Bên cạnh đó, chính lũ lụt cũng gây ra những tổn thất không hế nhỏ về người và của người dân, làm mất mùa và giảm năng suất khi lũ lên nhanh , làm phá hại các công trình công cộng, nhà dâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐINH THỊ KIM THANH
ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT KINH TẾ CỦA
HỘ GIA ĐÌNH TRONG KHI NGẬP LỤT
Trang 2ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐINH THỊ KIM THANH MSSV: 4104090
ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT KINH TẾ CỦA
HỘ GIA ĐÌNH TRONG KHI NGẬP LỤT TẠI
Trang 3iii
LỜI CẢM TẠ
Qua thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ em chân thành biết ơn Quý Thầy Cô, đặc biệt là Thầy Cô khoa Kinh tế - QTKD đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báo trong suốt quá trình em học tập tại trường Đặc biệt em vô cùng biết ơn Thầy Võ Thành Danh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình em thực hiện đề tài
Ngoài ra, em cũng xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến bạn Lê Thị Ngọc Dung, bạn Đoàn Phạm Bích Trâm, bạn Trịnh Kim Lanh, bạn Nguyễn Thị Cẩm Chi đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu sơ cấp, đóng góp ý kiến để em hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ, ủng hộ và động viên em vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, em xin gửi đến các Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ; Khoa Kinh Tế - QTKD, Thầy Võ Thành Danh và các bạn lời chúc sức khỏe dồi dào, luôn thành đạt trong công việc và cuộc sống
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đinh Thị Kim Thanh
Trang 4iv
CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi
và các kết quả nghiên cứu này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đinh Thị Kim Thanh
Trang 5v
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên Giáo viên hướng dẫn: Võ Thành Danh
Học vị: Phó giáo sư – Tiến sĩ
Chuyên ngành: Kinh tế
Cơ quan công tác: Khoa Kinh Tế - QTKD, Trường Đại Học Cần Thơ
Họ và tên sinh viên thực hiện đề tài: Đinh Thị Kim Thanh
MSSV: 4104090
Chuyên ngành: Kinh Tế Học
Tên đề tài: “ Đánh giá tổn thất kinh tế của hộ gia đình trong khi ngập lụt tại
Thành phố Cần Thơ”
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên đề đào tạo:
2 Về hình thức:
3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:
4 Độ tin cậy về số liệu và tính hiện đại của luận văn:
5 Nội dung và các kết quả đạt được:
6 Các nhận xét khác:
7 Kết luận:
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6vi
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giáo viên phản biện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 7vii
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHON ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian 2
1.3.2 Thời gian 2
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 CÁCH TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU 2
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 3
1.6.1 Thu thập số liệu sơ cấp 3
1.6.2 Thu thập số liệu thứ cấp 3
CHƯƠNG 2 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 4
2.1.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 4
2.1.2 Các khái niệm liên quan 4
2.2.3 Những tác động gây ngập đô thị 5
2.2.4 Chiến lược ứng phó 7
2.2 KHUNG NGHIÊN CỨU 9
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 11
CHƯƠNG 3 14
GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ 14
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 14
3.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc diểm địa hình 14
3.1.1.2 Khí hậu thủy văn 15
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
3.1.2.1 Dân số 17
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng 17
3.1.2.3 Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế chủ yếu 18
Trang 8viii
3.1.2.4 GDP và thu nhập bình quân đầu người 19
3.2 THỰC TRẠNG NGẬP LỤT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 19
3.2.1 Tình hình ngập lụt tại thành phố Cần Thơ 19
3.2.2 Nguyên nhân gây ra ngập lụt hiện nay 22
3.2.3 Dự kiến tình hình ngập lụt trong tương lai 25
3.2.4 Hậu quả của ngập lụt đô thị 26
CHƯƠNG 4 28
TỔN THẤT KINH TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG KHI NGẬP TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 28
4.1 MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA 28
4.1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 28
4.1.2 Thông tin đáp viên và chủ hộ gia đình ở quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ 31
4.1.2.1 Thông tin chủ hộ 31
4.1.2 Thông tin của hộ gia đình ở quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ 32
4.1.2.1 Mô tả nhân khẩu, vị trí nhà ở và thời gian định cư 32
4.1.2.2 Mô tả nhà ở 34
4.1.3.3 Mô tả thu nhập của hộ gia đình 35
4.1.4 Thông tin đáp viên theo đường lớn và hẻm 35
4.2 ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT KINH TẾ Ở CẤP ĐỘ HỘ GIA ĐÌNH TRƯỚC KHI
NGẬP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ 41
4.2.1 Phân loại tổn thất kinh tế trong khi ngập lụt ở cấp độ gia đình 41
4.2.2 Đo lường những chi phí trực tiếp và gián tiếp ở cấp độ gia đình trong khi ngập 42
4.3 Đo lường tổn thất chi phí qua mỗi lần, tháng, năm ngập 44
4.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔN THẤT KINH TẾ DO NGẬP Ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ 45
CHƯƠNG 5 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.2 KIẾN NGHỊ 49
Trang 9ix
MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê một số đợt ngập úng ở Thành phố Cần Thơ 20
Bảng 3.2 Thống kê các nguyên nhân ngập và tỉ lệ ngập 24
Bảng 4.1 Các tháng bị ngập và số lần ngập trong tháng 28
Bảng 4.2 Kiến thức và thái độ của các hộ gia đình về ngập đô thị ở địa bàn nghiên cứu 29
Bảng 4.3 Kế hoạch đối phó với ngập của hộ gia đình 31
Bảng 4.4 Một số đặc điểm của chủ hộ ở quận Ninh Kiều – thành phố Cần Thơ 32
Bảng 4.5 Đặc điểm nhân khẩu của hộ gia đình ở địa bàn nghiên cứu 33
Bảng 4.6 Chi tiết về căn nhà của các hộ gia đình 34
Bảng 4.7: Giới tính của chủ hộ ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 36
Bảng 4.8: Thông tin tuổi của chủ hộ ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 36
Bảng 4.9: Trình độ học vấn của chủ hộ ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 36
Bảng 4.10: Nghề nghiệp của chủ hộ ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 37
Bảng 4.11: Số thành viên của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 37
Bảng 4.12: Số thành viên dưới 15 tuổi và trên 60 tuổi của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 38
Bảng 4.13: Thời gian cư trú của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố 39
Bảng 4.14 Diện tích nhà của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 39
Bảng 4.15: Số tầng nhà của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 39
Bảng 4.16: Năm xây dựng nhà của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ 40
Bảng 4.17: Loại hình nhà ở của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố 40
Bảng 4.19: Thu nhập hàng năm của các hộ gia đình ở quận Ninh Kiều, thành phố 41
Bảng 4.20 Đo lường những chi phí trực tiếp ở cấp độ hộ gia đình trong một đợt ngập 42
