiết bị
đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
- Thành tố ý thức, tinh thần: là toàn bộ tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã hội đã tích lũy, tái tạo được và phát triển trong NT thông qua hoạt động dạy và học, là hệ tư tưởng chỉ đạo, là quan điểm đường lối phát triển giáo dục, thể hiện ở đường lối chính sách giáo dục của Đảng và NN, là tinh thần nghề nghiệp, lương tâm nhà giáo
- Thành tố quá trình: là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của NT, tạo nên sự khác biệt của NT với các tổ chức khác trong XH, là quá trình sư phạm Tuy nhiên, còn có những quá trình thứ yếu, tuy không kém quan trọng khác thuộc về yếu tố quá trình của NT như quá trình xây dựng trường, lớp, quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực trong NT
QLNT thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi một NT Theo tác giả Phạm Minh
Hạc: “QLNT thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của minh, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo” [18, tr 17]
Trong QL và thực tiễn QLNT gồm hai loại tác đông quản lý: (1) tác động của những chủ thể QL bên ngoài NT nhằm định hướng cho NT, tạo điều kiện cho NT hoạt động và phát triển, (2) tác động của chính chủ thể bên trong
NT, hoạt động tổ chức của các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa NT đạt tới những mục tiêu đề ra
Tóm lại, QLNT là QLGD được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục NT, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo
Trang 27yêu cầu của xã hội Hiện nay, các nhà QLNT quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả, đó là các thành
tố trung tâm của quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật, sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trong NT
Mục tiêu QLNT: Nhằm đạt được chỉ tiêu cho mọi hoạt động của nhà
trường dự kiến trước khi triển khai công việc đó Mục tiêu QLNT được cụ thể hóa trong kế hoạch năm học của nhà trường
Đối tượng và khách thể trong QLNT:
- Chủ thể QLNT là Hiệu trưởng, có sự tham gia của các đoàn thể quần chúng đại diện cán bộ giảng viên và học sinh trong NT, lãnh đạo của tổ chức
cơ sở Đảng
- Đối tượng QLNT là đội ngũ giảng viên, sinh viên và cán bộ công nhân viên (CBCNV) với những hoạt động giảng dạy, học tập-rèn luyện của sinh viên và các hoạt động khác, cùng các phương tiện và điều kiện để thực hiện các hoạt động đó
- Khách thể trong QLNT là trạng thái hoạt động của NT, là mức độ ổn định và sự thực hiện điều lệ NT, mục tiêu và kế hoạch đào tạo của NT
Nguyên tắc quản lý nhà trường: Công tác QLNT phải thực hiện theo
những nguyên tắc sau đây:
- Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với toàn bộ công tác giáo dục trong nhà trường
- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo công việc của NT
- Đảm bảo nguyên tắc khoa học cao trong hoạt động quản lý
- Đảm bảo nguyên tắc thiết thực và cụ thể trong công tác quản lý, các công việc phải được thực hiện, hoàn thành có chất lượng và hiệu quả
1.2.4.4 Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học
Quản lý hoạt động đào tạo là hoạt động chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý của nhà trường Hoạt động đào tạo này có mối quan hệ tương tác, liên kết với các cơ sở đào tạo, các tổ chức nơi các sinh viên có điều kiện tham gia hoạt động
Trang 28Theo từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì biện pháp là
“cách làm, cách thức tiến hành” [tr.33]
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Như vậy biện pháp quản lý đào tạo là một hệ thống, cách thức người ta sử dụng để tiến hành các hoạt động quản lý nhằm tác động vào đối tượng quản lý để thực hiện nhiệm vụ quản lý và đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra Biện pháp quản lý hiệu quả phải phù hợp với nguyên tắc quản lý, trình độ phát triển của chủ thể quản lý cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hướng vào việc:
- Xây dựng chính sách huy động mọi nguồn lực, trí lực tham gia tích cực vào hệ thống đào tạo
- Xây dựng hệ thống đào tạo hoàn chỉnh, đa dạng sâu rộng và có cơ chế hoạt động tốt
- Đảm bảo quy trình đào tạo, bồi dưỡng có chất lượng đội ngũ giảng viên
- Xây dựng mục tiêu đào tạo phù hợp
- Tổ chức hệ thống nghiên cứu xây dựng chương trình khung
- Nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy Đảm bảo cho người học tham gia tích cực vào quá trình đào tạo, phương thức đào tạo thích hợp cho mọi đối tượng
- Đảm bảo phương tiện vật chất, thiết bị dạy học, thông tin khoa học đầy đủ, nhanh, kịp thời
- Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra
1.3 Quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của trường đại học
1.3.1 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của trường đại học
