Từ đó, đề tài được chọn để nghiên cứu là: “Phân tích ảnh hưởng của việc trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long”.Việc thực hiện đề tài này sẽ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
VÕ VĂN BẢO DUY TÂN
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC TRỢ CẤP ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHI TIÊU CHO
GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DÂN Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh Tế Học
Mã số ngành: 52310101
Tháng 12 năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
VÕ VĂN BẢO DUY TÂN MSSV: 4104088
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC TRỢ CẤP ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHI TIÊU CHO
GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DÂN Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh Tế Học
Mã số ngành: 52310101
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHỔNG TIẾN DŨNG
Tháng 12 năm 2013
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, đã tận tình truyền thụ kiến thức cho em trong bốn năm học vừa qua để em có thêm kiến thức và những lý thuyết cơ bản để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 Người thực hiện
Võ Văn Bảo Duy Tân
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Người thực hiện
Võ Văn Bảo Duy Tân
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm tạ i
Trang cam kết ii
Mục lục iii
Danh sách bảng vii
Danh sách hình ix
Danh sách từ viết tắt x
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.2 Căn cứ khoa học thực tiễn 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định 4
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3.2 Các giả thuyết cần kiểm định 4
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Phạm vi thời gian 4
1.4.2 Phạm vi không gian 5
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 5
1.5 Lược khảo tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 5
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1 Phương pháp luận 9
2.1.1 Khái niệm về giáo dục và chi tiêu cho giáo dục 9
2.1.2 Khái niệm về trợ cấp và trợ cấp cho giáo dục 14
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 19
Chương 3: THỰC TRẠNG TRỢ CẤP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DÂN Ở ĐBSCL 25
3.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội ở ĐBSCL 25
3.1.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Đặc điểm về xã hội 27
3.1.3 Tình hình kinh tế và tiềm năng phát triển kinh tế của ĐBSCL 33
3.2 Thực trạng trợ cấp và những vấn đề liên quan đến chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL 37
3.2.1 Tình hình giáo dục và trình độ học vấn ở ĐBSCL 37
3.2.2 Thực trạng của việc trợ cấp đối với hộ ở ĐBSCL 43
3.2.3 Các khoản chi cho giáo dục và đào tạo của hộ ở ĐBSCL 47
Chương 4: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC TRỢ CẤP ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DÂN Ở ĐBSCL 50
4.1 Một số thông tin chung 50
4.1.1 Số liệu sử dụng trong phần phân tích 50
4.1.2 Giới hạn về lĩnh vực nghiên cứu 50
4.1.3 Tình hình chi tiêu cho giáo dục trong mẫu điều tra ở ĐBSCL 50
4.1.4 Trình độ học vấn trong mẫu điều tra ở khu vực ĐBSCL 53
4.1.5 Tình hình hộ nhận được trợ cấp trong mẫu điều tra ở ĐBSCL 54
4.1.6 Cơ cấu chi tiêu của người dân ở ĐBSCL 61
4.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL 62
4.2.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 63
4.2.2 Mô hình Tobit 65
4.2.3 Mô hình Probit 70
Chương 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CỦA NGƯỜI DÂN Ở ĐBSCL 77
Trang 75.1 Nhóm giải pháp hỗ trợ tiếp cận dịch vụ giáo dục đối với người dân
và giảm tình trạng nghèo 78
5.1.1 Cần nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn hỗ trợ, trợ cấp từ nhiều phía cho người dân 78
5.1.2 Giảm tình trạng hộ nghèo trong khu vực và giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số 79
