LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp đề tài: Đánh giá hiệu quả mô hình Quản lý cộng đồng của Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em DWC tại xã Phúc Thuận, hu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THU HIẾU
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỘNG ĐỒNG CỦA TRUNG TÂM HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN VÌ PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM (DWC) TẠI XÃ PHÚC THUẬN, HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trung Hải
Hà Nội - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu trong luận văn là sự thật và
đã được những người có liên quan đồng ý cho sử dụng Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin có trong luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp đề tài: Đánh giá hiệu quả mô hình Quản lý cộng đồng của Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ
nữ và Trẻ em (DWC) tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của các cán bộ địa phương, hội phụ nữ xã Phúc Thuận, cùng toàn thể người dân tại địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó là sự hỗ trợ tận tình của Ban giám đốc và các cán bộ Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC)
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Hà Nội, các bạn học viên lớp cao học Công tác xã hội 1 khóa
2012 đã ủng hộ và cổ vũ tinh thần để tôi tự tin hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Trung Hải người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 1 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu 4
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp thu thập thông tin 7
NỘI DUNG CHÍNH 9
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 9
1.1 Các khái niệm 9
1.1.1 Cộng đồng 9
1.1.2 Vấn đề cộng đồng 10
1.1.3 Quản lý cộng đồng 11
1.1.4 Tổ chức cộng đồng 11
1.1.5 Phát triển cộng đồng 13
1.1.6 Tác viên phát triển cộng đồng 14
1.1.7 Sự tham gia 15
1.1.8 Quyền và trao quyền 15
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 16
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 16
1.2.2 Lý thuyết trao quyền 18
1.2.3 Lý thuyết thân chủ trọng tâm 21
1.2.4 Thuyết huy động nguồn lực 22
Trang 51.3 Một số vấn đề chung về phát triển cộng đồng 25
1.4 Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC) 300
1.4.1 Cơ cấu tổ chức 31
1.4.2 Mục đích, sứ mệnh, viễn cảnh 32
1.4.3 Bộ máy nhân sự 32
1.4.4 Các hoạt động đang triển khai 32
1.4 Khái quát mô hình QLCĐ trên Thế giới và Việt Nam 30
1.3.1 Mô hình QLCĐ trên Thế giới 40
1.3.2 Mô hình QLCĐ tại Việt Nam 41
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
1.5.1 Khái quát về huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 33
1.5.2 Khái quát về xóm Phúc Tài và xóm Tân Ấp 2, xã Phúc Thuận 34
1.5.3 Các vấn đề cộng đồng tại xã Phúc Thuận 36
1.6 Mô hình Quản lý cộng đồng……… 40
1.6.1 Mô hình Quản lý cộng đồng trên Thế giới và Việt Nam……….40
1.6.1.1 Mô hình Quản lý cộng đồng trên Thế giới………40
1.6.1.2 Mô hình Quản lý cộng đồng tại Việt Nam……… 41
1.6.2 Mô tả mô hình Quản lý cộng đồng……… …… 42
1.6.2.1 Cách tiếp cận của mô hình Quản lý cộng đồng……… 43
1.6.2.2 Giá trị của Quản lý cộng đồng……… 47
1.6.2.3 Nguyên tắc cơ bản trong thực hiện mô hình QLCĐ….………48
1.6.2.4 Quy trình thực hiện mô hình QLCĐ……….49
1.6.2.5 Tính bền vững của mô hình QLCĐ………55
1.6.3 Vị trí của mô hình QLCĐ trong hệ thống quản lý nhà nước…………57
1.7 Tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình QLCĐ………59
Trang 6Chương 2: Thực trạng thực hiện mô hình Quản lý cộng đồng tại xã Phúc
Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 62
2.1 Đánh giá chung về mục tiêu, cách thức vận hành của mô hình QLCĐ tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên 62
2.2 Đánh giá hiệu quả mô hình QLCĐ đối với cơ chế chính sách tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 68
2.3 Đánh giá hiệu quả của mô hình Q LCĐ trong việc giải quyết vấn đề cộng đồng……….69
2.3.1 Hiệu quả của mô hình QLCĐ trong vấn đề giảm nghèo 69
2.3.2 Hiệu quả của mô hình QLCĐ trong vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng 71
2.3.3 Hiệu quả của mô hình QLCĐ trong vấn đề ô nhiễm môi trường 73
2.3.4 Hiệu quả của mô hình QLCĐ trong vấn đề tiếp cận thông tin mới của người dân 74
2.4 Hiệu quả của mô hình QLCĐ đối với người dân và chính quyền địa phương ……… 76
2.4.1 Hiệu quả của mô hình QLCĐ đối với người dân 76
2.4.2 Hiệu quả của mô hình QLCĐ với đội ngũ cán bộ địa phương 95
2.5 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình QLCĐ 97
2.5.1 Thuận lợi khi thực hiện mô hình QLCĐ 97
2.5.2 Khó khăn khi thực hiện mô hình QLCĐ 101
2.4 Bài học kinh nghiệm khi thực hiện mô hình QLCĐ 103
Kết luận và Khuyến nghị 107
PHỤ LỤC 1: CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN – (dành cho người dân) 111
PHỤ LỤC 2: CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU VỚI CÁC NHÓM 123
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT BẢNG HỎI VỚI NGƯỜI DÂN 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DWC Center for promoting Development for Women and Chirldren
Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em
LHQ Liên hợp quốc
NNC Nhóm nòng cốt
NCĐ Nhóm cộng đồng
PTCĐ Phát triển cộng đồng
PCMM Promoting Community management model in Viet Nam
Thúc đẩy mô hình Quản lý cộng đồng ở Việt Nam (dự án) PRA Participatory Rural Appraisal
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân QLCĐ Quản lý cộng đồng
QSK Quỹ sáng kiến
SDC Swiss Agency for Development and Cooperation
Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ
TDA Tiểu dự án
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì phụ nữ
và trẻ em
31
Sơ đồ 1.2 Quy trình thực hiện Quản lý cộng đồng 50 Biểu đồ 2.1 Biến động tỷ lệ hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu 70 Biểu đồ 2.2 Thu nhập của người dân từ khi tham gia dự án (2011-
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân cũng ngày một tăng lên, con người ngày càng có nhiều nhu cầu và tiêu chuẩn cao hơn cho một cuộc sống được đánh giá là đảm bảo Những nhu cầu này đòi hỏi cần phải được đáp ứng Tuy vậy, sự phát triển không đồng đều trong nền kinh tế đã tạo nên sự chênh lệch rõ rệt về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, đặc biệt là giữa các vùng nông thôn, miền núi
và thành thị Chính điều này đã tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội trước hết
là về thu nhập và điều kiện sống
Phát triển cộng đồng (PTCĐ) là một trong ba phương pháp can thiệp chính của Công tác xã hội Trên Thế giới, ngay từ những năm 1950, khái niệm PTCĐ đã được Liên Hợp Quốc công nhận và khuyến khích các quốc gia
sử dụng phương pháp này như một công cụ hữu hiệu trong việc giải quyết các vấn đề xã hội nhằm thực hiện chương trình mục tiêu phát triển quốc gia PTCĐ được đánh giá là một trong những hoạt động có khả năng giải quyết những vấn đề của sự phát triển xã hội và những thách thức mà các cộng đồng gặp phải khá hiệu quả, bởi nó nhấn mạnh đến sự tham gia của chính người dân - những người trong cuộc - vào quá trình cải thiện đời sống cho chính cộng đồng mình Các hoạt động PTCĐ vừa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân vừa đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước Hiệu quả thiết thực của hoạt động PTCĐ ngày càng được khẳng định và thu hút sự quan tâm của toàn xã hội
Tại Việt Nam, khái niệm PTCĐ xuất hiện vào những năm 1980 từ các chương trình viện trợ của nước ngoài Chiến lược PTCĐ hướng tới những cộng đồng nghèo và kém phát triển, giúp họ nhận thức được vấn đề của mình, tìm kiếm nguồn lực bên ngoài và phát huy tiềm năng của mình để giải quyết hiệu quả vấn đề của cộng đồng họ Cho đến nay, cùng với sự hình thành của
Trang 11rất nhiều các tổ chức phi lợi nhuận, các trung tâm cộng đồng, các chương trình phát triển của nhà nước PTCĐ đang được ứng dụng nhiều hơn bao giờ hết trong việc khắc phục tình trạng đói nghèo và những vấn đề xã hội nóng bỏng khác tại Việt Nam
Là một tổ chức phi lợi nhuận trực thuộc Hội Khuyến học Việt Nam, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC) là một tổ chức đã thực hiện thành công nhiều dự án phát triển, đặc biệt thành công trong việc thúc đẩy sự tham gia của người dân, trong đó có nhóm người nghèo/thiệt thòi, phụ nữ vào quá trình phát triển bền vững các vùng nông thôn Việt Nam
