1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh quảng ngãi

205 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh quảng ngãi

Trang 1

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH

1 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS ĐOÀN NGỌC KHÔI

2 CÁC CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN CHÍNH

1 TS Nguyễn Diên Xướng Trường Đại học Phạm Văn Đồng

2 CN Phan Đình Độ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI VÀ CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CHÂN THÀNH CÁM ƠN CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI: SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUẢNG NGÃI, CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: LIÊN HIÊP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT ĐÃ TẬN TÌNH TẠO ĐIỀU KIỆN CHO CHÚNG TÔI THỰC HIỆN HOÀN THÀNH ĐỀ TÀI NÀY CÁM ƠN SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH, CÁM ƠN CÁC CƠ QUAN VÀ CÁ NHÂN TẠI ĐỊA BÀN KHẢO SÁT ĐÃ GIÚP ĐỠ CUNG CẤP TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

Trang 4

I Những vấn đề chung về tri thức bản địa tr.8

II Tầm quan trọng của tri thức bản địa tr.14III Tình hình nghiên cứu và áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn tr.15

I Tri thức bản địa trong nông nghiệp lúa rẫy tr.22

II Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước tr.29

1 Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng tr.29

2 Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước ở miền núi tr.38III Tri thức bản địa trong trồng trọt khai thác các loại cây đặc trưng tr.44

1 Tri thức bản địa trong trồng trọt khai thác cây dầu rái tr.44

2 Tri thức bản địa trong trồng trọt chăm sóc thu hoạch cây tỏi, hành tr.51

3 Tri thức bản địa trong trồng trọt thu hoạch cây chè tr.60

4 Tri thức bản địa trong trồng trọt khai thác cây quế tr.66

I Tri thức bản địa trong kỹ thuật sản xuất chế biến đường muỗng tr.73

II Tri thức bản địa trong kỹ thuật làm gốm men và gốm mộc tr.88III Tri thức bản địa trong kỹ thuật rèn đúc kim loại đồng, sắt tr.96

Trang 5

IV Tri thức bản địa trong kỹ thuật dệt vải ở người Hrê và dệt chiếu ở người

CHƯƠNG IV TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

I Tri thức bản địa trong xây dựng quản lý khai thác thuỷ lợi miền núi tr.125

II Tri thức bản địa trong xây dựng quản lý khai thác thuỷ lợi vùng đồng bằng tr.135III Tri thức bản địa trong quản lý khai thác rừng cấm ở đồng bằng tr.156

IV Tri thức bản địa trong quản lý khai thác rừng ở miền núi tr.163

CHƯƠNG V GIÁ TRỊ TRI THỨC BẢN ĐỊA – HƯỚNG BẢO TỒN PHÁT HUY

I Vai trò vị trí của tri thức bản địa tr.175

II Giá trị tri thức bản địa – hướng bảo tồn phát huy tr.178

1 Giá trị tri thức bản địa trong trồng trọt lúa nước tr.178

2 Giá trị tri thức bản địa trong trồng trọt lúa rẫy tr.182

3 Giá trị tri thức bản địa trong một số cây trồng đặc trưng tr.184

4 Giá trị tri thức bản địa trong một số nghề thủ công tr.188

5 Giá trị tri thức bản địa trong xây dựng và khai thác thủy lợi tr.190

6 Giá trị tri thức bản địa trong khai thác rừng tr.192

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN tr.201

Trang 6

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Tính cấp thiết của đề tài: Trong giai đoạn hiện nay vấn đề đặt ra để phát

triển bền vững luôn cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa trithức bản địa của cộng đồng và tri thức khoa học Tri thức bản địa đã và đang gópphần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng, do đó cần thiết phải nghiêncứu bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa Hiện nay Quảng Ngãi là tỉnh đangphát triển mạnh mẽ về kinh tế đương nhiên các chương trình phát triển, các chínhsách dự án luôn có sự tác động đến mọi mặt đời sống xã hội do đó cần phải nghiêncứu tri thức bản địa của cộng đồng mà các kết quả nghiên cứu góp phần vào việc pháttriển bền vững, ổn định đời sống cộng đồng

2 Mục tiêu của đề tài: Mục tiêu đề tài được xác định với hai vấn đề cơ bản:

- Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa của tỉnh Quảng Ngãi đã có trongquá khứ, tiếp diễn trong hiện tại và đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị vai trò quantrọng trong đời sống cộng đồng

-Xây dựng các giải pháp bảo tồn giá trị tri thức bản địa; phát huy giá trị trị thứcbản địa vào thực tiễn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi

3 Kết quả chính đã đạt được: Đề tài nghiên cứu các vấn đề sau: Tri thức bản

địa trong trồng lúa rẫy; trồng lúa nước; trồng trọt, khai thác cây quế; cây chè; câydầu rái; cây hành, tỏi Tri thức bản địa trong một số nghề thủ công như kỹ thuật nấuđường muỗng; kỹ thuật làm gốm đất nung và gốm men; kỹ thuật rèn đúc kim loạiđồng và sắt; kỹ thuật dệt vải và dệt chiếu Tri thức bản địa trong xây dựng, quản lý vàkhai thác thuỷ lợi ở miền núi và đồng bằng, trong xây dựng, quản lý, khai thác rừngcấm ở đồng bằng, rừng cộng đồng ở miền núi Kết quả đạt được của đề tài đã làm rõcác đặc trưng, giá trị tri thức bản địa của các vấn đề nghiên cứu Đồng thời đề xuấtcác giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị tri thức bản địa

Đề tài khuyến nghị: Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia có thể giúpích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém Các dự án,chương trình du nhập áp dụng vào cộng đồng cần phải có những nghiên cứu đánh giácác tác động đối với cộng đồng, áp dụng phù hợp với tri thức bản địa của cộng đồngkhông gây bất ổn, đem lại kết quả tốt cho sự phát triển bền vững của cộng đồng

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

Tri thức bản địa có thể hiểu một cách chung nhất đó là kết quả của sự chọn lọc,nghiệm suy khi con người tiếp xúc với môi trường xung quanh từ đó hình thànhnhững phương thức ứng xử thích hợp Tri thức bản địa nẩy sinh ngay trong hoạt độngsản xuất, thường xuyên được kiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọctrong quá trình vận động của cuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường củacác cộng đồng người Nghiên cứu tri thức bản địa là nghiên cứu hệ thống các tri thứcđặc trưng của các cộng đồng người địa phương liên quan đến cái cách cộng đồng nàyquan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh

Đề tài “Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn

và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi” là đề tài hoàntoàn mới, lần đầu đặt vấn đề nghiên cứu và bảo tồn giá trị tri thức bản địa trong trồngtrọt, nghề thủ công và quản lý khai thác tài nguyên rừng, nước ở Quảng Ngãi

Đề tài thực hiện công tác nghiên cứu điền dã điều tra phỏng vấn ghi chép tạihiện trường Đồng thời tham khảo hàng loạt tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiêncứu để phân tích đối chiếu, hoàn thành việc biên soạn

Đặc biệt đề tài tổ chức thành công cuộc hội thảo khoa học về tri thức bản địavới sự có mặt của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tri thức bản địa.Cuộc hội thảo đã bổ sung thêm nhận thức mới cho nội dung nhiên cứu của đề tài

Đề tài tập hợp cộng tác viên bao gồm những người có tâm huyết, có bề dàykinh nghiệm nghiên cứu trong các lĩnh vực văn hóa – xã hội; cùng các nghệ nhân trựctiếp cung cấp tài liệu, thực hành các thao tác kỹ thuật công nghệ bản địa

Đề tài có sự góp ý của các giáo sư, chuyên gia đầu ngành tại Hà Nội

Xin trân trọng cám ơn

Trang 8

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRI THỨC BẢN ĐỊA

I Những vấn đề chung về tri thức bản địa

1 Các quan điểm nghiên cứu tri thức bản địa Tri thức bản địa (Indigenuos

Knowledge) được coi trọng và đặc biệt nghiên cứu vào thập kỷ 80 trở đi Cho tới nay,khái niệm tri thức bản địa hay tri thức truyền thống vẫn được định nghĩa theo nhiềucách khác nhau, tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn hay theo các mục đích sửdụng Mặc dù sử dụng các tên gọi khác nhau nhưng đối tượng tri thức bản địa đượcnghiên cứu luôn là một hệ thống các tri thức đặc hữu của cộng đồng người địaphương liên quan đến cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xungquanh

Theo định nghĩa chung của tổ chức UNESCO, thuật ngữ tri thức bản địa

(indigenous knowledge) hay tri thức địa phương (local knowledge) dùng để chỉ những thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên Đó là một phần của tổng hoà văn hoá, tập hợp những hiểu biết tri thức bao gồm hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các hoạt động sản xuất, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan Những tri thức này là cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như săn bắn, hái lượm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lương thực, nước, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường và xã hội Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi được ghi chép lại.

Song song với thuật ngữ tri thức bản địa (IK) có thuật ngữ “tri thức chínhthống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớndựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương Tây, đó là những kiến thức chuẩn vì nóđược xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ

sở hạ tầng kỹ thuật Trong khi đó tri thức bản địa được truyền miệng từ thế hệ này quathế hệ khác rất hiếm khi được chép lại cẩn thận

Như vậy đặc trưng cơ bản nhất của tri thức bản địa là tính đặc hữu, nó là hệ

Trang 9

thống tri thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ thể, đượctồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất định (R.Chambers, M.Warren,1992)

Xác định về thời gian và không gian thì tri thức bản địa là hệ thống tri thức tồntại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với sự đónggóp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993) Như vậy ở đây có ba yếu

tố góp phần hình thành nên tri thức bản địa đó là môi trường địa lý xác định, trongthời điểm không gian nhất định và là của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể đónggóp nên Hay nói một cách khác, tri thức bản địa hình thành trong điều kiện khônggian thời gian nhất định với sự đóng góp của một cộng đồng tại khu vực cụ thể Trithức bản địa luôn được kế thừa và phát triển, bản chất của nó là một phức hệ nhữngkinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác, nó được hình thành trong thế ứng

xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống và nó chỉ tồntại trong môi trường cụ thể (Nguyễn Duy Thiệu, 1996)

Định nghĩa tri thức bản địa theo quan điểm tri thức kỹ thuật bản địa là Hệ

thống tri thức bản địa là bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệ hiện tồn tại và phát triển trong một phạm vi nhất định mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phương trong vùng địa lý nhất định Hệ thống tri thức bản địa của một dân tộc được trao truyền trong cộng đồng trải qua thử thách thời gian và vẫn duy trì phát triển (CEFIKS) Như vậy trong cách tiếp cận này, tri thức bản địa được xem xét trên

cơ sở hệ thống tri thức kỹ thuật bản địa bao gồm tổ hợp tri thức, kỹ năng, công nghệhiện tồn tại Các tổ hợp này được xem là bản địa khi nó tồn tại, phát triển trong mộtphạm vi nhất định và nó mang tính đặc hữu của một dân tộc, cộng đồng địa phươngtrong vùng địa lý nhất định Cách định nghĩa của CEFIKS sát thực đúng với bản chấtcủa tri thức bản địa và phù hợp với hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài Quá trìnhnghiên cứu đề tài sử dụng cách phân loại của E.Mathias về hệ thống tri thức bản địa

Trang 10

1- Các kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất đã được sàng lọc.

