TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN THÚ Y NGUYỄN HỮU THIỆN ĐỀ TÀI KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ TIẾT NIỆU SINH DỤC Ở ĐÀN GÀ TẠI QUẬN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN HỮU THIỆN
ĐỀ TÀI KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ TIẾT NIỆU SINH DỤC
Ở ĐÀN GÀ TẠI QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH THÚ Y
Cần Thơ,12/2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN HỮU THIỆN
ĐỀ TÀI KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ TIẾT NIỆU SINH DỤC
Ở ĐÀN GÀ TẠI QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHÀNH THÚ Y
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths NGUYỄN PHÚC KHÁNH
Cần Thơ, 12/2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Thiện
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
2013
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Duyệt Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn đến
Quý thầy cô Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi Thú y của khoa Nông Nghiệp
& Sinh Học Ứng Dụng trường Đại Học Cần Thơ đã cung cấp những kiến thức quý báu trong quá trình tôi học tập Đặc biệt là thầy Nguyễn Phúc Khánh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi làm đề tài
Thầy Trần Ngọc Bích đã hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có điều kiện thực tập tại trại
Chủ trại-chú Nguyễn Văn Hoàng đã nhiệt tình hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Bạn Mai Thành Lộc, bạn Lưu Thị Hồng Loan và bạn Đường Thị Hồng Vân đã cùng tôi gắn bó trong suốt thời gian qua
Các thành viên của tập thể lớp Thú Y Liên Thông K37, đã giúp đỡ và chia sẽ với tôi trong quá trình học tập
Ba mẹ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập theo con đường mà tôi đã chọn
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang tựa i
Lời cam đoan ii
Trang duyệt iii
Lời cảm tạ iv
Mục lục v
Danh sách chữ viết tắt vii
Danh sách hình viii
Danh sách bảng ix
Tóm lược x
Chương 1: Đặt vấn đề 1
Chương 2: Cơ sở lý luận 2
2.1 Giải phẫu hệ thống hô hấp và tiết niệu sinh dục 2
2.1.1 Phổi 2
2.1.2 Các túi khí 2
2.1.3 Thận 2
2.1.4 Buồng trứng 2
2.1.5 Ống dẫn trứng 3
2.1.6 Cơ quan sinh dục con trống 4
2.2 Những bệnh tích thường gặp 4
2.2.1 Bệnh tích ở khí quản 4
2.2.2 Bệnh tích ở phổi 5
2.2.3 Bệnh tích ở thận 6
2.2.4 Bệnh tích ở buồng trứng 6
2.3 Một số bệnh thường gặp ở gà 7
2.3.1 Bệnh cúm gia cầm 7
2.3.2 Bệnh Newcastle 8
2.3.3 Bệnh Gumboro 10
2.3.4 Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm 11
2.3.5 Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm 12
2.3.6 Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) 14
2.3.7 Bệnh tụ huyết trùng (toi gà) 15
2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17
Chương 3: Phương tiện - Phương pháp nghiên cứu 19
3.1 Phương tiện nghiên cứu 19
3.1.1 Nội dung nghiên cứu 19
3.1.2 Địa điểm - Thời gian 19
3.1.3 Dụng cụ - Đối tượng 19
3.2 Phương pháp nghiên cứu 20
3.2.1 Phương pháp mổ khám 20
3.2.2 Phương pháp khảo sát bệnh tích của gà 21
Trang 7Chương 4: Kết quả - Thảo luận 22