bằng mô hình Quản lý cộng đồng (QLCĐ) Trong phạm vi nghiên cứu của
mình, tác giả muốn tìm hiểu hiệu quả của mô hình QLCĐ tại xã Phúc Thuận,
huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thông qua việc thực hiện dự án: "Thúc đẩy Sự tham gia của người dân nông thôn hướng tới phát triển bền vững tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên" Dự án này được tổ chức Bánh mỳ cho
Thế Giới (BfdW) và Misereor (thuộc Cộng hòa Liên bang Đức) tài trợ, Trung tâm DWC trực tiếp quản lý và thực hiện tại hai xã: Phúc Thuận và Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 3 năm 2014
Việc tìm hiểu hiệu quả mô hình QLCĐ của Trung tâm DWC góp phần giới thiệu một mô hình mới trong lĩnh vực Phát triển cộng đồng Xem xét tính hiệu quả của mô hình này trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng Từ đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm khi thực hiện mô hình QLCĐ trên thực tế Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng góp phần hệ thống hóa mô hình QLCĐ thành tài liệu phục vụ cho hoạt động giảng dạy và thực hành Phát triển cộng đồng trong bộ môn Công tác xã hội
Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả mô hình Quản lý cộng đồng của Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ
nữ và Trẻ em (DWC) tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
(Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 02 xóm: xóm Tân Ấp 2 và xóm Phúc Tài,
xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên)
Trang 122 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ những năm 1950, PTCĐ được mô tả trước hết cho quá trình làm việc với những cộng đồng nhỏ trong các dự án tự giúp ở các nước đang phát triển, chủ yếu tại các cộng đồng nông thôn Mặc dù có sự khác nhau về cách tiếp cận/mô thức thực hiện nhưng tất cả đều tập trung vào mục đích: Củng cố nguồn lực trong cộng đồng; Nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cho các thành viên cộng đồng; Phát triển năng lực của các thành viên cộng đồng để sử dụng các nguồn lực Sự khác nhau trong các cách tiếp cận chủ yếu nằm ở chủ thể liên quan tới hoạt động phát triển, mục tiêu phát triển và các kết quả mong đợi khác nhau của hoạt động phát triển
Trên Thế giới, mô hình QLCĐ sơ khai được vận dụng trước hết trong một số dự án mà Cơ quan Hợp tác và Phát triển của Chính phủ Thụy Sỹ (SDC) thực hiện tại Bangladesh và một số nước thuộc tiểu vùng sông Mekong như Lào, Campuchia, Myanmar, Việt Nam Trong đó mục tiêu phát triển mà SDC muốn hướng tới là thúc đẩy sự tham gia của người dân vào hoạt động ra quyết định tại địa phương, quản lý cộng đồng được sử dụng như một công cụ thực hiện mục tiêu này
Tại Việt Nam, mô hình QLCĐ được thực hiện từ năm 2005 trong
khuôn khổ dự án “Phát triển đô thị Nam Định và Đồng Hới” (Nam Dinh
urban development project – NUDP & Dong Hoi urban development project – DUDP 2005 – 2008) Trong đó đề cao cách tiếp cận dựa vào cộng đồng và phát huy sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là người nghèo/thiệt thòi vào hoạt động ra quyết định tại địa phương, nhằm mục đích thực hiện mục tiêu giảm nghèo quốc gia và thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã theo Nghị định 29/1998/NĐ – CP ban hành ngày 11 tháng 5 năm 1998 Tuy nhiên, mô hình QLCĐ đã được phát triển cả về phương pháp và phạm vi thực hiện từ năm 2008, khi SDC phối hợp với các tổ chức phi chính phủ tại Việt
Nam thực hiện dự án “Thúc đẩy mô hình Quản lý cộng đồng tại Việt Nam”
Trang 13Liên quan đến mô hình QLCĐ, đã có nghiên cứu của sinh viên Vương Thị Loan – khóa K53 Công tác xã hội – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội nghiên cứu đề tài: “Đánh giá sự tham gia của người dân vào hoạt động phát triển kinh tế – xã hội địa phương thông qua thực hiện mô hình Quản lý cộng đồng của trung tâm Hữu nghị cộng đồng Nam Định (Nghiên cứu tiến hành tại xóm Đồng Lạc, xã Nam Phong, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) Tuy nhiên nghiên cứu này chủ yếu đánh giá
sự tham gia của người dân vào hoạt động phát triển kinh tế - xã hội địa phương thông qua thực hiện mô hình QLCĐ chứ không nghiên cứu sâu về hiệu quả của mô hình QLCĐ tại địa bàn này Ngoài ra, có một số Báo cáo Đánh giá cuối kỳ của các dự án được Trung tâm DWC thực hiện theo mô hình QLCĐ ở các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Sóc Sơn, Hà Nội… Những cuộc đánh giá này chủ yếu so sánh kết quả thực tế với mục tiêu mong đợi của dự án
mà không đánh giá chi tiết về mô hình QLCĐ
Như vậy cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về hiệu quả của mô hình QLCĐ, do đó trong nghiên cứu của mình, tác giả muốn tìm hiểu sâu về mô hình QLCĐ của Trung tâm hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ
em (DWC) nhằm đánh giá hiệu quả của nó trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng dưới góc nhìn của ngành công tác xã hội, bên cạnh đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm khi thực hiện mô hình trên thực tế
3 Ý nghĩa vấn đề nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa khoa học
Thông qua mô tả mô hình và đánh giá hiệu quả của QLCĐ tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu góp phần chỉ ra tính phù hợp và hạn chế của các lý thuyết PTCĐ trong ứng dụng vào thực tiễn Từ
đó có sự phát huy và điều chỉnh cho phù hợp hơn trong quá trình thực hành PTCĐ
Trang 14Trong nghiên cứu, mô hình Quản lý cộng đồng được nhìn nhận như một tiến trình PTCĐ, so sánh, đối chiếu tiến trình này với hoạt động phát triển cộng đồng đang được giảng dạy và thực hành trong Công tác xã hội góp phần
bổ sung và hoàn thiện các phương pháp can thiệp của ngành học, giúp sinh viên ngành Công tác xã hội có được cái nhìn rộng hơn về ứng dụng ngành trong thực tiễn
Thông qua việc sử dụng các phương pháp, kỹ năng trong nghiên cứu góp phần kiểm chứng tính phù hợp và hiệu quả của các phương pháp, kỹ năng Công tác xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc nghiên cứu hiệu quả của mô hình Quản lý cộng đồng tại xã Phúc Thuận - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên, đề tài nghiên cứu đã giới thiệu tới độc giả một mô hình phát triển cộng đồng đang được triển khai tại một số vùng miền Việt Nam
Nghiên cứu cũng đưa ra những đánh giá khách quan về hiệu quả của
mô hình QLCĐ, phát hiện ưu nhược điểm nếu có, những giải pháp khắc phục
và bài học kinh nghiệm thực hiện mô hình này
Ngoài ra qua nghiên cứu, tác giả có cơ hội được tiếp xúc với hoạt động phát triển cộng đồng thực tế, học hỏi được nhiều hơn tri thức của ngành mình, phát triển các kỹ năng cần thiết trong thực hành nghề nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp
Cuối cùng, nghiên cứu giúp hệ thống hóa mô hình QLCĐ thành tài liệu tham khảo cho bộ môn Công tác xã hội trong trường học, phục vụ cho việc giảng dạy và thực hành PTCĐ
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện mô hình Quản lý cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại
Trang 15xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Từ đó chỉ ra được những bài học kinh nghiệm khi thực hiện QLCĐ
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mô tả mô hình QLCĐ thực hiện tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Làm rõ hiệu quả của mô hình Quản lý cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng và đóng góp của nó vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Phân tích một số thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm khi thực hiện mô hình QLCĐ
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Mô hình QLCĐ do Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC) thực hiện tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Khách thể nghiên cứu
Người dân tham gia tiến trình phát triển cộng đồng Bao gồm: người dân (trong đó có người nghèo/thiệt thòi), cán bộ thôn/xóm và thành viên nhóm nòng cốt
Đại diện chính quyền địa phương tham gia trong dự án (đại diện thành viên Ban quản lý dự án huyện Phổ Yên, xã Phúc Thuận)
Cán bộ trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em – DWC
Trang 166 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng thực hiện mô hình Quản lý cộng đồng tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên như thế nào?