Bảng 4.21 Đo lường những chi phí gián tiếp ở cấp độ hộ gia đình trong một đợt ngập 43
Bảng 4.23 Tổng chi phí gian tiếp qua mỗi lần, tháng, năm ngập 44
Bảng 4.24 Tổng hợp chi phí do ngập 45
Bảng 4.25 Diễn giải các biến độc lập với dấu kỳ vong trong mô hình 46
Bảng 4.26 kết quả phân tích hồi quy đa biến 47
Trang 10x
MỤC LỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ về sự hình thành tổng chi phí kinh tế trong nghiên cứu ngập lụt 10
Hình 2.2 Các loại chi phí trực tiếp và gián tiếp trong sơ đồ tổng chi phí kinh tế 11
Hình 2.3 Mẫu và phân bố mẫu điều tra 12
Hình 3.1 Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ 14
Hình 3.2 Bản đồ cao độ Thành phố Cần Thơ 15
Hình 3.3 Biểu đồ gia tăng nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ 15
Hình 3.4 Biểu đồ thay đổi lượng mưa cả năm tại Cần Thơ 16
Hình 3.5 Biểu đồ cao độ mực nước cuối tháng 9 và cuối tháng 10 năm 2011 tại Thành phố Cần Thơ 21
Hình 3.6 Cơn mưa kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ ngày 6/9/2013 đã làm 22
Hình 4.1 Vị trí nhà 33
Hình 4.2 Biểu đồ năm xây dựng nhà 35
Hình 4.3 Tỉ lệ phần trăm thiệt hại của chi phí trực tiếp 42
Trang 11xi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TN & MT: Tài nguyên và Môi trường
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 121
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHON ĐỀ TÀI
Hiện nay, biến đổi khí hậu đã tác động mạnh đến toàn thế giới và được rất nhiều người quan tâm đến Lũ lụt là một hiện tượng và là một hậu quả của biến đổi khí hậu Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt Trong khi đó, Đồng bằng Sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước, song hằng năm lũ từ sông kéo về ngập gần 2,0 triệu ha, kéo dài từ 4-6 tháng, không những trở ngại về sản xuât mà còn thiệt hại lớn về người và tài sản Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, trên trục giao thông thủy – bộ phận quan trọng là cầu nối giữa thành
phố Cần Thơ với các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long
Cần Thơ là thành phố có khoảng 1,2 triệu dân nằm trên bờ phía Nam sông Hậu, nhánh lớn của sông Cửu Long Nó nằm trên bờ của một con sông lớn và có độ cao thấp, làm cho nó dễ bị tổn thương bởi các yếu tố trên ảnh hưởng đến nguy cơ lũ lụt Địa hình thành phố Cần Thơ có địa hình bằng phẳng, trũng ở vùng phía Bắc, nên thường bị ngập ngúng vào mùa mưa lũ tháng 9 hằng năm Ở thành phố Cần Thơ, cứ vào tháng 9, tháng 10 là triều cường bắt đầu lên và bên cạnh đó nước lũ bắt đầu đổ về thế nên sông Hậu lúc nào cũng đầy nước.Bên cạnh đó, sự gia tăng nhanh chóng của dân số,điều kiện sống của người dân kém và chất lượng kém của cơ sở hạ tầng cũng gây ra tổn thương cho thành phố làm cho lũ lụt gia tăng
Lũ ở thành phố Cần Thơ là hiện tượng tự nhiên và xảy ra hằng năm đem lai không ít nguồn lợi cho người dân khu vực: nguồn lợi thủy sản dồi giàu ,bồi đắp phù sa tăng sản lượng nông nghiệp, rửa mặn phèn và độc chất tích tụ ở các vùng trũng Bên cạnh đó, chính lũ lụt cũng gây ra những tổn thất không hế nhỏ về người và của người dân, làm mất mùa và giảm năng suất khi lũ lên nhanh , làm phá hại các công trình công cộng, nhà dân và đặc biệt là ngập ở vùng đô thị sẽ ảnh hưởng nặng đến sinh kế
và tổn thất về kinh tế- xã hội Đứng trước thực trạng này nên việc nghiên cứu “ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT KINH TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG KHI NGẬP LỤT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ” là cấp thiết và phù hợp Dựa trên các vấn đề ngập lụt mà người dân phải đối phó sau đó tìm ra phương pháp thích hợp để đo lường thiệt hại kinh
tế qua một mùa ngập lụt từ đó sẽ đề ra những biện pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại của ngập lụt trong khu vực thành phố Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp người dân hạn chế được thiệt hại do lũ lụt
Trang 13Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Đây
là khu vực ngập lụt nghiêm trọng nhất trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ
1.3.2 Thời gian
Thông tin về số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2010-2013; Thông tin về số liệu sơ cấp được thu thập trong mùa lũ lụt vào tháng 9/2013; Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2013 dến 11/2013;
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Hộ gia đình bị ảnh hưởng do ngập lụt trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ
1.4 CÁCH TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU
Sử dụng lý thuyết về chi phí cơ hội để tính toán thiệt hại về kinh tế mà người dân phải gánh chịu trước khi ngập lụt trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính và phân tích định lượng để phân tích nhằm làm rỏ các mục tiêu cụ thể được đã được đặt
ra
Trang 143
1.6 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
1.6.1 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu chính của bài thu được từ việc phỏng vấn các hộ gia đình trên địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo địa lý để thu thập số liệu
1.6.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Thành phố Cần Thơ; các
số liệu về liên quan đến ngập lụt trên địa bàn quận Ninh Kiều Thành phố Cần Thơ Các số liệu sử dụng lấy từ sách, báo, niên giám thống kê, internet, và các nghiên cứu
khoa học
Trang 15
4
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Chi phí cơ hội là những lợi ích bị bỏ qua bằng cách sử dụng một nguồn lực giới hạn cho một mục đích thay vì cho sự sử dụng thay thế tốt nhất kế tiếp của nó (Gittinger, 1996)
Các giá trị của chi phí cơ hội trong quá trình ngập lụt là kết quả của mất năng suất, ngày làm bị mất và tăng thời gian đi lại với công việc và gia đình Giá trị của năng suất lao động bị mất sẽ được ước tính dựa trên thu nhập của người trả lời và giả định về mức lương tối thiểu hằng ngày Bên cạnh đó, lợi nhuận hay doanh thu của các nhà cung cấp, cửa hàng bán lẻ bị mất do ngập lụt được coi là chi phí cơ hội và nó cần được tính đến
Chi phí cơ hội trong ngập đô thị là chi phí mà người dân phải gánh chịu trong khi ngập lụt đô thị và phải đánh đổi những lợi ích, chi phí trong ngập đô thị như giảm doanh thu, mất thu nhập, chi phí về thời gian,chi phí liên quan đến sức khỏe
2.1.2 Các khái niệm liên quan
Lụt là hiện tượng nước trong sông, hồ tràn ngập một vùng đất Lụt có thể dùng
để chỉ ngập do thủy triều, nước biển dâng do bão Lụt có thể xuất hiện khi nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào các vùng đất được đê bảo vệ
Lụt có thể xảy ra khi mực nước sông dâng cao do lũ lớn làm tràn ngập và phá
hủy các công trình, nhà cửa dọc theo sông Có thể giảm thiệt hai do lũ bằng cách di dời dân cư xa sông, tuy nhiên các hoạt động kinh tế, dân sinh thường gắn liền với sông Do vậy, con người vẫn cứ định cư trong những khu vực có nhiều rủi ro bị thiệt hại do lũ, khi đó giá trị thu được do sống gần vực sông cao hơn là chi phí dự báo lũ định kỳ Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất (Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của Thành phố Cần Thơ giai đoạn 2010-2015, 2011)
Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão… Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của
Trang 165