* Mục tiêu của Trường đại học
Trường Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh
Trang 29vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, chịu sự quản lý của Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở Theo Luật Giáo dục 2005, Trường đại học đào tào trình độ đại học và cao đẳng
Mục tiêu đào tạo của Trường đại học là “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân”
Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo
Mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng là “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng bảo vệ Tổ quốc”
Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thực chuyên môn và
kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
* Chức năng, nhiệm vụ của Trường đại học
Trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và mạng lưới các trường đại học của Nhà nước
- Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề nhà Trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành;
Trang 30- Tổ chức thi tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in ấn và cấp bằng theo quy định của Bộ GD&ĐT;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục;
- Hợp tác, liên kết với tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-
xã hội;
- Tham gia tuyển chọn và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao, chuyển nhượng kết quả hoạt động khoa học và công nghệ;
- Thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các mặt tổ chức, cán bộ và giáo dục tư tưởng chính trị trong cán bộ, giáo viên và học sinh;
- Bảo đảm an ninh chính trị và không ngừng nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho cán bộ, giáo viên và học sinh;
- Thực hiện và chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc pháp chế và thể lệ hiện hành của Nhà nước, đồng thời đảm bảo đầy đủ các yêu cầu báo cáo, chỉ thị đã được quy đinh
1.3.2 Những đặc điểm trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học
* Về đối tượng, điều kiện và thủ tục nhập học: Đối tượng trình độ cao đẳng hệ
vừa làm vừa học là những công dân có bằng tốt nghiệp PTTH hoặc tương đương, đã có thời gian công tác hoặc phục vụ tại địa phương hoặc tại các cơ quan, đơn vị từ 12 tháng trở lên tính đến ngày dự thi được UBND xã, phường
hoặc thủ trưởng cơ quan đơn vị xác nhận
* Thời gian, hình thức đào tạo: Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai
đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
Trang 31Khóa học có thể học tại cơ sở giáo dục hoặc cơ sở liên kết đào tạo, phù hợp với nhu cầu của học viên Vì đối tượng học viên hệ vừa làm vừa học phần lớn là những người vừa đi làm vừa đi học nên hình thức học linh hoạt, mềm dẻo Học viên có thể học ngoài giờ hành chính hoặc học tập trung theo kỳ, mỗi
kỳ từ 2.5 đến 3 tháng
* Chương trình đào tạo, văn bằng chứng chỉ
Đào tạo trình độ cao đẳng phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện
kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn
Cũng giống như chính quy, chương trình đào tạo của hệ vừa làm vừa học trình độ cao đẳng được xây dựng trên chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các văn bằng của các loại hình đào tạo ở cùng một bậc học phải đạt chuẩn tương đương, theo quy chế văn bằng hiện hành
Điều 2 trong Quy chế 36 đào tạo ĐH - CĐ theo hình thức VLVH nêu
rõ: “Chương trình đào tạo của nhà trường được xây dựng trên cơ sở chương trình hệ chính quy, nội dung chương trình phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung của chương trình chính quy cùng trình độ đào tạo”
* Chất lượng đào tạo: Do quản lý chất lượng đầu vào, quản lý trong quá trình
đào tạo có sự mềm dẻo, linh hoạt hơn, đầu ra cũng được quản lý mềm mỏng
hơn nên chất lượng thấp hơn so với hệ chính quy
* Nhiệm vụ và quyền hạn của người học
- Nhiệm vụ: Theo Điều 85 Luật GD 2005 người ho ̣c có nhiê ̣m vu ̣ sau:
1 Người học thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;
2 Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, cơ sở giáo dục khác, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện, thực hiện nội quy, điều lệ nhà trường, chấp hành pháp luật của Nhà nước;
3 Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe và năng lực;
Trang 324 Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;
5 Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường,
cơ sở giáo dục khác
- Quyền hạn: Theo Điều 86 Luật Giáo dục 2005 người học có quyền hạn sau:
1 Được nhà trường, cơ sở giáo dục khác tôn trọng và đối xử bình đẳng, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình;
2 Được học trước tuổi, học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian, học lưu ban;
3 Được cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo theo quy định;