(2) Hiệu quả việc thực hiện mô hình QLCĐ tại xã Phúc Thuận như thế nào?
(3) Những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm khi thực hiện mô hình QLCĐ là gì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Mô hình QLCĐ đang được triển khai tốt tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
(2) Mô hình QLCĐ giải quyết hiệu quả các vấn đề cộng đồng, góp phần nâng cao năng lực cho các bên liên quan và cải thiện điều kiện sống cho người dân
8 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp phân tích tài liệu
Trong nghiên cứu, học viên đã sử dụng các báo cáo giữa kỳ và cuối kỳ của Trung tâm DWC, những tài liệu tập huấn nâng cao năng lực, sổ tay hướng dẫn thực hành mô hình QLCĐ, các tài liệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, tài liệu đánh giá ban đầu về địa bàn nghiên cứu, báo cáo phát triển kinh tế - xã
hội hàng năm của địa bàn nghiên cứu, và một số tài liệu liên quan khác (Xem chi tiết phần Danh mục tài liệu tham khảo)
Phương pháp quan sát:
Trong thời gian nghiên cứu, tác giả đã tiến hành quan sát thực trạng đời sống kinh tế xã hội địa phương, thực trạng tham gia của người dân trong dự
án, quan sát sự thay đổi ở điều kiện sinh hoạt của người dân địa phương…
Những quan sát này góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được
Trang 17Phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu hỏi
Phiếu hỏi được tác giả thiết kế dựa trên các kiến thức chung về phát
triển cộng đồng và đề xuất dự án “Thúc đẩy sự tham gia của người dân nông thôn hướng tới phát triển bền vững tại huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên” do
Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em thực hiện Phiếu hỏi có 45 câu hỏi bao gồm các câu hỏi mở và câu hỏi đóng với 3 phần chính: Thông tin
về hộ gia đình; Đánh giá thay đổi chung về chất lượng cuộc sống của người dân; Đánh giá hiệu quả của mô hình Quản lý cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
Số lượng phiếu hỏi là 100 phiếu (tương đương 100 người là đại diện
100 hộ dân, chiếm 30% tổng số hộ của 02 xóm nghiên cứu, đạt chuẩn cỡ mẫu cho tính chính xác của kết quả) Đại diện các hộ được lựa chọn ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan Trong số người được trưng cầu ý kiến bao gồm cả nam và nữ, người nghèo/thiệt thòi, thành viên nhóm nòng cốt tham gia dự án
và người dân khác tại địa bàn nghiên cứu
Tác giả trực tiếp thực hiện phiếu hỏi với người được trưng cầu ý kiến tại nhà người dân Cuộc trưng cầu ý kiến được diễn ra trong không khí cởi
mở, thân thiện như một cuộc trò chuyện trao đổi giữa tác giả và người được trưng cầu ý kiến Tác giả cũng nhận được sự hỗ trợ tận tình từ cán bộ dự án của Trung tâm DWC
100 phiếu hỏi được phát ra và thu về 100 phiếu hợp lệ làm cơ sở dữ liệu cho đề tài
Phỏng vấn sâu
Tác giả tiến hành 03 cuộc phỏng vấn sâu đối với: đại diện chính quyền địa phương; Đại diện thành viên nhóm nòng cốt và nhóm cộng đồng (tham gia thực hiện dự án) của cả 2 xóm Phúc Tài và Tân Ấp 2; Đại diện Ban giám đốc và cán bộ dự án của Trung tâm DWC
Trang 18NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Cộng đồng
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng (community) có nhiều
tuyến nghĩa khác nhau, cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Xã hội học, Dân tộc học, Y học… Khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô và đặc tính xã hội Ý nghĩa rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn Thế giới (cộng đồng Thế giới), một châu lục (cộng đồng Châu Á, cộng đồng Châu Âu…), một khu vực (cộng đồng ASEAN) Cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo (Cộng đồng người Do Thái, cộng đồng người da đen tại Mỹ…) Nhỏ hơn nữa, cộng đồng được dùng khi gọi tên các đơn vị hành chính như làng/bản, xã, huyện v.v… [3, tr 7]
Theo Korten thì cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi
trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự thì cộng đồng là một thực thể xã hội có
cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia
sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên Các đặc điểm đó có thể là: đặc điểm về kinh tế, xã hội (ví dụ: cộng đồng làng xã, khu dân cư đô thị); Huyết thống (ví dụ: Cộng đồng của các thành viên thuộc một họtộc); Mối quan tâm
và quan điểm (ví dụ: Nhóm sở thích trong một dự án phát triển); Môi trường, nhân văn (ví dụ: Cộng đồng đồng bào dân tộc Vân Kiều tại huyện Hướng
Trang 19Hóa); và các đặc điểm khác như tổ chức, vùng địa lý hoặc các khía cạnh về tâm lý, v.v…
Như vậy có thể thấy có nhiều quan điểm về cộng đồng Tuy nhiên các
quan điểm đều có những điểm thống nhất như cộng đồng là tập hợp nhiều người/nhóm người có sức bền cố kết cao dựa trên việc chia sẻ những đặc điểm chung như yếu tố địa vực, giá trị, lợi ích, quan điểm, tín ngưỡng, tôn giáo…Cộng đồng thường có những quy tắc, cách ứng xử chung và luật lệ dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng Nhờ đó các thành viên trong cộng đồng cảm thấy có sự liên kết chặt chẽ với các thành viên khác trong cộng đồng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì cộng đồng được nhắc tới chính
là cộng đồng thôn/xóm có đặc điểm chung về kinh tế - chính trị - xã hội và các đặc điểm về văn hóa, phong tục, lối sống, các vấn đề liên quan tới đời sống thường ngày của người dân cộng đồng đó
đã đề ra
Có thể chia nhỏ vấn đề cộng đồng dựa trên một số khía cạnh như sau: (1) Nhóm vấn đề liên quan đến quan hệ của người dân trong cộng đồng, (2) Nhóm vấn đề liên quan đến điều kiện cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu các dịch
vụ xã hội cơ bản, (3) Nhóm vấn đề của cộng đồng liên quan đến bất bình đẳng
xã hội và quyền lực
Trang 20Mỗi cộng đồng ở các nền văn hoá khác nhau, với những điều kiện kinh
tế - văn hoá – xã hội khác nhau sẽ gặp những vấn đề khác nhau Tuy nhiên thường thì sẽ có 4 phương thức tổng quát can thiệp, hướng tới giải quyết các vấn đề đó Mỗi phương thức đều có những nhiệm vụ, chiến lược và tác động
riêng Các phương thức đó là Dịch vụ xã hội, Biện hộ, Phát triển cộng đồng
và Tổ chức cộng đồng (Joan M and Paul G, 2007)
1.1.4 Tổ chức cộng đồng
Theo Murray G.Ross, 1955:“Tổ chức cộng đồng là một tiến trình trong
đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hay mục tiêu phát triển của mình, biết sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, biết tìm nguồn tài nguyên để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy Thông qua
đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng.”