đại dương và các yếu tố khác (Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của Thành phố Cần Thơ giai đoạn 2010-2015, 2011)
Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn
Nó được sử dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế Chi phí cơ hội dựa trên cơ sở nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựa chọn Lựa chọn tức là thực hiện sự đánh đổi, tức là để nhận được lợi ích nào đó buộc chúng ta phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó
Chi phí cơ hội là khái niệm chìa khóa trong trong kinh tế học Chi phí cơ hội là những lợi ích bị bỏ qua bằng cách sử dụng một nguồn lực giới hạn cho một mục đích thay vì cho sự sử dụng thay thế tốt nhất kế tiếp của nó (Gittinger, 1996)
Chi phí trực tiếp đối với một đối tượng chịu chi phí là loại chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí và có thể tính trực tiếp cho đối tượng đó một cách hiệu
quả/ít tốn kém (Horngren et al, 1999)
Chi phí gián tiếp đối với một đối tượng chịu chi phí là loại chi phí liên quan đến
đối tượng chịu chi phí, nhưng không thể tính trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí đó một cách hiệu quả Nói đúng hơn, chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Do vậy, chi phí gián tiếp được phân phối cho các đối tượng chịu chi phí bằng các phương pháp phân bổ chi phí (Horngren et al, 1999)
Định phí là loại chi phí không thay đổi trong một kỳ hoạt động
Biến phí là loại chi phí thay đổi trong một kỳ hoạt động
2.2.3 Những tác động gây ngập đô thị
Tác động của đô thị hóa
Năm 2008, lần đầu tiên trong lịch sử của nền văn minh nhân loại, hơn một nửa dân số thế giới sống ở các thành phố Đến năm 2030, dân số đô thị sẽ đạt 5 tỷ - chiếm 60% dân số thế giới (Liên Hợp Quốc, 2006) Sự gia tăng dân số đô thị xảy ra nhanh hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển Nhiều thành phố trong sự phát triển của thế giới đang lớn mạnh nhanh chóng do dân số thực tăng nhanh, nhưng phần lớn do di cư từ nông thôn ra các thành phố, và chuyển đổi các khu định cư nông thôn vào thành phố
Kết quả là một sự mở rộng đô thị không được kiểm soát với sự gia tăng các khu định cư của con người, sự phát triển công nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng (Liên Hợp Quốc, 2006)
Đô thị hóa luôn luôn làm tăng nguy cơ lũ lụt do hậu quả của tổn thương cao, bắt nguồn từ sự tập trung dân số, sự giàu có, và cơ sở hạ tầng cho các khu vực nhỏ hơn (Taisuke et al, 2009) Nguy cơ lũ lụt cũng tăng lên bởi những thay đổi thủy văn và khí hậu mang lại từ việc sử dụng đất và thay đổi vi khí hậu do đô thị hóa (WMO/GWP,
Trang 17Trong khu vực đô thị hóa, một lượng lớn nhiệt thải được phát ra do các hoạt động của con người, và sự gia tăng tiêu thụ năng lượng đang gây ra các vấn đề môi trường, bao gồm cả gia tăng nhiệt độ trong không khí đô thị (Aikawa et al., 2008) Sự thiếu vắng cây xanh làm giảm thoát hơi nước và do đó dòng nhiệt tiềm ẩn Hơn nữa, khu vực đô thị tập trung nhiều các tòa nhà gạch, bê tông hoặc nhựa đường, các đối tượng
có thể hấp thụ năng lượng mặt trời rồi nung nấu chúng và phát nhiệt trở lại làm nóng không khí xung quanh Những thay đổi này có thể có tác động lớn đến lưu thông trong nước và các thông số khí tượng, liên kết của nó với lượng mưa (Aikawa et al., 2008)
Tác động của biến đổi khí hậu
Sự thay đổi và biến đổi khí hậu có tác động trực tiếp đến nguy cơ lũ lụt toàn cầu (Milly et al., 2008) Tăng tần số xuất hiện của các sự kiện lũ lụt trên thế giới một phần
là do sự gia tăng biến đổi khí hậu của lượng mưa cực độ (IPCC, 2002, 2007) Do sự nóng lên toàn cầu, chu kỳ nước toàn cầu có thể được tăng tốc, dẫn đến nhiều khu vực
có tăng cường độ lũ lụt, cũng như tần suất lũ Biến đổi khí hậu làm cho thời tiết khó dự đoán hơn, mưa không chắc chắn hơn và cơn bão có lượng mưa lớn hơn Sấm sét lớn dường như đã tăng tần số (ActionAid, 2006)
Tỷ lệ mắc lũ ở các thành phố có bờ biển hoặc trên vùng đồng bằng sông cũng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu thông qua những thay đổi trong mực nước biển, thủy triều và dòng chảy thay đổi quy mô lớn (dẫn đến thay đổi mực nước sông) Những thay đổi trong mực nước biển là khá lớn cũng được nghiên cứu (IPCC, 2007) Mực nước biển dâng trung bình toàn cầu là 9-88 cm dự kiến trong hàng trăm năm tiếp theo (UNFCCC, 2005) Ở Việt Nam, mực nước biển tăng ở mức khoảng 3mm 1 năm (yr -1
) trong giai đoạn 1993-2008 (Bộ TN & MT, 2009) Mực nước biển dâng làm tăng nguy
cơ lũ lụt ven biển và đồng bằng, đặc biệt là trong trường hợp có bão đổ bộ
Trang 187
Kết quả của những thay đổi cục bộ do đô thị hóa và tác động của biến đổi khí hậu cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến lũ lụt trong tương lai của Cần Thơ Mực nước biển của biến đổi khí hậu theo định hướng và gia tăng dòng chảy gây ra sự gia tăng nghiêm trọng nhất đối với nguy cơ lũ lụt trong thành phố Trong trường hợp mực nước biển tăng tồi tệ đến 100 cm, sự quá tải từ thượng nguồn, thủy văn khu vực và những thay đổi khí tượng thủy văn do sự phát triển cao sẽ làm tăng độ sâu ngập lụt tối đa của một
sự kiện tương tự như năm 2009 lũ khoảng 80%
2.2.4 Chiến lược ứng phó
Trước tình trạng ngập lụt đang diễn ra thì thành phố đã xây dựng một cuộc khảo sát nhận thức về rủi ro về ngập lụt ở thành phố Cần Thơ và đã nhận được một số nhận xét, dưới đây tổng hợp lại các nhận xét chung về rủi ro ngập lụt:
Cần Thơ dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai như xói mòn bờ sông ở Phong Điền, Bình Thủy, lũ lụt gây ra bởi bởi biến đối khí hậu Ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Mực nước lũ trong tương lai có thể cao hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ có tác động tiêu cực, gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp và nền kinh tế địa phương Ảnh hưởng nghiêm trọng đến GDP, mỗi lần có thiên tai sẽ làm giảm tỉ lệ tăng trưởng của tổng thu nhập quốc dân trên đầu người Thiệt hại này không đáng kể ngay bây giờ nhưng trong tương lai sẽ nghiêm trong hơn rất nhiều Vì vậy, cần có những hoạt động tuyên truyền và các biện pháp khắc phục các biện pháp ứng phó: đắp đập, xây dựng
đê điều, trạm bơm ; Tổ chức các trung tâm chăm sóc trẻ em trong mùa lũ ; Nâng cấp đường giao thông và hệ thống cống rãnh thoát nước để ngăn chặn lũ lụt
Theo như nhận định thì Cần Thơ dễ bị ảnh hưởng nhiều như thay đổi khí hậu, mực nước dâng, xăm nhập mặn ở huyện Vĩnh Thạnh Ảnh hưởng xấu đến sinh kế do
lũ lụt, giảm mức độ kinh doanh quy mô nhỏ, giao thông cản trở, ảnh hưởng sức khỏe của người cao tuổi Mặt tích cực là phù sa dòng chảy, nguồn lợi thủy sản, tuy nhiên những tác động này sẽ thay đổi trong tương lai Do đó các tổ chức đoàn thể phải nâng cao nhận thức và cung cấp kiến thức cho người dân địa phương Bên cạnh đó, cần phải tuyên truyền kiến thức, tác động của biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu; Đào tạo cho các thành viên cảu Ban chỉ đạo địa phương Ủy ban trong việc phòng chống lụt bão ; Thành lập các đội cấp cứu ứng phó với thiên tai tại các phường xã; Trồng cây để tránh sóng để giảm thiểu tác động của xói mòn, khuyến khích sử dụng năng lượng sạch ; Nạo vét kênh