2- Niềm tin tín ngưỡng thần linh

3- Cách thức tổ chức sản xuất

4- Các thao tác kỹ thuật trong hoạt động sản xuất

5- Các loại công cụ sản xuất tương ứng

6- Quá trình vận động tiếp thu và thử nghiệm

Cách phân loại trên được đề tài áp dụng nghiên cứu trong phạm vi một số giátrị tri thức bản địa ở lĩnh vực sản xuất (nông nghiệp trồng trọt, nghề thủ công) và hoạtđộng quản lý khai thác tài nguyên Tuy nhiên trên quan điểm hệ thống, tri thức bảnđịa luôn nhấn mạnh đến tính tổng thể, tất cả các thành phần trong hệ thống đều có mốiquan hệ ràng buộc lẫn nhau Do đó các vấn đề nghiên cứu của đề tài được đặt trongmột chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ lẫn nhau phản ánh được các đặc trưng và giátrị của nó

2 Đặc điểm của tri thức bản địa

Tri thức bản địa có đặc tính phân cấp độ thuộc lứa tuổi, giới tính và đặc điểmcủa nhóm xã hội Có những tri thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồnghiểu biết; có những tri thức bản địa tồn tại theo gia đình, dòng họ chỉ phạm vi một sốngười hiểu biết; lại có những tri thức chuyên nghiệp – chuyên biệt, chỉ có ở một số ítngười mang tính đặc thù, ví dụ: bà mụ đỡ đẻ, thợ phác ghè làm gốm, thợ rà che nấuđường muỗng…

Tri thức bản địa được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trongcộng đồng được hoàn thiện củng cố dần và truyền lại cho thế hệ sau bằng truyềnkhẩu, bằng các bài hát, ngôn ngữ, luật tục, (G.Broding và M.Schonberger, 2000) Đểphân tích các đặc trưng của tri thức bản địa, G.Broding và M Schonberger đã lậpbảng so sánh tri thức bản địa với tri thức hàn lâm (Academic knowledge) vốn dĩ của

Trang 11

giới khoa học tồn tại ở các viện nghiên cứu, trường đại học Bảng so sánh tri thức bảnđịa và tri thức hàn lâm như sau:

Tri thức bản địa Tri thức hàn lâm

Học qua quan sát và thực hành Học qua lý thuyết được ứng dụngTiếp cận tổng thể hay hệ thống Tiếp cận đơn lẻ bộ phận

Kiểu suy nghĩa trực giác Lý luận phân tích và quy nạp

Chủ yếu định tính Chủ yếu định lượng

Dữ liệu do người lao động làm

Dùng ngôn ngữ đương đại

Môi trường như một bộ phận của

những mối quan hệ xã hội – thần linh

Quản lý môi trường có tổ chức, cóthứ bậc, ngăn nắp

Dựa trên những kinh nghiệm

Các đặc tính cơ bản của tri thức bản địa bao gồm:

- Tính hệ thống là đặc tính cơ bản của tri thức bản địa, khả năng bao hàm rộnglớn ở nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản lý sâu

Trang 12

(thực vật học, kỹ thuật chăn nuôi); chăm sóc sức khoẻ con người (bằng các phươngthuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên … nên việc nghiêncứu tri thức bản địa phải xem xét trong mối liên quan tổng thể trong cộng đồng, cácvấn đề đều có mối liên quan

- Tính tiếp biến và tích hợp, luôn vận động thích ứng với hoàn cảnh môi trường

là đặc tính quan trọng của tri thức bản địa Chính đặc tính này khiến cho tri thức bảnđịa luôn tồn tại và phát triển trong mọi hoàn cảnh

- Tính đồng quy cũng là một đặc tính của tri thức bản địa, hầu hết đó là sự đồngquy về kỹ thuật bản địa, do đó đôi khi rất khó xác định một kỹ thuật hoặc một phươngpháp là bản địa; nó được nhập từ bên ngoài, hay đó là một sự kết hợp giữa các yếu tốđịa phương và kiến thức được đưa đến địa phương đó

Tri thức bản địa được hình thành trong hoạt động sống, thường xuyên đượckiểm nghiệm qua quá trình sử dụng, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động củacuộc sống để ngày càng thích nghi với môi trường của các cộng đồng người Nhìnchung tri thức bản địa có một số đặc điểm sau:

1- Đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định

2- Dựa trên những kinh nghiệm được tích lũy, kế thừa từ đời này qua đời khácqua những kênh thông tin thầm lặng

3- Có quá trình nghiệm sinh (vận động thử nghiệm, tích luỹ và hoàn thiện theothời gian trong hoạt động sống của con người) Phù hợp với môi trường, văn hóa từngvùng, từng cộng đồng, tộc người

4- Vận động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới.6- Tri thức bản địa được giữ trong ký ức và trong hoạt động sản xuất của ngườidân và được trao lại cho thế hệ sau bằng phương pháp giáo dục truyền nghề dân gian

Tri thức bản địa được chia sẻ và truyền bá thông qua ngôn ngữ nói, bằng các ví

Trang 13

dụ cụ thể và thông qua luật tục, tập quán, văn hoá của cộng đồng Các hình thức giaotiếp và tổ chức của cộng đồng có ý nghĩa sống còn đối với các quá trình ra quyết định

ở cấp độ địa phương; có ý nghĩa sống còn đối với việc bảo tồn, phát triển và phổ biếncác tri thức bản địa (Hà Hữu Nga,2009)

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

1 Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa của tỉnh Quảng Ngãi, đó là tri thứcbản địa của địa phương đã có trong quá khứ, tiếp diễn trong hiện tại và giữ vai tròquan trọng trong đời sống cộng đồng

2 Xây dựng các giải pháp bảo tồn một số giá trị tri thức bản địa của địaphương Phát huy giá trị tri thức bản địa, áp dụng vào thực tiễn góp phần phát triểnkinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi

Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Về phương pháp luận trong quan điểm

nghiên cứu đề tài dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và các nghị quyết đường lối của Đảng về sự kế thừa và phát triển giữa truyền thống vàhiện đại Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Vận dụng các phương pháp nghiên cứuchuyên ngành và liên ngành của các ngành Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học, Vănhoá học, Xã hội học, Kinh tế học để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Để thu thập tài liệu,

đề tài sử dụng phương pháp điền dã tại hiện trường, bao gồm các tác nghiệp sau:

+ Điều tra thu thập tài liệu, số liệu

+ Phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm

+ Quan sát mô tả hiện trường

+ Chọn lựa địa điểm nghiên cứu và mẫu điển hình

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, tổng hợp, phươngpháp loại hình học để xử lý tư liệu và khái quát đặc trưng bản chất vấn đề Trongphạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu các tri thức bản địa ở địaphương Quảng Ngãi, các tri thức bản địa đó đã có trong quá khứ và tiếp diễn tronghiện tại; và một số tri thức bản địa tuy mất đi có vai trò trong đời sống văn hóa Quảng

Trang 14

trong chế biến đường muỗng Đây là những dạng tri thức bản địa đã tạo nên một phầndiện mạo văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi

II Tầm quan trọng của tri thức bản địa

Tri thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã hộitruyền thống Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội khép kín với nền kinh tế tự cung

tự cấp của đa số tộc người ở Việt Nam, đó còn là cơ sở duy nhất Một thời gian dài, trithức bản địa đã không được đánh giá đúng với những giá trị mà nó chứa đựng Ởnhiều nơi, người ta đã coi đó là biểu hiện của sự trì trệ, lạc hậu và phản khoa học.Ngày nay, giá trị và vai trò của tri thức bản địa đã được đánh giá khách quan hơn Cáchọc giả, những nhà hoạch định chính sách và những người đang hoạt động trên lĩnhvực phát triển đã thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức bản địa và khoa học; thừa nhậntính hợp lý của kiến thức bản địa đối với hệ thống giáo dục cũng như các vấn đề pháttriển Hệ thống tri thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việcgiải quyết các vấn đề của địa phương

Tri thức bản địa đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việcquản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về thực vật - dân tộc học hiện đại

Cụ thể là tri thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm được những vấn đề về đadạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên Tri thức bản địa cũng đóng góp vào khoa họcnhững hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và giúp các nhàkhoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nương làm rẫy, nôngnghiệp sinh thái - nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai vànhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp Một số kiến thức bản địa đã được ứngdụng vào trong các dự án về hợp tác phát triển (Lê Trọng Cúc, 1999)

Nhìn chung việc phát triển các hệ thống tri thức bản địa có ý nghĩa sống cònđối với cộng đồng địa phương đã sáng tạo ra nó Các hệ thống tri thức bản địa cũngkhông ngừng biến đổi, tri thức mới liên tục được bổ sung, không ngừng được đổi mới

Trang 15

từ bên trong và các kinh nghiệm, tri thức học hỏi được từ bên ngoài, không ngừngđược nội tại hoá, được sử dụng, thích ứng với điều kiện địa phương

III Tình hình nghiên cứu và áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn

1 Tình hình nghiên cứu về tri thức bản địa

Tình hình nghiên cứu chung về tri thức bản địa ở Việt Nam trong những thậpniên 90 trở đi, số lượng các công trình nghiên cứu về tri thức bản địa không nhiều

Các công trình nghiên cứu tri thức bản địa vùng núi phải kể đến tác phẩm:

“Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyênthiên nhiên” của Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc đề cập đến các giống lúa chịu hạn ítbệnh, năng suất ổn định của người Thái (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc, 1998)

Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình trong bài viết “Các dân tộc thiểu số vàviệc quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam” đề cập đến nguyên tắcquản lý khai thác rừng hài hoà với phương pháp canh tác rẫy luân canh bảo vệ rừngcủa đồng bào thiểu số Tây Nguyên (Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình, 1996)

Trong bài viết “Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Một trong những giá trị nổi bật của các dân tộc thiểu số

là những tri thức bản địa của nhân dân về quản lý và khai thác tài nguyên thiên nhiên,

ở đó con người và tự nhiên gắn bó hữu cơ, con người là một bộ phận không thể tác rời

tự nhiên Luật tục với những tri thức bản địa về môi trường và cách thức quản lý, khaithác các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ nguyên giá trị tích cực của nó (NgôĐức Thịnh, 1999)

Tình hình nghiên cứu về tri thức bản địa ở Quảng Ngãi trước đây chưa thật sự

rõ nét bằng những công trình, tác phẩm cụ thể, đâu đó trong các tài liệu cũng được đề

Trang 16

thức bản địa của con người và vùng đất Quảng Ngãi hầu như đến nay vẫn có tính chấtriêng lẻ, không mang tính hệ thống, phương pháp tiếp cận sử dụng chủ yếu là mô tảkhông đi vào bản chất cốt lõi thực sự của tri thức bản địa

Năm 1925, trên tạp chí B.A.V.H đã đăng bài viết “La Province de Quang Ngai”của LaBorde giới thiệu sơ lược về lịch sử - văn hoá – con người Quảng Ngãi Đặc biệttrong B.A.V.H số 2 năm 1926 đã đăng bài chuyên khảo “Industrie Anamite: LesNoria du Quảng Ngai” của P Guillenminet, tác giả khảo cứu về bờ xe nước QuảngNgãi trên sông Vệ, sông Trà; về kỹ thuật làm bờ xe nước, tổ chức của thợ xe và phânchia nguồn lực từ bờ xe nước, hoạt động tín ngưỡng liên quan đến bờ xe nước, sosánh các nơi P Guillenminet cho rằng hệ thống bờ xe nước Quảng Ngãi có nguồn gốc

từ Nam Trung Hoa du nhập vào Quảng Ngãi bởi các nhân vật Mụ Diệm, Lão Thêm ởvùng sông Lại Giang (Bình Định) Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất

về guồng quay nước ở Quảng Ngãi và các nơi khác từ trước tới nay

Các công trình địa chí khảo cứu về vùng đất như: Quảng Ngãi tỉnh chí củaNguyễn Bá Trác và các tác giả (1935) đăng trên Nam Phong Tạp Chí Đây là tácphẩm khảo cứu về địa dư, lịch sử, con người và phong tục của tỉnh Quảng Ngãi, trong

đó đã đề cập đến một số tri thức bản địa về nghề chế biến đường, xây dựng các bờ xenước, giao lưu thương mại qua các cửa biển Tiếp theo sau đó là tác phẩm Non nước

Xứ Quảng (1974) của Phạm Trung Việt Đây cũng là tác phẩm khảo cứu về vùng đấtQuảng Ngãi nhưng nặng về lĩnh vực văn hoá văn nghệ Tác phẩm “Quảng Ngãi: Đấtnước – Con người – Văn hoá (1997) do Hồng Nhân (chủ biên) cùng tập thể tác giả.Đây là công trình khảo cứu về vùng đất Quảng Ngãi nhưng khuynh hướng tác phẩm

đi sâu vào lĩnh vực văn hoá và nhân vật Tác phẩm “ Điạ chí Quảng Ngãi” là côngtrình khoa học đồ sộ mang tính khảo cứu các lĩnh vực địa lý tự nhiên, hành chính, lịch

sử - văn hóa, kinh tế-xã hội… là công trình xuất bản lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi từtrước đến nay