Các nội dung chính trong khái niệm tổ chức cộng đồng:
Tạo sức mạnh: Là khả năng nâng cao năng lực cho người dân để họ có
thể tự giải quyết được các vấn đề trong cộng đồng Cách thức để tạo sức mạnh
là quy tụ người dân trong cộng đồng và để họ hiểu về những vấn đề về văn hoá, chính trị, xã hội mà họ đang phải đối mặt Sau đó cùng họ thảo luận về các giải pháp, chiến lược hành động nhằm tạo ra những thay đổi cụ thể Tiếp
Trang 21đó là thông qua các hoạt động nhằm nâng cao sức mạnh (năng lực) để người dân tự hành động và giải quyết vấn đề của họ
Xây dựng mối quan hệ: Xây dựng mối quan hệ trong tổ chức cộng đồng
dựa trên hai khía cạnh khác nhau Thứ nhất, tác viên cộng đồng làm việc với các cá nhân để tìm hiểu vấn đề và tạo ra mối quan hệ vững bền lâu dài với các
cá nhân ở những lĩnh vực khác nhau Khía cạnh thứ hai là mối quan hệ cộng đồng Xây dựng sức mạnh và mối quan hệ bền chặt giữa các cá nhân, nhóm trong cộng đồng để tạo ra sức mạnh tập thể nhằm hướng tới việc xử lý các vấn đề chung
Phát triển tính lãnh đạo: Sức mạnh cần phải dựa vào từng thành viên
Càng nhiều người có nghĩa là sức mạnh càng lớn và sức mạnh lớn cần được điều hành bởi người lãnh đạo giỏi, những người có sáng kiến hay và có năng lực Do đó chúng ta cần phát triển và nâng cao năng lực lãnh đạo cho những
cá nhân có tiềm năng Tính lãnh đạo cần phải được phát triển thông qua việc thực hiện các hoạt động thực tế Ví dụ như thu hút những thành viên mới, điều hành các buổi họp, phát triển các chiến lược, ra quyết định và xây dựng
tổ chức
Chiến lược: Chiến lược là một cách tiếp cận tổng thể nhằm đạt được
các mục tiêu Đó là cách thức tạo ra sức mạnh trong tổ chức cộng đồng nhằm
“đạt được” những gì họ mong muốn Một chiến dịch là một loạt các chiến lược đã được lập kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể Một hoạt động
hỗ trợ cộng đồng muốn thành công cần có chiến lược cụ thể và rõ ràng
Huy động nguồn lực: Là tiến trình cần thiết để khích lệ mọi người tham
gia tích cực vào các hoạt động Mục tiêu của huy động nguồn lực không chỉ là huy động nguồn nội lực mà còn vận động cộng đồng huy động tối đa các nguồn ngoại lực có thể để giải quyết chính vấn đề của họ (Joan Minieri and Paul Getsos, 2007)
Trang 22Như vậy, khái niệm tổ chức cộng đồng và phát triển cộng đồng có nhiều điểm giao thoa với nhau và trong nhiều tài liệu, hai khái niệm này được cho là giống nhau Về bản chất, cả phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng cùng hướng tới hỗ trợ các cộng đồng có vấn đề và nâng cao chất lượng sống cho người dân Sự khác nhau của hai thuật ngữ này trong một số tài liệu nêu
ra là thể hiện ở cách thức hỗ trợ cộng đồng Trong phạm vi hoạt động phát triển cộng đồng thì PTCĐ và tổ chức cộng đồng phải luôn đi đôi với nhau, vì muốn người dân tự phát triển được thì phải có sự tổ chức và hướng dẫn họ tự làm Mặt khác, do sự rời rạc trong tổ chức, sự chia rẽ giữa các nhóm người vẫn thường tồn tại, nguồn tài nguyên dù sẵn có trong cộng đồng nhưng cũng
sẽ khó tiếp cận và thừa hưởng nếu không có tổ chức tốt
1.1.5 Phát triển cộng đồng
Phát triển là sự tăng lên về quy mô, khối lượng, kích cỡ của sự vật, hiện tượng nhưng đồng thời làm sự vật ấy biến đổi cả về cấu trúc
Năm 1956 Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển cộng đồng
là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội – văn hóa của các cộng đồng
và giúp các cộng đồng hội nhập và đồng thời góp vào đời sống quốc gia” [3,
tr.20]
Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang thì “Phát triển cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng được tăng cường sức mạnh bởi các kiến thức cuộc sống, kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hóa chúng, huy động nguồn lực để giải quyết chúng Phát triển cộng đồng không phải là một cứu cánh mà là một kỹ thuật, nó nhằm tăng sức mạnh cho các cộng đồng tự quyết về sự phát triển và định hình tương lai của mình…”
Theo Ngân hàng Thế giới thì phát triển dựa vào cộng đồng là sự phát triển lấy cộng đồng làm định hướng trao quyền kiểm soát việc quyết định và nguồn lực cho các nhóm cộng đồng.những nhóm này thường hợp tác dưới
Trang 23hình thức đối tác với các tổ chức cung cấp hỗ trợ căn cứ theo yêu cầu và các bên cung cấp dịch vụ trong đó gồm chính quyền địa phương, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp Trung ương
Hiện nay, phát triển cộng đồng thường đi kèm với khái niệm phát triển bền vững Mỗi hoạt động phát triển cộng đồng cần đảm bảo tính bền vững thì
kết quả đạt được mới duy trì hiệu quả qua thời gian Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược
bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh
tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - Xã hội – Môi trường
1.1.6 Tác viên phát triển cộng đồng
Tác viên phát triển cộng đồng là thuật ngữ dùng để chỉ những nhân viên xã hội làm việc trong các chương trình phát triển cộng đồng Tác viên phát triển cộng đồng đóng vai trò là người tổ chức, lập kế hoạch, điều phối, xúc tác, bồi dưỡng nâng cao năng lực, nhận thức, kỹ năng cho người dân Đồng thời cũng là cầu nối giữa nhóm người nghèo/thiệt thòi với những nguồn lực sẵn có hợp lý để tạo ra sự thay đổi bộ mặt cộng đồng
Các tác viên phát triển cộng đồng đóng một vai trò vô cùng quan trọng,
họ là những nhà chuyên môn được đào tạo bài bản về lý thuyết và thực hành,
là chiếc cầu liên kết giữa các dịch vụ xã hội, các chương trình hành động của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước và sự tham gia tích cực từ phía người dân nhằm đảm bảo sự thành công cho mọi kế hoạch, dự án phát triển cộng đồng
Trang 24Tác viên phát triển cộng đồng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chính là những người cán bộ dự án trực tiếp làm việc với người dân địa phương, là cầu nối giữa nguồn dự án hỗ trợ với người dân, cũng là người thúc đẩy các hoạt động cộng đồng tự quản lý tại địa phương
1.1.7 Sự tham gia
Định nghĩa sự tham gia của cộng đồng theo Clanrence Shubert là:“quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng”
Từ góc độ của các tổ chức phát triển thì “sự tham gia là quyền của người dân được tham gia vào những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của họ” [5]
Theo đó, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia là quá trình giúp người dân tiếp cận các tiềm năng, các khó khăn, cản trở và tìm kiếm các giải pháp phù hợp thông qua phương pháp có sự tham gia cũng như dựa vào kiến thức của người dân Từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển hàng năm và
kế hoạch trung hạn ở cấp xã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thực hiện và giám sát các hoạt động với sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, các cá nhân dựa trên phương pháp giám sát và đánh giá có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện Đây là nguyên tắc đảm bảo cho
sự phát triển cộng đồng bền vững
1.1.8 Quyền và trao quyền
Theo từ điển Tiếng Việt thì quyền là khả năng thực hiện ý chí của mình
được pháp luật hoặc xã hội chấp nhận Quyền cũng được hiểu là cái mà luật
pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành
Trang 25và khi thiếu thì được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi
để giành lại
Theo đó, trao quyền nghĩa là đảm bảo khả năng thực hiện ý chí của cá