4 Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác theo quy định của pháp luật;
5 Được sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hóa, thể dục, thể thao của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;
6 Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với nhà trường, cơ sở giáo dục khác các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người học;
7 Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt
Tóm lại, đào tạo hệ vừa làm vừa học thuộc phương thức giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là hình thức đào tạo giúp mọi người vừa làm vừa học nhưng muốn được kết hợp học tập để mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ hoặc những người không có khả năng tài chính, quỹ thời gian đặc biệt là vốn kiến thức để học hệ chính quy Chính vì thế đòi hỏi người học phải kiên trì, quyết tâm cao
để hoàn thành chương trình học tập của mình
Trang 331.3.3 Nội dung quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học
Hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học là chu trình khép kín Chúng ta có thể phân chia hoạt động này gồm 03 giai đoạn bao gồm các nội dung công việc: công tác tuyển sinh, quá trình đào tạo, và theo dõi sau đào tạo Quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học là quản lý các nội dung trên
1.3.3.1 Quản lý công tác tuyển sinh
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thi tuyển sinh hệ vừa làm
vừa học tổ chức 02 lần trong một năm (Điều 3 Thông tư số BGDĐT ngày 09 tháng 4 năm 20111 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
15/2011/TT-về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học ban hành kèm theo Quyết định số 62/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo được sửa đổi, bổ sung như sau “Hàng năm các trường có chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng hình thức VLVH chỉ tổ chức tuyển sinh 4 đợt, vào các tháng 3, tháng 4, tháng 10, tháng 11” Công tác tuyển sinh bao gồm các
hoạt động sau:
- Sau khi được giao chỉ tiêu, nhà trường tiến hành nghiên cứu, khảo sát nhu cầu thị trường, khảo sát cơ sở liên kết đào tạo, phân bổ chỉ tiêu, thông báo tuyển sinh tại cơ sở đào tạo và liên kết đào tạo;
- Lập Kế hoạch tuyển sinh;
- Tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh;
- Chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, nhân lực phục vụ công tác tuyển sinh;
- Thành lập Hội đồng tuyển sinh, Ban giúp việc Hội đồng tuyển sinh bao gồm Ban chỉ đạo thi, Ban Thư ký, Ban đề thi, Ban chấm thi, Ban coi thi, Ban cơ sở vật chất phục vụ thi tuyển sinh Nhiệm vụ và quyền hạn của HĐTS tổ chức thực hiện các khâu: chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho kỳ thi, ra đề thi, in sao, bảo quản đề thi, tổ chức kỳ thi, coi thi, chấm thi và phúc khảo, giải quyết thắc mắc và khiếu nại, tố cáo liên quan đến kỳ thi tuyển sinh…
Trang 34- Tổ chức thi tuyển sinh
- Chấm thi tuyển sinh, họp Hội đồng xét trúng tuyển, ban hành Quyết định trúng tuyển;
- Gửi giấy báo nhập học, đón tiếp học viên trúng tuyển
1.3.3.2 Quản lý quá trình đào tạo
Đây là nội dung chính, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý của NT, là quá trình kết hợp hoạt động của người dạy và người học nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người học do nhà trường tổ chức, chỉ đạo Đối tượng của quá trình đào tạo là nhân cách của người học, nhân cách vừa có tính chủ thể và tính khách thể
Quá trình đào tạo có thể được xem là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tố chính sau: mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện, kiểm tra đánh giá kết quả học tập, đánh giá chương trình đào tạo Quá trình đào tạo do nhà trường quản lý nhưng nó quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà sinh viên có điều kiện tham gia hoạt động
Nhiệm vụ của quá trình đào tạo là: dạy người, dạy nghề và dạy phương pháp với ba mục tiêu tương ứng, đó là: Thái độ, kiến thức và kỹ năng Trong thực tế, ba chức năng được thực hiện với mức độ ít nhiều khác nhau tùy theo tính chất và nội dung của từng giai đoạn trong quá trình đào tạo nhưng bao giờ cũng phải có sự quản lý và tổ chức thực hiện để đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí “Quản lý quá trình đào tạo có nhiệm vụ quản lý sự hoạt động của cán bộ, giảng viên, sinh viên…….Vì vậy, có thể xem quản lý quá trình đào tạo về thực chất là quản lý các hoạt động của giảng viên, sinh viên trong thực hiện kế hoạch hóa và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường” [30, tr.25]
Quản lý quá trình đào tạo là quản lý các thành tố sau: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, lực lượng đào tạo (người thầy), đối
