1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa

93 708 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đặc trưng của quá trình đô thị hóa là sự tăng nhanh dân số đô thị, tạo nên những điểm dân cư đô thị cực lớn làm mất cân đối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả những người bằng cách này hay cách khác đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Nếu không có sự giúp đỡ ấy, tôi không thể hoàn thành luận văn của mình

Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Bá Thịnh – Người thầy đã tận tình chỉ dẫn, định hướng, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn Nhờ có sự chỉ bảo tận tình của thầy mà tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ của mình Với tôi Thầy giống như một người Thầy, một người Cha dìu dắt tôi trên con đường học vấn và cuộc sống

Tiếp theo tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người đã động viên, cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Những người khác mà tôi vô cùng biết ơn những Thầy Cô trong khoa

xã hội học, những người đã cung cấp nền tảng kiến thức và giúp tôi hoàn thành mọi thủ tục bảo vệ luận văn

Hà Nội, năm 2014

Hà Thị Mai Phương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 4

5 Câu hỏi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết nghiên cứu 4

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học 5

8 Khung phân tích 6

9 Kết cấu luận văn 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 8

1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8

1.2 Cơ sở lý luận 12

1.2.1.Các khái niệm cơ bản 12

1.2.1.1 Khái niệm dân số 12

1.2.1.2 Khái niệm cơ cấu dân số và biến đổi cơ cấu dân số 13

1.2.1.3 Khái niệm đô thị hóa và quá trình đô thị hóa 14

1.2.2 Lý thuyết 16

1.2.2.1.Lý thuyết đô thị hóa 16

1.2.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội 20

1.2.2.3.Lý thuyết biến đổi dân số 22

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ CHIỀU CẠNH BIẾN ĐỔI CƠ CẤU DÂN SỐ HÀ NỘI 35

2.1 Vài nét về dân số Hà Nội 35

Trang 5

2.2 Một số biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa 39

2.2.1 Cơ cấu tuổi dân số 40

2.2.2.Cơ cấu giới tính dân số 53

2.2.3 Cơ cấu nghề nghiệp dân số 59

CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI BIẾN ĐỔI

CƠ CẤU DÂN SỐ HÀ NỘI 68

3.1.Chính sách của Hà Nội về dân số kế hoạch hóa gia đình 68

3.2 Đô thị hóa 69

3.3 Sự gia tăng tự nhiên và di cư 73

3.3.1 Gia tăng tự nhiên 73

3.3.2 Di cư 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1.Một số chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - Xã hội Hà Nội 28 Bảng 1.2: Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản theo giá hiện hành (Hà Nội năm 2008-2013) 31 Bảng 1.3 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành 33 Bảng 2.1: Biến động tự nhiên dân số khu vực Hà Nội giai đoạn năm 2008- 2013 37 Bảng 2.2 cơ cấu tuổi – giới tính dân số thành thị/ nông thôn Hà Nội 2009 43 Bảng 2.3: Cơ cấu nhóm tuổi dân số Hà Nội năm 2013 46 Bảng 2.4: Cơ cấu tuổi- giới tính dân số thành thị và nông thôn Hà Nội 1/4/2013 49 Bảng 2.5: Sự gia tăng dân số theo cơ cấu tuổi của Hà Nội năm 2009 và năm 2013 51 Bảng 2.6: Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên theo tình trạng hoạt động kinh tế, giới tính và nông thôn, đô thị (người), 2009 59 Bảng 2.7: Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chia theo nghề nghiệp, nông thôn và đô thị (người) 61 Bảng 2.8: Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo ngành kinh

tế (%) 62 Bảng: 2.9 Số người thiếu việc làm, thất nghiệp và không hoạt động kinh tế từ

15 tuổi trở lên ở Hà Nội tính đến 1/1/2014 63 Bảng 2.10 Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo nghề nghiệp 65 Bảng 2.11: Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo ngành kinh

tế (%) 66 Bảng 3.1: Tỷ suất dân nhập cư và xuất cư Hà Nội qua các năm 78 Bảng 3.2: Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm 79

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Dân số trung bình Hà Nội qua các năm 36

Biểu đồ 2.2: Mật độ dân số Hà Nội so với các thành phố lớn Việt Nam 38

Biểu đồ 2.3: Dân số trung bình Hà Nội qua các năm phân theo khu vực thành thị - nông thôn 39

Biểu đồ 2.4: Tháp dân số cơ cấu tuổi – giới tính Hà Nội 2009 41

Biểu đồ 2.5: Tháp cơ cấu tuổi – giới tính dân số khu vực thành thị Hà Nội năm 2009 44

Biểu đồ 2.6: Tháp cơ cấu tuổi – giới tính dân số khu vực nông thôn Hà Nội năm 2009 44

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu tuổi-giới tính dân số Hà Nội năm 2013 45

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu tuổi-giới tính dân số thành thị Hà Nội năm 2013 47

Biểu đồ 2.9: Cơ cấu tuổi-giới tính dân số nông thôn Hà Nội năm 2013 47

Biểu đồ 2.10: So sánh tháp tuổi dân số Hà Nội năm 2009 và năm 2013 50

Biểu đồ 2.11: Tỷ số giới tính Hà Nội từ năm 2005-2013 54

Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ tăng dân số theo giới tính của Hà Nội từ năm 2006- năm 2013 55

Biểu đồ 2.13: Cơ cấu giới tính khu vực nội thành Hà Nội qua các năm 56

Biểu đồ 2.14: Cơ cấu giới tính khu vực nông thôn Hà Nội qua các năm 57

Biều đồ 3.1 : Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên Hà Nội qua các năm 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo tờ Newizv, dẫn báo cáo của Liên Hợp Quốc cho biết, năm 2009 nhân loại đã bước qua một giới hạn rất quan trọng là dân thành thị trên hành tinh chúng ta đã vượt số dân nông thôn 60 năm trước dân số trên thế giới phân bố theo tỷ lệ: 70% ở nông thôn, 30% ở thành thị Tới giữa thế kỷ 21 tỷ lệ

có thể đổi ngược - ở thành thị có tới 70% số dân toàn cầu và đạt con số 5,3 tỷ người Trong đó châu Á chiếm 63% (3,3 tỷ người), châu Phi – gần 25% (1,2

tỷ người)

Nguyên nhân của sự biến đổi dân số đô thị nói trên không chỉ do sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn Mà do quá trình đô thị hóa kéo theo sự chuyển dịch dân cư nông thôn vào đô thị Sức hút từ đô thị và lực đẩy từ nông thôn tăng Lực đẩy dân số ở nông thôn phát sinh từ việc đông dân, ít đất canh tác, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, cuộc sống nghèo nàn lạc hậu, việc mở rộng quy môi đô thị Sức hút của đô thị đến từ các khu công nghiệp, điều kiện văn hóa giáo dục, y tế

Ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đặc trưng của quá trình đô thị hóa là sự tăng nhanh dân số đô thị, tạo nên những điểm dân cư đô thị cực lớn làm mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân

cư, tạo nên những biến đổi trong cơ cấu dân số

Mà như chúng ta đã biết, dân số là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, biến đổi xã hội đất nước, nó có tầm quan trọng hàng đầu đối với kinh tế - chính trị của một quốc gia Đây vừa là lực lượng lao động vừa là người tiêu dùng trong xã hội Hàng năm các quốc gia luôn tổ chức các cuộc điều tra dân số, xoay quanh những vận động của dân số như: quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, biến động về dân số… Từ