Những tác động của biến đổi khí hậu đã tác động ở cấp độ toàn cầu và Việt Nam được koi là một trong những nước bị thiên tai nhiều trên thế giới và theo nghiên cứu
về chỉ số rủi ro do biến đổi khí hậu
Chương trình nâng cao nhận thức của cộng đồng giúp mọi người nhận thức được nguy hiểm để ngăn chặn hoặc thích ứng với rủi ro thiên tai ; Các quan chức địa phương quản lý và đào tạo nguồn nhân lực để dáp ứng với các trường hợp khẩn cấp ;
Trang 198
Thành lập một nhóm giám sát rủi ro thiên tai và cảnh báo người dân kịp thời ; Chính quyền địa phương, quốc gia và tôt chức quốc tế hỗ trợ tài chính và công việc để nâng cao nguồn nhân lực đáp ứng với rủi ro thiên tai ; Thực hiện các dự án giảm thiểu thiên tai, chẳng hạn như xây đựng đê điều, trồng cây dọc theo các bờ sông và các biện pháp khác để ngăn chặn lũ lụt, xói mòn
Theo như dự đoán cụ thể với sự tự tin cao về kịch bản và tác động của biến đổi khí hậu; Thiết lập một kế hoạch để đối phó với từng giai đoạn cụ thể, ưu tiên việc nào làm trước; Tuyên truyền chính sách, kế hoạch của chính quyền địa phương trên nhiều phương diện; Thiết lập thực hiện các công trình để kêu gọi sự ủng hộ từ nhiều phía; Lập kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình để sử dụng tốt các nguồn lực
Nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu xác định và ngăn ngừa việc ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với các cán bộ nhà nước, cộng đồng, các danh nghiệp là điều cấp thiết Đào tạo các chuyên gia có trình dộ chuyên môn cao và có năng lực để ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; Lập ra một cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu và tăng cường cung cấp thông tin cần thiết đến người dân địa phương Sắp xếp các cơ quan và phân bổ tài chính để lập các chi nhánh có chức năng thành lập một mạng lưới chuyên nghiệp để quản lí và điều hành tất cả các hoạt động có liên quan đến biến đổi khí hậu Đầu tư các dịch vụ chăm sóc sức khỏe để đảm bảo công ăn việc làm cho những người nghèo và làm giảm ảnh hưởng xấu từ các sản phẩm từ nhựa Xây dựng nhà máy cung cấp nước sạch: dự trữ nước sạch, cung cấp nước, xử lí nước thải và nước thải rắn cho cả thành phố Xây dựng các công trình để ngăn chặn và giải quyết lũ: đắp đê, hệ thống tháo nước Các trường đa chức năng để cho người dân trú ngụ trong suốt mùa thiên tai nó cũng là nơi mà người ta sẽ đến trú đầu tiên khi có tình trạng khẩn cấp Xây dựng và bảo vệ những khu đất dể bị ngập, cũng như nơi để lưu trữ nguồn nước sạch ngăn chặn lụt cho thành phố, cải thiện các điều kiện môi trường, nâng cao mức sống người dân
Theo như thống kê thì số lượng thiên tai ngày càng cao hơn, đất cư trú và đất đẻ sản xuất thì giảm dần, biến đổi khí hậu thì diễn ra thất thường vì thế có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và gây ra những tổn thất nặng nề Vì vậy cần xây dựng một hệ thống cấp và thoát nước bê tông và quy hoạch đô thị cụ thể, tránh để tràn vào các con kênh Chú ý quản lí việc xây dựng các hệ thống xử lí nước thải trước khi đưa vào sản xuất công nghiệp Có những khóa huấn luyện bơi lội cần thiết cho học sinh xây dựng các chính sách hợp lí cũng như hỗ trợ tài chính để thực hiện
Cần Thơ có chịu ảnh hưởng mạnh bởi lũ từ dòng chảy thượng nguồn và nước biển Nâng cao nhận thức và phối hợp điều hành thông qua các CCCO bao gồm chia sẽ thông tin Xây dựng khả năng phục hồi trong y tế Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cộng đồng Có sự hiểu biết tốt hơn và cải thiện thực hành trong việc tái định
cư và nhà ở
Trang 209
2.2 KHUNG NGHIÊN CỨU
Theo ORAPAN NABANGCHANG SRISAWALAK, DALE Whittington, Maura Allaire, PRINYARAT LEANGCHAROEN, và RAWADEE JARUNGPATTANAKIT vào năm 2012 đã nghiên cứu về thiệt hại kinh tế hộ gia đình Đó là một nghiên cứu lũ lụt của Thái Lan Nội dung của nghiên cứu là kiểm tra mức độ và thành phần của các thiệt hại kinh tế ở cấp hộ gia đình; phát triển một sự hiểu biết sâu sắc về các chi phí kinh tế trực tiếp và gián tiếp tại các hộ gia đình trước trong và sau cơn lụt; khả năng tiếp cận với thông tin trước khi lũ đến, và mức độ mà thông tin này là hữu ích trong việc giảm thiệt hại; để xác định các loại can thiệp hỗ trợ và chính sách đó sẽ là hữu ích nhất cho người dân để giảm chi phí từ lũ lụt trong tương lai Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước tính chi phí thiệt hai trực tiếp và gián tiếp của hộ gia đình để đưa đến kết luận là tổn thất trung bình là hơn 2.200 USD, trong khi chỉ có 10% hộ gia đình có tổn thất vượt quá 2.800 USD Như là một phần của chi phí hàng năm, chỉ có một số ít
hộ gia đình phải gánh chịu tổn thất cực kỳ cao.Tổn thất trung bình là một tỷ lệ phần trăm của chi phí hàng năm là 35% Nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải suy nghĩ lại
về các loại thông tin được cung cấp, vì rõ ràng vấn đề không phải là do thiếu cảnh báo sớm, mà là chất lượng và độ chính xác của thông tin trái ngược nhau từ các nguồn khác nhau
Để có được những chi phí liên quan đến lũ lụt, được theo dõi bởi Orapan et al (2012) Giai đoạn trước-trong-sau được sử dụng trong nghiên cứu này Theo cách tiếp cận này, tất cả các chi phí bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp phát sinh trong mỗi giai đoạn được xác định, phân loại và đo lường.Tổng tổn thất kinh tế là kết quả của dòng tiền trước, trong và sau thiệt hại kinh tế Trong mỗi giai đoạn, cách tiếp cận sau đó hoặc dự tính trước được phân ra để xác định và đo lường dòng chi phí liên quan đến lũ lụt Trong giai đoạn trước lũ, đó là các chi phí phòng ngừa bao gồm sự đóng góp của hộ gia đình vào các chi phí liên quan đến cộng đồng sẽ được ước lượng với các giá trị dự tính trước kể từ khi những thiệt hại có thể được dự đoán khá hơn tính toán thực tế Trong khi đó, trong giai đoạn trong và sau lũ, những tổn thất liên quan đến sức khỏe và phi sức khỏe và sự đóng góp của hộ gia đình vào các chi phí liên quan đến cộng đồng được ước lượng với những giá trị sau đó từ khi con người đã trải qua lũ lụt và họ biết tổn thất sẽ là bao nhiêu Hình 2.1 thể hiện cơ sở hình thành của tổng tổn thất kinh tế liên quan đến lũ lụt
Trang 2110
Nguồn: Chương trình môi trường và kinh tế cho Đông Nam Á (IDRC), 2012
Hình 2.1 Sơ đồ về sự hình thành tổng chi phí kinh tế trong nghiên cứu ngập lụt
đô thị Dựa trên khung khái niệm về thiệt hại kinh tế liên quan đến ngập lũ, các chi phí được phân ra làm hai loại đó là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp để phục vụ cho việc thu thập số liệu và tính toán Các chi phí trực tiếp bao gồm chi phí thuê lao động chuẩn bị và mua vật liệu để chuẩn bị đối phó trước khi ngập lụt Một số ví dụ liên quan đến chí phí trực tiếp đó là: hành động phòng ngừa, di chuyển đồ đạc đến nơi cao hơn, xây dựng khối bê tông, chặn những bao cát bên ngoài ngôi nhà, bơm nước, xử lý ống nước thải,… Các chi phí gián tiếp bao gồm lao động của chính mình, lao động tình nguyện, và chi phí cơ hội của thời gian bỏ lỡ công việc, tăng thời gian đi lại Các giá trị của chi phí cơ hội là kết quả của mất năng suất, ngày làm việc bị mất, và tăng thời gian đi lại với công việc và gia đình Giá trị của năng suất bị mất sẽ được ước tính dựa vào thu nhập của người trả lời và giả định về mức lương tối thiểu hằng ngày cho giá trị của khoảng thời gian đã bị mất Bên cạnh đó, lợi nhuận hay doanh thu của các nhà cung cấp, cửa hàng bán lẻ bị mất do ngập lụt được coi là chi phí cơ hội và nó cần được tính đến