Trang 35tượng đào tạo (học sinh), hình thức tổ chức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, quy chế đào tạo, bộ máy tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá
Như vậy quản lý quá trình đào tạo đòi hỏi các cán bộ quản lý nói chung, các bộ phận quản lý quá trình đào tạo nói riêng và giảng viên phải có sự hiểu biết đúng đắn và đầy đủ các vấn đề về bản chất nêu trên của quá trình đào tạo cũng như phải hiểu rõ cơ chế, các mối quan hệ cơ bản của quá trình đào tạo trong sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan tác động lên quá trình đó
Quá trình đào tạo bao gồm các nội dung công việc sau đây:
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo cho từng ngành học, khóa học Xây dựng thời khóa biểu giảng dạy, lịch học của học viên, lịch thi cho từng học kỳ và kê hoạch này sẽ được chuyển đến các khoa chuyên môn, phòng đào tạo và các cơ
sở giáo dục đào tạo liên kết
+ Quản lý việc thực hiện kế hoạch đào tạo Việc thực hiện kế hoạch đào tạo có sự tham gia phối hợp của các phòng chức năng, khoa chuyên môn
+ Quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên (quản lý phương pháp giảng dạy, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nội dung giảng dạy các học phần, thực hành, lý thuyết… )
+ Quản lý hoạt động học của học viên trong quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo (thái độ, tính chuyên cần của học viên, tính chủ động, sáng tạo,
tự nghiên cứu……của học viên khi thực hiện kế hoạch đào tạo)
+ Quản lý việc biên soạn tài liệu, giáo trình, học liệu, tài liệu tham khảo phục vụ đào tạo Hiệu trưởng có quyền chỉ định các khoa chuyên môn xây dựng, biên soạn tài liệu phục vụ học tập từng ngành học Tài liệu, giáo trình phải phù hợp với chương trình đào tạo, cập nhật, bổ sung kịp thời
+ Quản lý công tác thi, kiểm tra, đánh giá kết quả của học phần, học kỳ của mỗi ngành học, khóa học
+ Quản lý công tác hành chính giáo vụ: quản lý điểm, xét lên lớp, điều kiện học tiếp, thôi học… hàng năm, xét khen thưởng, xét tốt nghiệp, cấp văn bằng, bảng điểm cho học viên khi khóa đào tạo kết thúc
+ Quản lý cơ sở vật chất , phương tiện giảng dạy phục vụ đào tạo
Trang 361.3.3.3 Quản lý công tác sau đào tạo
Đây là công việc cuối cùng của hoạt động đào tạo nhưng không kém phần khó khăn, phức tạp đòi hỏi có sự phối kết hợp chặt chẽ, kiên trì, liên tục của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục liên kết đào tạo (đối với lớp liên kết đào tạo) và nhà sử dụng lao động Sự phối kết hợp đó giúp nhà trường thu thập được đầy đủ thông tin và chính xác, bổ sung, điều chính những bất cập, hạn chế trong công tác quản lý hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của người học và yêu cầu ngày càng cao của xã hội, duy trì thương hiệu nhà trường trong giai đoạn cạnh tranh và trong điều kiện hội nhập giáo dục khu vực và quốc tế
+ Thường xuyên theo dõi việc sử dụng các sản phẩm đào tạo của nhà trường, số học viên sau khi tốt nghiệp tìm được việc làm, số học viên sử dụng đúng chuyên môn đào tạo, khác chuyên môn đào tạo, số học viên đang công tác sau khi đi học, mức độ được đề bạt, kết quả công việc sau khi hoàn thành khóa học
+ Tiến hành phát phiếu thăm dò, đánh giá, lấy ý kiến học viên đã và đang làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp… cũng như các cơ quan đang sử dụng cán bộ về chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp quản lý, phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, cơ sở vật chất, giáo trình, tài liệu, kiểm tra, đánh giá… và các dịch vụ cần thiết sau đào tạo
+ Tạo cầu nối thông tin giữa nhà trường với học viên và giữa học viên với nhà trường
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học ở trường đại học
Giáo dục không phải là một ốc đảo, nó chịu sự tác động không chỉ của những yếu tố diễn ra trong nó mà còn chịu sự tác động của các xu thế trong xã hội Các xu thế đó đều tao ra một sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Ở nước ta, xã hội hóa giáo dục đã mang lại cơ hội học tập ở nhiều bậc học cho mọi đối tượng phù hợp với năng
Trang 37lực, nhu cầu của họ Đặc biệt đối với loại hình đào tạo hệ vừa làm vừa học, ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nó còn đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn cho những người đang làm việc hoặc không có điều kiện để theo học các trường cao đẳng, đại học hệ chính quy nhưng vẫn có nhu cầu học tập nhằm đáp ứng với nhu cầu công việc của cơ quan, đơn vị giao Cũng chính xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện cho các trường đại học, cao đẳng mở ra nhiều phương thức đào tạo mới, nhiều loại hình liên kết đào tạo khác nhau, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong giáo dục