4.1 Tổng quát về địa điểm điều tra 22
4.1.1 Tình hình chuồng trại 22
4.1.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 22
4.1.3 Công tác thú y 24
4.2 Kết quả khảo sát bệnh tích trên các cơ quan 25
4.2.1 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện trên hệ hô hấp và tiết niệu sinh dục 25
4.2.2 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện theo giới tính 26
4.2.3 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện theo trạng thái sống/chết ở gà 26
4.2.4 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở hệ hô hấp 27
4.2.4.1 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở khí quản 27
4.2.4.2 Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện ở phổi 29
Chương 5: Kết luận và đề nghị 32
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề nghị 32
Tài liệu tham khảo 33
Trang 8nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme)
Trang 11TÓM LƢỢC
Hiện nay, trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà công nghiệp nói riêng Có rất nhiều bệnh hết sức phức tạp trên đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục, tuần hoàn, gây nhiều thiệt hại đáng kể đến nền kinh tế của nhà chăn nuôi Các bệnh này làm cho gà còi cọc, chậm lớn và tỷ lệ chết rất cao Để tìm hiểu về tình hình nhiễm các bệnh trên đường hô hấp và tiết niệu
sinh dục ở gà công nghiệp chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh
tích đại thể trên đường hô hấp và tiết niệu sinh dục ở đàn gà tại quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ”
Qua quá trình khảo sát trên 88 mẫu gà nghi là mắc bệnh ở ba nhóm tuổi: dưới 1 tháng tuổi, từ 1-2 tháng tuổi và trên 2 tháng tuổi Bằng phương pháp chẩn đoán lâm sàng và mổ khám thì chúng tôi xác định được tỷ lệ bệnh tích trên đường hô hấp và tiết niệu sinh dục của gà ở trại với kết quả như sau:
Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện trên đường hô hấp cao hơn so với đường tiết niệu và sinh dục như bệnh tích xuất hiện trên phổi chiếm tỷ lệ 57,95%, trên khí quản chiếm tỷ lệ 53,41% Bệnh tích xuất hiện trên thận chiếm tỷ lệ rất thấp 6,82%
Tỷ lệ gà trống có bệnh tích xuất hiện trên hệ hô hấp và tiết niệu sinh dục cao hơn so với gà mái (gà trống là 38,64%, gà mái là 31,82%)
Tỷ lệ bệnh tích xuất hiện trên hệ hô hấp và tiết niệu sinh dục trên gà chết cao hơn so với gà sống (ở gà chết chiếm tỷ lệ là 37,5%, ở gà sống chiếm tỷ lệ
là 28,41%)
Gà có biểu hiện bệnh sau khi tiến hành mổ khám có các dạng bệnh tích xuất hiện trên các cơ quan như: xuất huyết, sung huyết, viêm, nhạt màu, hoại tử,… Trong đó bệnh tích xuất huyết xuất hiện ở các cơ quan như phổi, khí quản chiếm tỷ lệ rất cao (hơn 57,95% ở khí quản)
Gà bệnh có những triệu chứng như: ủ rủ, xệ cánh, xù lông, thở khó, ít vận động, ăn ít hoặc không ăn, đi phân trắng hoặc xanh,…
Trang 12CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày một phát triển Đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam, phong trào chăn nuôi gà công nghiệp và siêu trứng đang trở nên nóng bổng của người dân Nó không chỉ là nguồn thực phẩm phục vụ cho bửa ăn hàng ngày của mỗi gia đình mà nó còn mang tính chất hàng hóa, phục