Đóng góp của hộ gia đình với cộng đồng sau đó
Tổn thất liên quan đến phi sức khỏe sau
hộ gia đình với cộng đồng sau
đó
Tổn thất liên quan đến
đó
Tổn thất liên quan đến sức khỏe sau
đó
Trang 2211
Nguồn: Chương trình môi trường và kinh tế cho Đông Nam Á (IDRC), 2012
Hình 2.2 Các loại chi phí trực tiếp và gián tiếp trong sơ đồ tổng chi phí kinh tế
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn 250 hộ chủ yếu là ở nội ô thành phố Cần Thơ Cơ
sở để chọn mẫu là các hộ gia đình, hộ buôn bán nằm tại các khu vực bị ngập lụt Để có thể xác định được khu vực bị ngập phải dựa trên các số liệu thứ cấp, khảo sát thực tế của nhóm nghiên cứu Cơ cấu mẫu là các hộ gia đình và hộ buôn bán Vị trí chọn mẫu
là ở đường lớn, trong hẽm và các khu dân cư Kết quả thu được là 250 mẫu được chọn, chi tiết chọn mẫu được thể hiện dưới bản đồ: mẫu và phân bố mẫu điều tra
Chi phí cơ hội của thời gian:
Lao động nhà
Vật liệu
Chi phí gián tiếp
Trang 23Thống kê mô tả ( Descriptive statistics): nghiên cứu việc tổng hợp, số hóa, biểu diễn bằng đồ thị các số liệu thu thập được Sau đó tính toán các tham số đặc trưng cho tập hợp dữ liệu như: trung bình, phương sai, tần suất…Mục đích là để mô tả tập dữ liệu
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong đề tài nhằm mô tả thực trạng chung về ngập và thông tin của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi ngập lụt trên địa bàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Cụ thể như: diễn biến ngập, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nhân khẩu, thu nhập
Trang 2413
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích về chi phí chuẩn bị trong mỗi đợt ngập, phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện có tính so sánh để xem xét, đánh giá, rút ra kết luận về mức độ tổn về chi phí của
ra, sử dụng mô hình hồi quy với phương trình sau:
Để đo lường sớm tác động của ngập lụt từ hệ thống thông tin cảnh báo sớm về thiệt hại kinh tế hộ gia đình, một mối quan hệ nhân quả sử dụng phân tích hồi quy được sử dụng mô tả như trong phương trình sau:
Flood Loss = 0 + βWarning + δC + µH + V +
Trong đó:
Flood Loss (tổn thất do ngập lụt): Hậu quả của ngập lụt (chi phí phát
sinh trong và sau cơn ngập)
Warning: Cảnh báo ngập cấp thành phố nhận được (cấp độ cảnh báo)
C: Vector của các đặc điểm cá nhân (ví dụ: giáo dục, nghề nghiệp…)
H: Vector của các đặc điểm hộ gia đình (ví dụ: thu nhập, số lượng
phương tiện giao thông…)
V: Vector của khu vực nghiên cứu (ví dụ như vị trí: đường chính với
đường hẻm, nội ô với ngoại thành)
0 , β, δ, µ,: Hệ số hồi quy
: Sai số
Trang 25
14
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 3.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc diểm địa hình
Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung – hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, tọa độ: 10°2′N 105°47′E và 10.033°N 105.783°E, trải dài khoảng trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2
, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng Khoảng cách giữa thành phố Cần Thơ và các đô thị khác trong vùng như sau: Long Xuyên 60km; Rạch Giá 116km; Cà Mau 179km Riêng thành phố Hồ Chí Minh và biển Đông lần lượt cách Cần Thơ 169km và 75 km Cần Thơ tiếp giáp với các tỉnh:
- Phía Bắc giáp tỉnh An Giang
- Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long
- Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang
- Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang
Nguồn: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010-2015
Hình 3.1 Bản đồ hành chính Thành phố Cần Thơ
Thành phố có địa hình bằng phẳng và thấp độ cao trung bình khoảng 0,8-1m trên mực nước biển Dãy đất chạy dọc theo Sông Hậu, Quốc lộ 1 và Quốc lộ 91 có cao độ cao hơn, từ 1,0 - 1,5 m trên mực nước biển là các khu vực phát triển ô thị chính Từ sông Hậu, địa hình thấp dần theo hướng từ Đông Bắc đến Tây Nam Vùng phía Bắc là vùng trũng nên thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ tháng 9 hàng năm
Trang 2615
Nguồn: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010-2015
Hình 3.2 Bản đồ cao độ Thành phố Cần Thơ
3.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Khí hậu: Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng nóng và ẩm quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm 27oC Tháng Tư thường có nhiệt độ cao nhất, nhiệt
độ thấp nhất là vào tháng Giêng ít khi xuống dưới 15oC và nhiệt độ không khí trung bình tăng khoảng 0.5 oC trong 30 năm thể hiện hình 3.3
Nguồn: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của Thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2010-2015, 2011
Hình 3.3 Biểu đồ gia tăng nhiệt độ không khí trung bình tại Cần Thơ
từ năm 1978-2008 Cần Thơ có hai mùa rõ rệt Mùa mưa của Cần Thơ kéo dài từ tháng Năm đến tháng Mười Một, trùng với gió mùa Tây Nam, cung cấp 90% lượng mưa cả năm của thành phố, mùa khô từ tháng Mười Hai đến tháng Tư Tổng lượng mưa trung bình/năm
là 1.600mm đến 2.000mm Hình 3.4 thể hiện sự thay đổi lượng mưa cả năm (mm) tại Cần Thơ giai đoạn 1978 – 2008
Trang 27Từ năm 1978 đến 2008 sự suy giảm lượng mưa năm không thấy rõ Nhưng trong
10 năm từ 1998 đến 2008 lượng mưa có khuynh hướng giảm 200mm
Thủy văn: Cần Thơ nằm dọc theo con sông Hậu một nhánh của con sông quốc tế MeKong Cần Thơ có một mạng lưới kênh rạch lớn nhỏ, chằng chịt, có tổng chiều dài khoảng 3.405km, mật độ kênh rạch khoảng 2km kênh rạch/km2 và có diện tích mặt nước khoảng 6.800 ha Chế độ thủy văn dòng chảy trên hệ thống sông, kênh thuộc thành phố Cần Thơ chịu sự chi phối của dòng chảy thông qua sông Hậu Hệ thống sông rạch chính tại Cần Thơ gồm:
Sông Hậu: là nhánh phía Tây của sông MeKong trong lãnh thổ Việt Nam, vừa là
nguồn cung cấp nước ngọt chính cho Đồng bằng sông Cửu Long và Cần Thơ, vừa là ranh giới tự nhiên của thành phố Cần Thơ với 02 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long Sông Hậu cũng là thủy lộ Quốc tế cho các tàu đi về Campuchia Sông Hậu là con sông lớn nhất của vùng với tổng chiều dài chảy qua Cần Thơ là 55 km Tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông MeKong) Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần 1/2 tổng lượng phù sa sông MeKong)
Hệ thống các kênh rạch nội đồng: Rạch Cần Thơ (dài 16km đổ ra sông Hậu tại
bến Ninh Kiều), rạch Bình Thủy, rạch Trà Nóc, rạch Ô Môn, rạch Thốt Nốt, kênh Cái Sắn, Đây là những kênh rạch lớn dẫn nước từ sông Hậu vào các vùng nội đồng và nối liền với kênh rạch của các tỉnh lân cận thành phố Cần Thơ, có nước ngọt quanh năm vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ
và có ý nghĩa lớn về giao thông
Trang 28Về lâu dài, nếu không có biện pháp đủ mạnh để ứng phó với ngập lụt thì phần lớn diện tích đất của Cần Thơ có thể sẽ chìm trong nước
BĐKH toàn cầu sẽ tác động đáng kể trong nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ tại Cần Thơ
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số