nhân được pháp luật và xã hội chấp nhận Như vậy, bước đầu tiên trong việc trao quyền cho người khác là hạn chế những việc có thể tước quyền lực hoặc giảm bớt sức lực và nhiệt huyết của người khác đối với những việc họ làm
Trao quyền cho cộng đồng là quá trình tạo điều kiện cho người dân trong cộng đồng được nâng cao năng lực để từ đó tăng cường kiểm soát cuộc sống của họ “Trao quyền” đề cập đến quá trình mà ở đó con người có được quyền kiểm soát và quyết định cuộc sống của họ Đó là quá trình xây dựng năng lực để đạt được quyền quyết định trong các vấn đề Như vậy có thể
hiểu“Trao quyền cho cộng đồng là quá trình mà người dân được tham gia quyết định các vấn đề của cộng đồng một cách dân chủ, độc lập Đó là quá trình tác viên cộng đồng sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp nhằm rỡ
bỏ những rào cản và xây dựng năng lực cho người dân để giúp họ có đủ khả năng quyết định và hành động thành công các hoạt động của cộng đồng”
Trong quá trình trao quyền cho cộng đồng, các tác viên cộng đồng giữ vai trò quan trọng, tác viên cộng đồng là người xúc tác, tạo điều kiện hoặc “đi cùng” cộng đồng trong toàn bộ quá trình triển khai và thực hiện các hoạt động
cộng đồng
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Mỗi con người đều có những nhu cầu về vật chất và tinh thần rất đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu của con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận
thức và vị trí xã hội của họ
Abraham Maslow (1908 – 1970) – nhà tâm lý học gốc Do Thái đã chia nhu cầu con người thành năm thang bậc từ thấp đến cao:
Trang 26Nhu cầu sống còn: bao gồm nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần
áo, nhà ở, nghỉ ngơi… Nếu nhu cầu cơ bản này không đạt được sẽ không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo
Nhu cầu an toàn: được sống trong thế giới hòa bình, không có chiến
tranh, bạo lực, hiểm họa sau chiến tranh, xung đột vũ trang…
Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: là con người xã hội, con người có
các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ Họ không muốn sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng)
Nhu cầu được tôn trọng: tự tôn trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi
người, được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của mình
Nhu cầu hoàn thiện: trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng
định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân [6]
Thuyết nhu cầu trong công tác xã hội nói chung và phát triển cộng đồng nói riêng có vai trò quan trọng và tính ứng dụng cao Thuyết nhu cầu là
cơ sở để xác định nhu cầu của đối tượng, từ đó đưa ra phương pháp và kế hoạch can thiệp tốt nhất Trong phát triển cộng đồng, bằng các công cụ, kỹ năng và phương pháp đánh giá ban đầu, tác viên phát triển cộng đồng hỗ trợ thân chủ (người dân trong cộng đồng) tự mình đánh giá nhu cầu của mình Những kết quả thu được là căn cứ xây dựng kế hoạch trợ giúp dựa vào thang nhu cầu của Maslow, đây cũng là căn cứ để xác định xem cộng đồng đang có
gì và đang cần gì Đối với các hoạt động phát triển cộng đồng nói chung, sự thành công của hoạt động phụ thuộc phần lớn vào việc xác định đúng nhu cầu của cộng đồng, đây là cơ sở để lựa chọn phương pháp can thiệp tốt nhất và xây dựng kế hoạch trợ giúp sát thực nhất với cộng đồng
Vận dụng thuyết nhu cầu vào nghiên cứu này chúng ta thấy rằng: việc
đề xuất các hoạt động phát triển cộng đồng cần được dựa trên nhu cầu từ thấp
Trang 27tới cao của con người Đồng thời dựa vào việc đánh giá ban đầu về điều kiện sống của cộng đồng, từ đó đề xuất những hoạt động hỗ trợ nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của người dân Khi những nhu cầu tối thiểu theo bậc thang nhu cầu mà trước tiên là nhu cầu về điều kiện ăn ở, sinh hoạt, đi lại và nhu cầu giao lưu tại cộng đồng được đáp ứng thì con người sẽ có cảm giác sống tốt, sống an toàn và sẽ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động cộng đồng nhằm cải thiện điều kiện sống của họ nói chung Sự tham gia của người dân vào các hoạt động cộng đồng đặc biệt quan trọng bởi nó đáp ứng quyền hợp pháp của con người và góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, nhằm hướng tới phát triển bền vững
Với mô hình QLCĐ, thuyết nhu cầu được sử dụng làm công cụ để xác minh tính hợp lý trong mục tiêu, phương pháp và kế hoạch thực hiện của mô hình
1.2.2 Lý thuyết trao quyền
Mô hình trao quyền phát sinh từ các phong trào nữ quyền của những năm 1970, mô hình này dựa trên niềm tin rằng mọi thứ có thể được khôi phục lại dựa trên việc tăng quyền lực và sức mạnh cho các đối tượng là nạn nhân của bạo lực Mô hình trao quyền chú trọng đến việc tìm hiểu cảm giác của cá nhân, lắng nghe các nạn nhân chia sẻ và cho phép họ có những lựa chọn cho riêng mình và hỗ trợ các nạn nhân trong quá trình tự kiểm soát lại cuộc sống của mình
Trao quyền là một khái niệm được chia sẻ bởi nhiều ngành và lĩnh vực: phát triển cộng đồng, tâm lý học, giáo dục, kinh tế Đa số các tài liệu mới đây cho thấy khái niệm trao quyền trong các bài viết tập trung vào ý nghĩalà nâng cao vị thế, trên một số lĩnh vực học thuật và thực tế đã chứng minh rằng không có định nghĩa rõ ràng về khái niệm trao quyền này Tuy nhiên có thể hiểu trao quyền là một quá trình cho phép cá nhân, tổ chức hay cộng đồng đạt được sức mạnh, quyền hạn và quyết định có ảnh hưởng đến bản thân, các tổ
Trang 28chức và cộng đồng Một số đặc điểm của trao quyền có thể kể tới như: Có quyền đưa ra quyết định của chính mình; Có tiếp cận thông tin và nguồn lực
để thực hiện đúng quyết định củamình; Có nhiều tùy chọn để cá nhân, tổ chức hay cộng đồng có thể lựa chọn; Khả năng thực hiện sự quyết đoán trong việc
ra quyết định tập thể; Có suy nghĩ tích cực về khả năng thực hiện thay đổi; Khả năng học các kỹ năng để nâng cao sức mạnh của một cá nhân hoặc nhóm; Khả năng thay đổi nhận thức của người khác bằng phương tiện dân chủ; Sự tham gia trong quá trình phát triển
Một định nghĩa khác đã được đưa ra bởi Solomon về trao quyền liên quan đến công tác xã hội, định nghĩa này tập trung vào những người di cư và
người tị nạn bị kì thị Trao quyền được định nghĩa là: “Một quá trình mà trong đó các nhân viên xã hội tham gia vào một tập hợp các hoạt động với thân chủ nhằm giảm sự bất lực đã được tạo ra Nó liên quan đến việc xác định nguồn lực cho vấn đề này cũng như sự phát triển và thực hiện các chiến lược cụ thể nhằm giảm những tác động từ các khối quyền lực gián tiếp hoặc giảm hoạt động của các khối quyền lực trực tiếp.”
Còn theo Rappaport (1981, 1984), trao quyền là một cấu trúc liên kết sức mạnh và năng lực cá nhân, hệ thống trợ giúp sẵn có và hành vi chủ động chính sách xã hội và thay đổi xã hội Ông cũng lưu ý rằng, để xác định việc trao quyền rất dễ dàng khi nó không có trong hệ thống và ngược lại, rất khó
để xác định nó trong hành động vì nó mang những hình dạng khác nhau ở những người khác nhau và bối cảnh khác nhau
Theo Czuba (1999) cho thấy rằng ba thành phần của định nghĩa là trao quyền cơ bản là: đa chiều, xã hội, và một quá trình Đa chiều bởi nó tồn tại trong xã hội học, tâm lý, kinh tế…Trao quyền để nâng cao năng lực cũng xảy
ra ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như cấp độ cá nhân, nhóm và cộng đồng Trao quyền là một quá trình xã hội, vì nó xảy ra trong mối quan hệ với