Trang 17

Công trình nghiên cứu về “ Nhà ở dân gian và nghề dệt của người Hrê” NguyễnNgọc Trạch (chủ biên) tác giả đã nghiên cứu về tri thức dân gian kiến trúc nhà sàn vànghề dệt vải truyền thống của nhóm Hrê ở vùng sông Liêng Tác phẩm liên quan đếnlĩnh vực nghiên cứu của đề tài như: “Nghề thủ công cổ truyền ở Quảng Ngãi” đã đềcập đến hoạt động nghề thủ công truyền thống Quảng Ngãi

Một tác phẩm khác là Hương ước Quảng Ngãi do Vũ Ngọc Khánh – Lê HồngKhánh (sưu tầm – biên soạn), trong đó sưu tầm giới thiệu các văn bản hương ướcphần lớn viết vào thập niên 30, 40 và ít có tài liệu gốc bằng chữ Hán.Nội dung tácphẩm giới thiệu không thật đầy đủ về hương ước các làng xã Quảng Ngãi nhưng dùsao tài liệu này cũng đã cung cấp các bằng chứng quy ước của tổ chức cộng đồng làng

ở Quảng Ngãi xưa

Tác phẩm “Văn hoá truyền thống đảo Lý Sơn” (1999) do Đoàn Ngọc Khôi (chủbiên) nghiên cứu về văn hoá vật thể và phi vật thể ở Lý Sơn, trong đó đề cập đến trithức bản địa tổ chức nên cộng đồng Làng và Vạn, các hoạt động kinh tế - văn hoátruyền thống phản ảnh đặc trưng văn hoá của người Việt ở đảo

Tác phẩm “Quảng Ngãi - Truyền thống và hiện đại” (2005), là kỷ yếu hội thảotập hợp các bài viết về lịch sử, nhân vật, văn hoá Quảng Ngãi

Như vậy từ trước đến nay ở Quảng Ngãi chưa có đề tài nào đi vào nghiên cứu

cụ thể, chuyên sâu về tri thức bản địa

2 Áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn

Tri thức bản địa của dân tộc bản địa hay của cộng đồng địa phương là kết quả

từ sự tương tác của các cư dân với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống Có những yếu

tố thích ứng với môi trường văn hoá – xã hội và môi trường kinh tế, có những yếu tốkhông thích ứng và trở thành yếu tố cản trở quá trình hội nhập vào môi trường mới

Trang 18

của các nhóm cư dân Do đó những yếu tố thích ứng phù hợp cho sự phát triển củacộng đồng được giữ gìn phát huy, ngược lại những yếu tố tiêu cực dần dần bị cộngđồng loại bỏ theo thời gian Đây là quy luật phát triển và đào thải.

Trong quá trình vận hành của kinh tế thị trường, sự phát triển nóng kém bềnvững đã có những tác động lớn đối với sự tồn tại và biến mất của tri thức bản địa ởmột số nơi, một số lĩnh vực Ví như hiện nay các tri thức bản địa trong nghề thủ côngnhư làm đường muỗng, làm gốm, dệt vải, chiếu… hầu như không đứng vững nổi cơnbão của thị trường bắt buộc những người làm nghề phải co lại về vốn, nhân lực, tạmchấp nhận theo kiểu gia công làm cầm chừng để giải quyết công lao động nông nhàn;các tri thức bản địa không có điều kiện tốt để phát triển và khuyếch trương trên thịtrường và từ đó tìm chỗ đứng của mình trong thị trường Các guồng xe nước trên sôngmột thời phục vụ đắc lực cho việc phát triển nông nghiệp trên các đồng ruộng khô dầnbiến mất thay thế vào đó là các hình thức thủy lợi khác tiện lợi hơn Nhìn chung việc

áp dụng tri thức bản địa vào phát triển kinh tế - xã hội cần phải biết chắt lọc các giá trịđích thực của tri thức bản địa nâng cao giá trị của nó vào môi trường mới, thích ứngvới cuộc sống hiện tại khi nền kinh tế đất nước thực sự phát triển theo cơ chế thịtrường Cần nhận thức khách quan xu hướng cơ bản là cộng đồng địa phương khôngthể bỏ tri thức bản địa vốn đã thích nghi vì những lý do: Tri thức bản địa vốn quenthuộc với người địa phương, vận dụng, duy trì rất dễ so với tri thức ngoại nhập; đồngthời tri thức bản địa hình thành ngay tại địa phương vì vậy khi sử dụng không tốnnhiều chi phí, không bị phụ thuộc như tri thức ngoại nhập; mặt khác niềm tin củacộng đồng giảm sút khi chứng kiến sự thất bại của tri thức ngoại nhập Tuy nhiên vốnbản chất của tri thức bản địa là sự tự thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh nên nó luôntiếp thu các giá trị tri thức du nhập từ bên ngoài để phát triển Có thể lấy hàng loạt ví

dụ về vấn đề này:

Ví dụ 1 Nghề dệt thổ cẩm Hrê sẵn sàng tiếp nhận nguồn nguyên liệu chỉ sợi đãnhuộm màu từ bên ngoài để thay thế cho kéo sợi từ bông truyền thống, nhưng họ đã

Trang 19

biết gìn giữ màu sắc hoa văn dệt, kỹ thuật dệt Do đó sản phẩm dệt và nghề dệt vẫngiữ nguyên bản sắc đặc trưng của người Hrê.

Ví dụ 2: Nghề gốm lâu đời ở Châu Ổ (Mỹ Thiện) để đảm bảo sản phẩm chiếmlĩnh được thị trường họ đã chủ động du nhập và phát triển các kiểu dáng sản phẩmphù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nhưng họ vẫn giữ các kỹ thuật làm gốm, cácdòng men, kỹ thuật lò nung truyền thống, như thế họ vẫn giữ được linh hồn của gốmChâu Ổ và đó đã trở thành thương hiệu Trong khi đó sau năm 1975, Hợp tác xã ở đây

đã du nhập nguyên xi kỹ thuật gốm men Hải Dương vào thay thế gốm truyền thốngChâu Ổ, những nghệ nhân ở đây đã tiếp nhận sự thay đổi này một cách xa lạ và hệquả sau đó là sự suy tàn của một làng nghề vốn phát triển từ lâu đời như nghề gốmChâu Ổ

Ví dụ 3 Người Hrê có kỹ thuật làm ruộng nước từ lâu đời ở vùng đồng bằngthung lũng hẹp ven chân núi dọc theo sông Họ vốn đã có những giống lúa ruộngtruyền thống vốn đã thích nghi với chân đất luôn có nước thường xuyên, không cầnphun thuốc trừ sâu hoặc bón lót phân hóa học Hiện nay khuyến nông muốn áp dụngcác giống mới vào cho năng suất cao hơn bằng cách làm thí điểm, tuy nhiên họ vẫnngần ngại không áp dụng, hoặc áp dụng một cách miễn cưỡng vì giống mới với kỹthuật chăm sóc mới quá phụ thuộc vào phân bón lót trong mỗi thời kỳ phát triển câylúa, luôn phải dùng thuốc trừ sâu điều đó có nghĩa là phải mất tiền, trong khi đó giốnglúa truyền thống rất khỏe kháng sâu bệnh tốt, người nông dân không bị phụ thuộc vàophân bón, thuốc trừ sâu từ bên ngoài Điều này cho thấy ở đồng bằng, lúa thu hoạchđược các đại lý thuốc trừ sâu, phân bón đã mua trước đó vì lý do cấn trừ thiếu chịu.Như vậy giải pháp duy nhất thích hợp ở đây là cần nghiên cứu kỹ lưỡng giống lúaruộng bản địa của người Hrê, du nhập vào đó là các kỹ thuật chăm sóc thích hợp đểnâng cao năng suất, không nên thay đổi và bỏ giống lúa truyền thống, như vậy cộngđồng địa phương ở đây dễ dàng tiếp thu tri thức ngoại nhập áp dụng phù hợp với tri

Trang 20

Từ ba ví dụ trên có thể nhận thấy rằng việc áp dụng tri thức khoa học chínhthống vào tri thức bản địa là công việc nghiêm túc cần nghiên cứu cẩn thận trước khiđưa vào cộng đồng, sao cho cộng đồng tiếp nhận và những tri thức ngoại nhập khôngphá vỡ đời sống ổn định của cộng đồng Do vậy tất cả các chương trình, dự án trướckhi áp dụng vào cộng đồng cần phải nghiên cứu tri thức bản địa vốn có của cộng đồngliên quan đến các chương trình, dự án đó nhằm đưa ra các giải pháp thích hợp Dướiđây là các giải pháp cụ thể để áp dụng tri thức bản địa vào thực tiễn phát triển kinh tế

- xã hội của cộng đồng

1 Cùng người dân địa phương xây dựng các mô hình phát triển ngay tại cộngđồng, lấy một số hộ gia đình tích cực làm nòng cốt phát triển Nêu cao tinh thần liênkết cộng đồng, khuyến khích tinh thần tự nguyện của các hộ khá giả trợ giúp các hộcòn đói nghèo thực hiện sản xuất theo phương thức mới, loại cây trồng mới có hiệuquả kinh tế cao Việc áp dụng các phương thức sản xuất mới phải phù hợp với môitrường sinh sống, với tri thức bản địa vốn có của cộng đồng mới đem lại hiệu quả.Đồng thời thông qua cộng đồng đúc rút kinh nghiệm sản xuất của địa phương Tậphuấn kiến thức sản xuất mới, vận động các hộ gia đình tự nguyện và tích cực làm thử.Sau đó đưa các hộ gia đình khác đến lắng nghe những hộ gia đình này tập huấn cáchthức sản xuất của họ

2 Tăng cường công tác phát triển tổ chức kinh tế của nông dân trong làng để

hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhóm dân cư chậm phát triển Có chínhsách cho vay ưu đãi về lãi suất để phát triển ngành nghề

3 Đổi mới phương thức chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua các vấn đề:

+ Các tài liệu (cách thức biên soạn dễ hiểu) đúc rút các kiến thức bản địa có tácdụng tốt đối với hoạt động sản xuất của các hộ để cho nhóm nòng cốt tuyên truyềnvận động và tập huấn cho cộng đồng

Trang 21

+ Đào tạo người nông dân nòng cốt trong cộng đồng trở thành những hướngdẫn viên khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm của cộng đồng Họ sẽ là lực lượngchính cho công tác chuyển giao kỹ thuật mới tại cộng đồng.