Trang 9

những số liệu thực tế có được, giúp các nhà quản lí có thể thấy nhận diện rõ bức tranh dân số của quốc gia đang diễn tiến như thế nào để có những định hướng phát triển dân số phù hợp vừa phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo giáo dục, an sinh xã hội Bên cạnh đó các dự báo dân số trong tương lai cũng

có ý nghĩa quyết định tới mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong việc hoạch định các chính sách, chiến lược quốc gia

Việt Nam là nước đang phát triển Song song với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa cũng đang diễn ra ngày càng mạnh

mẽ ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống xã hội Ngân hàng Thế giới (WB) đã đánh giá Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á Nếu năm 1986, tỉ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam mới 19% (khoảng 11,8 triệu người) thì đến năm 2010 đã tăng lên 30,5% (khoảng 26,3 triệu người), dự báo đến năm 2020 sẽ tăng lên gấp nhiều lần Theo xu thế phát triển của cả nước,

Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh là một trong hai thành phố có mức và tốc

độ đô thị hóa đạt cao nhất Cũng theo báo cáo đánh giá đô thị hóa của Word Bank tỷ lệ đô thị hóa ở Hà Nội 2010 là 30 - 32% và sẽ nhảy vọt thành 55 - 65% vào năm 2020.[16;tr 3] Đặc biệt sau quyết định mở rộng thủ đô 8/2008, địa giới hành chính Hà Nội tăng lên gấp 3,6 lần so với trước kia Điều này tạo nên nhiều biến đổi sâu sắc về sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, về cách tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức, văn hóa, dân số Chính vì thế, việc quy hoạch dân cư nhằm chỉnh trang đô thị, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo điều kiện cho việc mở rộng, phát triển kinh tế - xã hội là một chính sách lớn được các cấp ủy Đảng và chính quyền nhân dân Thủ đô Hà Nội đặc biệt quan tâm

Vì vậy, việc nhận thức những ảnh hưởng từ sự biến đổi dân số là điều

rất cần thiết Xuất phát từ những thực tế trên tôi lựa chọn đề tài: “Biến đổi cơ

Trang 10

cấu dân số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” với mong muốn khắc họa bức

tranh dân số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa lý luận

Trong quá trình nghiên cứu về biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa luận văn đã vận dụng một số lý thuyết xã hội học như: lý thuyết đô thị hóa, lý thuyết biến đổi dân số, lý thuyết biến đổi xã hội, và các phương pháp nghiên cứu xã hội học Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc khẳng định và phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp, khung phân tích trong nghiên cứu xã hội học về các vấn đề liên quan đến dân số, gia đình, nghề nghiệp,đô thị

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu này đồng thời cũng mong muốn góp phần làm cơ

sở giúp các nhà quản lý, hoạch định chiến lược của Thủ đô Hà Nội có được những phân tích ý nghĩa cho việc quy hoạch phát triển thủ đô và giải quyết các vấn đề về kinh tế - xã hội, môi trường, việc làm, đời sống của người dân

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biến đổi cơ cấu của dân số ở Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

3.2 Khách thể nghiên cứu

Dân số Hà Nội

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Biến đổi cơ cấu của dân số ở Hà Nội trong quá

trình đô thị hóa (từ năm 2008-2013)

Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung mô tả những biến đổi cơ cấu dân

số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa qua số liệu Tổng Cục Thống kê

Trang 11

Ở đây luận văn tập trung mô tả 3 biến đổi của cơ cấu dân số là biến đổi

cơ cấu tuổi , cơ cấu giới tính dân số và cơ cấu nghề nghiệp dân số Bên cạnh

đó chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự biến đổi cơ cấu dân số này trong quá trình đô thị hóa

4 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

4.1 Mục đích của nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng rõ những biến đổi cơ cấu dân

số Hà Nội dưới tác động của quá trình đô thị hóa và những nhân tố ảnh hưởng tới sự biến đổi nói trên

4.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về biến đổi cơ cấu dân

số hiện nay

- Phân tích những biến đổi của cơ cấu tuổi dân số, cơ cấu giới tính dân

số và cơ cấu nghề nghiệp dân số Hà Nội dưới tác động của quá trình đô thị hóa

- Phát hiện những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của biến đổi cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế và biến đổi xã hội

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính và cơ cấu nghề nghiệp dân số dân số Hà Nội biến đổi như thế nào trong quá trình đô thị hóa?,

- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới những biến đổi cơ cấu dân số trên ở

Hà Nội?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Tỷ trọng người già và trẻ em trong cơ cấu tuổi dân số Hà Nội đang có

xu hướng gia tăng, nhóm dân số trong độ tuổi lao động vẫn chiếm ưu thế nhưng có nhiều biến động

Trang 12

- Tỷ số giới tính nhóm tuổi trẻ em ở Hà Nội ngày càng tăng, cơ cấu giới tính toàn Hà Nội chung đang hướng tới cân bằng giới tính

- Cơ cấu nghề nghiệp dân số Hà Nội đang chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng lao động trong khu vực dịch vụ và công nghiệp

- Quá trình đô thị hóa cùng những chính sách của Đảng nhà nước trong từng thời điểm lịch sử cụ thể đã tạo nên những thay đổi về mức sinh, sự di cư là nguyên nhân ảnh hưởng mạnh tới biến đổi cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính

và cơ cấu nghề nghiệp dân số ở Hà Nội

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xã hội học

Đồng thời phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp lịch sử -cụ thế cũng giúp xem xét quá trình biến đổi về cơ cấu dân số Hà Nội quá trình đô thị hóa trong mối quan hệ biện chứng với các chính sách, nghị định, quy định pháp luận về dân số kế hoạch hóa gia đình, các chính sách về hôn nhân…trong mối quan hệ tác động ảnh hưởng tới những biến đổi về cơ cấu dân số ở Hà Nội

7.2.Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu

Số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình năm 2013 của tổng cục thống kê

Trang 13

7.3 Các phương pháp nghiên cứu khác khác

Ngoài cơ sở dữ liệu trên luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích nhiều tài liệu thứ cấp khác Phương pháp này được áp dụng để tra cứu, tổng hợp các báo cáo tổng kết, các tài liệu báo chí sẵn có liên quan đến biến đổi dân số phục vụ cho nghiên cứu của đề tài: Niêm giám thống kê Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2013; điều tra lao động việc làm năm 2013 của Tổng cục Thống kê; Báo cáo kinh tế xã hội Hà Nội năm 2009 và năm 2013…

8 Khung phân tích

Biến đổi cơ cấu dân số

Hà Nội

Quá trình đô thị hóa

Cơ cấu tuổi

dân số

Cơ cấu giới tính

Cơ cấu nghề nghiệp Chính sách phát triển

kinh tế - xã hội thủ đô

Trang 14

9 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần: mở đầu; kết luận và khuyến nghị; danh mục tài liệu tham khảo; luận văn có kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Một số biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội

Chương 3: Những yếu tố ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu dân số Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU 1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Dân số là lĩnh vực nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như địa lý học, sinh học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học Đặc biệt trong những năm trở lại đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội trong

đó không thể không nói đến dân số Rất nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến dân số đã xuất hiện với nhiều chiều hướng nghiên cứu

và cách tiếp cận khác nhau

Đề tài “Nghiên cứu một số đặc trưng chất lượng dân số của một vài vùng dân cư miền Bắc Việt Nam” (Năm 2000) do PGS.TS Nguyễn Văn Yên, khoa Sinh Học, Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội chủ nhiệm, nghiên cứu ở 6 xã thuộc 2 huyện Đông Hưng và Quỳnh Phụ, Thái Bình Bằng những phương pháp thường được sử dụng trong cả Nhân học, Y học, Môi trường và Xã hội học đề tài đã mô tả rõ thực trạng chất lượng dân

số của địa bàn nghiên cứu qua các chỉ số về văn hóa xã hội, môi trường, bệnh tật qua đó nhấn mạnh cần mở rộng triển khai các chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình với công tác vệ sinh môi trường, lồng ghép các chương trình này với phát triển kinh tế xã hội Từ đó nghiên cứu khẳng định đây chính là nhân tố quan trọng, làm tốt công tác này chính là nhân tố quan trọng cho việc nâng cao chất lượng dân số