Trang 29những người khác, và nó là một quá trình liên tục Các khía cạnh khác của việc trao quyền có thể thay đổi tùy theo bối cảnh và những người tham gia cụ thể, nhưng ba thành phần này vẫn không đổi
Theo Elisheva Sadan (2004) cho rằng, “Trao quyền là một quá trình chuyển đổi từ trạng thái bất lực với tình trạng kiểm soát tương đối với cuộc sống của một người Sự chuyển đổi này có thể biểu hiện trong việc thay đổi khả năng nhận thức và khả năng thực tế để kiểm soát tích cực hơn ” Do đó
có thể khái niệm quá trình trao quyền như ba quá trình đan xen và bổ sung cho nhau: quá trình trao quyền cho cá nhân, quá trình trao quyền cho cộng đồng và quá trình trao quyền cho tổ chức
Trong nghiên cứu này nói đến việc trao quyền cho cộng đồng, nghĩa là đem lại sự dân chủ hóa cho cộng đồng đó, không chỉ đem lại quyền cho một vài người đại diện cộng đồng mà là quyền cho tất cả các thành viên cộng đồng, để giúp cộng đồng có năng lực và quyền lực thực hiện mục tiêu phát triển Phương pháp trao quyền cho cộng đồng không ra đời từ những nỗ lực nghiên cứu học thuật Nó ra đời từ thực tế công việc như là một phương tiện
để giải quyết một vấn nạn cực kì khó khăn, vấn nạn đói nghèo Năm nguyên lí của trao quyền như: (1) Sự trợ giúp là cần thiết nhưng phải là trợ giúp trên tinh thần hợp tác giúp đỡ đào tạo nhằm khuyến khích sự tự chủ và nâng cao năng lực cộng đồng, tránh làm cho cộng đồng trở nên yếu ớt và phụ thuộc (2) Chỉ can thiệp vào cộng đồng với tinh thần thúc đẩy, thông tin và hướng dẫn, không ép buộc cộng đồng (3) Tổ chức chỉ có thể mạnh hơn qua hành động, đấu tranh và đối mặt với khó khăn (4) Sự tham gia thực tế của người tiếp nhận đặc biệt trong quá trình ra quyết định có vai trò quan trọng trong việc gia tăng sức mạnh cộng đồng (5) Mục tiêu là để các thành viên cộng đồng nắm toàn quyền kiểm soát, tham gia đầy đủ vào việc ra quyết định và có tính trách nhiệm nhằm nâng cao năng lực cộng đồng
Trang 301.2.3 Lý thuyết thân chủ trọng tâm
Cách tiếp cận thân chủ trọng tâm (Client – centred therapy) được ra đời
và phát triển vào những năm cuối của thập kỷ 40 Lý thuyết này thuộc trường phái tâm lý học nhân văn và đại diện cho thuyết là nhà tâm lý học lâm sàng Carl Rogers Lý thuyết này cho rằng cá nhân có khó khăn tâm lý xã hội là do
họ tập nhiễm cách ứng xử không phù hợp Việc trị liệu có mục đích nhắm đến
sự chấp nhận bản ngã như là một thực thể độc đáo và có khả năng tự lực, lòng tin vào thân chủ như là nhân vật trung tâm của tiến trình trị liệu, thân chủ là nhà trị liệu của chính mình, và việc trị liệu phải nhấn mạnh vào các trải nghiệm đang xảy ra trong hiện tại hơn là những gì đã xảy ra trong quá khứ (Raskin & Rogers; 1989) Theo Rogers, chính thân chủ là người biết rõ điều đau khổ của họ là gì, hướng đi của họ sẽ về đâu và vấn đề nào là cấp thiết Do
đó nhiệm vụ của nhà tham vấn trong quá trình can thiệp là hỗ trợ thân chủ tháo bỏ những rào cản trong môi trường xã hội, giúp họ hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân để đạt được trạng thái cân bằng Trị liệu thân chủ trọng tâm dựa trên quan điểm tích cực của mỗi người rằng mỗi thân chủ luôn vận động để hoàn thiện bản thân Do đó mục đích lớn nhất của quá trình tương tác là phải tạo ra được bầu không khí an toàn và tin tưởng, giúp họ tự khám phá bản thân, tự ý thức được hoàn cảnh, vấn đề và tiềm năng của mình Nhiệm vụ của nhà tham vấn là giúp thân chủ nhận biết được tiềm năng của chính họ Theo Rogers, công cụ để tạo sự thay
đổi ở thân chủ đó là: sự thành thực, sự thấu hiểu và chấp nhận vô điều kiện
của nhà tham vấn đối với thân chủ
Về sau, Rogers áp dụng quan điểm của mình một cách sâu rộng hơn ra ngoài các môi trường khác không thuộc tâm lý trị liệu và làm việc với các nhóm người không phải là thân chủ Quan điểm “Thân chủ trọng tâm” ảnh hưởng sang cả ngành giáo dục ở Hoa Kỳ, và điều đó khiến Rogers đặt lại tên cho phương pháp của mình là “Nhân vị trọng tâm” (person-centred) để phản
Trang 31ánh sự chuyển đổi đối tượng của phương pháp không chỉ bao gồm những thân chủ trong tâm lý trị liệu mà còn nhắm đến bản chất con người và các mối tương tác xã hội nói chung
Lý thuyết thân chủ trọng tâm được ứng dụng trong hoạt động công tác
xã hội với ý nghĩa lấy thân chủ làm trung tâm của các hoạt động hỗ trợ can thiệp Đây cũng là nguyên tắc và là trách nhiệm của nhân viên xã hội trong thực hành công tác xã hội Trong mọi hoàn cảnh thì thân chủ luôn là người hiểu rõ mình đang gặp phải vấn đề gì, nguyện vọng của mình thế nào và hướng đi của mình ra sao Nhân viên xã hội cần giúp đối tượng tự lập và có khả năng tự quyết từ đó chính họ sẽ đưa ra các giải pháp khác nhau hoặc chọn một quyết định đúng đắn, có cơ sở để giải quyết vấn đề của mình Có thể hiểu nhân viên xã hội ở đây chỉ đóng vai trò là người thúc đẩy, giúp cho thân chủ
tự nhận biết vấn đề của mình, tự mình đưa ra các giải pháp và lập kế hoạch giải quyết vấn đề của mình
Trong phát triển cộng đồng, lý thuyết thân chủ trọng tâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với cách tiếp cận từ dưới lên trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng Thân chủ ở đây được hiểu là cộng đồng đang can thiệp Tác viên phát triển cộng đồng luôn lấy cộng đồng làm trung tâm của sự can thiệp, từ việc thúc đẩy cộng đồng xác định vấn đề của mình là gì, cộng đồng đưa ra các phương án giải quyết vấn đề cho đến khâu thực hiện kế hoạch Tác viên phát triển chỉ đóng vai trò là người khơi gợi, thúc đẩy là liên kết các nguồn lực giải quyết vấn đề cho cộng đồng mà thôi Bởi cộng đồng hiểu rõ họ đang thiếu gì,
họ cần gì và cách giải quyết như thế nào là phù hợp với đặc tính cộng đồng của họ
1.2.4 Thuyết huy động nguồn lực
Trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nói chung, nguồn lực đóng vai trò quan trọng và là yếu tố quyết định sự phát triển Các hoạt động trong công tác xã hội cũng không nằm ngoại lệ, yếu tố nguồn lực luôn được xem
Trang 32xét đến như một công cụ để giải quyết nan đề của đối tượng Đặc biệt, đối với hoạt động phát triển cộng đồng nói riêng thì nguồn lực đóng vai trò tiên quyết trong việc thúc đẩy tạo nên sự thay đổi Do đó bất cứ hoạt động phát triển cộng đồng nào đều cần lưu ý tới việc phân tích, tìm kiếm nguồn lực, phát huy nguồn lực Nguồn lực ở đây là cả nguồn nội lực và ngoại lực
Thuyết huy động nguồn lực xuất phát từ thuyết nhân văn hiện sinh khi cho rằng các nhóm trong cộng đồng đặc biệt là những nhóm nhỏ và yếu thế đều có những tiềm năng nhất định và chúng ta có thể huy động nguồn lực của những nhóm này trong các hoạt động động chung Thuyết cho rằng các thành viên của một cộng đồng có thể hợp tác với nhau để tạo ra được sức mạnh trong các hoạt động của cộng đồng nếu như các lợi ích của họ được gắn với các hoạt động và chương trình đó Lý thuyết này cũng nhấn mạnh đến khả năng của các thành viên tham gia là: (1) có được nguồn tài nguyên và (2) vận động người dân đối với việc hoàn thành các mục tiêuchung của cộng đồng Trái ngược với lý thuyết hành vi truyền thống khi tập trung vào cá nhân, thuyết huy động nguồn lực chú trọng vào các hoạt động xã hội để huy động nguồn lực hợp lý từ các nguồn khác nhau trong việc thay đổi hành vi và can thiệp giải quyết vấn đề