Dân số Cần Thơ năm 2012 là 1.220.160 người Mật độ dân số trung binh trên toàn thành phố là 866,01 người/Km2, nhưng phân bố không đồng đều giữa các quận huyện Quận Ninh Kiều có mật độ dân số cao nhất, khoảng 8.617 người/Km2, các quận Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn và Thốt Nốt có mật độ dân số trung bình từ 1.008 đến 1.667 người/Km2, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh có mật độ dân số thấp
từ 387 đến 803 người/Km2 Hầu hết dan số là người kinh ( 96,89%), các nhóm dân tộc khác chiếm tỉ lệ không dáng kể (Hoa: 1.4%, Khơ me 1.7%, khác 0.05%) Thành phố Cần Thơ có dân số trẻ, trên 62% dân số trong độ tuổi lao động 15-60 ( Nguồn Niên giám thống kê)
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Thành phố Cần Thơ được cấp điện chủ yếu từ lưới điện quốc gia qua đường dây 220KV, cung cấp điện cho thành phố qua đường dây 110KV và 6 trạm biến áp Ngoài nguồn cung cấp trên, thành phố được Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng dự án Trung tâm điện lực Ô Môn với tổng công suất cho 4 nhà máy với công xuất 2.700MW Toàn thành phố có 2.762,84 km đường bộ, trong đó có 123,715 km đường quốc
lộ, 183,85 km đường tỉnh, 332,87 km đường huyện, 153,33 km đường đô thị, 1.969,075 km đường ấp, xã, khu phố Mạng lưới đường thủy trên địa bàn có tổng chiều dài 1.157 km, trong đó có khoảng 619 km có khả năng vận tải cho loại phương tiện trọng tải từ 30 tấn trở lên Các tuyến đường sông do quận, huyện quản lý gồm 40
Trang 2918
tuyến với tổng chiều dài 405,05 km, đảm bảo cho phương tiện trọng tải từ 15 - 60 tấn hoạt động Ngoài ra Thành phố Cần Thơ còn có Sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đã chính thức đi vào hoạt động khai thác thương mại các tuyến quốc nội từ ngày 03 tháng 01 năm 2009 và mở các tuyến bay quốc
tế vào cuối năm 2010
Cần Thơ nằm bên bờ phía nam sông Hậu, một bộ phận của sông Mê Kông chảy qua 6 quốc gia, đặc biệt là phần trung và hạ lưu chảy qua Lào, Thái Lan và Campuchia Các tàu có trọng tải lớn (trên 1.000 tấn) có thể đi các nước và đến Cần Thơ dễ dàng Ngoài ra, tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tư là cầu nối quan trọng giữa TP Hồ Chí Minh, tỉnh Hậu Giang và Cà Mau
Ngoài ra, hệ thống cảng của Cần Thơ đang được nâng cấp, gồm Cảng Cần Thơ
có thể tiếp nhận tàu tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT, cảng Trà Nóc có 3 kho chứa lớn với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000 tấn/ năm có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng có thể phục vụ ̣cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm
Hệ thống bưu điện, viễn thông của thành phố Cần Thơ gồm 1 bưu điện trung tâm, 4 bưu điện huyện đủ điều kiện cung cấp thông tin liên lạc giữa Cần Thơ với các nước trên thế giới Về Bưu chính có 01 doanh nghiệp nhà nước và hơn 24 doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn đảm nhận, có hệ thống ổn định với 35 bưu cục, 48 điểm bưu điện văn hóa xã và 216 đại lý bưu điện, điểm giao dịch chuyển phát Cần Thơ có 2 nhà máy cấp nước sạch có công suất 70.000 m³/ngày, và dự kiến xây dựng thêm một số nhà máy để có thể cung cấp nước sạch 200.000 m³/ngày
3.1.2.3 Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế chủ yếu
Từ khi trở thành đô thị trực thuộc Trung ương kể từ ngày 1/1/2004, thành phố Cần Thơ tập trung xây dựng, phát triển các ngành kinh tế chủ yếu một cách tích cực và đồng bộ, tạo đà cho kinh tế thành phố bứt phá, trở thành trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ, so với cùng kỳ năm trước, 4 tháng đầu năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp của thành phố tăng 5,8%; giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 12.658 tỉ đồng, tăng 3,1%; giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 7.599 tỉ đồng, tăng 7,2% Tổng mức bán ra hàng hóa và doanh thu dịch
vụ ước thực hiện 39.323 tỉ đồng, tăng 17,2%; tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ 20.328 tỉ đồng, tăng 15% Kim ngạch xuất khẩu hàng ước thực hiện 397,3 triệu USD, tăng 11,1%… Kế hoạch vốn thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn thành phố đến tháng 4 năm 2013 khoảng 2.716,1 tỉ đồng Đến ngày 2/5/2013, thành phố đã thực hiện thanh toán và tạm ứng vốn xây dựng cơ bản được 1.301,9 tỉ đồng; trong đó vốn trái phiếu chính phủ giải ngân 610,8 tỉ đồng…
Trang 3019
3.1.2.4 GDP và thu nhập bình quân đầu người
GDP Cần Thơ 6 tháng đầu năm 2013 tăng trưởng 8,38% Mức tăng trưởng này cao hơn so với cùng kì năm 2012 là 8,12% Theo báo cáo của UBND thành phố Cần Thơ tại kỳ họp Hội đồng nhân dân thành phố vừa qua, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) ước đạt 9.339 tỉ đồng ( giá so sánh 94), tăng 8,38% so với cùng kì
- Giá trị sản xuất công nghiệp ( theo giá so sánh năm 2010) ước thực hiện 20.160 tỉ đồng, tăng 7,1%
- Tổng mưc bán ra hàng hóa và doanh thu dịch vụ 57,469 tỉ đồng, đạt 47,9%
kế hoạch, tăng 14,3%
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 615 triệu USD, đạt 42,2% so với
kế hoạch, tăng 8,19% so với cùng kỳ kim ngạch xuất khẩu thực hiện ước
142 triệu USD, đạt 40,8% kế hoạch , tăng 2,03% so với cùng kỳ
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện ước 17.582 tỉ đồng đạt 47.5
kế hoạch
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước thực hiện là 4.889,1 tỉ đồng, đạt 57,4% HĐND thành phố giao cho, tăng 61,7 so với cùng kỳ
- Giải quyết việc làm cho 27.749 lao động, đạt 55,5% kế hoạch
(Nguồn Cần Thơ protal/ Báo Cần Thơ)
Trong điều kiện hết sức khó khăn, Cần Thơ vẫn giữ mức tăng trưởng khá cao, thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 17%, năm 2012 đạt 53,7 triệu đồng/người
3.2 THỰC TRẠNG NGẬP LỤT TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
3.2.1 Tình hình ngập lụt tại thành phố Cần Thơ
Cũng giống như các thành phố khác ở Việt Nam, Cần Thơ phải đối mặt với nhiều vấn đề điển hình của đô thị hóa (ví dụ như ô nhiễm môi trường, các vấn đề xã hội), nhưng một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là lũ lụt Gần đây, lũ lụt trong thành phố đã xảy ra thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn Nó đã được báo cáo trong quá khứ, các khu vực ngập lụt thường chiếm khoảng 30% tổng diện tích thành phố, nhưng gần đây con số này đã tăng lên đến 50% (Trần Văn Tư, 2010) Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ra lũ lụt là một sự kết hợp của các yếu tố Lũ lụt nghiêm trọng xảy ra khi mưa lớn trùng với mức sông cao do thủy triều và dòng chảy thượng nguồn Ngoài ra, hoạt động sử dụng đất kém như xây dựng trong khu vực bị lũ lụt đã góp phần vào sự gia tăng này Ngập lụt xảy ra ngay cả khi lượng mưa cục bộ không quá lớn Có một số sự kiện lũ lụt lịch sử ghi lại trong thành phố một số đó được thảo luận dưới đây
Năm 2000, mưa lớn đã xảy ra sớm hơn so với bình thường trong mùa mưa và gây
ra lũ lụt nghiêm trọng ở sông Mekong hạ lưu sông Cửu Long (Dịch vụ khí tượng thủy văn Quốc gia, 2010) Sự kiện này được coi là một trong những trận lụt lớn nhất đồng