Luận án Tiến Sỹ Kinh Tế của Bùi Minh Tiệp (năm 2012) về “tác động của biến đổi cơ cấu dân số tuổi đến tăng trưởng kinh tế” Luận án đã hệ thống hóa các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về biến đổi cơ cấu tuổi dân số và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế ở các nước trên thế giới Từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Qua phân tích tình hình dân số Việt Nam, đặc biệt chú

Trang 16

tế, luận án đã chỉ rõ, đây mới là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Quan điểm này là một bước tiến mới so với các nghiên cứu trước kia, thường tập trung phân tích quy mô dân số Luận án cũng chỉ rõ giai đoạn nào của biến đổi cơ cấu tuổi dân số ở Việt Nam tác động tích cực hay tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (thúc đẩy/ kìm hãm thu nhập bình quân đầu người), từ đó có hướng chuẩn bị cho giai đoạn tới

Bên cạnh đó, bằng kết quả phân tích định lượng và phương pháp hợp lý hóa khoa học, luận án đã xây dựng mô hình và ước lượng tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam Nghiên cứu giúp các nhà làm chính sách có cách nhìn

rõ hơn và tận dụng tốt cơ hội dân số và giải quyết hiệu quả một các thách thức góp phần tăng trưởng kinh tế và chuẩn bị cho thời kỳ dân số già

Ngoài ra còn có rất nhiều các công trình, đề tài nghiên cứu dưới các góc độ khác liên quan tới dân số như giáo dục, y tế và môi trường

Dưới góc độ xã hội đã có một số nghiên cứu về dân số và các mối quan hệ như:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia “ Kiến tạo để đánh giá nhanh chất lượng dân số cộng đồng nông thôn” lấy ví dụ ở Nam Định, Thái Bình, Quảng Ngãi (mỗi tỉnh 1 xã), thực hiện trong 2 năm 2001 -2003 do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa trưởng khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ nhiệm Bằng phương pháp điều tra xã hội học kết hợp với phân tích tài liệu, nhóm nghiên cứu đề tài đã phân tích hệ thống chất lượng dân số nông thôn Việt Nam hiện nay, kiến tạo chỉ số PQI và bộ chỉ thị đơn, áp dụng chỉ số PQI để đánh giá nhanh chất lượng dân số và tìm giải pháp cải thiện dân số tại các xã địa bàn nghiên cứu Qua cách tính của chỉ số PQI trong nghiên cứu có thể áp dụng đánh giá nhanh chất lượng dân số trên một thôn, xã, huyện hay một tỉnh thành hoặc cả nước Từ đó có thể lập nên

Trang 17

một bản đồ bằng phương pháp GIS để đánh giá xã/huyện nào chỉ số chất lượng dân số còn thấp, thấp ở mặt nào: thể lực, trí lực, văn hóa tinh thần hay môi trường Từ đó chúng ta có kế hoạch tổng thể để đầu tư theo vùng, tỉnh hoặc huyện nhằm nâng cao chất lượng dân số ở những xã còn thấp

Luận án Tiến Sĩ của Đặng Xuân Thao, (năm 2000) viện xã hội học “về mối quan hệ giữa dân số việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu đã phân tích, chứng minh làm rõ mối quan hệ tương tác giữa dân số việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa qua các số liệu điều tra, khảo sát, so sánh vi mô và vĩ mô tìm ra quy luật chung và những phát hiện đặc thù Tình trạng quá tải dân số sẽ dẫn đến thất nghiệp, việc làm và nghèo đói Ngược lại, khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển tạo ra nhiều việc làm, lại thiếu lao động đặc biệt là lao động có chất lượng cao Nghiên cứu là

cơ sở giúp các nhà quy hoạch nắm rõ để đề ra những chính sách dân số, giải pháp việc làm phù hợp cho từng giai đoạn, từng vùng miền cụ thể

Luận văn thạc sỹ xã hội học của Lê Thanh Hồng (2008) với đề tài “ các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến chất lượng dân số của đô thị Hà Nội” luận văn nghiên cứu 11 yếu tố kinh tế xã hội tác động đến chất lượng dân số

đô thị ở Hà Nội: thu nhập và phân phối thu nhập; lao động và việc làm; giao thông liên lạc; sức khỏe; giáo dục; nhà ở; môi trường; cuộc sống và gia đình;

sự tham gia công tác xã hội của phụ nữ; trật tự an toàn công cộng; văn hóa và giải trí…qua đó nhận thức rõ yếu tố nào tác động trực tiếp, yếu tố nào tác động gián tiếp đến chất lượng dân số từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền và sự hoạt động có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể; thực hiện các giải pháp về tăng trưởng kinh tế, nâng cao chỉ số GDP, tạo điều kiện vật chất để nâng cao các tiêu chí khác trong chỉ số phát triển nguồn nhân lực; nâng cao các chỉ tiêu

Trang 18

phát triển phúc lợi xã hội cho người dân; tăng cường giáo dục đào tạo và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện tốt chính sách dân số… nhằm nâng cao chất lượng dân số đô thị thành phố Hà Nội

Luận văn Thạc sỹ Xã hội học của Đỗ Thị Thanh Hương (2012) về “ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số dân tộc Pà Thẻn, Huyện Quảng Bình, Tỉnh Hà Giang” Bằng phương pháp phân tích tài liệu của dự án

“Nghiên cứu đánh giá, xây dưng mô hình can thiệp nâng cao chất lượng dân

số một số dân tộc có số dân dưới 10.000 người” và các phương pháp nghiên

cứu xã hội học khác đề tài đã mô tả chất lượng dân số dân tộc Pà Thẻn qua các chỉ báo về thể chất, trí tuệ và tinh thần và cơ cấu dân số Qua đó khẳng định chính sách xã hội, cụ thể là cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản (dân số, y tế, giáo dục) và phát triển kinh tế là các yếu tố quan trọng, tác động quyết định đến chất lượng dân số dân tộc Vì vậy, các ngành chức năng cần đầu tư

cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật hỗ trợ để nâng cao chất lượng dân số cho người dân trong vùng

Nhìn chung, các nghiên cứu về dân số đã có đều đi sâu vào một góc

độ nào đó của dân số như: dân số với tăng trưởng kinh tế, chất lượng dân số, dân số giáo dục chưa có một nghiên cứu nào mô tả một bức tranh khái quát về dân số và phân tích theo chiều ngược lại, là tại sao dân số thời kỳ này lại như vậy, yếu tố nào chi phối xu hướng phát triển dân số thời điểm đó để tìm ra những ảnh hưởng của bức tranh dân số tại thời điểm đó đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ đó có cái nhìn hai chiều trong việc quy hoạch phát triển dân số và kinh tế xã hội phù hợp

Xuất phát từ ý nghĩa trên luận văn chọn hướng nghiên cứu về Biến

đổi cơ cấu dân số Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

Trang 19

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1.Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm dân số

Theo PGS.TS Vũ Thị Thuyền & TS Lưu Bích Ngọc trong tài liệu dân

số học, viện dân số và các vấn đề xã hội: Dân số là dân cư được xem xét , nghiên cứu ở góc độ: quy mô, cơ cấu và chất lượng