Lý thuyết huy động nguồn lực giả định rằng các cá nhân luôn cân nhắc chi phí và lợi ích của việc tham gia và hành động vào các hoạt động chung của cộng đồng Người dân sẽ chỉ tham gia vào các hoạt động khi lợi ích có được là nhiều hơn những thứ bỏ ra.Vậy để huy động nguồn lực là sự tham gia của người dân thì chúng ta cần đẩy mạnh yếu tố lợi ích hoặc hướng những hoạt động phát triển cộng đồng tới những nhóm người mà sẽ có được nhiều lợi ích khi tham gia vào các hoạt động Thuyết huy động nguồn lực có thể được chia thành hai trường phái: Trường phái John D McCarthy và Mayer Zald; John và Mayer là những người đưa ra và ủng hộ trường phái sẵn sàng chịu rủi ro để thành công (kinh tế) của lý thuyết này Cụ thể là các yếu tố về
Trang 33lợi ích, giá trị kinh tế sẽ được đặt ra hàng đầu trong việc huy động nguồn lực; Trường phái Charles Tilly và Doug McAdam, Charles và Doug nêu bật vai trò của chính trị trong việc huy động nguồn lực với quan điểm kể cả không có kinh tế tuy nhiên nếu có những tác động của các yếu tố chính trị thì có thể huy động được nhiều nguồn lực từ các bên tham gia trong cộng đồng ngay cả khi không có lợi ích kinh tế
Tuy nhiên cả 2 trường phái trên vẫn còn những điểm hạn chế khi chưa tính đến yếu tố trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp và cơ quan tổ chức Đây cũng là 1 yếu tố quan trọng nếu tác viên PTCĐ nắm được để huy động hiệu quả các nguồn lực từ các cơ quan tổ chức khác nhau
Vận dụng thuyết huy động nguồn lực trong phát triển cộng đồng, trước hết sẽ giúp nhân viên xã hội/tác viên phát triển cộng đồng có quan điểm và cách nhìn tích cực đối với những cộng đồng có vấn đề Nội dung chủ đạo của thuyết nhấn mạnh tới việc bất cứ cộng đồng nào cũng có những nguồn lực nhất định Dựa vào triết lý này, nhân viên xã hội sẽ có sự tin tưởng và định hướng trong công việc
Thuyết cũng chỉ ra rằng muốn huy động hiệu quả các nguồn lực, các vấn đề hay nhu cầu phải xuất phát từ lợi ích chung của người dân và cộng đồng Điều này cũng là triết lý trong phát triển cộng đồng và được vận dụng vào lý thuyết này
Thuyết cũng giúp nhân viên xã hội có những chiến lược hiệu quả khi cần phải huy động nguồn lực Thuyết chỉ ra rằng nhân viên xã hội muốn thành công trong việc huy động nguồn lực cần phải tính đến yếu tố lợi ích của các bên tham gia Các bên tham gia sẽ chủ động và nhiệt tình trong việc đóng góp nguồn lực nếu họ thấy được ít hay nhiều lợi ích của họ ở trong đó Nhân viên
xã hội cũng cần hiểu rằng lợi ích không chỉ bao hàm ở ý nghĩa giá trị vật chất
mà còn bao hàm cả các yếu tố khác Tuỳ thuộc vào từng tổ chức, cá nhân cụ thể mà nhân viên xã hội đưa ra những lợi ích phù hợp để huy động sự tham
Trang 34gia, đóng góp của các bên liên quan trong việc giải quyết vấn đề cộng đồng Ngoài yếu tố lợi ích phù hợp thì cần phải kể đến sự tham gia của chính quyền địa phương (yếu tố chính trị) như là tác nhân hữu hiệu trong việc huy động nguồn lực Đó cũng chính là một nội dung được đề cập đến trong thuyết huy động nguồn lực
Như vậy thông qua thuyết này, nhân viên xã hội cũng cần hiểu rằng việc huy động nguồn lực là tự nguyện Tuy nhiên yếu tố chính trị là nhân tố tạo ra ảnh hưởng tích cực trong việc này Do đó khi làm việc với cộng đồng, nhân viên xã hội cần tạo mối quan hệ và có được sự hỗ trợ tối đa từ chính quyền địa phương Có được sự đồng thuận của chính quyền địa phương sẽ giúp tác viên PTCĐ huy động được nhiều nguồn lực trong các hoạt động phát triển cộng đồng dựa vào các hình thức pháp lý ví dụ như công văn
Vận dụng thuyết huy động nguồn lực trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã
sử dụng lý thuyết làm cơ sở lý luận cho việc xem xét đánh giá cách tiếp cận
và phương thức hỗ trợ người dân trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng của mô hình Quản lý cộng đồng Tiếp cận dựa vào nguồn lực là một trong ba cách tiếp cận của mô hình, trong đó mô hình nhấn mạnh tới việc cộng đồng không chỉ nhìn vào những vấn đề khó khăn mà cần phân tích điểm mạnh, điểm yếu và các nguồn lực nội tại của cộng đồng có thể huy động để giải quyết vấn đề của mình
Trang 35một cách rộng rãi Năm 1950 Liên Hiệp Quốc (LHQ) chính thức hóa khái niệm PTCĐ và khuyến khích các nước nghèo áp dụng nó để thoát nghèo Tại Việt Nam, theo tài liệu của CFSI (2012), lịch sử PTCĐ được biết đến
từ thập kỷ 50 thông qua một số dự án “Trường cộng đồng” của UNESCO với
mô hình trường vừa là một trung tâm đóng góp vào sự phát triển của địa phương, vừa phát triển dựa vào sự hỗ trợ của địa phương Sau giải phóng, nhất là từ thập kỷ 90, nhiều tổ chức Quốc tế vào Việt Nam sử dụng phương thức PTCĐ (vận động sự tham gia của người dân) vào các dự án phát triển ở vùng nông thôn lẫn thành thị Có những dự án lớn do các tổ chức quốc tế đầu
tư hay những dự án vừa và nhỏ do địa phương chủ xướng Hiện nay, nhu cầu PTCĐ ngày càng tăng, PTCĐ được giảng dạy nhiều trong các trường đại học Trong tương lai, PTCĐ sẽ được nâng cấp và mở thành các chuyên ngành riêng biệt theo mô hình của các nước phát triển
Triết lý của PTCĐ là người dân trong cộng đồng cần tự quyết định
những gì họ muốn chứ không phải là các quan điểm của các cơ quan, tổ chức
áp đặt lên họ Vấn đề của cộng đồng sẽ được giải quyết một cách bền vững nếu như chúng được giải quyết dựa trên năng lực của chính người dân trong cộng đồng Năng lực, khả năng của người dân sẽ được phát triển nếu họ biết cách tận dụng, phát huy những nguồn lực trong chính bản thân họ hoặc trong cộng đồng cũng như biết cách huy động những nguồn lực từ bên ngoài
Mục tiêu của PTCĐ là góp phần nâng cao nhận thức, khích lệ sự tham gia của người dân trong việc hợp tác để giải quyết các vấn đề chung, phát triển năng lực tự quản để mang lại an sinh cho cộng đồng Các mục tiêu cụ thể được thể hiện trên 4 khía cạnh: (1) Hướng tới cải thiện chất lượng sống của cộng đồng cả về lượng và chất; (2) Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng kể cả các nhóm thiệt thòi, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội; (3) Củng cố các thiết chế để tạo điều kiện thuận lợi
Trang 36cho chuyển biến xã hội và tăng trưởng; (4) Hướng tới thu hút và tạo điều kiện tối đa để người dân tham gia chủ động và tích cực vào tiến trình phát triển PTCĐ có 8 nguyên tắc cơ bản, đó là:
Nguyên tắc phát huy nội lực của cộng đồng
Phát triển cộng đồng hướng tới sự phát triển bền vững và lâu dài dựa trên
sự tự chủ của người dân trong các hoạt động quản lý và phát triển cộng đồng
Do đó các chương trình, hoạt động nhằm phát triển cộng đồng cần lấy nền tảng là nguồn nội lực bên trong cộng đồng bởi không ai hiểu cộng đồng hơn chính bản thân người dân và những nguồn lực xuất phát từ bên trong cộng đồng thường là những nguồn lực dồi dào và bền vững Do đó, tận dụng được nguồn nội lực này sẽ mang lại sự phát triển bền vững cho cộng đồng đúng với những triết lý trong phát triển cộng đồng
Nguyên tắct in tưởng vào khả năng có thể thay đổi được của người dân
Triết lý của công tác xã hội cũng được thể hiện rõ nét trong nguyên tắc này của phát triển cộng đồng Khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, tác viên phát triển cộng đồng cần luôn tâm niệm rằng bản thân cộng đồng và người dân ở đó đều có những năng lực và khả năng nhất định để có thể thay đổi cuộc sống của họ tốt đẹp hơn Luôn tin tưởng vào năng lực và khả năng của người dân và cộng đồng sẽ giúp tác viên phát triển cộng đồng có niềm tin
và cái nhìn tích cực tới các hoạt động hỗ trợ người dân và cộng đồng Nguyên tắc này cũng hướng tác viên phát triển cộng đồng đi theo cách tiếp cận tập trung vào giải pháp và tìm kiếm những nguồn lực trong cộng đồng Đây chính