Trang 31và 10 cm do mưa lớn (Bộ TN & MT, 2009b) Ngày 05 tháng mười 2009, mưa lớn kéo dài hơn một giờ và một lần nữa gây ra ngập lụt nghiêm trọng cho thành phố Một số tuyến đường như Mậu Thân, Trần Hưng Đạo, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hòa Bình, và Lý Tự Trọng bị ngập dưới mực nước cao một mét Các cư dân nói rằng đây là cơn lũ lớn nhất trong nhiều thập kỷ Nhiều ngôi nhà và những con đường trong thành phố bị ngập Hằng năm vào mùa mưa, dặc biệt là giai đoạn từ tháng VII – XI nhiều khu vực ở Cần Thơ bị ngập úng, ngập triều với độ sâu ngập phổ biến từ 0,3 – 1,5 mét (tùy khu vực và thời gian), thời gian ngập úng 2 -6 tháng Vùng ngập triều, mưa chủ yếu là ở nội ô Thành phố Cần Thơ
Tình trạng ngập úng ở Thành phố Cần Thơ xảy ra ngày càng nghiêm rọng trên diện rộng, ngập úng xảy ra thường xuyên và kéo dài hơn, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng Theo một khảo sát của Bộ Xây dựng, nếu như mùa lụt lịch sử từ thang VII đến tháng XI/2000, Cần Thơ chỉ có một vài vùng ven bị ngập từ 30 cm trở xuống thì mưa
lũ năm 2006 đã có hơn 80% diện tích thành phố bị ngập, nhiều khu vực ngập sâu 0,5 mét
Nguồn: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng Thành phố Cần Thơ, 2011
Trong năm 2008, Thành phố Cần Thơ có 21/81 tuyến đường tại trung tâm Thành phố bị ngập lụt do triều cường, trên 10 tuyến đường ngập nghẹt nước mưa, trong đó có
Trang 3221
nơi ngập sâu trên 30 cm Hầu hết các quận đều bị ngập khi triều cường hoặc mưa có thời đoạn lớn Nhiều con đường chính tại trung tâm thành phố như đại lộ Hòa Bình, Nguyễn Trãi, Lý Tự Trọng, Ngô Quyền, Xô Viết Nghệ Tĩnh thường xuyên biến thành sông khi mưa lớn hoặc triều cường dâng cao Không chỉ tại các tuyến đường chính, hàng trăm con hẽm cũng chịu ngập, nghẹt kéo dài
Ngày 5/10/2009, một trận mưa cực lớn kết hợp với đỉnh triều cường đã làm trên
20 tuyến đường nội ô Cần Thơ chìm sâu trong nước Một số tuyến đườ ng bị ngập sâu từ 0,5 đến hơn 1m nước như : Lý Tự Trọng , Châu Văn Liêm , Ngô Quyền , Trần Bình Trọng, Đa ̣i lô ̣ Hòa Bình và nhiều con hẻm còn ngâ ̣p sâu hơn rất nhiều Nhiều người dân sống lâu năm ở Cần Thơ cho biết, đây là trận ngập sâu nhất trong vòng hơn 40 năm qua ( Nhóm phóng viên ĐBSCL, 2009)
Năm 2011, lũ lớn xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại nghiêm trọng trong đó có thành phố Cần Thơ Cần Thơ nằm ở hạ nguồn chịu tác động của lượng lũ thượng nguồn đổ về và các đợt triều cường ở biển Đông dâng lên ở mức cao đã gây ra tình trạng ngập lụt diện rộng trên địa bàn thành phố, cụ thể như sau:
Nguồn: Ban chỉ huy phòng chống lụt bão – tìm kiếm cứu nạn, 2011
Hình 3.5 Biểu đồ cao độ mực nước cuối tháng 9 và cuối tháng 10 năm 2011 tại
Thành phố Cần Thơ
Qua biểu đồ ta thấy, trong khoảng từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 10/2011 trên địa bàn thành phố Cần Thơ chịu ảnh hưởng của 3 đợt lũ, trong đó có 2 đợt lũ lịch sử với mức nước dâng rất cao gây ngập lụt nghiêm trọng
- Đợt lũ cuối tháng 9 kéo dài 07 ngày từ 26/9 (1,72m) đến 02/10 (1,80m) đỉnh triều xuất hiện vào ngày 29/09 với cao độ mực nước là 2,11m
- Đợt lũ giữa tháng 10 kéo dài 05 ngày từ 11/10 đến 15/10, đỉnh của đợt triều cường này xuất hiện vào ngày 12/10 là 1,75m chỉ cao hơn báo động I (1,70m)
Trang 3322
là 05 cm, mức ngập không đáng kể
- Đợt lũ cuối tháng 10 kéo dài 08 ngày từ 24/10 (1,84m) đến 31/10 (1,97m); đỉnh triều xuất hiện vào ngày 27/10 với cao độ mực nước là 2,15m (cao hơn đỉnh triều tháng 9 năm 2011 là 0,04m và vượt báo động III là 0,25m) là mực nước cao kỷ lục, đây cũng là mực nước cao nhất trong dãy số liệu quan trắc từ năm
1940 trở lại đây, đã gây ngập úng hầu hết các con hẽm và nhiều đường lớn, huyết mạch trong nội ô thành phố Cần Thơ trong nhiều ngày, gây cản trở giao thông, đi lại, sinh hoạt của cộng đồng dân cư
- Gần đây nhất là đợt ngập lụt vào ngày 6/9/2013 do mưa lớn kết hợp triều cường
đã khiến nhiều tuyến đường thành phố Cần Thơ ngập sâu trong nước Nhiều khu vực nước tràn vào nhà dân gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều tuyến đường
xe kẹt cục bộ Cơn mưa kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ đã làm các tuyến đường chính như Hòa Bình ( điểm từ công viên Lưu Hữu Phước đến cuối đường Lý
Tự Trọng), đường Trần Hưng Đạo, Trần Văn Hoài, đường 30/4 và quốc lộ 91B (Thành phố Cần Thơ) bị ngập nặng (Hải Phong/ Đài Tiếng Nói Việt Nam – ĐBSCL, 2013)
Nguồn: Đài Tiếng Nói Việt Nam, 2013
Hình 3.6 Cơn mưa kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ ngày 6/9/2013 đã làm các tuyến đường tại thành phố Cần Thơ ngập sâu (Ảnh: Gia Tuệ)
3.2.2 Nguyên nhân gây ra ngập lụt hiện nay
Ngập lụt do lũ thượng nguồn sông Mekong kết hợp với triều cường
Hầu hết các trận ngập sâu, trên diện rộng đều trùng với thời điểm lũ trên sông đạt
lũ và triều cường lớn nhất tháng IX, X, XI hàng năm Trong những ngày ngập mưa trên thành phố không phải là những trận mưa lớn nhất trong năm Một chhu kỳ triều trung bình 15 ngày trong dó có 1 kỳ triều cường và 1 kỳ triều kém Thời kỳ triều
Trang 3423
cường thường xảy ra vào các ngày 1 và 15 tháng âm lịch ( hoặc trước sau 1 hoặc vài ngày); và kỳ triều kém vào các ngày 7 và 23 thang âm lịch (hoặc trước hay sau 1 hoặc vài ngày) Như vậy trong một thán xuất hiện 2 lần ngập úng tại Thành phố Cần Thơ ở những nơi có địa hình đất thâp và chưa có bờ bao Thời kỳ triều cường trùng với thời
kỳ lũ rút vào tháng XI, thậm chí tháng XII nên mặc dù mực nước trên các con sông giảm dần nhưng vẫn xảy ra tình trạng ngập úng, nhất là vào những năm lũ rut muộn
Do mưa cường suất lớn, kéo dài, tổng lượng mưa trận lớn
Theo các tài liệu thống kê thì đặc điểm mưa của Thành phố Cần Thơ thường là các mưa trận, trận mưa kéo dài từ 30 phút đến 120 phút, có rất ít trận mưa kéo dai tới 3 giờ Lượng mưa khoảng 40-70 mm Vào những tháng mưa như tháng IX, X, XI thì các cơn mưa rào cũng làm cho các hẽm ngõ hkoong có hệ thống cống thoát, hoặc có những cống bị nghẹt không tiêu thoát được, nước dềnh lên cao gây khó khăn trong giao thông và sinh hoạt cho người dân Khi mưa đã kết thúc từ 2-3 giờ đồng hồ nhưng vẫn bị ngập Kết quả điều tra ngập tại Thành phố Cần Thơ năm 2009 như sau:
Trang 3524
Bảng 3.2: Thống kê các nguyên nhân ngập và tỉ lệ ngập
Nguồn: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng Thành phố Cần Thơ, 2011
Ngập do thiếu hệ thống tiêu thoát nước
Hệ thống tiêu thoát nước Thành phố Cần Thơ chưa hoàn thiện và còn rất nhiều hạn chế: thành phố tuy mới phát triển nhưng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau , tầm nhìn và vốn đầu tư khác nhau nên hệ thông tiêu thoát nước chưa đáp ứng được nhu cầu thoát nước Thêm vào đó các hệ thống tiêu thoát nước đã cũ kỹ, hư hỏng , không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, chho nên khi mưa gây ra tình trang ngập úng ở một
số khu vực của thành phố
Hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh
Thành phố Cần Thơ được xây dựng trên địa hình khá phẳng, và bị chia cắt thành từng ô bởi kênh rạch khá dày đặc Đó cũng là điểm thuận lợi cho việc tiêu thoát nước nhưng hệ thống kênh rạch này làm cho việc dẫn nước lũ vô sâu dễ dàng Một trong những giải pháp chống ngập hiện tại của Thành phố Cần Thơ là đắp đê bao hai bên bờ kênh và tôn nền xây dựng và các kênh rạch phải được nạo vét thường xuyên để không