Quy mô, cơ cấu dân số trên một lãnh thổ không ngừng biến động do có người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có ng ười di cư

đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi này sang nhóm tuổi khác Như vậy, nói đến dân số là nói đến quy mô, cơ cấu , chất lượng và những yếu tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết và di cư Vì vậy, dân số thường được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh lẫn trạng thái động

- Nghiên cứu dân số ở trạng thái tĩnh: Nghiên cứu trạng thái dân

cư tại một thời điểm (thời điểm điều tra, hoặc tổng điều tra dân số): Số lượng, phân bố, cơ cấu dân số theo một hay nhiều tiêu thức như: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp…

- Nghiên cứu dân số ở trạng thái động: Nghiên cứu ba dạng vận động

của dân cư: Vận động tự nhiên thông qua sinh và chết; Vận động cơ học tức

là đi và đến; Vận động xã hội bao gồm những tiến triển về học vấn, nghề nghiệp, mức sống, hôn nhân…

Kết quả của 3 dạng vận động nêu trên là tập hợp dân cư đổi mới liên tục, hay nói một cách khác là xảy ra quá trình tái sản xuất dân số

Năm 1958, Liên hợp quốc xác định rằng “Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số, về cơ bản liên quan đến quy mô, cơ cấu và sự phát triển dân số”

Trang 20

Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian Những biến động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi các nhân, gia đình và toàn xã hội Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhân định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của quốc gia

Nhìn chung từ các quan điểm trên có thể kết luận chung rằng: Dân số là tập hợp người sống trong một lãnh thổ nhất định, gắn với các chỉ tiêu đặc trưng là tỷ suất sinh, tỷ suất tử và biến đổi dân số cơ học

1.2.1.2 Khái niệm cơ cấu dân số và biến đổi cơ cấu dân số

Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó).[25;tr25]

Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn , trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống , thành thị nông thôn…Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh

xã hội

Cơ cấu dân số theo tuổi được thể hiện thông qua sự phân chia dân số theo từng độ tuổi, nhóm 5 độ tuổi hoặc 10 độ tuổi hoặc các nhóm tuổi trẻ em (0-14 tuổi), nhóm tuổi lao động (15-59 tuổi), nhóm tuổi già (trên 60 tuổi)

Cơ cấu giới tính là sự phân chia dân số thành hai nhóm nam và nữ

Trang 21

Cơ cấu dân số theo nghề nghiệp, là toàn bộ dân số từ 15 tuổi trở lên

được chia theo các loại hoạt động, bao gồm: làm việc, nội trợ, đi học, mất khả năng lao động và không làm việc (có nhu cầu và không có nhu cầu việc làm) Những người có việc làm lại được chia theo lĩnh vực hoạt động kinh tế Các nhóm dân số này luôn được phân tích kết hợp với các tiêu thức tuổi, giới tính, thành thị và nông thôn

Khi nghiên cứu cơ cấu dân số, ngoài tuổi và giới tính, một số khía cạnh khác, các khía cạnh này góp phần trở thành những đặc điểm chủ yếu của dân

số Vì vậy, sau khi xem xét cơ cấu tuổi và giới tính của dân số, chúng ta sẽ xem xét tiếp các cơ cấu quan trọng khác của dân số Đó là sự phân chia dân

số theo các tiêu chí như tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, giáo dục, trình

độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp,theo các loại hoạt động và các thành phần kinh tế Các loại cơ cấu dân số này thường được phân tích kết hợp với

cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính, cho phép hiểu sâu hơn về số lượng và chất lượng dân số

Biến đổi cơ cấu dân số là thay đổi trong cơ cấu dấn số, có thể là trong toàn bộ cơ cấu dấn số nói chung hay trong từng cơ cấu dân số Trong khuôn khổ nghiên cứu này, luận văn phân tích những biến đổi về cơ cấu tuổi, giới tính dân số với cơ cấu nghề nghiệp dân số Hà Nội

1.2.1.3 Khái niệm đô thị hóa và quá trình đô thị hóa

Khái niệm về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển

Theo PGS TS Phạm Hùng Cường thì “Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp diễn ra trên một không gian rộng lớn mà người ta có thể biểu thị nó qua các yếu tố sau:

+ Sự tăng nhanh của tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân

Trang 22

+ Sự tăng lên của số lượng các đô thị đồng thời với sự mở rộng của các không gian đô thị

+ Sự chuyển hóa về lối sống phân tán sang tập trung từ điều kiện hạ tầng kinh tế đơn giản sang phức tạp và có thể nảy sinh nhiều yếu tố được coi

là những hậu quả trong quá trình đô thị hóa như sự khan hiếm nhà cửa, sự gia tăng các khu nhà ổ chuột nạn ô nhiễm môi trường

Trong xã hội học đô thị, khái niệm đô thị là một khái niệm cơ bản, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đô thị, tuy nhiên trong bài viết này tác giả chỉ đề cập đến khái niệm đô thị theo hướng tiếp cận xã hội học Định nghĩa xã hội học về đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng mà nó thực hiện Các nhà xã hội học không quan tâm đến số dân tối thiểu hay sự thừa nhận chính thức của đô thị về mặt tổ chức Một cách truyền thống thì xã hội học định nghĩa các đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý và mang những đặc trưng nhất định: thứ nhất, có số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất (Wirth 1938); thứ hai, ít nhất có một bộ phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia; thứ ba, theo M.Weber, một đô thị phải đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý đều hành (Weber 1958); thứ tư, các

đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được biết đến không phải như là một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với những người khác không phải như là những cá nhân, mà là với các vai trò mà họ đảm nhận; thứ năm, các đô thị đòi hỏi một gắn kết xã hội dựa trên một cái gì đó rộng hơn là gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể là dựa trên luật lệ hợp lý hay truyền thống như tôn giáo hay sự trung thành với nhà vua Đây mặc dù chưa phải là một định nghĩa đầy đủ, nhưng nhìn chung đã khái quát được những đặc trưng của đô thị

Trang 23

Sự phát triển của đô thị ngày càng mạnh mẽ và đã trở thành quá trình

đô thị hóa Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hoá và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những đánh giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này Trong đó phổ biến là định nghĩa về quá trình đô thị hóa dựa trên cơ sở cách tiếp cận nhân khẩu học

và địa lý kinh tế Theo định nghĩa này, đô thị hoá chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân

cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia Các nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu đô thị hoá như là một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử mang tính quy luật, trên quy mô toàn cầu Khái quát hơn, đô thị hóa được xem là quá trình

tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại, ở đó bên cạnh mặt dân số, địa lý môi trường còn mặt xã hội, một mặt rất quan trọng của vấn đề

Còn theo cách tiếp cận xã hội học thì quá trình đô thị hoá được hiểu:

“là một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử, mang tính quy luật, quy mô toàn

cầu; là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại; là sự chuyển thể các khuôn mẫu của đời sống xã hội, phổ biến lối sống đô thị”

Như vậy, quá trình đô thị hoá theo chiều thời gian là một quá trình lịch

sử xuyên suốt Trong quá trình đó các dòng di cư mạnh mẽ từ đô thị ra thành thị, sự bành trướng của đô thị ngày càng rộng, số lượng các đô thị ngày một nhiều, dẫn đến nhiều biến đổi trong cơ cấu dân số ở các địa phương

1.2.2 Lý thuyết

1.2.2.1.Lý thuyết đô thị hóa

Đô thị hóa là một xu thế khách quan và tất yếu trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Theo PGS.TS Trịnh Duy Luân: quá trình đô thị hóa chính là sự di cư

từ nông thôn và thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong

Trang 24

những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị.[14;chương 2; tr2]