Để nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng đào tạo của nhà trường, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đóng một vai trò quan trong và quyết định Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ giảng viên của nhà trường tuổi đời và tuổi nghề còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm nên đây cũng là một hạn chế đối với đối tượng hệ VLVH
Nội dung chương trình và tài liệu giảng dạy cho hệ đào tạo vừa làm vừa học còn thiếu thốn, chưa cập nhật thông tin kịp thời Chương trình đào tạo dựa hoàn toàn vào chương trình của hệ chính quy, chưa có chỉnh sửa, bổ sung để phù hợp với đối tượng vừa làm vừa học Hàng năm, nhà trường đã tổ chức biên soạn lại giáo trình nhưng chất lượng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn ngày càng cao về chất lượng, đa dạng về ngành nghề đào tạo
Phương pháp giáo dục hệ VLVH chưa phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng bồi dưỡng năng lực tự học
Cấu trúc chương trình, giáo trình giảng dạy và học tập chưa thực sự mềm dẻo, chưa chú trọng đến nhu cầu của người học
Cơ sở vật chất là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo Trang thiết bị đào tạo giúp cho sinh viên có điều kiện thực hành để hoàn chỉnh kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với sự phát triển của khoa học kỹ thuật bao nhiêu thì người học có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với thực tiễn công việc được đảm nhiệm trong đơn vị bấy nhiêu Tuy nhiên cơ sở
Trang 38vật chất, phương tiện dạy học của nhà Trường còn thiếu hụt, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra đặc biệt là trang thiết bị để học viên học thực hành nghề nghiệp
Tính năng động, sáng tạo của bộ phận quản lý còn hạn chế, chưa nắm bắt kịp thời yêu cầu phát triển của thị trường và xã hội để chủ động trong công việc mở rộng các ngành nghề đào tạo cho hệ vừa làm vừa học
Quản lý đối với hệ vừa làm vừa học còn nương nhẹ, lỏng lẻo Một số giảng viên còn sự phân biệt sinh viên hệ chính quy và học viên hệ vừa làm vừa học
Việc nghiên cứu, ứng dụng công nghẹ thông tin trong dạy học, trong công tác quản lý còn chậm
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Tiền thân là Trươ ̀ ng Trung cấp Văn thư Lưu trữ và Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội)
Ngày 14/11/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số TTg về việc thành lập Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội Trụ sở chính của Trường đặt tại địa chỉ số
2016/QĐ-36 đường Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội Ngoài
ra, Trường còn 2 cơ sở đào tạo đặt tại thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh
Nhìn lại chặng đường 40 năm hình thành và phát triển của nhà Trường, mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức phía trước nhưng các thế hệ giảng viên, cán bộ, công chức, viên chức có quyền tự hào với bề dày thành tích của
Trang 40nhà Trường: Huân chương độc lập hạng Ba (năm 2011), Huân chương Lao động của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam (hạng Nhất năm 2006, hạng Nhì năm 2001, hạ Ba năm 1996), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và nhiều danh hiệu cao quý khác (Huân chương Tự
do hạng nhất của Chủ tịch nước CHDCND Lào năm 1983, Huy chương Hữu nghị của Chính phủ nước CHDCND Lào năm 2007)
Tính đến nă m học 2012, tổng số sinh viên , học sinh các bâ ̣c , loại hình đã và đang ho ̣c tâ ̣p ta ̣i Trường là 43.606 người trong đó:
- Đào ta ̣o bâ ̣c cao đẳng: 3.200 người
- Đào ta ̣o bâ ̣c trung cấp: 22.628 người
- Đào ta ̣o nghề chính quy: 4.221 người
- Các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ: 13.486 ngườ i
2.1.2 Mục tiêu, đối tượng đào tạo của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Mục tiêu: Trường Đại học Nội vụ Hà Nội có mục tiêu trở thành trung
tâm đào ta ̣o , bồi dưỡng nhân lực nhiều trình độ: sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học, cung cấp và chuyển giao sản phẩm khoa học công nghệ và đào tạo có chất lượng cao, đào tạo nghiệp vụ và bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức cho ngành Nội vụ đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần cung cấp nguồn nhân lực phát triển kinh tế,
xã hội cho đất nước
- Đối tượng: Là công dân Việt Nam và người nước ngoài có đủ quyền công dân nằm trong quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhu cầu học các chuyên ngành của nhà Trường
2.1.3 Quy mô và ngành nghề đào tạo cu ̉ a nhà Trường
Kể từ khi thành lập cho đến nay, quy mô đào tạo của Trường đã tăng lên đáng kể Nhà trường đã phát huy truyền thống và năng lực đào tạo để tổ chức đa ngành với các hình thức đào tạo chính quy và không chính quy Hàng năm, nhà Trường đã tuyển sinh khoảng gần 3.000 sinh viên hệ chính quy các chuyên ngành và khoảng 1.500 học viên hệ vừa làm vừa học