5.2 Nhóm giải pháp nâng cao trình độ học của người dân ĐBSCL 80
5.2.1 Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trong sự nghiệp phát triển giáo dục 80
5.2.2 Xây dựng hệ thống giáo dục đa dạng hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 81
5.2.3 Cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ hóa giữa Chính phủ, các cấp chính quyền địa phương và nhà trường 81
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
6.1 Kết luận 83
6.2 Kiến nghị 84
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 88
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Tóm tắt dấu kì vọng của mô hình 1 và mô hình 2 23
Bảng 3.1 Dân số trung bình, diện tích và mật độ dân số ở ĐBSCL 2012 28
Bảng 3.2 Tỷ lệ đi học chung chia theo cấp học qua các năm ở ĐBSCL 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ đi học đúng tuổi chia theo cấp học qua các năm ở ĐBSCL 39
Bảng 3.4 Tỷ lệ học sinh – sinh viên đang theo học theo loại trường qua các năm ở ĐBSCL 41
Bảng 3.5 Tỷ lệ học sinh – sinh viên được miễn, giảm học phí qua các năm ở ĐBSCL 44
Bảng 3.6 Tỷ lệ người đi học trong 12 tháng qua được miễn giảm học phí hoặc các khoản đóng góp của người dân ở ĐBSCL 45
Bảng 3.7 Các khoản chi cho giáo dục và đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng qua phân theo khu vực năm 2010 47
Bảng 3.8 Các khoản chi cho giáo dục và đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng qua ở ĐBSCL qua các năm phân theo loại trường 48
Bảng 4.1 Tình hình của người dân đi học trong mẫu ở ĐBSCL 51
Bảng 4.2 Tình hình học thêm của người dân trong mẫu ở ĐBSCL 51
Bảng 4.3 Trình độ học vấn phân theo giới tính trong mẫu ở ĐBSCL 53
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhận trợ cấp của hộ nghèo trong mẫu ở ĐBSCL 55
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhận trợ cấp phân theo trình độ học vấn của chủ hộ trong mẫu ở ĐBSCL 56
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhận trợ cấp phân theo khu vực sống trong mẫu ở ĐBSCL 57
Bảng 4.7 Tỷ lệ nhận trợ cấp phân theo giới tính chủ hộ trong mẫu ở ĐBSCL 58
Bảng 4.8 Tỷ lệ nhận trợ cấp phân theo dân tộc trong mẫu ở ĐBSCL 59
Bảng 4.9 Tỷ lệ nhận trợ cấp phân theo tỉnh trong mẫu ở ĐBSCL 60
Bảng 4.10 Cơ cấu chi tiêu bình quân trong 12 tháng của người dân ĐBSCL năm 2010 61
Bảng 4.11 Thống kê các biến trong mô hình cho mẫu ở vùng ĐBSCL 63
Trang 9Bảng 4.12 Kết quả hồi quy về mô hình Tobit ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở khu vực ĐBSCL năm 2010 66 Bảng 4.13 Kết quả hồi quy về mô hình Probit ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến trợ cấp của hộ gia đình ở khu vực ĐBSCL năm 2010 71
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo từng khu vực
năm 2012 29 Hình 3.2 Cơ cấu (%) lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo từng khu
vực năm 2012 29 Hình 3.3 Tỷ lệ (%) lao động đã qua đào tạo từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc trong nền kinh tế phân theo khu vực năm 2012 30 Hình 3.4 Tỷ lệ (%) dân số từ 15 tuổi trở lên phân theo bằng cấp cao
nhất ở ĐBSCL năm 2010 42 Hình 3.5 Tỷ lệ (%) người đi học trong 12 tháng qua được miễn, giảm
học phí hoặc các khoản đóng góp theo cấp học ở ĐBSCL năm 2010 46 Hình 4.1 Tỷ lệ (%) đi học thêm phân theo khu vực của người dân ở
ĐBSCL năm 2010 52 Hình 4.2 Cơ cấu (%) chi tiêu của người dân ở ĐBSCL năm 2010 62
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NÐ-CP : Nghị định - Chính phủ
BGDÐT : Bộ Giáo dục - Đào tạo
BLÐTBXH : Bộ Lao động Thương binh Xã hội
UNESCO : United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization SCM : Subsidies and Countervailing Measures