4 Bảo vệ bản quyền sở hữu tri thức bản địa khi đưa ra thị trường Đây là vấn đềquan trọng để bảo vệ bí quyết của các nghề thủ công Các cơ quan chuyên môn hướngdẫn người dân trong vấn đề đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và các bí quyết truyền nghề,các dạng tri thức bản địa khác

5 Có chính sách chế độ đãi ngộ cho các nghệ nhân trong công việc truyềnnghề Thực tế chúng ta chưa có chính sách cụ thể về vấn đề này, việc truyền nghềmang tính tự phát tự nguyện trong cộng đồng Đặc biệt có những nghề thủ công quantrọng đang có xu hướng biến mất thì việc đãi ngộ cho nghệ nhân truyền nghề là việclàm cần thiết

CHƯƠNG II MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG TRỒNG TRỌT

I Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng trọt lúa rẫy

Trang 22

Thư tịch cổ gọi kiểu canh tác nương rẫy là “đao canh hoả chủng”, tức là chặt cây phơi khô rồi đốt trước khi trồng Thuật ngữ canh tác nương rẫy được dùng để chỉ

các hệ canh tác liên quan đến việc con người khai phá từ đất rừng sau khi đã có sự lựachọn hợp lý và dùng các phương tiện như dao, rìu để chặt phát cây, phơi khô, đốt vàtrồng trọt bằng gậy chọc lỗ và trỉa lúa trên vùng đất khô với hệ giống lúa dài ngày cótính năng chịu hạn cao Hệ canh tác nương rẫy là hệ thống nông nghiệp cơ bản củavùng núi không những ở Việt Nam mà cả khu vực Đông Nam Á, nó đã tồn tại ở khuvực này hàng thiên niên kỷ qua nhưng cũng có có sự khác biệt về cây trồng, chu kỳcanh tác, bỏ hoá cũng như kỹ thuật thâm canh và xen canh giữa các khu vực khácnhau (Nikolas Arhem, Nguyễn Thị Thanh Bình, 2006)

Hệ canh tác là khái niệm dùng để chỉ bao gồm một tổ hợp cây trồng, được canhtác bởi các kỹ thuật nhất định, ở một vùng khí hậu nông nghiệp thổ nhưỡng đặc thù,trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định (Ngô Đức Thịnh, 2009) Hệ canh tácnương rẫy có hai dạng chính: nương rẫy du canh và nương rẫy luân canh Hình thứcnương rẫy du canh là một mảnh rẫy sau khi được phát trỉa, trồng trọt thu hoạch mộtvài vụ sẽ được bỏ hoá vĩnh viễn để tái sinh rừng Hình thức này chỉ có thể tồn tại cóhiệu quả ở những nơi có nhiều rừng già, dân cư thưa thớt và những người du canh gắnvới du cư thường xuyên di chuyển Hình thức nương rẫy du canh cũng tồn tại dướidạng không bền vững ở một số nơi mà người dân canh tác các mảnh rẫy trong vàinăm cho tới khi đất bị thoái hoá và bị bỏ mặc vĩnh viễn

Tuy nhiên ở vùng núi Quảng Ngãi không có hình thức nương rẫy du canh màchỉ có hình thức nương rẫy luân canh Phương thức luân canh là một chiến lược kiếmsống không tách rời nông nghiệp khỏi lâm nghiệp; tất cả mọi người dân địa phươngđều tham gia vào công việc quản lý và khai thác sản phẩm (Hà Hữu Nga, 2009) Hìnhthức canh tác nương rẫy luân canh rất phổ biến và đặc trưng của miền núi QuảngNgãi Nương rẫy luân canh là một khoảnh rừng được phát đốt vào đầu mùa hè trướckhi có những cơn mưa giông người ta canh chừng thời tiết khi đốt rẫy xong gặp mưa

để than tro quyện vào đất tạo độ màu mỡ cho hạt giống nảy mầm Những đám rẫy

Trang 23

được canh tác trồng trọt trong một vài năm, sau đó bỏ hoá theo các chu kỳ khác nhau

để mọc thành rừng tái sinh Trong hình thức luân canh, nương rẫy được xem như mộtdạng rừng tự nhiên được chuyển thành rẫy để có thể canh tác (Geertz, 1963)

Nương nghiệp rẫy canh tác theo hình thức luân canh luân khoảnh theo chu kỳkhép kín là phổ biến nhất, loại hình canh tác này ban đầu trồng trọt một vụ, sau có thể

sử dụng tiếp đến hai, ba vụ, rồi bỏ hoá nếu chu kỳ ngắn là từ 3 đến 5 năm, chu kỳ dài

là từ 10-12 năm mới canh tác lại Trong luân canh có khoảng thời gian đất nghỉ gọi làhưu canh, đó là thời gian bỏ hóa không trồng trọt để đất rẫy phục hồi lại độ màu vàthảm thực vật trên đó Kỹ thuật luân canh và hưu canh tồn tại trên nền tảng của một

hệ sinh thái tự túc, tức là trong quá trình trồng trọt, con người không lấy đi và cũngkhông bổ sung (chất mùn, phân bón, thuốc thực vật ) cái gì vào trong đất, mà để chochúng tự túc, tự sản, tự tiêu, tự tái sinh Do vậy, một mảnh nương rẫy trồng lúa và hoamàu sau một hay hai vụ, muốn để chúng tự sản, tự tiêu, tự tái sinh thì phải để mảnhđất đó hưu canh trong một thời gian nhất định (Ngô Đức Thịnh, 2009)

Tuy nhiên trước sức ép của sự bùng nổ dân số, đất đai bạc màu môi trường tànphá, thì nhu cầu đảm bảo nguồn lương thực để sống khiến cho gia đình và cộng đồngphải cần có nhiều mảnh đất rẫy để thực hiện chế độ luân canh hoặc rút ngắn thời gianluân canh để có đất trồng trọt Thông thường do địa hình vùng núi hiểm trở đi lại khókhăn, bán kính hoạt động giữa vùng rẫy sản xuất và làng cư trú thường cách xa nhaucho nên các gia đình trong làng thường làm trại ở rẫy để chăm sóc lúa, còn sau khi thuhoạch thì trở về làng Tuy nhiên đây không phải là hình thức cư trú mà là do nhu cầucông việc làm rẫy Hầu như ở miền núi Quảng Ngãi hiện nay đại bộ phận rừng đều làrừng tái sinh, trước đây đã được phát làm rẫy Càng ngày những vạt rừng già xanhthẫm càng thưa dần, đất đai trồng lúa rẫy bị vắt kiệt, xói mòn không đủ thời gian hồiphục độ màu mỡ khiến cho cộng đồng làng đi tìm rẫy mới ở nơi xa hơn và như vậykhoảng cách nơi cư trú và nơi canh tác cứ nới rộng dần

Nhìn chung kỹ thuật canh tác rẫy theo hình thức luân canh luân khoảnh theo

Trang 24

thức bản địa quý giá của các dân tộc thiểu số ở vùng núi, vừa đỡ tốn sức lao động,năng xuất lúa rấy khá cao

Tri thức bản địa trong kỹ thuật xen canh nối vụ có vai trò quan trọng đảm bảo

ổn định lương thực Kỹ thuật xen canh đó là trong một đám rẫy lúa người ta trồng đanxen vào đó là bắp, đậu, bầu, bí, rau, cây có củ, đặc biệt là trồng loại cây pho trái bằngtrái bắp có hạt cơm trắng, đem giã nấu như cơm, ăn rất ngon, có giá trị như lươngthực chống đói Bìa đám rẫy người dân trồng chuối, mì Và như vậy trước khi thuhoạch lúa đã có nguồn lương thực gối vụ, chống việc thiếu đói giáp hạt, bản thânnhững cây trồng phụ có tác dụng tái phục hồi đất Kỹ thuật nối vụ được xem là trithức bản địa quan trọng của các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi, nó liên quan đến giốnglúa, nông lịch canh tác

Nông lịch là tri thức bản địa về mối quan hệ giữa thời tiết khí hậu với các hoạtđộng sản xuất trên rẫy Nông lịch phổ biến của các dân tộc miền núi Quảng Ngãi là:tháng 3, 4 phát rẫy Tháng 5, 6 đốt rẫy và trỉa lúa Tháng 7,8 chăm sóc lúa, trồng xencanh các loại rau củ vào rẫy lúa Tháng 9 thu hoạch lúa sớm Tháng 10, 11, 12 thuhoạch lúa muộn Tháng 1, 2 nghỉ ngơi ăn tết Trong giống lúa bản địa có hai loại: Lúasớm và lúa muộn; lúa sớm trồng và thu hoạch trong vòng 5 tháng, lúa muộn trồng vàthu hoạch trong vòng 6 tháng Lúa sớm gồm có các giống: Vak’tot, va đi, va lac ; lúamuộn có các giống: Mau nhế, Mau hem, Mau pi, Mau ka diêu, Mau ka xon, Maunhiên, Va vờ rát, Va mui, Va men, Va gio Trong cơ cấu lịch nông vụ với chu kỳcanh tác cây lúa sớm và cây lúa muộn được bố trí hợp lý là sự tính toán hài hòa vềmặt thời gian nhằm bổ sung nguồn lương thực chống thiếu đói vào thời điểm giáp hạt(Đoàn Ngọc Khôi, 2005)

Ngày nay, lúa nước trở thành một nguồn lương thực quan trọng nhưng lạikhông có đủ đất phù hợp cho canh tác Do đó canh tác lúa rẫy vẫn là nguồn sốngchính của dân tộc Kadong, Kor và một bộ phận người Hrê và hệ canh tác lúa rẫy vẫnđóng vai trò nền tảng của văn hoá bản địa Tuy nhiên ở mỗi dân tộc vị trí cây lúa rẫy

và lúa nước có khác nhau, ví dụ ở người Hrê diện tích cây lúa nước chiếm phần lớn vì

Trang 25

họ đã có truyền thống canh tác ruộng nước vùng thung lũng từ lâu đời; trong khi đó ởngười Kadong, người Kor vị trí cây lúa rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống của

họ, thông thường xưa kia mỗi gia đình có diện tích rẫy từ 7 đến 8 gùi giống

Canh tác lúa rẫy không thể chỉ được hiểu đơn thuần là một hệ thống kinh tế hay

kỹ thuật canh tác mà trong một nghĩa rộng hơn là một hệ thống văn hoá hoà nhập tất

cả các giá trị và tập tục tín ngưỡng cơ bản Hệ thống văn hoá này với vai trò chủ đạocủa cây lúa, là một phần quan trọng của lối sống con người và là một khía cạnh quantrọng của bản sắc cộng đồng các tộc người trong vùng

Quy trình một vòng rẫy là tuần tự các công đoạn phát dọn rẫy, đốt rẫy, chọc lỗtrỉa hạt, làm cỏ, giữ chim thú, thu hoạch và bảo quản Nông lịch trồng lúa rẫy khởi vụvào tháng 3 -4 khi có tiếng sấm đầu mùa Đó là thời điểm kết thúc những tháng ănchơi, mọi người chuẩn bị bắt tay vào lao động “đánh thức” hồn lúa ngủ quên trongkho lúa, gọi hồn các nông cụ trở dậy Người nông dân vùng núi có thể bắt đầu vụ rẫymới ở vùng đất luân canh theo chu kỳ tái hồi vòng rẫy hoặc tìm vùng đất làm rẫy mới.Trong việc chọn rẫy mới hay tái canh tác rẫy cũ phải dựa trên kỹ năng tìm đất tốt vớikinh nghiệm nhìn nơi nào có cây chuối nước, cây khoai môn và nhiều ụ giun đất,thường màu đất xám là nơi đất nhiều mùn, đất có độ ẩm, gần nước thích hợp để phátrẫy mới hay rẫy cũ đã phục hồi dinh dưỡng sau chu kỳ bỏ hoá

Đồng bào không phát rẫy ở gần ngọn nước, đây là đều nghiêm cấm để bảo vệnguồn nước của làng, chặt hạ cây phải tuân theo luật tục của cộng đồng, không được

vi phạm vào rừng cấm, rừng thiêng Nếu vi phạm rừng cấm họ sẽ bị thần trừng phạtnhư cây ngả đè gãy chân, làng bị lũ lụt, mất mùa, dịch hại, bệnh tật và nhiều tai hoạ

ập đến Trong việc phát rẫy của đồng bào miền núi bao giờ trên đỉnh đồi núi cũngchừa lại một khoảnh rừng lớn nó được thiêng hóa là nơi thần về ngự nhưng thực chấtvai trò các khoảnh rừng này có tác dụng chống xói mòn do nước chảy từ trên caoxuống đối với rẫy được canh tác ở khu vực thấp phía dưới trong trường hợp mưa lũ.Như vậy thực chất đây là những tri thức bản địa trong canh tác rẫy dung hòa với tự

Trang 26

Tháng năm, tháng sáu là tháng nắng trong năm, là thời điểm đốt rẫy, lúc đốtrẫy, người ta chọn ngày gió nhẹ để khi đốt lửa không cuốn cháy lan ra bên ngoài,đồng thời tro không bị bay đi, đốt xong có mưa là tốt bởi lớp tro đốt sẽ thấm vào đấtcung cấp một phần dinh dưỡng cho đất Đốt rẫy mang tính đồng loạt, những người córẫy cạnh kề nhau trong khu vực cùng thống nhất thời gian đốt Tri thức bản địa trongđốt rẫy là trước khi đốt phải dọn ranh rộng khoảng 4m; bắt đầu đốt từ trên xuống khilửa cháy lan rộng khoảng 8m thì đốt từ dưới lên; đốt rẫy phải đốt cuối đuôi gió; nhữngngười đi đốt rẫy bắt buộc phải mang theo ống nước để giữ phòng hộ lửa cháy lan.Việc đốt rẫy thường tiến hành sau khi tổ chức lễ hội ăn trâu xong.