Đó cũng là quá trình tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân cư của một quốc gia Đây được coi là đấu hiệu định lượng của quá trình đô thị hóa cùng với các chỉ báo về số lượng, quy mô và các kiểu đô thị hiện có

Dưới góc độ Xã hội học, John Macionis trong cuốn sách giáo khoa về

Xã hội học (1998) đã đưa ra quan điểm rằng : Đô thị hóa không chỉ là sự thay

thế dân cư trong xã hội mà còn là sự chuyển thể nhiều kiểu mẫu đời sống xã hội khác Biểu hiện thứ hai này được coi là dấu hiệu định tính của quá trình

đô thị hóa Các nhà xã hội học lấy hai dấu hiệu này để đánh giá chiều hướng phát triển của đô thị hoá Nếu các dấu hiệu định lượng (sự tăng trưởng số dân

đô thị, sự mở rộng lãnh thổ và số lượng các thành phố ) chiếm ưu thế cho thấy quá trình đô thị hoá diễn ra theo bề rộng Ngược lại, nếu các dấu hiệu định tính (chất lượng, tiêu chuẩn sống đô thị, sự đa dạng các kiểu mẫu văn hoá và nhu cầu ) chiếm ưu thế cho thấy quá trình đô thị hoá diễn ra theo bề sâu Theo đánh giá của các nhà xã hội học, quá trình đô thị hoá thế giới trong thế kỷ XX vẫn chủ yếu diễn ra theo bề rộng Cho đến cuối thế kỷ XX, đặc biệt tại một số nước có nền công nghiệp phát triển đô thị hoá diễn ra theo bề sâu

Nó được đánh dấu bằng các dấu hiệu định tính chững lại hoặc giảm sút

Như vậy, về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn

bộ xã hội Quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả

về mặt chất lượng, nâng cao tiêu chuẩn sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu văn hóa và nhu cầu.Theo cách tiếp cận này có lý thuyết xã hội học về đô thị hoá, trường phái Chicago trong nghiên cứu về đô thị hoá, trường phái xã

Trang 25

hội học đô thị mới Các lý thuyết của trường phái Chicago chủ yếu đề cập đến

mô hình sử dụng đất đai của khu đô thị tại thành phố Chicago (theo Jon M.Shepard, 1987)

Lý thuyết vùng đồng tâm được xây dựng bởi Ernest Burgess (1992) và các nhà khoa học trường Đại học Chicago, xuất phát từ sự lý giải nguyên nhân và kết quả của sự phát triển thành phố Chicago Thuyết này miêu tả sự phát triển của đô thị theo các chu kỳ vòng tròn của các vùng, bắt đầu từ thành phố trung tâm tiến ra ngoài Vòng tròn đồng tâm bao gồm các lớp: vòng trong cùng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của thành phố Nơi đây có ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ đến các vùng khác của thành phố Vòng tiếp theo theo gọi là vùng chuyển tiếp Đây là khu vực mở rộng của vùng trung tâm, khi các công việc kinh doanh và các hoạt động mới của gia nhập vào vòng trung tâm Vùng này trước kia có thể là vùng định cư của những người trung lưu và thượng lưu Nhưng do sự xâm nhập quá lớn của quá trình kinh doanh nên họ đã di chuyển ra vùng khác Chung quanh vùng chuyển tiếp là vùng nhà ở của những người đang làm việc Rồi đến vùng nhà ở của giới trung lưu và thượng lưu Biệt thự là nơi chiếm ưu thế ở vùng này Vùng ngoài cùng là ngoại ô nằm ngoài địa phận hành chính của thành phố

Lý thuyết hình quạt (do Homer Hoyt đề xướng năm 1939) lại chỉ ra rằng mô hình sử dụng đất đai không phụ thuộc vào khoảng cách tính từ quân trung tâm kinh doanh Đất đai bị tác động mạnh mẽ của bởi các con đường giao thông Từ trung tâm ra ngoại ô được nối bởi các con đường giao thông chính và phân chia thành các khu hình quạt khác nhau Mỗi khu có đặc trưng riêng (khu công nghiệp, khu văn phòng, khu bán hàng, khu kinh doanh )

Kế thừa và phê phán hai lý thuyết trên, lý thuyết nhiều trung tâm cho rằng, một thành phố có thể có nhiều trung tâm khác nhau Những trung tâm này phát triển không liên quan nhiều đến trung tâm kinh doanh mà nào phản

Trang 26

ánh tích chất đặc biệt của mỗi trung tâm về các vấn đề lịch sử, địa lý và truyền thống

Bên cạnh những lý thuyết về mô hình sử dụng đất đai kể trên, các nhà

xã hội học của trường đại học Chicago còn quan tâm nghiên cứu đến những ảnh hưởng của các thành phố đến lối sống của cư dân Thuyết đô thị ra đời để chứng minh cho các vấn đề đó Người đầu tiên đưa ra khái niệm lối sống đô thị là Luis Wirth vào những năm 30 của thế kỷ XX Ông coi lối sống đô thị như là “các khuôn mẫu của văn hoá cấu trúc đô thị và khác căn bản với văn hoá cộng đồng nông thôn” [13; tr.129] Theo ông, đặc trưng của lối sống đô thị là: quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao (quá nhiều người trên 1km2) và

sự hỗn tạp về thành phần xã hội Các nghiên cứu của trường phái này chú trọng đến những vấn đề bất cập của đời sống xã hội ở các đô thị, vấn đề rối loạn tổ chức xã hội, vấn đề tội phạm, tệ nạn xã hội, bệnh tâm lý liên quan đến cuộc sống quá tải của cư dân đô thị

Cho đến nay, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau của các nhà xã hội học về quá trình đô thị hoá Như vậy, tiếp cận theo hướng

xã hội học về quá trình đô thi hoá cho thấy, các về quá trình đô thị hoá được các nhà xã hội học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm

Có thể nói rằng bản chất của đô thị hóa là sự phát triển các khu dân cư

đô, đất đai thị mang tính chất công nghiệp, các cụm kinh tế, công nghiệp, dịch

vụ, kết cấu hạ tầng cơ sở Đô thị hóa tạo cơ sở thúc đẩy phát triển phân công lao động xã hội, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khi thực hiện đô thị hóa các khu vực được đô thị hóa có sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức: thay đổi về tổ chức dân cư, về tổ chức kinh tế xã hội, tương ứng với sự thay đổi về cấu trúc là sự thay đổi về chức năng sao cho phù hợp Vì vậy, “Dân số và đô thị hóa” luôn có mối quan hệ thân thiết chặt chẽ, tác động lẫn nhau

Trang 27

1.2.2.2 Lý thuyết biến đổi xã hội

Lý thuyết này chỉ ra rằng, cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hoá đều không ngừng biến đổi Sự ổn định xã hội chỉ là sự ổn định tương đối, còn thực tế nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Sự biến đổi trong xã hội hiện đại càng rõ ràng hơn Mọi xã hội đều có những biến đổi mỗi ngày theo những cách thức, mức độ, thời điểm và nhịp độ khác nhau Những biến đổi đều ít hay nhiều có được sự kế thừa từ quá khứ của nó và theo đuổi một mẫu hình hay một dự định mới được cụ thể rõ ràng Những trường hợp được coi là biến đổi xã hội

Thứ nhất, biến đổi xã hội tất yếu là một hiện tượng tập thể, tức là nó bao hàm một tập thể hay một khu vực được đánh giá như một tập thể nó phải tác động tới những điều kiện hay những lối sống hay thậm chí đến thế giới tinh thần của một vài cá nhân