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thời kì hội nhập kinh tế, nhiều nước trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, giáo dục là vấn đề được toàn xã hội quan tâm Hiện nay nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng tiên tiến và đạt chất lượng cao Theo xếp hạng của tổ chức Universitas 21 vào năm 2012 thì Mỹ là nước có hệ thống giáo dục đại học và sau đại học tốt nhất trên thế giới, tiếp theo bảng xếp hạng lần lượt là nước Thụy Điển, Canada, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ Một
số nước trong vùng lãnh thổ ở Châu Á có mặt trong bảng xếp hạng này là: Singapore (vị trí 11), Nhật Bản (vị trí 20), Đài Loan (vị trí 21), Hàn Quốc (vị trí 22), Malaysia (vị trí 36), (Williams, 2012)
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho công cuộc xây dựng, bảo vệ
và đổi mới đất nước Tuy nhiên, giáo dục Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục, hệ thống giáo dục thiếu đồng bộ, thiếu tính liên thông, chưa tạo điều kiện học tập suốt đời cho người dân Chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn là chất lượng; so với yêu cầu của đất nước thì còn nhiều nội dung chưa đạt, chưa thật
sự là quốc sách hàng đầu Những năm gần đây xã hội đã chứng kiến những luồng đánh giá không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau về bức tranh giáo dục Việt Nam Có những ý kiến thiên về, thậm chí cường điệu hóa những thành tích trong giáo dục Song cũng có nhiều ý kiến thể hiện sự lo ngại hoặc phê phán gay gắt hiện trạng giáo dục Một số nhà chính sách và nhà hoạt động xã hội cũng bày tỏ mong muốn có một cuộc "cải cách thực sự và toàn diện về giáo dục" trong những năm tới Và có lẽ chưa bao giờ như lúc này chúng ta cần được lắng nghe những thông tin chính xác, những nhận định bình tĩnh và những phân tích lí giải khoa học, khách quan hơn về giáo dục nước
nhà
Bên cạnh đó, thời gian gần đây thì việc tăng học phí ở các trường học đã ảnh hưởng không ít đến khả năng đầu tư cho con em học tập của người dân Bởi vì có một số gia đình nghèo khó, thu nhập thấp mà phải gánh chịu thêm phần học phí mỗi năm tăng khi cho con em họ đi học Có nhiều gia đình đã
Trang 13cho con em họ nghỉ học chỉ vì học phí tăng, chi phí học tập quá cao khiến họ không có đủ khả năng để con em họ theo đuổi việc học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013)
Ðể tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, nhằm tạo điều kiện và đảm bảo quyền lợi cho các học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tiếp tục học tập và giảm bớt khó khăn cho gia đình thuộc hộ nghèo và hộ gia đình sống trong vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ đã có nhiều chương trình hỗ trợ sinh viên nghèo hoàn thành chương trình đào tạo chẳng hạn như: cấp học bổng vượt khó, cho sinh viên vay tiền để học tập Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định 49/2010/NÐ-
CP, quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 – 2015; Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2010 Theo đó, Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Bộ tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đã ban hành Thông tư liên tịch 29/2010/TTLT - BGDÐT-BTC-BLÐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 49 Trong đó, quy định các đối tượng được miễn, giảm học phí học chính quy ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập được hưởng theo số tháng thực học kể từ ngày 1-7-2010 Tiền hỗ trợ miễn, giảm học phí được cấp 10 tháng/năm
Tuy nhiên quá trình triển khai thực hiện trên địa bàn đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế Điều này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan nhà nước mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi, tâm tư, nguyện vọng của người thụ hưởng cũng như chính sách giàu ý nghĩa tính nhân văn này Để có tiền đóng học phí gấp rút cho con, hầu hết các hộ gia đình, nhất là những hộ gia đình nghèo, có hoàn cảnh khó khăn phải “giật gấu, vá vai”, “vay nợ, đợ tạm” nhưng tiền hoàn trả thì phải chờ tháng này qua năm khác