Chọc trỉa bằng gậy chọc lỗ vốn được cất ở chòi rẫy, đàn ông chọc lỗ, hai tay haicây vừa đi vừa chọc, phụ nữ trỉa hạt lúa Các gậy chọc lỗ dùng xong được dựng lại rẫy

để bảo vệ hồn lúa

Người ta dọn rẫy xong thì trồng bí, dưa trước, sau đó mới trỉa lúa Khi trỉa lúaxong người ta phải để lại dự trữ một số lúa giống để tại chòi rẫy, mục đích số lúagiống này dùng để dặm khi lúa mọc không đều

Trước khi trỉa lúa trên rẫy, người ta làm lễ cúng tiễn đưa hồn lúa lên rẫy Chiếcgùi đựng lúa giống được để dưới chân gốc cây nêu và trên ngọn có cắm bông lau,tượng trưng cho hoa lúa Trong lễ cúng gia đình mời tổ tiên, thần linh về tham dự vàtiễn đưa hồn lúa lên rẫy, hồn lúa ở tại rẫy suốt mùa để chăm sóc bảo dưỡng cây lúa.Trong giữa rẫy người ta chừa lại một khoảnh đất nhỏ để trồng lúa thiêng (Pađâm), ở

đó đồng bào trồng nhiều loại cây để làm mát lúa thiêng như mía, nghệ, sả Một ngườitrong gia đình được trỉa lúa thiêng vào một lỗ mà người chủ gia đình đã chọc sẵn Khihạt giống lúa thiêng nảy mầm ra lá thì bắt đầu việc trồng tỉa trên rẫy Lúa thiêng trồng

ở khoảnh đất trong rẫy sẽ được bà chủ nhà tự tay chăm sóc và thu hoạch sau khi đãtuốt toàn bộ lúa trên rẫy Lúa thiêng mang về, để dùng vào lễ cơm mới, số còn lạiđược giữ trong kho lúa ở một vị trí đặt biệt Người Kadong tin rằng hồn lúa thường ởtrong một giống lúa xưa nhất, có thể là một trong các giống: mau nhố, mau hem, mau

pi, mau ka diêu, mau ka xon, mau nhiên,

Trang 27

Rẫy được chăm sóc làm cỏ và chống thú rừng, chim chóc bằng cách rào rẫy,săn bắn, dùng bẫy, chông, nỏ, bù nhìn, đàn nước, Việc thu hoạch lúa chỉ suốt bằngtay chứ không dùng phương tiện nào khác, do sợ hồn lúa “đau” năng suất mùa sau sẽkém Tri thức bảo tồn tính ưu trội của giống lúa bằng cách khi thu hoạch loại bỏnhững cây lúa lạ nhằm bảo vệ giống lúa không bị lai tạp

Lúa rẫy là giống lúa có tính trạng hiếm về tính chịu hạn, tính kháng sâu bệnh,phẩm chất hạt tốt, năng suất ổn định thích hợp trên nhiều chân đất Giống lúa chọn ởrẫy được tuốt riêng từ các cây lúa mạnh khỏe bông trĩu hạt, phơi khô dùng sàng(Knây) sảy lấy hạt chắc đem phơi khô Sau khi lúa giống phơi khô người ta đem sàngsảy một lần nữa Bảo quản lúa giống là lấy lá bọc lót bỏ vào bao đay để ở nhà kho;một cách bảo quản khác là lúa giống đặt trên giàn bếp hoặc để nguyên bông treo nhàbếp đối với giống hiếm ít

Trong tín ngưỡng nông nghiệp lúa rẫy, hồn lúa giữ vị trí độc tôn, các lễ hiến tếxoay quanh hồn lúa nhằm mong cho việc sản xuất được trôi chảy, hồn lúa ban chokho thóc đầy Hồn lúa ngủ trong những tháng ăn chơi sau vụ thu hoạch và thức dậykhi có tiếng sấm đầu tiên Sau lễ thức chọn rẫy mới, phát dọn đốt chuẩn bị đất để trỉahạt, từng gia đình tổ chức nghi lễ rước hồn lúa lên rẫy gieo hạt Khảo sát ở ngườiKadong phụ nữ là người mang gùi lúa giống trong đó có hồn lúa lên rẫy, người chồngvác ná đi bảo vệ Lúa giống được trỉa vào khoảng đất thiêng đã chọn trước, sau đóông chủ nhà rào kỹ Khoảnh đất lúa thiêng là nơi hồn lúa trú ngụ trong suốt một màurẫy Hồn lúa tác động đến mọi cây lúa trồng trên rẫy và được nuôi dưỡng bằng các lễvật của gia đình trong suốt quá trình canh tác Người Kadong chỉ đưa hồn lúa đi vàongày lẻ đó là ngày tốt, ngược lại ngày lẻ là những ngày xấu chỉ có ma đi

Lễ thu hoạch được bắt đầu bằng việc cúng máng nước bằng heo do chủ làng vàPơdâu cúng xin phép thần linh cho dân làng được thu hoạch và ăn lúa mới Các giađình sửa soạn lại kho để chứa lúa, trong kho sửa soạn một vị trí chu đáo để đặt lúathiêng nơi nghỉ ngơi của hồn lúa Sau đó mỗi gia đình lên rẫy cúng rước hồn lúa về

Trang 28

được tổ chức chu đáo, người ta căng dây, bắc cầu bằng sợi chỉ trắng để cho hồn lúa đi.

Ở những ngã ba phải cắm hoa làm dấu chỉ đường cho hồn lúa Khi đến kho, cũng phảibắc cầu cho hồn lúa lên Người ta tin rằng hồn lúa sẽ ưu đãi những chủ nhà biết làmđúng các thủ tục đưa hồn lúa từ kho lúa lên rẫy vào những ngày đầu chọc trỉa và đónhồn lúa từ rẫy về kho lúa vào những ngày thu hoạch Khi đưa hồn lúa về nhà kiêngkhông cho lúa dính nước, không đụng chạm đến nước trừ khi đun nấu Gạo lúa thiêngđược bà chủ nhà nấu ở trong một nồi riêng và cúng thần linh Đặc biệt nồi cơm cúng

cứ để vậy cho hết mùa tuốt lúa mới được rửa nồi

Hiện nay kinh tế trồng lúa rẫy vẫn giữ vị trí quan trọng đối với đồng bàoKadong và Kor, nhưng giảm dần và không còn giữ vị trí quan trọng ở đồng bào Hrê.Thực tế ở đồng bào Hrê có nghề trồng lúa nước từ lâu đời nên không phụ thuộc vàocây lúa rẫy ngược lại ở người Kadong và Kor diện tích trồng lúa nước quá hẹp nêncây lúa rẫy giữ vị trí chủ đạo cung cấp nguồn lương thực Việc canh tác cây lúa rẫytheo phương pháp luân canh luân khoảnh hưu canh, xen canh nối vụ là những tri thứcbản địa từ lâu đời của đồng bào miền núi, phải nhìn nhận nó không hề phá hoại môitrường sống của cộng đồng mà ngược lại đảm bảo sự phát triển bền vững của cộngđồng thích nghi với môi trường Tuy nhiên đến nay phương pháp luân canh luânkhoảnh không còn kéo dài thời gian như trước đây do tình trạng thiếu đất canh tác từnguyên nhân bùng nổ dân số, trồng các loại cây như keo, mì có giá trị kinh tế cao hơn.Đặc biệt cây mì được trồng thâm canh trên đất rẫy khiến cho đất nhanh bạc màu hơn.Quá trình rút ngắn thời gian quay vòng canh tác lúa rẫy làm cho đất canh tác khôngkịp hồi phục nhanh bạc màu khiến năng suất lúa rẫy không cao là thực tế không chốicãi

Đến nay chính quyền miền núi tìm cách mở rộng diện tích canh tác cây lúanước ổn định hơn bằng phương pháp san ủi cải tạo đất bằng phẳng Tuy nhiên rất khókhăn bởi địa hình vùng núi Quảng Ngãi có độ dốc cao, do mất tán rừng nên các dòngsuối dần cạn không đủ khả năng cung cấp nguồn nước cho vùng ruộng canh tác

II Tri thức bản địa trong nông nghiệp trồng lúa nước

Trang 29

1 Tri thức trồng lúa nước ở đồng bằng:

Cây lúa ruộng là cây trồng quan trọng nhất cung cấp nguồn lương thực chínhcủa người Việt Cây lúa, hạt gạo mang lại sự no đủ rất thân thuộc gần gũi từ bao đờicủa người dân Việt Nam và đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Các triềuđại phong kiến Việt Nam rất coi trọng nghề nông trồng lúa nước xem đó là cái gốccủa sự an dân giữ vững ổn định cho quốc gia Hàng năm các triều vua đều làm lễ Tịch

điền Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép “ Mùa xuân năm Đinh Hợi (987), vua Lê

Đại Hành lần đầu tiên cày ruộng tịch điền ở núi Đọi hay còn gọi là Đội Sơn ở huyện Duy Tiên (Nam Hà), được một hũ nhỏ vàng nhỏ Năm sau cày ở núi Bàn Hải được một hũ nhỏ bạc nên vua đặt là ruộng Kim Ngân” (tr.224) Sách Việt Sử Lược chép

“Vào thời Lý, Vua Lý Thái Tông đã nhiều lần tự mình xuống cày Mùa Hạ tháng Tư ngày 1 tháng 5 năm Nhâm Thân (1032), vua cày tịch điền ở Tín Hương - Đỗ Động Giang, có nhà nông dâng Vua một cây lúa Chiêm có 9 bông thóc, Vua xuống chiếu đổi gọi ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên (tr.255) Mùa xuân tháng 2 năm Mậu Dần (1038), Vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền Vua sai hữu ty dọn cỏ đắp đàn vua thân tế Thần Nông, tế xong, vua tự cầm cày để làm lễ tự cày Các quan tả hữu có người can rằng: - Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế? Vua nói: - Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo? Nói xong vua đẩy cày ba lần rồi thôi”(tr.259) Triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng, Vua định ngày lễ

Tịch điền tháng 2 và phải xây tại ruộng Tịch điền các dinh thự là Quan Canh (nhìncày), Cụ phục (mặc áo), đàn Tiên Nông, kho lúa dự trữ để cúng thờ (thần Thương) Giống lúa cấy trên ruộng tịch điền được chọn để cho loại gạo ngon dùng vào việc tế

lễ, đặc biệt là tế thần nông và thần xã tắc Nhìn chung, hệ canh tác cây lúa nước đã tạonên nền văn hóa lúa nước đặc trưng của Việt Nam và rộng hơn là của cả khu vựcĐông Nam Á Miền Trung được xem là một trong những nơi có nghề trồng lúa nướclâu đời ở Việt Nam Theo Lê Danh Phương trong tập Loại ngữ, phần Phẩm vật thìmiền Trung dưới thời Champa có 5 giống lúa Chiêm đó là: Chiêm Di, Chiêm Dự cơm

Trang 30

mềm dẻo; Loại Chiêm Hoàng cơm cứng, loại Chiêm Bảo, Chiêm Hâm cấy ở ruộngthấp nhiều nước Dưới đời nhà Tống có sai sứ sang nước Chiêm Thành lấy 3 vạn hộclúa phân ra cấp cho các nơi nên mới có giống lúa Cái Hạ Bạch, lúa này sinh ra 4 loạigọi chung là lúa Tiên, đặc điểm của loại lúa này là chín sớm

Quảng Ngãi là vùng đất có truyền thống canh tác nông nghiệp lúa nước từ thờingười Chăm và kế tục đến người Việt Người nông dân Quảng Ngãi với đức tính kiêntrì chịu khó từ bao đời đã tích lũy được tri thức bản địa quý giá trong hệ canh tác lúanước Đồng bằng Quảng Ngãi hình thành từ các dạng trầm tích, phù sa sông, từ cácdòng chảy cổ bị bồi lấp con người khai phá canh tác thuần thục mà thành Các khái

niệm Bàu – Ruộng Lầy – Ruộng Rộc – Ruộng thục thể hiện sự chuyển hóa dần theo

thời gian địa hình thổ nhưỡng được khẩn hoang lâu dài khó nhọc của người nông dân

Quảng Ngãi Khái niệm Bàu đó là dòng chảy cổ có nguồn gốc từ sông, bị bồi lấp dần.