Thứ hai, biến đổi xã hội là một biến đổi cấu trúc tức là người ta phải quan sát được sự thay đổi trong tổng thể hay trong một vài bộ phận của tổ chức xã hội Thực tế để nói về sự biến đổi xã hội chủ yếu là người ta có thể chỉ ra sự thay đổi về những thành phần, cấu trúc hay văn hóa của tổ chức xã hội và có thể mô tả một cách đầy đủ chính xác nhất về những thay đổi đó

Thứ ba, giả định rằng trước kia người ta có thể xác định được sự biến đổi cấu trúc Nói cách khác, người ta phải mô tả được tổng thể những thời điểm chuyển đổi hay sự nối tiếp của những chuyển đổi đó giữa hai hay nhiều thời điểm từ trước đó (giữa các điểm T1, T2…Tn) Thực tế, người ta chỉ có thể đánh giá và đo lường sự biến đổi xã hội đối với một thời điểm tham khảo trong quá khứ Từ thời điểm tham khảo có thể nói rằng đã có sự biến đổi

Thứ tư, để thực sự là biến đổi cấu trúc thì mọi biến đổi xã hội phải có tính liên tục, tức là chuyển đổi quan sát được không chỉ là những chuyển đổi

bề ngoài

Trang 28

Ngoài ra, biến đổi xã hội còn được định nghĩa như sau: “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu hành vi, quan hệ xã hội, thiết chế xã hội và hệ thống phân tầng xã hội thay đổi theo thời gian” [7;tr38]

Biến đổi xã hội xảy ra chịu tác động của các yếu tố bên trong đó là kỹ thuật công nghê, văn hóa mới, những cấu trúc xã hội mới, những xung đột, tăng trưởng dân số, tính hiện đại và hiện đại hóa Trong đó, kỹ thuật và công nghệ mới là một yếu tố cơ bản của sự biến đổi xã hội, cấu trúc xã hội đóng vai trò chủ yếu trong sự biến đổi xã hội, phát triển dân số là một động lực chính đưa đến sự biến đổi xã hội hiện đại, những xung đột xã hội dẫn đến các phong trào xã hội tạo nên sự biến đổi xã hội trên những phạm vi, mức độ khác nhau Bên cạnh đó các nhân tố bên ngoài cũng tác dộng đến sự biến đổi xã hội như

sự truyền bá, sự biến đổi của hệ sinh thái Như vậy, các yếu tố bên trong và bên ngoài đều tạo ra sự biến đổi xã hội, và cả hai có thể là nguyên nhân khiến các xã hội sụp đổ Sự biến đổi xã hội có thể mang ý nghĩa tích cực, tiến bộ, nhưng cũng có thể mang ý nghĩa ngược lại

Các nhà xã hội học khi xem xét đến sự phát triển của xã hội, đã đưa ra một số lý thuyết để giải thích tại sao biến đổi xã hội lại xảy ra và dự đoán những biến đổi sẽ diễn ra trong tương lai

Nhìn chung biến đổi xã hội và dân số có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau

Sự tăng trưởng nhanh về dân số là một động lực chính đưa đến sự biến đổi xã hội hiện đại Sự biến đổi căn bản về quy mô dân số có thể gây ra thay đổi sâu sắc về văn hóa, xã hội Lúc dân số một xã hội tăng nhiều hơn đã đặt ra những vấn đề mới đòi hỏi những mô hình mới của tổ chức xã hội Sự phát triển dân

số hoặc sự giảm sút dân số đều có tác động mạnh đến sự biến đổi xã hội Và ngược lại những biến đổi về mặt xã hội cũng tạo nên những biến đổi dân số

Cơ cấu xã hội thay đổi, quy mô dân số, cơ cấu dân số cũng thay đổi theo trong

xã hội đó

Trang 29

1.2.2.3.Lý thuyết biến đổi dân số

Nói đến nghiên cứu về dân số không thể không nhắc tới học thuyết kinh điển về dân số của Malthus (sinh năm 1766 – mất năm 1834 nhà nhân khẩu học, kinh tế học người Anh) cho rằng dân số thế giới của 25 năm lại tăng gấp đôi và tăng lên như vậy từ thời kỳ này qua thời kỳ khác theo cấp số nhân trong khi của cải vật chất chỉ tăng theo cấp số cộng

Hai là, học thuyết về quá độ dân số, cho rằng mỗi nước phát triển phải trải qua ba giai đoạn tiến triển dân số Ở giai đoạn 1, tỷ suất sinh và tỷ suất chết khá cao, mức sinh cao hơn một chút so với mức chết, vì vậy dân số tăng khá chậm, thậm trí ổn định Đến giai đoạn 2, thời kỳ cách mạng công nghiêp, cùng với những tiến bộ trong công nghiệp, mức sống vật chất tinh thần, chăm sóc sức khỏe ban đầu và các phương pháp y tế công đồng được nâng cao nhờ

đó mà tỷ lệ tử vong giảm rõ rệt, tuổi thọ trung bình tăng cao, trong khi đó tỷ

lệ sinh lại không có thay đổi đáng kể gì Kết quả là thời kỳ này dân số tăng nhanh, hay còn gọi là thời kỳ bùng nổ dân số Giai đoạn 3, tác động của công nghiệp hóa tới các điều kiện kinh tế xã hội dẫn đến những thay đổi làm tăng tuổi thọ trung bình, đồng thời làm mức sinh giảm dần Đến cuối giai đoạn này mức sinh và mức chết đều rất thấp Nguyên nhân chủ yếu là đời sống cao, chăm sóc y tế tốt, phụ nữ tham gia lao động sản xuất và các công tác xã hội khác nên có ý thức sinh con ít, chuyển từ nhu cầu số lượng sang chất lượng đối với con cái Như vậy dân số ở các nước phát triển đã đi từ trạng thái cân bằng lãng phí (sinh nhiều chết nhiều) sang trạng thái cân bằng tiết kiệm (sinh

ít chết ít)

Ba là, lý thuyết dân số của Mác- Enghen: Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa duy vậy lịch sử Mác – Enghen và Lê Nin đã nhiều lần đề cập đến vấn đề dân số Một trong những luận điểm quan trọng hàng đầu của học thuyết Mác – Enghen về dân số là quan điểm cho rằng mỗi hình thức kinh

Trang 30

tế xã hội có quy luật dân số tương ứng với nó, phương thức sản xuất như thế nào thì sẽ có quy luật phát triển dân số như thế ấy Mác – Enghen cho khẳng định rằng sản xuất vật chất và tái sản xuất dân cư suy cho cùng là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người Căn cứ vào những điều kiện cụ thể của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mỗi quốc gia phải xác định quy mô dân số tối ưu để một mặt đảm bảo sự hưng thịnh của đất nước, mặt khác nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân Con người có thể kiểm soát các quá trình dân số nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho chính mình

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, chúng ta đang ở vào giai đoạn cách mạng công nghiệp chuyển dần sang công nghiệp hóa, cùng với những biến đổi về đời sống kinh tế xã hội, dân số cũng đang có những biến đổi khá nhanh

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

Về lịch sử, địa lý: Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội hiện nay đang là một trong hai đô thị loại đặc biệt của Việt Nam Hà Nội nằm giữađồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam

Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng,

Trang 31

quy hoạch lại Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay

Ngày 29/5/2008, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII thông qua Nghị quyết

về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2008 Thủ đô Hà Nội chính thức có hiệu lực Địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội được mở rộng trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số tỉnh Hà Tây, điều chỉnh toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn (Hoà Bình) Theo đó, vào thời điểm tháng 8/2008, Thủ đô Hà Nội mở rộng sẽ có diện tích 3323,6 Km2, dân số là 6844,1 nghìn người, mật độ dân số trung bình là 2059 người/km2 ( năm 2012); Hà Nội có 30 đơn vị hành chính quận, huyện Trong