vụ cho việc kinh doanh và xuất khẩu ra nước ngoài Trong điều kiện hiện nay với những biến đổi về thời tiết, khí hậu kết hợp với việc nhập một số giống ngoại dẫn đến tình hình dịch bệnh xảy ra trên đàn gà ở Việt Nam trở nên phức tạp Cụ thể là đã xuất hiện nhiều dịch bệnh nguy hiểm ảnh hưởng đến đàn gà như: dịch đầu đen, Newcastle, Gumboro, cúm gia cầm
Hiện nay có rất nhiều bệnh thể hiện những triệu chứng lâm sàng và bệnh tích gần giống nhau nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau Điều này làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và phòng trị bệnh dễ bị sai lầm, gây ảnh hưởng đến hiệu quả trong chăn nuôi gà (Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn, 2002)
Từ thực tế trên được sự đồng ý của Bộ môn Thú y Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ chúng tôi thực hiện đề tài
"Khảo sát bệnh tích đại thể trên đường hô hấp và tiết niệu sinh dục ở đàn
gà tại quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ", với mục tiêu:
Xác định những triệu chứng bệnh tích thường gặp trên đàn gà qua các giai đoạn phát triển
Xác định tỷ lệ bệnh tích trên đường hô hấp, tiết niệu và sinh dục tại cơ
sở chăn nuôi
Từ đó có thể chẩn đoán được một số bệnh xảy ra trên gà
Trang 13CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Giải phẫu hệ thống hô hấp và tiết niệu sinh dục
Mặt dưới mỗi lá phổi có phế quản phía bụng và phế quản phía lưng Phế quản lưng có 6-8 túi khí là hệ thống ống hít vào Phế quản bụng có 4-6 túi khí
là hệ thống ống thở ra Các phế quản có hệ thống ống nhỏ gọi là tiểu phế quản (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007)
2.1.2 Các túi khí
Là phần lồi ra ngoài có màng mỏng của thành phế quản chính và phế quản thứ Dựa vào chức năng người ta chia túi khí: túi khí hít vào và túi khí thở ra Gia cầm có 9 túi khí Ngoài chức năng hít vào và thở ra, túi khí còn có chức năng giảm khối lượng khi bay Loài thủy cầm túi khí giúp con vật lặn
ngụp lâu dưới nước Ví dụ: Vịt có thể lặn dưới nước 10-15 phút (Trịnh Quang
Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007)
2.1.3 Thận
Thận của loài chim khá lớn và kéo dài nằm dọc trong hốc xương sống lưng Mỗi thận có 3 thùy (thùy đỉnh, giữa và dưới) đổ vào một ống dẫn niệu và dẫn đến huyết niệu của lỗ huyệt, nơi nước tiểu được bài tiết Chức năng chủ yếu của thận gồm hai phần là lọc máu để loại bỏ nước và dẫn chất cặn bã, rồi
từ đó tái hấp thu lại các chất dinh dưỡng như glucose và các chất điện giải Vì thận là cơ quan kiểm soát sự hấp thu và bài tiết nước và các chất điện giải nên thận là cơ quan trung tâm và chủ yếu duy trì sự cân bằng thẩm thấu của thể dịch (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007)
2.1.4 Buồng trứng
Ở gà mái có hai buồng trứng, nhưng quá trình phát triển buồng trứng bên phải bị thoái hóa, chỉ còn buồng trứng bên trái hoạt động Buồng trứng phát triển khi gia cầm mái thành thục về sinh lý Trong buồng trứng có nhiều tế bào trứng: gà khoảng 900-3.500; vịt 1.500-2.300 tế bào trứng Tế bào trứng hình thành từ khi gia cầm mới nở Tế bào trứng bao bọc bởi nhiều tầng tế bào, trong giống như cái túi gọi là noãn bào Bên trong noãn bào chứa chất dịch, trên mặt