Nếu bàu ngưng tụ dòng chảy thì quá trình sau đó sẽ bị bồi lấp bởi các dạng trầm tích,sình lầy với các loại cây ngập nước mọc trên đó Từ vùng ngập bồi này người nông

dân khai phá thành ruộng lầy Khái niệm ruộng lầy đó là vùng bồi lấp khai phá thành

ruộng, luôn ngập nước lầy lội lún sâu Trên vùng chân ruộng này xưa kia người nôngdân chỉ canh tác được một loại lúa đó là lúa Tàu khả năng chịu úng ngập rất cao

Ruộng rộc là loại ruộng được hình thành từ quá trình canh tác lâu dài trên vùng ruộng

lầy mà thành, ruộng rộc ngập úng vào mùa mưa, luôn có nước, độ ngập lún ít hơn

ruộng lầy Ruộng thục là ruộng đã canh tác thuần thục được phân thành nhiều thứ

hạng như hạng nhất, nhị, tam tùy theo sự màu mỡ của đất Tuy nhiên không phảiruộng thục nào cũng bắt đầu từ ruộng rộc mà chỉ có một số ruộng thục bắt nguồn từruộng rộc mà thôi Trong quá trình chuyển hóa này đến nay các vùng ruộng còn lại dư

âm từ Bàu, có rất nhiều tên gọi xứ đồng gắn với Bàu như bàu Sấu, bàu Sen, bàu Lác,

bàu Đưng, bàu Súng, bàu Đen, bàu Cá Cái, bàu Khổng, bàu Ấu

Tri thức phân loại đất canh tác ruộng lúa nước ở Quảng Ngãi như sau: Ruộng

khô (gieo), ruộng có nước, ruộng ngập úng gồm ruộng rộc, ruộng lầy Trên mỗi loại

Trang 31

ruộng có phương thức canh tác khác nhau; đối với loại ruộng khô thì bừa rồi gieo sạvào mùa mưa; ruộng nước thì cày, bừa, cấy hoặc sạ; ruộng rộc, ruộng lầy thì bừa, cấy,không sạ Ruộng khô (ruộng gò) ở vùng đất cao chỉ có dùng nước trời vào mùa mưa,khi đó người nông dân cày bừa lại cho đất tơi, sau đó gieo lúa trực tiếp Ruộng rộccấy mạ trên đất bùn, cây lúa mới đứng vũng và phát triển được nhưng ngược lại nếugieo sạ hạt lúa sẽ không nảy mầm do úng ngập; trong khi đó ruộng gò phải gieo hạt

khi có mưa, thể hiện qua ca dao xưa: “Ra đi mẹ có dặn dò/ Ruộng rộc thì cấy, ruộng

gò thì gieo” Đến nay các cánh đồng trồng lúa gieo có giảm nhờ làm thuỷ lợi được

cấy lúa hai vụ, tuy nhiên vẫn còn dư âm tên gọi của các xứ đồng gieo trong dân gian.Trong canh tác nông nghiệp tri thức về lịch thời vụ có vai trò quan trọng xuyên suốtđảm bảo giống cây trồng thích ứng phù hợp với thời tiết đảm bảo năng suất thu hoạch.Theo Đồng Khánh Địa Dư Chí thì ruộng nước ở Quảng Ngãi một năm cấy một vụ,cũng có loại ruộng một năm cấy hai hoặc ba vụ Lịch thời vụ như sau: Tháng giêngloại ruộng thấp thì trồng dâu, đay, dưa, dậu Tháng hai gieo mạ lúa bát ngoạt ở ruộngcạn Tháng ba gặt lúa sớm Mùa hè tháng tư ruộng bùn cạn gieo lúa thu Tháng 6ruộng cạn, ruộng rẫy gieo lúa muộn Tháng 7 đất gò trồng lạc, gặt lúa bát ngoạt.Tháng 9 ruộng cạn gieo lúa hè Mùa đông tháng 10 cấy lúa ba tháng (lúa ba trăng).Tháng 11 ruộng bùn sâu bắt đầu cấy lúa nếp Tháng 12 trồng khoai lang và gặt lúamuộn vụ xuân, đốn dâu, chặt mía già

Chọn giống lúa là yếu tố quan trọng trong canh tác nó liên quan đến kỹ thuậttrồng trọt, năng suất, thời gian thu hoạch Vì vậy để nâng cao tỷ lệ nẩy mầm, sự đồngđều của cây lúa về sau, người ta luôn chọn giống tốt, trước kia là các giống lúa chùm,lúa ba trăng, lúa tàu, nếp trì trì đến nay sử dụng các giống mới du nhập vào Xưa kiachọn lúa giống người ta đến ruộng của mình chọn những bông to, nhiều dé, lắm hạt,không bị sâu bệnh, hạt chín đều rồi cắt riêng, đập lấy hạt ở phần đầu bông, phơi khôquét sạch và bảo quản nơi kín, chống mốc mọt Kỹ thuật xử lý hạt lúa giống là hạtgiống được vo rửa sạch, gạn bỏ các hạt lép, tẩy dần các mầm bệnh tồn tại trên vỏ hạt

Trang 32

thóc, dùng nước ấm để rửa lại hạt giống nhằm kích thích mầm nhanh Hạt giống ngâmtrong thời gian 1 ngày 1 đêm Trong thời gian ngâm, người ta còn trộn đảo thay nướccho hạt giống Sau đó vo rửa lại để tẩy sạch nước chua, chất bẩn, rồi tiếp đến là ủ hạtgiống Vào mùa lạnh bỏ giống vào bọc lá chuối hoặc bao đay để ủ mầm Hoặc lót rạ ởdưới, đặt nong lên trên, đổ giống vào nong, tủ rơm rạ và đậy nong lên trên cùng Thờigian ủ thường là 2 ngày 2 đêm Giống ủ phải đạt ba điều kiện: nước, nhiệt độ vàkhông khí Người nông dân xem chừng và tưới thêm nước vào giống, sờ tay cảm thấynóng quá thì bới tản giống để bớt độ nóng hầm hơi Nếu hạt bị khô thì tưới thêm nước

ấm, đảo đều đống hạt ủ để tạo thông thoáng, hạn chế nhiệt độ lên quá cao trong đốnghạt Khi hạt nứt nanh đem gieo mạ để cấy (trước đây) hoặc sạ (hiện nay)

Trồng lúa xưa bằng cách cấy từ mạ Mạ đó là cây con gieo hạt nẩy mầm lớncao chừng 20cm thì nhổ đem cấy trên ruộng, mạ không được để già vì cây lúa cấy sẽ

không tốt Đất gieo mạ là đất quen, đất thục trồng khoai đất lạ, gieo mạ đất quen Đất

mạ làm luống, gieo xong để hạt giống bám sâu vào mặt đất người ta dùng chổi bằngtàu cau, tàu dừa đập nhẹ lên toàn bộ giống đã gieo Sau đó dùng lưới chắn, cắm câyđuổi chim để bảo vệ giống phát triển mầm Khoảng 20 ngày sau người nông dân nhổ

mạ để cấy Hiện nay người nông dân dùng phương pháp gieo sạ chứ không gieo mạcấy lúa như trước kia nữa

Đất ruộng mùa nắng dùng cuốc, cày ải, phơi ải đến khoảng 15 ngày sau chonước vào Vào mùa mưa người nông dân cày ruộng dầm ngâm nước khoảng 15 ngàycho chết cỏ dại và đất xốp Dùng dao phảng chặt lia bờ, tiến hành vệ sinh trên và xungquanh ruộng, diệt cỏ dại, thu gom rơm rạ để diệt nguồn sâu bệnh Cày sâu 15-20cmkhi đất còn ẩm, ngay sau khi gặt xong Tri thức khoa học trong canh tác nông nghiệp

đã chứng minh cày ải hoặc cày dầm đều có tác dụng tạo thông thoáng cho đất, phá vỡcác mạch mao dẫn của đất để hạn chế sự bốc hơi nước, giúp các chất hữu cơ trong đấtphân giải dễ dàng hơn, làm cho đạm khó tiêu trong đất thành dễ tiêu đối với cây lúa,diệt được loài sâu bệnh trong đất

Trang 33

Sau đó dùng công cụ bừa để bừa ngang bừa dọc tạo mặt bằng cho toàn bộ diệntích đất ruộng thuận lợi cho việc tưới nước sau này Khi còn những chỗ nhấp nhô,người ta thường dùng công cụ trang để làm bằng Nếu kỹ thuật cày là phương phápcắt rãnh giữa ruộng và cày từ trong ra ngoài thì phương pháp bừa theo chiều từ ngoài

bờ vào trong giữa ruộng Làm đất xong chưa kịp cấy, sạ người nông dân giữ nướctrong ruộng để tránh không cho đất chai cứng

Bón lót cho đất bằng phân chuồng là việc làm rất quan trọng sau khi dọn đấtbừa xong Trước kia hầu như cây lúa phát triển chủ yếu nhờ lượng phân chuồng theokinh nghiệm truyền thống và lượng nước thường xuyên … Ruộng phải dùng phânchuồng gồm phân bò, phân heo được ủ hoai bón chân ruộng trước khi cấy lúa Ngườinông dân không bao giờ bón phân tươi cho đồng ruộng mà phân chuồng được bóncho đất lúa là phân đã ủ hoai Việc bón lót phân chuồng sớm trước khi cấy giúp phânhòa tan vào đất hỗ trợ cho cây lúa khi vừa bén rễ Phân chuồng có tác dụng duy trì độmàu mỡ cho đất trong các mùa vụ sau Ngày nay với các loại giống mới người nôngdân áp dụng tri thức khoa học trong việc bón phân đạm kali thường vào chiều mát chocây lúa, bón phân buổi sáng thì chờ khô sương trên lá để tránh làm cháy lá lúa, khôngbón phân khi trời gần mưa hoặc nắng gắt vì ít hiệu quả dể bị rửa trôi và bốc hơi

Cấy là phương thức canh tác truyền thống bao gồm việc nhổ mạ bó thành lọn,

cắt ngọn lá, dầm gốc vào nước rồi đem rải đều khắp ruộng rồi sau đó dùng tay tỉa tỉatừng tép mạ con cắm xuống bùn theo cách thức đi lui; kỹ thuật cấy tỉa từ bó mạ 2-3tép con cắm vào bùn cây cách cây khoảng 10cm Cấy là công việc của phụ nữ

Sạ là cách người nông dân mang mủng lúa giống đi dọc theo các rãnh đất trên

ruộng đã được chia hàng dọc, dùng tay vãi đều hạt giống, sao cho đều nhau tránh chỗdày, chỗ thưa mà sau này phải dặm thêm hoặc nhổ bớt

Nghề trồng lúa nước ở Quảng Ngãi xưa kia một năm làm hai vụ lúa chính: Vụ

Trang 34

thời tiết ấm dần lên Vụ Hè-Thu: tháng 5 dương lịch, chậm nhất đến 10-6, để lúa trổkhông gặp gió mùa Tây Nam

Tri thức bản địa của người nông dân Quảng Ngãi xưa nay phân chia sự pháttriển của cây lúa từ khi cấy đến khi thu hoạch gồm 3 thời kỳ: đẻ nhánh, làm đòng vàtrổ bông, tương ứng với mỗi thời kỳ có cách chăm sóc khác nhau Tri thức bản địa củangười nông dân dựa vào nông lịch thời vụ từng giống lúa mà có thể tính toán chínhxác những diễn biến của lúa mà chăm sóc, thu hoạch

Cây lúa có các thời kỳ sinh trưởng bao gồm đẻ nhánh, làm đòng và trổ bông.Trong mỗi thời kỳ này có những quá trình như: ở thời kỳ thứ nhất thì hạt nảy mầm,thân lúa mọc lên và đẻ nhánh; ở thời kỳ thứ hai thì đốt hình thành và làm đòng, thời

kỳ thứ ba là lúa trổ bông, chín sữa rồi đến chín hoàn toàn Mỗi thời kỳ tương ứng vớicách chăm sóc khác nhau