đó có 12 quận: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên, Thanh Xuân, Hà Đông, Nam Từ Liêm và Bắc

Từ Liên Các 17 huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm, Thanh Trì, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, ứng Hòa, Mê Linh và 1 thị xã Sơn Tây; có 577 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn) [5]; phía đông giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên; phía tây giáp các tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ; phía bắc giáp các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc

Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Địa hình đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của

Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông

Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông

Trang 32

Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông Hồng Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống Ðoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam, khoảng 550km Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi

Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều Những hồ nổi tiếng ở nội thành Hà Nội như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu Hàng chục

hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Trì

và nhiều hồ lớn thuộc địa phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn

Về kinh tế, xã hội: Hà Nội là trung tâm văn hóa kinh tế, chính trị văn hóa của cả nước

Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng các loại phương tiện giao thông đều thuận tiện

Đường không: sân bay quốc tế Nội Bài (nằm ở địa phận huyện Sóc Sơn, cách

trung tâm Hà Nội chừng 35km)

Đường sắt: Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt trong nước Có

đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc), đi nhiều nước châu Âu Ngoài ra còn rất nhiều tuyến đường bộ và đường thủy liên thông các tỉnh

Văn hóa – Du lịch: Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng quốc gia trên 1.000 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh thắng nổi tiếng

Là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất quốc gia, trên địa bàn Hà Nội có trên 102 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đạo tạo hầu hết các ngành nghề quan trọng Theo Niên giám thống kê Hà Nội năm 2013, tại thành phố có 652134 sinh viên Nhiều trường đại học ở đây như Đại học

Trang 33

Quốc gia Hà Nội, Đại học Y, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Học viện

Kỹ thuật Quân sự, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những trường đào tạo ngành và chuyên ngành hàng đầu của Việt Nam

Kinh tế: Hà Nội là một trong 2 trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đóng vai trò hạt nhân vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Với điều kiện tự nhiên phong phú,nguồn lực cho phát triển dồi dào Hà nội có nhiều tiềm năng

và lợi thế so với các tỉnh, thành phố khác đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Trong những năm qua kinh tế Hà Nội đã có sự tăng trưởng liên tục, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước Từ một thành phố tiêu thụ hàng hóa, quy mô nhỏ, nền công nghiệp chỉ với một vài cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn, đến nay, Hà Nội đã phát triển không ngừng - là trung tâm đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, kinh tế và giao lưu quốc

tế Năm 2012, với dân số chiếm 7,84% cả nước, thành phố Hà Nội đã đóng góp 10,06% GDP, 9% kim ngạch xuất khẩu, 13,5% giá trị sản xuất công nghiệp, 23,5% vốn đầu tư phát triển, 19,73% thu ngân sách và 23,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Giai đoạn 2006 – 2010 mức tăng trưởng bình quân là 10,73%/năm (cả nước là 6,2%) Năm 2011 GDP tăng 10.14 % gấp 1.7 lần so với mức tăng GDP của cả nước (5.89%); năm 2012 GDP tăng 8.3% gấp 1.6 lần so với mức tăng GDP của cả nước (5.03%) Năm 2013 là năm bản lề của

kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, trước những khó khăn của nền kinh tế, Hà Nội đã vượt lên, tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng và có những bước phát triển, đóng góp 10,1% GDP; 7,5% kim ngạch xuất khẩu;17,2% thu ngân sách và 21,64% tổng vốn đầu tư của cả nước Tổng sản phẩm trên địa bàn tăng 8,25% đạt kế hoạch đề ra là từ 8,0-8,5% và bằng 1,53

Trang 34

lần mức tăng chung của cả nước (5.4%) Theo báo cáo kinh tế xã hội Hà Nội

6 tháng đầu năm 2014 của Sở Kế hoạch Đầu tư, kinh tế Thủ đô 6 tháng đầu năm 2014 tiếp tục duy trì tăng trưởng nhưng còn thấphơn mức cùng kỳ năm trước, năm 2013, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 8,25% so cùng kỳ năm trước (năm 2012 là 8.1%) Trong đó: Giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng 2,46%; Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,57%; Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 9,42%

Trang 35

5 Dân số trung

bình

Tr.ng

Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hà Nội

Bảng 1.1.Một số chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - Xã hội Hà Nội

Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn

định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội đang hình thành một hình thái với chất lượng caohơn, cơ cấu ngành chuyểnbiến khá nhanh theo hướng tích cực, giảm nhanh tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăngnhanh tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó dịch vụ đóng vai trò chủđạo, từ năm 2008 đến nay ngành dịch vụ luôn chiếm trên 50% trong cơ cấu tổng sảnphẩm trên địa bàn, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 6,6% năm 2008 xuống còn5,36% năm 2013 Theo số liệu báo cáo Cục Thống kê Hà Nội, năm 2013, giá trịtăng thêm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 2,46% (đóng góp 0,14% vào mứctăng chung của GDP) Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,57%(đóng góp 3,21%) Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 9,42% (đóng góp 4,9% ) Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm và chưa rõ nét, năm 2013 cơcấu các ngành (dịch vụ 53.08%, công nghiệp xây dựng 41.56%, nông lâm nghiệp thủysản 5.36%) không thay đổi nhiều so với năm 2009 (dịch

vụ 52.3%, công nghiệp xâydựng 41.5%, nông lâm nghiệp thủy sản 6.2%)

Lĩnh vực dịch vụ: Trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Hà

Nội đến năm 2020 lĩnh vực dịch vụ được ưu tiên phát triển và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: tài chính - ngân hàng, du lịch, thương mại, khoa học

Trang 36

công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế bưu chính viễn thông, vận tải công cộng ; từng bước xây dựng Hà Nội thành trung tâm dịch vụ trình độ, chất lượng cao của vùng đồng bằng sông Hồng, cả nước và khu vực Xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại, du lịch gắn với quảng bá văn hóa Thủ đô Tạo tiền đề để xây dựng Hà Nội thành trung tâm mua sắm hàng hóa của khu vực vào năm 2020 Tăng tỷ trọng các nhóm hàng, dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong xuất khẩu hàng hóa, dịchvụ Với định hướng đó, trong những năm qua ngành dịch vụ trên địa bàn Hà Nội đã phát triển ngày càng đa dạng, đóng vai trò chủ đạo đóng góp vào mức tăng trưởng GDP của thành phố Các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao tiếp tục được phát triển như tài chính – ngân hàng, thông tin truyền thông…Hà Nội trở thành trung tâm thương mại – du lịch – dịch vụ lớn nhất cả nước, có nhiều siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tự chọn… Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân15,2%/năm, xuất khẩu địa phương tăng 18,2%/năm, nhập khẩu tăng bình quân 5,4%/năm, nhập siêu được kiểm soát Hạ tầng du lịch được đầu tư phát triển, trong 5 năm từ 2008 đến 2012 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 2.500 phòng khách sạn, với công suất sử dụng phòng duy trì mức trên 60% Năm

2013, ngành du lịch Hà Nội đón 2,58 triệu lượt khách quốc tế, tăng 22,9% so với năm trước, doanh thu du lịch đạt 38.500 tỷ đồng tăng 20,3% so với cùng

kỳ năm trước và chiếm khoảng 14-15% GDP toàn thành phố Mặc dù được xác định là ngành trọng điểm, ưu tiên phát triển nhưng mức tăng trưởng của ngành năm 2013 là 9.42% chưa đạt được chỉ tiêu đề, cơ cấu ngành dịch vụ còn thiên về hướng truyền thống, đặc biệt chưa thực sự thiết lập được các kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ bán lẻ theo hướng văn minh hiện đại, chưa thực sự gắn sản xuất với tiêu dùng