Trang 14có nhiều mạch máu nuôi tế bào trứng Noãn bào khi chín vỡ ra, tế bào trứng rơi vào phễu của ống dẫn trứng (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh,
2007)
2.1.5 Ống dẫn trứng
Gồm nhiều đoạn gấp khúc và có chức năng phức tạp Ống dẫn trứng không chỉ là con đường trứng đi qua, mà là nơi hoàn thành quả trứng Bên trong ống dẫn trứng có một lớp màng nhầy Trên mặt lớp màng nhầy có những lông tơ di động Đầu ống dẫn trứng gần buồng trứng rộng ra thành hình phễu, phần dưới đổ ra lỗ huyệt Về cấu tạo: ống dẫn trứng có 5 phần và mỗi phần có chức năng riêng:
Phễu (loa kèn): Nằm phía dưới buồng trứng và được giữ ở vị trí cố định nhờ hai nếp màng treo ruột Phễu có nhiệm vụ hứng trứng và là nơi trứng thụ tinh Tế bào trứng dừng ở phễu từ 5-25 phút Trên thành phễu có những nếp nhăn và có chất dinh dưỡng nuôi tinh trùng Tinh trùng sống ở phễu từ 1-30 ngày, nhưng hoạt lực mạnh nhất từ 1-7 ngày Sau đó phễu nhu động đẩy trứng xuống bộ phận tạo lòng trắng
Bộ phận tạo lòng trắng: Chiều dài bằng 2/3 chiều dài ống dẫn trứng Chức năng tạo ra lòng trắng đặc, dây chằng và lòng đỏ: sau đó trứng được đẩy xuống phần eo
Phần eo: Tạo ra màng vỏ trứng và tạo ra một phần lòng trắng loãng Tại đây hình dạng quả trứng được hình thành
Tử cung: Là đoạn cuối phần eo to ra, thành dày co dãn tốt và là đường trứng đi qua Tử cung có chức năng tiết ra chất vôi tạo nên vỏ trứng Màu sắc
vỏ trứng phụ thuộc vào giống gia cầm
Âm đạo: Là phần cuối cùng của ống dẫn trứng Nhiệm vụ tiết chất mỡ bao quanh trứng Lớp mỡ này giống như màng nhầy làm trơn quả trứng, giúp cho gia cầm dễ đẻ và ngăn không cho tạp khuẩn xâm nhập vào trong trứng Thời gian trứng dừng lại trong âm đạo từ 10-15 phút Âm đạo có lỗ thông ở phần giữa của huyệt bên trái với ống dẫn nước tiểu Gia cầm khi đẻ âm đạo lồi
ra khõi lỗ huyệt để trứng không bẩn (Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007)
Trang 152.1.6 Cơ quan sinh dục con trống
Tinh hoàn: Là cơ quan đôi hình ôvan hoặc hình hạt đậu, màu trắng hoặc
có rợn vàng, nằm trong xoang bụng ở vị trí trước cuối thận Ở gà trống trưởng thành trong thời kỳ tính dục, tinh hoàn dài tới 4,7 cm, chiều rộng 2,7 cm, dày 2,5 cm, trọng lượng 17-19g Thời kỳ thay lông trọng lượng giảm tới 3-5g Tinh hoàn được bọc trong một lớp màu trắng, mỏng, từ lớp màng này ăn sâu vào là những sợi liên kết yếu Những ống tinh trùng gấp khúc nối lại với nhau, tạo thành mạng lưới dày
Mào tinh hoàn của gia cầm: Phát triển yếu, một số lượng lớn ống dẫn từ màng lưới tinh hoàn ăn sâu vào đó Những ống dẫn nhỏ này tạo thành ống dẫn,
là nơi bắt đầu của ống dẫn tinh Trong mào tinh hoàn tinh trùng tiếp tục thành thục và tăng thêm khả năng thụ tinh của chúng Dịch tinh trùng được hình thành ở những ống gấp khúc trong tinh hoàn Nó tạo ra môi trường cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của tế bào sinh dục