Nhận định được vấn đề trên và thấy được tầm quan trọng của việc trợ cấp cho giáo dục đối với hộ nghèo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng và cả nước nói chung là
hết sức cần thiết Từ đó, đề tài được chọn để nghiên cứu là: “Phân tích ảnh hưởng của việc trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân
ở Đồng bằng sông Cửu Long”.Việc thực hiện đề tài này sẽ là bổ sung quý
giá cho lý luận và lí giải khoa học về giáo dục, góp phần giúp các nhà chính sách và nhà hoạt động xã hội thấy được hiệu quả của các dự án đầu tư vào giáo dục trong việc muốn cải cách toàn diện nền giáo của nước nhà
Trang 141.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Thực tiễn cho thấy, mặc dù ĐBSCL được coi là vùng giàu tiềm năng, có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, thế nhưng những năm gần đây trình độ học vấn của vùng vẫn ở mức thấp so với mặt bằng dân trí chung cả nước, rõ ràng ĐBSCL vẫn đang là vùng “trũng” về giáo dục Sở dĩ vậy là do chất lượng giáo dục của vùng chưa tốt, cơ sơ vật chất, trang thiết bị dạy học còn yếu kém, phương pháp dạy và học chưa có sự đồng bộ hóa, chặt chẽ với nhau Vì thế mà chưa thể phát huy được sức mạnh trí tuệ và tiềm năng về năng lực của người dân nơi đây Chính vì lẽ đó, khu vực được Đảng và Nhà nước ta trong suốt thời gian qua đặc biệt quan tâm và chú trọng việc đầu tư vào giáo dục, cũng như tạo điều kiện hỗ trợ cho người dân để nâng cao trình độ học vấn nhằm theo kịp thời buổi hội nhập kinh tế của đất nước, một trong những hình thức
hỗ trợ đó là vấn đề trợ cấp cho học sinh, sinh viên nghèo vượt khó học tập hay trợ cấp lương giáo viên Bởi lẽ, Đảng và Nhà nước ta đã thấu hiểu rõ tầm quan trọng và vai trò to lớn của giáo dục là hết sức cần thiết trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội của nước nhà trong giai đoạn hiện nay
Thấy được việc đầu tư cho giáo dục là hết sức cấp bách của khu vực ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung nên từ trước đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề giáo dục, nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục, phân tích những khía cạnh của giáo dục ở các góc độ khác nhau để tìm ra những ưu điểm, nhược điểm, thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục - đào tạo, đồng thời chỉ ra được những nguyên nhân, những mặt còn tồn tại yếu kém của giáo dục, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần cải thiện nền giáo dục của nước nhà Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại thì vẫn chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào tập trung nghiên cứu về phân tích ảnh hưởng của việc trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL Vì thế, đề tài nghiên cứu này được thực hiện để thấy rằng vai trò của trợ cấp là hết sức cần thiết trong vấn đề đầu tư cho giáo dục, đồng thời giúp Chính phủ và các nhà chính sách phân bổ hợp lý nguồn kinh phí cũng như nguồn nhân lực trong sự nghiệp đào tạo và cải thiện chất lượng giáo dục nhằm nâng cao trình độ văn hóa, trình độ
kỹ thuật của người dân ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục, nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực trong giáo dục, góp phần nâng cao trình độ dân trí của người dân ở ĐBSCL
Trang 151.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Tình hình trợ cấp cho giáo dục và tình hình chi tiêu cho giáo dục của
người dân ở ĐBSCL hiện nay ra sao?
(2) Trợ cấp có thật sự ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình hay không? Nếu có ảnh hưởng thì có sự khác biệt nào về chi tiêu cho giáo dục giữa hộ nhận được trợ cấp và hộ không nhận được trợ cấp? (3) Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân
ở ĐBSCL?
(4) Liệu những chính sách và giải pháp nào thì phù hợp trong mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo, nhằm nâng cao trình độ dân trí của người dân ở ĐBSCL trong thời gian tới?