Lĩnh vực công nghiệp,xây dựng: Công nghiệp là ngànhđược ưu tiên đầu

tư phát triển nhằm tạo đà cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thủ

Trang 37

đô, với chủ trương của Thành phố phát triển mạnh công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch, các sản phẩm có hàm lượng xám cao, khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, các sản phẩm công nghiệp chủ lực…do vậy ngành

đã có tốc độ tăng trưởng nhanh Giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2012 gấp1,62 lần so với năm 2008, bình quân tăng trưởng giai đoạn 2008 – 2012 là 12,97%, năm 2013 giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,57% Theo số liệu niêm giám thống kê Hà Nội năm 2013 tính đến năm 2013

Hà Nội đã đầu tư xây dựng 107cụm công nghiệp với tổng diện tích 3.192ha, tăng 5 cụm và tăng 2,8% diện tích so với năm 2008 Nhiều công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông, khu đô thị được đầu tư và đưa vào sử dụng góp phần hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng các ngành sản xuấtvà dịch vụ Trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp thì công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm 95% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn Các sản phẩm công nghiệp chủ lực bao gồm dây điện, bia, chế biến sữa, rượu bia, phụ tùng xe máy, thép kết cấu, gốm sứ, bánh kẹo, dệt may, động cơ điện, điện tử… Như vậy lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đã có đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của Thủ đô, tuy nhiên quy mô giá trị sản xuất công nghiệp vẫn nhỏ, tốc độ tăng còn chậm chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, hầu hết các ngành công nghiệp đều phải nhập khẩu nguyên liệu, phụ kiện lắp ráp, giá trị gia tăng trong sản phẩm chưa cao,yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung, vẫn ở mức trung bình.Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp ngày càng tăng…

Lĩnh vực nông nghiệp: Trong những năm quá, mặc dù diện tích nông –

lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn Hà Nội liên tục giảm do quá trình đô thi hóa ngày càng diễn ra nhanh, nhưng với nhiều các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển nông nghiệp ngoại thành vì vậy đóng góp của ngành nông – lâm

Trang 38

nghiệp,thủy sản trên địa bàn Thành phố vẫn gia tăng tương đối, chiếm trên 5% cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn Trong đó tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tuyệt đối trên 90% hơn hẳn so với lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp Lâm Nghiệp Thủy Sản

(Theo Niên giám Thống kê Hà Nội 2013)

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản theo giá hiện

hành ( Hà Nội năm 2008-2013) Thành phố hiện có 1.350 làng nghề và làng có nghề (bằng 59% tổng số làng cả nước) đóng góp đáng kể vàophát triển kinh tế chung Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí tại các làng nghề gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường xung quanh mà chưa có hướng khắc phục mang tính hiệu quả bền vững Sản xuất nông nghiệp chưa hình thành được các vùng sản xuất hànghóa chuyên canh, gắn với công nghiệp chế biến, chăn nuôi chưa tập trung

Về cơ cấu theo thành phần kinh tế

Đóng góp của các thành phần kinh tế vào tổng sản phẩm quốc nội có xu hướng tăng lên qua các năm trong tất cả các thành phần kinh tế Khu vực Nhà nước vẫn chiếmtỷ trọng lớn nhất trong GDP thành phố trên 43%, năm 2008

Trang 39

đạt 78.693 tỷ đồng,năm 2012 đạt 141.299 tỷ đồng (tăng 62.606 tỷ) Khu vực kinh tế Nhà nước đóng góp rất quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, tuy nhiên sự đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp hang năm thấp nhất trong các thành phần kinh tế, năm 2008 cả khu vực kinh tế Nhà nước Trung ương và kinh tế Nhà nước địa phương đóng góp 34.957 tỷ đồng, đến năm 2012 đóng góp 68.298 tỷ đồng vào giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm 15% giá trị sản xuất trên địa bàn trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt 177,678 tỷ đồng, chiếm gần 40% Thành phần kinh tế Nhà nước

có đóng góp tương đối lớn vào trị giá hàng xuất khẩu trên địa bàn thành phố nhưng cũng là khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất về trị giá hàng nhập khẩu hàng năm, năm 2008 trị giá hàng nhập khẩu là 15.098 triệu USD, năm 2012 là 15.211 triệu USD chiếm 65,3% và 63% tổng trị giá hàng nhập khẩu trên địa bàn Ngoài ra khu vực doanh nghiệp nhà nước được đánh giá hoạt động kém hiệu quả và tác động tới bên cầu của thị trường lao động còn tương đối khiêm tốn

Trang 40

Nguồn: Niên giám Thống kê Hà Nội 2012

Bảng 1.3 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành

Cơ cấu vùng kinh tế

Sự biến đổi về biên giới hành chính dẫn đến sự mở rộng thành phố dẫn đến những biến đổi quan trọng như quá trình đô thi hóa tăng nhanh thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng việc làm phi nông nghiệp,chuyển đổi mục đích sử dụng đất… Khu vực kinh tế thành thị gồm có 10 quận nội

Ngày đăng: 09/10/2015, 19:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.Một số chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - Xã hội Hà Nội - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu tăng trưởng Kinh tế - Xã hội Hà Nội (Trang 35)
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản theo giá hiện - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 1.2 Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản theo giá hiện (Trang 38)
Bảng 1.3. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 1.3. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành (Trang 40)
Bảng 2.1: Biến động tự nhiên dân số khu vực Hà Nội giai đoạn - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.1 Biến động tự nhiên dân số khu vực Hà Nội giai đoạn (Trang 44)
Bảng 2.2 cơ cấu tuổi – giới tính dân số thành thị/ nông thôn Hà Nội 2009 - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.2 cơ cấu tuổi – giới tính dân số thành thị/ nông thôn Hà Nội 2009 (Trang 50)
Bảng 2.3: Cơ cấu nhóm tuổi dân số Hà Nội năm 2013 - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.3 Cơ cấu nhóm tuổi dân số Hà Nội năm 2013 (Trang 53)
Bảng 2.4: Cơ cấu tuổi- giới tính dân số thành thị và nông thôn - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.4 Cơ cấu tuổi- giới tính dân số thành thị và nông thôn (Trang 56)
Bảng 2.5: Sự gia tăng dân số theo cơ cấu tuổi của Hà Nội năm 2009 và - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.5 Sự gia tăng dân số theo cơ cấu tuổi của Hà Nội năm 2009 và (Trang 58)
Bảng 2.6: Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên theo tình trạng hoạt động kinh - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.6 Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên theo tình trạng hoạt động kinh (Trang 66)
Bảng 2.7: Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chia theo nghề - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.7 Dân số Hà Nội từ 15 tuổi trở lên đang làm việc chia theo nghề (Trang 68)
Bảng 2.8: Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.8 Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo (Trang 69)
Bảng 2.11: Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo ngành - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 2.11 Cơ cấu lao động đang làm việc trong độ tuổi phân theo ngành (Trang 73)
Bảng 3.1: Tỷ suất dân nhập cư và xuất cư Hà Nội qua các năm - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.1 Tỷ suất dân nhập cư và xuất cư Hà Nội qua các năm (Trang 85)
Bảng 3.2. Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm - Biến đổi cơ cấu dân số hà nội trong quá trình đô thị hóa
Bảng 3.2. Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w