Ống dẫn tinh: Có dạng hình ống, nhỏ, gấp khúc, thành ống cấu tạo bởi lớp niêm mạc, cơ và thanh mạc Ống dẫn tinh nối với ống dẫn của mào tinh hoàn và vào tận phần giữa của ổ nhớp Phần cuối của ống dẫn tinh là chỗ phình hình bong bóng Đây là nơi tích tụ của tinh trùng Trong huyệt ống dẫn tinh được kết thúc bằng những gờ nhỏ nằm ở phía ngoài ống dẫn nước tiểu Cấu tạo của ống dẫn tinh thay đổi phụ thuộc vào trạng thái chức năng của bộ máy sinh dục Trong thời gian hoạt tính sinh dục, ống dẫn tinh to ra, thành ống dày lên, tăng số lượng gấp khúc
Cơ quan giao cấu: Gà trống và gà tây không phát triển Nó chỉ là chỗ phình hình bong bóng của ống dẫn tinh, nó nở những khi kích thích sinh dục
(Trịnh Quang Khuê và Nguyễn Văn Vinh, 2007)
2.2 Những bệnh tích thường gặp
2.2.1 Bệnh tích ở khí quản
Khí quản sung huyết, phù và trên bề mặt phủ một lớp niêm dịch lẫn bọt, niêm mạc phế quản và lòng phế nang sung huyết, chứa dịch có fibrin
Xuất huyết: Điểm, lấm tâm, vệt, thành từng đám, đinh ghim
Niêm mạc thanh khí quản viêm xuất huyết, thanh khí quản viêm xuất huyết phủ một lớp bã đậu
Trang 16
Hình 1 Khí quản xuất huyết Hình 2 Khí quản xuất huyết lấm tấm và thành vệt có chứa dịch lẫn bọt khí
2.2.2 Bệnh tích ở phổi
Phổi xuất huyết: trên bề mặt phổi có những đốm xuất huyết màu đỏ tươi,
hay đỏ đen, máu rỉ ra ở mặt cắt khi bóp mạnh Xuất huyết được xếp loại theo
mức độ, kích thước, hình dạng hay vị trí xuất huyết lốm đốm, phân bố có
trọng tâm, xuất huyết từng điểm nhỏ, từng đám
Phổi ứ huyết: phổi có màu đỏ sẫm ở hầu hết các tiểu thùy, nặng, chắc hơn
bình thường và dễ cắt, mặt cắt chảy nhiều máu
Phổi xẹp: phổi có màu hồng nhạt hoặc đỏ đục, giảm kích thước, tính chất
dai chắc, bóp không nghe tiếng lào xào như phổi bình thường Thường phổi
xẹp ở thùy đỉnh, thùy tim, có khi xẹp hẳn một lá, lá còn lại vẫn bình thường
hoặc lớn hơn bình thường do tính bù trừ Phổi xẹp chìm trong nước như phổi
bị gan hóa và không có dịch lỏng chảy ra từ mặt cắt khi bóp mạnh
Phổi phù: quan sát thấy phổi sưng phù, bở, màu tái nhợt, nặng hơn bình
thường, bóp không nghe lào xào cắt ngang có dịch màu đỏ chảy ra, mặt cắt
ướt do phổi chứa nhiều chất lỏng trong những khoảng trống của mô
Phổi viêm: viêm nhu mô của phổi bình thường, phổi viêm kéo theo viêm
các đường dẫn khí đôi khi viêm màng phổi tiếp giáp gây nóng, đỏ, sưng, đau
Viêm phế nang: bệnh tích viêm định vị ở các phế nang Viêm màng phổi: bệnh
tích viêm trên lá thành, lá tạng của màng phổi, làm cho màng phổi dày đục lên
(viêm tơ huyết, viêm dính sườn) Quá trình viêm tiết dịch làm sợi huyết kết
dính màng phổi vào sườn, màng phổi không trơn láng mà sần sùi Tổ chức
phổi cùng với tơ huyết làm cho phổi dày lên và dính vào vách ngực hoặc màng
phổi dính vào cơ tim và cơ hoành Khi giết mổ và lấy phổi ra màng phổi sẽ bị
rách, dính vào sườn để lộ nhu mô phổi màu đỏ tươi ra ngoài
Trang 17Thận xuất huyết: sưng to hơn bình thường, mặt ngoài thận có màu nâu đỏ
và có những xuất huyết li ti màu đỏ sậm
Hình 6 Thận sưng to Hình 7 Thận bình thường
2.2.4 Bệnh tích ở buồng trứng
Buồng trứng thoái hóa, buồng trứng dị dạng, có hình dạng bất thường