Chăm sóc cây lúa thời kỳ thứ nhất chú ý đến việc giữ nước không để khô, làm

cỏ sục bùn để gốc lúa thông thoáng, bón phân thúc lúa Thời gian này từ 10-20 ngàysau khi cấy sạ, đây là giai đoạn cần giữ nước ngập trên mặt ruộng là để cây lúa hấpthụ phân bón dễ dàng, đẻ nhánh tốt và giữ không cho hạt cỏ dại mọc Khi gieo sạđược 30 ngày, cây lúa đã đẻ nhánh tối đa Thời gian từ 30-40 ngày sau sạ, người nôngdân tháo nước trong ruộng ra cho thật cạn trong vòng 10 ngày sẽ giúp cho các chấtđộc trong đất theo nước thoát thủy di chuyển ra khỏi vùng rễ lúa hoặc bị khử oxy hóabay hơi làm giảm ngộ độc cho cây lúa Đất thoáng khi kích thích hệ thống rễ mới pháttriển và chúng sẽ hấp thụ tốt chất dinh dưỡng lúc bón phân đón đòng và hạn chế lúa

đỗ ngã Không có nước mặt trong ruộng vào giai đọan này, giúp cho các lá ủ bên dướikhô lại, tạo môi trường gốc lúa thông thoáng, giảm sâu bệnh Trong thời kỳ này ngườinông dân làm cỏ lúa sục bùn bằng tay hoặc bằng công cụ gọi là nạo, cỏ được dúixuống bùn hay ném lên bờ, làm cho rễ các loại cỏ mất điều kiện bám vào đất, bámvào gốc lúa, từ đó, cây lúa phát triển thuận lợi hơn Việc làm cỏ thủ công đến nay vẫn

Trang 35

giữ vai trò quan trọng Chính việc vừa làm cỏ vừa sục sạo quanh gốc lúa ở điều kiệnruộng lúa có nước không chỉ làm đất thông thoáng, trao đổi khí cho môi trường củalúa….Làm cỏ sục bùn triệt tiêu quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng giữalúa và cỏ dại, đồng thời trong thời kỳ này phải giữ cân bằng lượng nước cần thiết chocây lúa.

Chăm sóc cây lúa thời kỳ thứ hai là thời kỳ quan trọng nhất lúc này cây lúa làmđòng, trổ bông, ngậm sữa hình thành hạt Lúc này cây lúa cần rất nhiều nước do đóngười nông dân giữ nước thường xuyên trên mặt ruộng Ngoài ra ở các thời điểmkhác trong chu kỳ phát triển của cây lúa, người nông dân tưới nước luân phiên giữangập và khô giúp cây lúa bông dài mẩy hạt năng suất cao Chăm sóc lúa thời kỳ thứ

ba là thời kỳ lúa trổ bông, chín sữa rồi đến chín hoàn toàn Đây là giai đoạn thămđồng thường xuyên để giữ mực nước cho lúa, quan sát phòng chống sâu bệnh vàchuột phá hại Khi bông lúa đã trĩu hạt chín đều người nông dân rút nước cạn ruộng

để lúa chín và đến khi thu hoạch mặt ruộng khô dễ làm

Tri thức về các thời kỳ phát triển của cây lúa với những khác nhau trong cácgiai đoạn về thân, lá như: thân bẹ (thời kỳ lúa con gái), thân đốt (khi lúa bắt đầu vươnđốt), lá đòng (bông lúa nằm đòng), lúa trổ ( bông lúa ra khỏi đòng), lúa phơi màu …

để từ đó người nông dân kịp thời chăm sóc, bón phân cho lúa hợp lí Trong tri thứctrồng lúa, thời tiết giữ yếu tố quan trọng, chẳng hạn khi thời tiết nắng ráo, có gió,không quá khô thì lúa sẽ trổ bông đều, nhanh và phơi màu rực rỡ Thời kỳ bông lúaphơi màu là lúc quyết định chất lượng hạt lúa, trong thời điểm này người làm ruộngrất lo sợ về thời tiết không thuận lợi ví dụ như mưa hoặc sương muối Thời điểm phơimàu tức hoa lúa bắt đầu nở và nở rộ nhất vào 9-10 giờ sáng, cùng với độ ẩm khôngkhí 90%, nhiệt độ không khí tăng cao 280C -300C thì thuận lợi cho thụ phấn và pháttriển của hạt, hạt lúa to, mẩy, tỷ lệ hạt chắc cao Nếu các điều kiện thời tiết khôngthuận lợi hoặc ngược lại như trên thì tỷ lệ thụ tinh ở lúa rất thấp và cho hạt lép nhiều,

Trang 36

Làm nông việc quan trọng nhất là nước, nguồn nước phải đảm bảo để cho câylúa sinh trưởng và phát triển Từ xa xưa, bằng cách làm thủ công, người nông dânQuảng Ngãi ở khắp nơi đều biết huy động sức người để xây hồ, đắp đập ngăn và chứanước Từ những con đập này, theo hướng đi về các khu vực ruộng cụ thể, người ta đãlàm những con mương lớn, mương nhánh để đưa nước về các đồng Thông thường,mỗi một cánh đồng, người ta thường mở một con mương lớn hoặc đào một vũng đấtlớn để chứa nước Để đưa nước vào ruộng, người làm lâu có nhiều cách khác nhau:ruộng thấp hơn mương nước thì mở trổ đưa nước từ mương vào, ruộng bằng hoặc caohơn mương nước thì tổ chức cản nước để nước cơi lên cao hơn mặt ruộng để dẫnnước vào, ruộng quá cao so với mương thì dùng gàu cho người tát nước hoặc dùng xeđạp nước đưa vào ruộng Hoặc sử dụng nguồn nước từ các guồng quay nước dẫn theomương và đưa vào ruộng Người nông dân Quảng Ngãi có tri thức giữ mực nước ánchừng theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa Ở thời kỳ thứ nhất của cây lúa, docần đẻ nhánh sớm, người ta thường giữ mực nước vừa phải, chừng 3 phân là được.Đến thời kỳ thứ hai, do cần thúc đẩy việc phân hoa, làm cho cây lúa có chiều cao đềunhau, nên mực nước cần dùng phải nhiều hơn thời kỳ thứ nhất, chừng 5, 6 phân làđược Đến thời kỳ thứ ba, khi cây lúa bắt đầu trổ bông, người ta thường cho rút nước

ra khoảng 1 ngày đêm để cây lúa tự tăng sức vận động trổ Sau đó, lại đưa nước vào

để tiếp sức cho cây lúa trổ và giữ nước cho đến khi lúa trổ đều Đồng thời sau khi sạnước giữ xoang mặt ruộng khoảng 1 ngày đêm phải tháo nước ra, sau đó hai ngày lạiđưa nước vào và giữ nước ở mức không ngập khuất cây lúa non Lúa càng lên thì mựcnước cũng lên theo, nhưng không được quá 3, 4 phân Đến khi thu hoạch phải cho rútnước trước 5 đến 7 ngày nhằm để đất khô dễ gặt Như vậy tri thức trồng lúa nước khởiđầu là từ nước, quyết định là từ nước, người nông dân giữ nước quanh chân lúa tạonên một tiểu khí hậu điều hòa chế độ nhiệt khi trời nắng gắt thì nước làm ruộng lúamát mẻ, khi trời giá rét thì nước làm ấm áp ruộng lúa Nước có khả năng điều khiển

sự sinh trưởng của lúa và ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúa, việc chủ động mứcnước hợp lý cho cây lúa là tri thức bản địa từ lâu đời truyền lại cho nhiều thế hệ, nó

Trang 37

quyết định sự thành công của nghề nông Đặc thù khí hậu Quảng Ngãi mưa ít, nắngnóng nhiều, nên người nông dân cần phải liên tục giữ nước cho cây lúa

Bên cạnh đó tri thức trồng lúa sử dụng giống tốt thì có khả năng tự đề kháng,chăm sóc bón phân đầy đủ, đúng thời điểm phát triển của cây lúa để cây khỏe chốngđược các bệnh hại lúa khó xâm nhập vào cây lúa Đối với sâu và bệnh hại, người làmruộng nơi đây đã dùng những cách thức truyền thống nhưng lại rất khoa học Đó là,chọn lọc giống khỏe và bón phân, tưới tiêu hợp lí để kháng sâu bệnh Thứ đến, việctiến hành làm đất, vệ sinh đất kỹ trước khi gieo trồng cũng góp phần diệt trừ các mầmbệnh còn lại quanh bụi bờ, trên rơm rạ mùa trước Đặc biệt, biện pháp luân canh câytrồng giữa các vụ, các năm là giảm sâu bệnh

Trồng lúa nước ở đồng bằng có các nông cụ truyền thống bao gồm công cụ làmđất như cày, bừa, cuốc, trang, cào, nạo, liềm, phảng bờ; công cụ đưa nước vào ruộngnhư gàu dai, gàu sòng, xe đạp nước; công cụ dùng thu hoạch như bồ đập, máy suốtlúa Cày là công cụ bằng gỗ để trở đất bao gồm đòn, tay vịn, đầu đòn có ách mắc vàotrâu bò để kéo, lưỡi cày đầu mũi bịt sắt, trạnh cày liên kết với đòn tay vịn thông quatiếp gỗ Tiếp là bộ phận điều chỉnh độ sâu cạn của đất khi cày Bừa là công cụ bằng

gỗ, có đòn kéo, trên đòn kéo có nhiều răng liên kết nhau, đòn kéo nối với ách để trâu

bò kéo răng bừa ăn sâu vào đất làm cho đất tơi nhỏ vụn Có hai loại bừa: Bừa trên đấtruộng có nước là loại bừa lớn bằng gỗ nặng đòn bừa có nhiều răng; bừa trên đất ruộngkhô có kích thước đòn kéo nhỏ nhẹ hơn Trang là công cụ dùng để là phẳng mặt ruộngkhi bừa Cào là công cụ có răng dùng để cào rạ (răng gỗ), cào cỏ (răng sắt) Nạo làcông cụ có lưỡi sắt cuốn vào dùng để nạo cào cỏ sục bùn Phảng bờ là loại dao phảngdùng để chặt bờ dọn ruộng làm cỏ Liềm là công cụ để cắt lúa

Trong tín ngưỡng nông nghiệp trồng lúa nước vị thần được thờ đó là thầnNông Đây là vị thần bảo hộ nông nghiệp được hình dung đầu đội mũ cánh chuồn và

có các động tác như trong quá trình làm mùa Thần nông ngồi lom khom vào đầuxuân, rồi cúi đầu xuống, và cúi rạp vào vụ gặt mùa Thần nông được phối thờ trong

Trang 38

đình làng hoặc có đền thờ riêng Trong lễ Tịch điền có một vị bô lão có uy tín tronglàng, đóng vai Thần nông với mũ áo chỉnh tề, dẫn một số nông dân xuống đồng càycấy mấy hàng lúa đầu tiên để lấy lệ Vai trò Thần nông không chỉ trong tâm thức dângian, mà các triều đại phong kiến trước đây cũng rất coi trọng việc cúng Thần nông.Khi Gia Long lên ngôi năm 1802, đến năm 1806 đã cho xây đàn Nam Giao ở phíaNam Huế để tế trời ba năm một lần và đàn Xã Tắc gần hoàng thành để cúng Thầnnông mỗi năm hai lần vào tháng hai và tháng tám Gần đó có khu tịch điền dùng cho

các vị vua chúa làm lễ xuống đồng Về việc cày tịch điền, sử chép: “Khi cày tịch điền,

vua mặc áo bào, cầm cây sơn son thếp vàng, do quan bộ lễ dâng lên, và quan Phủ Doãn Thừa Thiên dâng roi mây Khi vua cày, cử đại nhạc, nhã nhạc và đoàn nhạc sinh múa cờ vàng Sau khi vua đã cày đi, cày lại ba đường, thì trao lại cày và roi cho các quan Thái thường và Phủ thừa, xong lên nhà quan canh xem cày Hoàng tử, hoàng thân cày năm đường đi và lại, rồi đến văn võ đại thần cày chín đường Lễ tất, vua hồi cung và ban yến cho hoàng tử, hoàng thân và đại thần” Lễ tế Thần nông là

một lễ hội có tính truyền thống của dân tộc ta, phản ánh tính trọng nông của cư dânViệt Cho đến nay việc cúng Thần nông, làm lễ Tịch điền hàng năm cũng nhằmhướng đến một ước vọng về một xã hội ấm no trên nền tảng nền nông nghiệp lúanước được xem trọng