là cách can thiệp và phát triển bền vững như đã trình bày ở nguyên tắc trên
Nguyên tắc hướng tới giải quyết những vấn đề bức xúc và của số đông người dân trong cộng đồng
Triết lý của công tác xã hội nói chung và PTCĐ nói riêng đều hướng tới việc trao quyền và tăng cường năng lực tự quản cho người dân Như vậy rất cần thiết phải để người dân tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng
Trang 37ngay từ những giai đoạn đầu, đồng thời phải hướng tới giải quyết những vấn
đề bức xúc của số đông người dân trong cộng đồng Chỉ khi chúng ta gắn lợi ích thiết thực của người dân thì họ mới tham gia một cách chủ động và tích cực Hơn nữa mục đích của phát triển cộng đồng còn là để gắn kết và tạo sự đoàn kết của người dân trong cộng đồng Do đó càng nhiều người tham gia vào các hoạt động vì lợi ích chung sẽ càng tốt để có thể tạo ra một khối thống nhất trong việc phát triển cộng đồng
Nguyên tắc ưu tiên nhóm người thiệt thòi, yếu thế trong cộng đồng
Phát triển cộng đồng không chỉ can thiệp vấn đề hay đáp ứng nhu cầu của người dân mà giá trị nhân văn ở đây còn là hướng tới việc mang lại sự bình đẳng và công bằng về việc tiếp cận các dịch vụ, sử dụng tài nguyên cho người dân trong cộng đồng Để đạt được mục tiêu này, các chương trình và hoạt động cần ưu tiên hướng tới những nhóm người thiệt thòi và yếu thế trong cộng đồng Có như vậy khoảng cách về khía cạnh kinh tế, văn hoá, tiếp cận các dịch vụ xã hội mới được thu hẹp từ đó đảm bảo khía cạnh bình đẳng của người dân trong cộng đồng
Nguyên tắc dân chủ bàn bạc trong mọi hoạt động của cộng đồng
Nguyên tắc dân chủ được thể hiện ở chỗ các hoạt động can thiệp và hỗ trợ cộng đồng cần được đưa ra công khai và ai cũng được quyền nêu ý kiến của mình, người dân sẽ tham gia nhiệt tình khi những công việc đó là ý kiến của họ đưa ra Đây cũng chính là quá trình nâng cao năng lực cho người dân Trên thực tế việc nâng cao năng lực không chỉ là qua các khoá tập huấn, đào tạo mà ngay từ những hoạt động nhỏ như họ được khuyến khích nêu ý kiến trong các cuộc họp, bàn luận và các ý kiến đó được tôn trọng thì người dân sẽ cảm thấy tự tin hơn
Nguyên tắc đảm bảo quyền tự quyết của cộng đồng
Nguyên tắc này nhấn mạnh tới việc vai trò của tác viên cộng đồng chỉ là
hỗ trợ và tạo điều kiện cho người dân được trao đổi, nêu lên ý kiến và cùng
Trang 38người dân phân tích các điểm mạnh và hạn chế của từng phương án Tuy nhiên quyết định cuối cùng lựa chọn phương án hay giải pháp nào là do người dân quyết định Khi tự đưa ra quyết định, người dân sẽ tham gia vào các hoạt động cộng đồng nhiệt tình hơn và có trách nhiệm hơn
Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia tích cực và chủ động của người dân
Triết lý của phát triển cộng đồng hướng tới tăng cường năng lực cho người dân Cách tăng năng lực hiệu quả nhất chính là để người dân tham gia vào các hoạt động của cộng đồng Hơn nữa khi họ tham gia vào các hoạt động này thì trách nhiệm của họ cũng tăng lên nhiều từ đó yếu tố bền vững được đảm bảo tốt hơn
Bắt đầu từ mục tiêu nhỏ và hoạt động nhỏ phù hợp với khả năng của người dân
Bản chất của nguyên tắc này hướng dẫn tác viên cộng đồng không nên nóng vội trong các hoạt động cộng đồng Việc tạo ra những thành công dù nhỏ nhưng sẽ có ý nghĩa lớn với người dân và cộng đồng vì đã tạo ra được lòng tin về các hoạt động mà họ sẽ làm Đây chính là yếu tố cốt lõi và nền tảng để tác viên cộng đồng có thể tiếp tục tiến hành những bước tiếp theo trong tiến trình
Việc tác giả đưa ra và phân tích một số điểm chính về PTCĐ bao gồm triết lý, mục tiêu và nguyên tắc của PTCĐ không chỉ sử dụng làm cơ sở lý luận, mà còn làm cơ sở tiêu chí đánh giá mục tiêu, phương pháp của mô hình QLCĐ đang được thực hiện trên thực tế Cụ thể là việc đối chiếu mục tiêu của QLCĐ có phù hợp với mục tiêu phát triển cộng đồng nói chung hay không, các nguyên tắc của QLCĐ có tương đồng với các nguyên tắc trong PTCĐ hay không, tương đồng ở mức độ nào và có điểm gì mới so với lý thuyết PTCĐ Như vậy, một số điểm chính trong lý thuyết PTCĐ chính là tiêu chí đầu tiên làm căn cứ để tác giả đánh giá hiệu quả của mô hình QLCĐ đang được trung tâm DWC thực hiện tại Phổ Yên, Thái Nguyên
Trang 391.4 Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC)
Trung tâm DWC là một tổ chức phi lợi nhuận trong nước được thành lập năm 2003 theo Quyết định số 232 QĐ-KHVN ngày 21 tháng 7 năm 2003 của Hội Khuyến học Việt Nam (VAPE) Văn phòng điều phối của DWC được đặt tại Hà Nội Một số nhà tài trợ chính cho các dự án DWC thực hiện có thể
kể tới: Tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới (BfdW), Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sỹ (SDC), Tổ chức ICCO – Hà Lan, Tổ chức Misereor – Đức, Tổ chức SODI – Đức, Local Women Fund Hà Lan, Cordiad Hà Lan, DWHH Đức, …
Từ khi thành lập năm 2003 đến nay, các hoạt động của Trung tâm DWC luôn hướng tới mục tiêu hỗ trợ sự phát triển của phụ nữ và trẻ em, trong số 29 dự
án lớn nhỏ mà DWC đã thực hiện, các hoạt động dự án luôn nhấn mạnh vai trò của phụ nữ, thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phát triển, đồng thời nâng cao năng lực cho phụ nữ Yếu tố nhạy cảm giới cũng luôn được chú trọng và là nguyên tắc thực hiện mọi dự án của DWC Ngoài phụ nữ thì trẻ em cũng là đối tượng mà DWC hướng tới, một số dự án lớn được thực hiện tại Hà Nội, Thanh Hoá, Thái Nguyên, Hoà Bình đã thúc đẩy sự tham gia của học sinh vào quá trình ra quyết định tại trường học, tăng cường hiệu quả các hoạt động học tập và giảng dạy của cả giáo viên và học sinh Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cho phụ nữ và trẻ em được DWC chú trọng thực hiện trong mọi dự án của mình thông qua tập huấn các kiến thức về Giới, Bình đẳng giới, kỹ năng thúc đẩy, tìm hiểu Công ước Quốc tế Quyền trẻ em … Khi tiếp nhận thực hiện dự án “Thúc đẩy QLCĐ tại Việt Nam” giai đoạn 2008 –
2012 cho đến nay, trung tâm DWC rất thành công với mô hình này và được các nhà tài trợ lớn như Bánh mỳ cho Thế giới, Misereor, SODI tài trợ thực hiện nhiều dự án khác theo mô hình QLCĐ Hiện nay, các hoạt động của dự
án Thúc đẩy QLCĐ tại Việt Nam – giai đoạn 2 (2013-2016) cũng được thực hiện trong các trường Trung học cơ sở và tập trung hỗ trợ năng lực, kỹ năng cho đội ngũ giáo viên và học sinh về dậy và học tích cực, tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình ra quyết định trong trường lớp Tuy nhiên, tại
Trang 40địa bàn nghiên cứu - xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, trong khuôn khổ dự án
“Thúc đẩy sự tham gia của người dân nông thôn hướng tới phát triển bền vững tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” thì DWC không có hoạt động tại
trường học, yếu tố giới, nhạy cảm giới và vai trò của phụ nữ trong hoạt động cộng đồng vẫn được chú trọng và là một trong các nguyên tắc thực hiện mọi hoạt động dự án
1.4.1 Cơ cấu tổ chức
Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC) hoạt động dưới sự điều hành chung của Giám đốc Trung tâm với cơ cấu tổ chức được chia thành hai bộ phận theo mô hình sau:
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì phụ nữ và trẻ em
(Nguồn: Sổ tay quản lý của Trung tâm DWC)
GIÁM ĐỐC
Bộ phận hành chính và tài chính
(Admin & Financial Unit)
Bộ phận chuyên môn – Kỹ thuật
Trợ lý dự án (Project Assistant)