Trang 18ho, chảy nước mũi, thở khó, khạt đờm nhầy đặc đôi khi có máu, tiêu chảy phân trắng, da chân khô do mất nước, xuất huyết da chân, ngón chân, có triệu chứng thần kinh, gà đẻ trứng giảm
Bệnh tích
Trường hợp nặng bệnh tích sung huyết, xuất huyết rất nhiều cơ quan phủ tạng Đôi khi hoại tử, chảy mủ, xung quanh hậu môn có nhiều phân, xuất huyết Khí quản xuất huyết nhiều, thực quản đôi khi có xuất huyết, dạ dày tuyến xuất huyết nặng, có trường hợp viêm loét sâu
Giống nhau giữa Cúm gia cầm và Newcastle: mắt sưng, hậu môn xuất huyết, có triệu chứng thần kinh, dạ dày tuyến xuất huyết, viêm xuất huyết ở tá tràng (giống Newcastle và dịch tả) Khác nhau giữa Cúm gia cầm và Newcastle: xuất huyết mỡ bụng, màng treo ruột, mỡ bao tim, xuất huyết cơ đùi, xuất huyết và viêm buồng trứng, trứng vở trong xoang bụng Phổi viêm, sung huyết, túi khí có những tơ huyết Thận, lách sưng, xuất huyết, một số trường hợp túi Fabricius sưng Hiện tượng phù nề, xuất huyết tế bào lâm ba cầu đơn nhân
Trang 19Quốc gà từ 2-5 tuần tuổi tiêm dưới da cổ, liều 0,3 ml, gà 5 tuần tuổi trở lên tiêm cơ ức, liều 0,5 ml (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012)
2.3.2 Bệnh Newcastle (Pastis avium)
ăn, xù lông, gà mái thường ngưng đẻ, trên chuồng có những bãi phân trắng
từ mũi chảy ra chất nước nhớt Gà rối loạn tiêu hóa trầm trọng, bỏ ăn, thức ăn
ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, uống nhiều nước, khi dốc ngược gà xuống thấy chảy nước nhớt mùi chua khắm Vài ngày sau gà tiêu chảy, phân
có màu nâu sẫm, trắng xám hoặc trắng xanh có nhiều urat Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những tia máu đỏ Thể mãn tính xảy ra ở cuối ổ dịch Do tổn thương tiểu não, cơ năng vận động biến loạn nặng, con vật bị vặn đầu ra sau,
đi giật lùi, đi vòng tròn, mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có những kích thích Bệnh kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nếu được
Trang 20chăm sóc tốt gà có thể khỏi nhưng mắc di chứng thần kinh trong thời gian dài
Gà lành bệnh cho miễn dịch suốt đời
Bệnh tích
Thể quá cấp bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở nội tâm mạc, màng ngực, cơ quan hô hấp Thể cấp tính xoang mũi và miệng có nhiều dịch nhớt màu đục Niêm mac miệng, hầu họng, khí quản xuất huyết, viêm phủ màng giả có fibrin Tổ chức vùng đầu, hầu, cổ bị thủy thủng, thấm dịch xuất vàng (một số con) Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết, lấm tấm màu
đỏ tròn bằng đầu đinh ghim, điểm xuất huyết tương ứng với các lổ đổ ra của tuyến tiêu hóa, các điểm xuất huyết này có thể tập trung thành từng vệt Dạ dày cơ xuất huyết và thâm nhiễm dịch xuất kiểu gelatin Ruột non xuất huyết, viêm, trong trường hợp bệnh kéo dài, có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo Trường hợp nặng, nốt loét có thể lan xuống ruột già, hậu môn Hạch manh tràng viêm, xuất huyết, hoại tử Gan có một số đám thoái hóa
mỡ nhẹ màu vàng Thận phù nhẹ, có màu nâu xám Dịch hoàn, buồng trứng xuất huyết thành từng vệt, từng đám Trứng non vỡ trong xoang bụng Bao tim, xoang ngực, bề mặt xương ức xuất huyết Thể mãn tính thoái hóa và viêm