1.2 Tri thức bản địa trồng lúa nước ở vùng núi: Tri thức bản địa canh tác

cây lúa nước vốn có truyền thống lâu đời ở người Hrê nhưng rất mới mẻ đối vớingười Kor và Kadong bởi hai tộc người này vốn có truyền thống canh tác cây lúa rẫy

Do vậy nghiên cứu tri thức trồng lúa nước ở miền núi, đề tài chú trọng vào người Hrê,cách thức trồng lúa nước ở người Kor, Kadong tiếp thu kỹ thuật từ người Hrê

Người Hrê là tộc người trồng lúa nước lâu đời, cây lúa nước đem lại sự định cưlâu dài của làng mạc Hrê, cũng như đem lại đời sống ổn định cho họ Dân tộc Hrêsinh sống ở lưu vực các sông lớn miền Tây Quảng Ngãi như sông Rhe, sông Rhin,

Trang 39

sông Rvăh, sông Krế, sông Xà Lò, sông Tô … ở các huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn

Hà, tây Nghĩa Hành, tây Bình Sơn

Trong cách phân loại đất trồng trọt, người Hrê chia thành đất ruộng nước,ruộng khô, rẫy vườn, trong đó đất ruộng nước chiếm diện tích lớn quan trọng Tácđộng của nông nghiệp ruộng nước đối với đời sống nhiều mặt, thể hiện khá rõ nét, từhình thái cư trú, phân bổ dân cư đến phân hoá xã hội, tổ chức lao động, văn hoá vậtchất … Cảnh quan ruộng nước Hrê đó là vùng ruộng thung lũng hẹp dưới chân núitrải dọc theo sông, tuy vậy cũng có những khu đồng tương đối rộng trải dọc bờ sôngLiêng, sông Rvăh, sông Re, sông Rin, sông Tang, sông Riềng, sông Đăkxàlò …

Ruộng nước ở người Hrê vùng ven sông một năm làm 2 vụ, ở ruộng gò, ruộnglầy một năm làm một vụ Nông lịch của người Hrê thực hiện căn cứ vào thiên nhiên,

vụ đông xuân dựa vào cây đót khi đót nở hoa thì người Hrê gieo mạ Vụ hè thu dựavào cây hoa Pơ nơng ra hoa thì gieo mạ

Giống lúa ruộng truyền thống ở người Hrê gồm có mau ngoăk, mau tê, maumua, mau đui; giống lúa nếp có giống mau koi, mau ngu Đây là loại giống đã được

sử dụng lâu đời có tính kháng sâu bệnh cao phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Trongviệc cất giữ lúa giống, trước kia, người Hrê quan niệm không được đi qua đi lại chỗcất giống, vì như thế giống không mọc Ngày nay, quan niệm này chỉ còn một vài nơi.Trước khi tiếp xúc với các loại giống mới về sau này, người Hrê từng chú tâm cấymột góc nào đó trong đám ruộng những cây lúa giống loại tốt Đến khi lúa chín, họđến xem xét, tách bỏ những cây lúa (theo kinh nghiệm của họ) không phải lúa giống,rồi cắt toàn bộ số lúa giống tốt đem về Lúa đem về nhà được phơi khô, rồi cất tronggiỏ, trong gùi để trong nhà hoặc để ở chòi lúa thật cẩn thận Có nơi, họ cất giốngtrong nồi đồng Đến mùa vụ, giống lúa được lấy ra, đem rửa sạch ở suối nước, gạn bỏhạt lép nổi Sau đó đem về ngâm nước ấm-nóng để diệt nấm, rồi tiếp đó là ngâm với

Trang 40

Trong thời gian làm đất phải tính toán khéo léo để gieo mạ sao cho kịp cấy vàvừa cấy Phổ biến lối gieo mạ dưới ruộng, hơn nữa họ đã biết vun bùn thành luốngtheo phương pháp mới Bên cạnh đó, người Hrê chưa quên hình thức gieo mạ trênkhô Có thể rải thóc giống xuống mặt đất đã làm nhỏ kéo bừa nhẹ đi một lượt Nhưngđáng chú ý hơn là kiểu khác mà tiếng Hrê gọi là chơi hồi và chơi kiu, có nghĩa “trỉathưa” và “trỉa mau” Với hai hình thức đặc biệt này từng cặp một người đàn ông cầmgậy chọc lỗ đi các hốc mạ cách nhau chừng một gang tay, đàn bà gieo hạt, mỗi hốcgieo 3-4 hạt, lấp đất bằng đoạn cây ngắn cầm tay, mạ được 2-3 lá thì làm cỏ, đợi khihai lá đầu tiên ngả úa vàng mới nhổ cây Nghi lễ trước khi gieo mạ thực hiện tại mảnhruộng “thiêng” của từng gia đình (ruộng dính - ruộng ma) họ cầu khấn và thực hiệncác hành động mang tính chất tôn giáo cầu mùa Ở đây, người chủ nhà hoặc vợ ông taphải dùng gậy chọc lỗ trỉa làm phép một ít lúa như các cư dân sống nhờ, nương rẫyvẫn thường tiến hành, và chính người Hrê cũng mở đầu việc trồng lúa rẫy với nghithức như thế.

Người Hrê phân loại đất ruộng thành ba loại ruộng nước (ruong tơnok), ruộng

gò (ruong go), ruộng lầy (ruong roc), tương ứng với các loại ruộng kèm theo kỹ thuậtcanh tác khác nhau Đối với ruộng tơnok (ruộng nước vùng thung lũng) người Hrêlàm ruộng đắp bờ, dùng trâu cày, rồi bừa 3 lần Khi nhìn thấy mặt ruộng tương đốibằng phẳng, nước liếp mặt ruộng thì tiến hành cấy Đối với ruộng gò bậc thang từngkhoảnh ruộng nhỏ, không thể cày bừa được thì người Hrê phải cuốc thật kỹ, rồi dùngcây bừa nhỏ tự kéo để làm đất rồi cấy lúa Cách làm này thường dùng cho ruộng bậcthang Người Hrê cũng từng biết nhổ lúa nơi dày đem dặm chỗ thưa Việc cấy lúa là

do người phụ nữ làm Khi đã bừa 3 lần cho toàn bộ mặt ruộng, các phụ nữ Hrê nhổ

mạ đem đến ruộng cấy

Trong việc chăm sóc cây lúa, đến nay người Hrê vẫn chưa có thói quen dùngphân vô cơ lẫn hữu cơ Cũng có một số hộ biết dùng phân hữu cơ vốn có của gia đìnhmình Tuy nhiên, họ đã từng biết vùi rạ xuống bùn là cách làm cho đất tăng độ phì

Ngày đăng: 10/10/2015, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cẩm nang ngành Lâm nghiệp(2006), Lâm sản ngoài gỗ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp & Đối tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp
Năm: 2006
2. Lê Trọng Cúc (1999): Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển bền vững vùng cao, Tạp chí Bảo vệ Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển bền vữngvùng cao", Tạp chí Bảo vệ Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Năm: 1999
3. Hoàng Chương (chủ biên) (2006), Quảng Ngãi - Truyền thống và hiện đại, Kỷ yếu hội thảo Văn hiến Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ngãi - Truyền thống và hiện đại
Tác giả: Hoàng Chương (chủ biên)
Năm: 2006
4. Phạm Quang Hoan và Hoàng Hữu Bình (1996) “Các dân tộc thiểu số và việc quản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các dân tộc thiểu số và việcquản lý tài nguyên thiên nhiên ở vùng cao Việt Nam
5. Đoàn Ngọc Khôi và các tác giả (1999), Văn hoá truyền thống đảo Lý Sơn, Sở KHCN&MT xb, Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống đảo Lý Sơn
Tác giả: Đoàn Ngọc Khôi và các tác giả
Năm: 1999
6. Đoàn Ngọc Khôi (2009), Vai trò và tính thích ứng của tri thức bản địa trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò và tính thích ứng của tri thức bản địa tronggiai đoạn hiện nay
Tác giả: Đoàn Ngọc Khôi
Năm: 2009
7. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đồng Khánh Địa Dư Chí, Bản dịch của E.F.E.O 8. Vũ Ngọc Khánh và Lê Hồng Khánh (1996), Hương ước Quảng Ngãi, Sở VHTTQuảng Ngãi xb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Khánh Địa Dư Chí", Bản dịch của E.F.E.O8. Vũ Ngọc Khánh và Lê Hồng Khánh (1996), "Hương ước Quảng Ngãi
Tác giả: Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đồng Khánh Địa Dư Chí, Bản dịch của E.F.E.O 8. Vũ Ngọc Khánh và Lê Hồng Khánh
Năm: 1996
9. Lê Hồng Khánh (2009), Bảo tồn và phát huy tri thức bản địa, kinh nghiệm dân gian về thủy lợi vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy tri thức bản địa, kinh nghiệm dângian về thủy lợi vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Lê Hồng Khánh
Năm: 2009
10. Hồng Nhân (chủ biên) (1997), Quảng Ngãi: Đất nước- Con người - Văn hoá, Sở VHTT Quảng Ngãi xb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ngãi: Đất nước- Con người - Văn hoá
Tác giả: Hồng Nhân (chủ biên)
Năm: 1997
11. Hà Hữu Nga (2009), Nghiên cứu ứng dụng tri thức bản địa vào phát triển bền vững vùng Quảng Ngãi, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng tri thức bản địa vào phát triển bềnvững vùng Quảng Ngãi
Tác giả: Hà Hữu Nga
Năm: 2009
12. ICRAF-VASH (2001), Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở Việt Nam, NXb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý đất bỏ hoá sau nương rẫy ở ViệtNam
Tác giả: ICRAF-VASH
Năm: 2001
13. Trịnh Sinh (2009), Giá trị tri thức của người Quảng Ngãi từ xa xưa, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tri thức của người Quảng Ngãi từ xa xưa
Tác giả: Trịnh Sinh
Năm: 2009
14. Mai Thanh Sơn (2009), Mấy vấn đề về tri thức bản địa và sự vận dụng trong phát triển bền vững, Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về tri thức bản địa và sự vận dụng trongphát triển bền vững
Tác giả: Mai Thanh Sơn
Năm: 2009
15. Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc (1998), Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa của đồng bào vùngcao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc
Năm: 1998
16. Ngô Đức Thịnh (1999), Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Buôn Mê Thuột Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục với việc phát triển nông thôn hiện nay ở ViệtNam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 1999
17. Ngô Đức Thịnh (2009), Hệ canh tác luân canh, hưu canh, xen canh, gối canh, kết tinh tri thức bản địa của cư dân canh tác nương rẫy ở miền núi . Kỷ yếu hội thảo về tri thức bản địa tại Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ canh tác luân canh, hưu canh, xen canh, gối canh,kết tinh tri thức bản địa của cư dân canh tác nương rẫy ở miền núi
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 2009
18. Nguyễn Duy Thiệu (1994), Tri thức bản địa nguồn lực quan trọng cho sự phát triển, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức bản địa nguồn lực quan trọng cho sự pháttriển
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 1994
19. Cao Tự Thanh – Đoàn Lê Giang (trích dịch và giới thiệu) (1984), Tác phẩm Nguyễn Thông, Sở VHTT Long An xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩmNguyễn Thông
Tác giả: Cao Tự Thanh – Đoàn Lê Giang (trích dịch và giới thiệu)
Năm: 1984
21. Nguyễn Ngọc Trạch, Đoàn Ngọc Khôi (2001), Nghề thủ công cổ truyền ở Quảng Ngãi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công cổ truyền ởQuảng Ngãi
Tác giả: Nguyễn Ngọc Trạch, Đoàn Ngọc Khôi
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
22. Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ngãi (2009), "Địa chí tỉnh Quảng Ngãi” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê các loại hình hoa văn trên thổ cẩm Hrê - Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh quảng ngãi
Bảng th ống kê các loại hình hoa văn trên thổ cẩm Hrê (Trang 117)
Hình sóng nước Tập hợp các đường hình sin. - Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh quảng ngãi
Hình s óng nước Tập hợp các đường hình sin (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w