co vật cản để làm ảnh hưởng đến chế độ của dòng chảy ( nhà cửa, rác thải, san lấp kênh rạch) Tuy nhiên do ý thức của người dân chưa cao nên người dân thường có những hành vi không đúng như xả rác xuống đường, các kênh rạch, đường tiêu thoát nước bừa bãi, xây dựng nhà chiếm lấn các kênh rạch, các công tiêu thoat nước làm ảnh hưởng đến việc tiêu thoát nước gặp nhiều khó khăn hơn Theo kết quả của cuộc khảo sát địa hình năm 2009, hầu hết các cao trình đê bao kênh rạch chưa đáp ứng cao trình
Trang 3625
chống lũ, dòng chảy trên một số keeh rạch bị cản trở bởi việc xây dựng nhà ven sông,
xả rác vào các lòng kênh và một số kênh bị sang lấp làm đất xây dựng
Quá trình xây dựng đô thị, cải tạo đô thị
Do quá trình đô thị hóa đã làm giảm sự điều tiết tự nhiên của bề mặt lưu vực, san lấp làm giảm các khu trữ nước tự nhiên Ở khu vực nội thành, phần lớn bề mặt đất bị
bê tông hoá, nhựa hoá, xây dựng nhà, công xưởng, do vậy, khi mưa xuống, hầu như toàn bộ lượng nước mưa đều tập trung thành dòng chảy mặt, không thể thấm xuống đất hoặc trữ lại để giảm bớt lượng dòng chảy tập trung Thêm vào đó, khả năng tiêu thoát hạn chế của hệ thống tiêu thoát nước nên hiện tượng ngập úng dễ dàng xảy ra Ngoài ra, một số công trình đang trong quá trình xây dựng do không có những biện pháp dẫn dòng thi công tốt dẫn đến sự ngăn chặn dòng chảy gây ngập cục bộ xung quanh khu vực thi công
Địa hình của thành phố Cần Thơ
Một lý do lũ lụt tại Cần Thơ là địa hình thấp của thành phố, với chiều cao trung bình so với mực nước biển, dao động 1-1,5 m Trong thực tế, nhiều nơi có địa hình dưới 1m so với mực nước biển và khả năng chảy ra sông còn hạn chế Lượng mưa trung bình trong thành phố là không lớn đáng kể (1640mm/ năm) so với tiêu chuẩn Việt Nam, nhưng là dễ bị tập trung vào các sự kiện lớn (nhưng có xu hướng tập trung vào những mùa lớn) Lượng mưa từ 50 đến 100mm/ngày, kết hợp với thủy triều cao, thường gây ra lũ lụt ở Cần Thơ
Các con kênh cắt ngang thành phố đóng vai trò quan trọng, như là chỗ thoát ra cho hệ thống thoát nước Nhà ở tư nhân thường xây dựng, cản trở các kênh thoát nước
và làm xấu đi khả năng thoát nước của hệ thống Kinh phí nạo vét định kỳ cho các kênh rạch bị hạn chế, vì vậy lắng đọng cũng là một vấn đề nghiêm trọng Trong trường hợp mưa lớn kết hợp với thủy triều cao, mực nước trong các kênh mương thường tăng cao hơn trong các đường ống thoát nước, quá tải và gây chảy ngược Đây là lý do
chính cho tình trạng ngập úng tại các khu gần sông, kênh mương
3.2.3 Dự kiến tình hình ngập lụt trong tương lai
Hệ thống thoát nước thành phố Cần Thơ còn lâu mới hoàn thiện và lũ lụt đã trở thành một vấn đề Tuy nhiên, những thay đổi trong tương lai sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm tình trạng này
Biến đổi khí hậu: có thể là biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây ra sự gia tăng tần số
và cường độ trong thiên tai thảm khốc, đặc biệt là bão, lũ lụt và hạn hán (Bộ TN &
MT, 2009a; Delgado và cộng sự, 2010.) Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở Việt Nam có thể tăng 2,3oC
Theo Bộ TN & MT (2009a), so với mức trung bình của 1980-1999, lượng mưa mùa mưa hàng năm và dự kiến sẽ tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980-1999, và mực
Trang 3726
nước biển trung bình dự kiến sẽ tăng khoảng 30 cm vào giữa thế kỷ 21 và 100 cm vào cuối thế kỷ 21 (bộ TN & MT 2009a)
Đô thị hóa có hiệu lực: đô thị hóa có thể có thể gây ra tăng lượng mưa, và do đó
sẽ gây ra lũ lụt nghiêm trọng hơn cho thành phố Hơn nữa, những thay đổi thủy văn đô thị hóa sẽ làm tăng đỉnh lũ và giảm thời gian tập trung
Có một mức độ rất cao của sự không chắc chắn với những ước tính này Ví dụ, các mô hình lưu thông toàn cầu khác nhau cho kết quả rất khác nhau cho khu vực, ví
dụ như Kingston et al (2011) đã cho thấy trong điều kiện dự báo dòng chảy sông Mekong có thể làm trầm trọng thêm vấn đề
Hành động thích ứng khẩn cấp là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt trong tương lai tại Cần Thơ Để phát triển các biện pháp thích ứng, cần thiết định lượng ước tính tác động của những thay đổi trong tương lai về lũ lụt với các mô hình để mô phỏng những thay đổi khí hậu có thể có, thực hiện cùng với các tín hiệu khác của biến đổi khí hậu
3.2.4 Hậu quả của ngập lụt đô thị
Rủi ro về sức khỏe: tác động sức khỏe trực tiếp nhất của lũ có lẽ là các trường hợp tử vong và thương tích gây ra bởi sự tồn tai của nước lũ trong hoặc xung quanh nhà của người dân Những ca tử vong do chết đuối xảy gần đây thường liên quan đến sức nước và các trường hợp tử vong trong những năm gần đây ở khu vực là trẻ em, chủ yếu là trẻ em dưới sáu tuổi Nguy cơ chấn thương từ cuộc sống và làm việc trong nước, chẳng hạn như các đối tượng vô tình bị té xuống nước Một số bệnh do lũ gây ra
là do tiếp xúc hoặc thay đổi hành vi vệ sinh mà lũ mang lại như các bệnh liên quan đến
sự phá vỡ các hành vi sử dụng nước và lây lan ô nhiễm bởi nước lũ Lũ lụt có thể làm
ô nhiễm nguồn nước uống, nhà vệ sinh ngập, lây lan mầm bệnh trong môi trường và làm cho người dân sử dung nguồn nươc không an toàn và mất vệ sinh Tiêu chảy đến nay là bệnh thường gặp nhất do ô nhiễm và các bệnh nghiêm trọng cũng thường mắc phải đó là thương hàn, tả và lỵ Các bệnh do muỗi truyền có liên quan đến trong điều kiện sinh ản cho ấu trùng muỗi Sốt rét tồn tại trong khu vực ở mức độ chính và có khả năng nguy cơ tái xuất hiện lại nhưng nỗi sợ hãi của người dân địa phương vẫn là sốt xuất huyết Tỷ lệ mắc sốt xuát huyết thường được cho là tăng lên trong mùa lũ, do người dân lưu trữ và xử lý không phù hợp nguồn nước nên đó là cơ hội cho các loài muỗi truyền nhiễm Các bệnh nhiễm khuẩn khác bắt nguồn là do cơ thể tiếp xúc với nước Lũ liên quan chặt chẽ với các bệnh nấm da, nhiễm trùng mắt, phụ khoa nhiễm trùng và bệnh đường hô hấp như cảm lạnh thông thường
Thiệt hại về của cải vật chất: nhà nước và người dân phải tốn một khoảng chi phi
để phòng chống lũ và giải quyết những hậu quả mà lũ đã mang lại Lũ còn làm ảnh hưởng đến sinh kế của người dân
Trang 3827
Ảnh hưởng đến giao thông vận tải: người dân gặp nhiều khó khăn về giao thông,
do những cơn mưa kéo dài kết hợp với triều cường làm cho các tuyến đường ngập trong biển nước, gây tắc nghẽn giao thông
Ô nhiễm môi trường: trong mùa lũ các chất thải không được xử lý đúng cách bao gồm việc giết chết động vật bằng mìn và vứt các xác động vật xuống sông Và sau các trận lũ thì thành phố chìm trong rác và xác động vật thối rửa
Trang 3928
CHƯƠNG 4 TỔN THẤT KINH TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH TRONG KHI NGẬP
TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 4.1 MÔ TẢ MẪU ĐIỀU TRA
4.1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về địa bàn nghiên cứu cũng như thái độ và kiến thức của các hộ được điều tra về ngập lụt thì các số liệu được tổng hợp dưới các bảng sau: Bảng 4.1: Các tháng bị ngập và số lần ngập trong tháng
Nguồn: số liệu thu thập năm 2013
Trong quá trình phỏng vấn 250 hộ đa phần các đáp viên cho rằng ngập nhiều vào tháng 9, tháng 10, tháng 11 Cụ thể như sau, tháng 8 có 4 hộ bị ngập chiếm 1,6%, tháng 9 có 198 hộ bị ngập chiếm 79,2%, tháng 10 có 220 hộ bị ngập chiếm 88%, tháng
11 có 181 hộ bị ngập chiếm 72,4% và cuối cùng là tháng 12 có 4 hộ bị ngập chiếm 1,6%
Trang 40
Mức độ quan tâm về ngập Không quan tâm gì cả 8 3,2