tế bào nơron thần kinh với sự thâm nhiễm tế bào lâm ba quanh mạch (thường
thấy nhất ở tiểu não, cũng có thể thấy ở tủy sống)
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm ba, chẩn đoán virus học, gây nhiễm cho bào thai, phản ứng huyết thanh học (phản ứng HI, phản ứng trung hòa virus, phản ứng ELISA)
Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh thương hàn, tụ huyết trùng
Trang 21Đường lây lan
Bệnh lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa
Triệu chứng
Thời gian nung bệnh từ 2-3 ngày, bệnh xảy ra thình lình, gà suy nhược, ủ
rủ, xù lông, đi loạng choạng Gà tiêu chảy, phân có màu trắng xám, xanh lá cây, có nhiều nước, gà rặn suốt trong quá trình đi tiêu, hậu môn đưa ra ngoài, những gà khác xúm lại mổ, có thể tự nó mổ nó, hậu môn bết đầy phân, gà bỏ
ăn, run rẩy, suy nhược trầm trọng và có thể chết Tỉ lệ gà mắc bệnh cao có thể lên đến 100% Gà chết bắt đầu từ ngày thứ 3 sau khi nhiễm bệnh và sau đó tăng nhanh và giảm nhanh sau 5-7 ngày thì chấm dứt Tỉ lệ chết thường thấp, nhưng nếu điều kiện chăn nuôi kém tỉ lệ chết có thể lên đến 20-30% hoặc cao hơn
Bệnh tích
Thể ẩn tính tuyến ức và túi Fabricius teo Thể cấp tính cơ sậm màu, cơ ngực, đùi xuất huyết thành từng vệt dài Nơi tiếp xúc giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ xuất huyết Niêm mạc ruột tăng tiết dịch, thận có thể sưng, ống dẫn tiểu chứa nhiều urat Lách có thể hơi sưng, có những chấm xám nhỏ trên bề mặt Bệnh tích điển hình nhất là túi Fabricius, ở ngày thứ ba sau khi nhiễm trùng túi Fabricius bắt đầu tăng kích thước và trọng lượng, thủy thủng, có màu đỏ, bề mặt phủ một lớp gelatin, có thể có xuất huyết, đến ngày thứ tư, trọng lượng gấp đôi so với bình thường và bắt đầu teo lại, ngày thứ 5 trở lại kích thước bình thường và tiếp tục teo, đến ngày thứ 8 có kích thước bằng 1/3 so với bình thường
Trang 22Chẩn đoán phân biệt: cần phân biệt với bệnh viêm phế quản truyền
nhiễm
Điều trị
Không có thuốc điều trị đặc hiệu, tăng cường sức đề kháng gà bằng việc nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc, cung cấp đầy đủ chất điện giải có thể làm giảm tỷ lệ chết Trong trường hợp bệnh kế phát các bệnh do vi khuẩn cần sử dụng kháng sinh để điều trị (Hồ Thị Việt Thu và Nguyễn Đức Hiền, 2012)
2.3.4 Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious bronchitis)
Là bệnh truyền nhiễm của gà, do virus gây ra, đặc trưng bởi những rối loạn hô hấp trầm trọng và tỷ lệ chết cao ở gà con, bệnh gây thở khó và làm giảm sản lượng trứng ở gà lớn và gà đẻ
gà đẻ, sản lượng trứng giảm, một số con ngưng đẻ hẳn, trứng biến dạng, giòn
dễ vở, vỏ trứng nhạt màu, lòng trắng trứng loãng Một số trường hợp nặng gà
có thể bị phù hầu
Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu ở đường hô hấp Niêm mạc mũi, khí quản sung huyết, phù và trên bề mặt phủ bởi một lớp niêm dịch lẫn bọt Niêm mạc phế quản và lòng phế nang sung huyết, chứa dịch có fibrin, một số trường hợp dịch xuất quá nhiều có thể làm tắc khí và phế quản Nếu bệnh kéo dài có thể thấy các đám viêm lớn, nhỏ ở phổi, các túi hơi dày và đục có chứa chất bã đậu Thận