1.3.2 Các giả thuyết cần kiểm định
Hiện nay mức trợ cấp người dân nhận được còn thấp và cơ cấu chi tiêu cho giáo dục còn nhiều bất cập và hạn chế
Số người trong gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi chủ hộ, tổng thu nhập trong gia đình, giới tính của chủ hộ, dân tộc chủ hộ có ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL (đặc điểm của hộ) Học thêm, trợ cấp, khu vực sống, hộ nghèo có ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của dân ở ĐBSCL (đặc điểm liên quan đến chi giáo dục của hộ)
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi thời gian
Đề tài sử dụng bộ số liệu của Khảo sát mức sống dân cư năm 2010 Đây
là cuộc điều tra trên phạm vi cả nước do Tổng cục Thống kê thực hiện 2 năm
Trang 16một lần Dự kiến bộ số liệu khảo sát năm 2012 sẽ được công bố vào năm
2014, nên đây là bộ số liệu mới nhất
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của trợ cấp đến chi tiêu cho giáo dục của người dân trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trợ cấp và chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trước đây, có rất nhiều tác giả đã quan tâm về vấn đề của giáo dục trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập; đặc biệt là vấn đề chi tiêu cho giáo dục đối với người dân, với mong muốn đóng góp ý kiến nhằm cải thiện nền giáo dục tốt hơn Những nghiên cứu cho thấy rằng, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí của người dân, phát triển nguồn nhân lực, góp phần phát triển nền kinh tế tri thức và kinh tế xã hội của đất nước
Đề tài có liên quan đến vấn đề giáo dục – đào tạo được nghiên cứu bởi các tác giả: Phạm Lê Thông (2011), Bùi Thị Thanh (2005), Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên (2008), Tansel (2005), Gomez (2005), Đặng Hải Anh (2007) Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn sẽ chịu đầu tư kinh phí cho việc học của con cái họ cao hơn, đặc biệt là chi phí học thêm; vì học thêm sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh và chi tiêu cho việc học sẽ khác nhau ở những cấp học, trình độ học vấn cao hơn Ngoài ra, nếu họ đầu tư cho việc học ở hiện tại sẽ giúp họ tăng thu nhập ở tương lai qua đó chứng tỏ rằng trình độ học vấn có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
Thật vậy, Phạm Lê Thông (2011) đã sử dụng số liệu từ cuộc Điều tra Mức sống Dân cư Việt Nam năm 2008 để ước lượng suất sinh lợi của việc học
và đối tượng được nghiên cứu là người làm công ăn lương Từ kết quả ước lượng của mô hình hồi quy bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) thông thường và phương pháp hiệu ứng cố định, tác giả chỉ ra rằng năng lực bẩm sinh và các đặc trưng riêng của hộ có ảnh hưởng đến tiền công thu được của người lao động Nếu chưa kiểm soát yếu tố năng lực bẩm sinh của những người trong cùng hộ, tăng thêm một năm đi học có thể làm tăng trung bình 5,4% mức tiền công; và ảnh hưởng này nhỏ hơn nhiều nếu có kiểm soát yếu tố
Trang 17năng lực bẩm sinh, chỉ còn 1,7% Nghiên cứu của tác giả cho thấy trình độ học vấn của người lao động ở ĐBSCL còn thấp nên tiền lương thu được không cao Học vấn có ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Tuy nhiên, ngoài học vấn ra, các yếu tố về năng lực bẩm sinh, kinh nghiệm của người lao động và những yếu tố khác về đặc điểm của hộ gia đình cũng không kém phần quan trọng, đôi khi sự tác động của chúng đến thu nhập thậm chí có thể lớn hơn trình độ học vấn
Và vì trình độ học vấn có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập nên việc nâng cao nguồn nhân lực của cả nước nói chung và của ĐBSCL nói riêng trong thời gian tới là vấn đề cần được chú trọng và quan tâm nhiều hơn Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Thanh (2005) cũng khẳng định vai trò của giáo dục – đào tạo
là hết sức cần thiết trong vấn đề muốn nâng cao và phát triển nguồn nhân lực Theo đó, tác giả ngoài việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, suy luận logic, tác giả còn điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp theo hướng tiếp cận hệ thống, thống kê mô tả để xem xét và nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc
Nghiên cứu của tác giả tập trung vào các vấn đề: giáo dục - đào tạo, dân
số, chăm sóc sức khỏe, giải quyết việc làm, thu hút, quản lý, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực Trong đó, giáo dục – đào tạo được xác định là yếu tố tham gia trực tiếp và đóng vai trò trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực
Do đó tác giả đã đặt trọng tâm nghiên cứu vào khía cạnh giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ĐBSCL Việc nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý thuyết với yêu cầu thực tiễn đã tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn cho việc phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL trong những năm tới, và chỉ ra được những nguyên nhân, những tồn tại, yếu kém trong phát triển nguồn nhân lực của vùng trong thời gian qua Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL mà trước hết là phát triển giáo dục và đào tạo, tiếp theo là một số chỉ tiêu quan trọng khác
Tuy nhiên hiện nay nền giáo dục của nước ta vẫn còn kém, hệ thống giáo dục chưa hoàn thiện như mong đợi, điều này có thể có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân có thể là do ý thức việc học của người dân còn kém, vì thế mà tình trạng thôi học ở nhiều khu vực trên địa bàn của các tỉnh thành cả nước ta vẫn thường xảy ra Chính vì thế mà nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên (2008) đã chỉ ra được mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là số lớp bỏ học của học sinh (số năm nghỉ học của học sinh) và các yếu
tố ảnh hưởng như: chi phí cho giáo dục; trình độ học vấn của mẹ; nhận thức, quan niệm của cha mẹ về việc học đối với tương lai của con; khoảng cách từ
Trang 18nhà đến trường và gia đình có ti vi Theo đó, phần mềm SPSS được tác giả sử dụng để phân tích mô hình bằng phương pháp hồi quy tuyến tính và kết quả phân tích cho thấy chi phí đầu tư cho việc học như học phí, sách vở, và các khoản chi khác có liên quan đến giáo dục tăng thì số lớp nghỉ học của học sinh
sẽ càng cao Học vấn của mẹ ảnh hưởng đến việc học của con hơn là cha và học vấn của mẹ càng cao thì số lớp bỏ học của học sinh sẽ càng giảm Các yếu
tố còn lại ảnh hưởng cũng không nhỏ đến tình trạng bỏ học của học sinh ở khu vực nông thôn – thành phố Đà Nẵng
Hơn nữa, tình trạng bỏ học đang là nỗi lo không chỉ của riêng bất kỳ nước nào Vì thế, trước đây Gomez (2005) đã tập trung nghiên cứu xoáy sâu đến vấn đề trợ cấp giáo dục có điều kiện khi học tại Cô-lôm-bi-a Kết quả cho thấy trợ cấp có tác động lớn đến vấn đề tiếp tục duy trì việc học, và chương trình trợ cấp đã có hiệu quả trong việc tăng cường tuyển sinh, nhất là ở lứa tuổi 14 -17 và tỷ lệ nhập học gia tăng khoảng 5% ở cả khu vực nông thôn và thành thị, nam thường được hưởng lợi nhiều hơn so với nữ giới từ chương trình trợ cấp
Bên cạnh đó, trước đây Tansel (2005) còn nghiên cứu về chi phí học thêm ở Thổ Nhĩ Kỳ và dựa trên các số liệu của cuộc Khảo sát về chi tiêu của
hộ gia đình năm 1994 Các biến tổng chi tiêu hộ gia đình, trình độ học vấn của cha mẹ và những biến về đặc điểm của hộ gia đình là yếu tố quyết định được xem xét trong khuôn khổ của mô hình Tobit Qua phân tích và cách nhìn nhận sâu sắc, tác giả đã thấy được việc học thêm là một yếu tố quan trọng, đặc biệt
là cho mục đích thi tuyển vào đại học, hiện tượng này khá phổ biến ở Thổ Nhĩ
Kỳ Hộ gia đình gửi con đến các trung tâm học thêm ước tính dành từ 1-15 % thu nhập trung bình của họ Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra rằng nếu hộ gia đình
có thu nhập cao hơn và cha mẹ trình độ học vấn cao hơn sẽ dành nhiều nguồn kinh phí hơn để đầu tư việc học thêm cho con cái của họ Chi phí học thêm của hộ gia đình cư trú tại đô thị sẽ chi tiêu nhiều hơn hộ gia đình cư dân ở vùng nông thôn Ý nghĩa của việc nghiên cứu này là nhằm cung cấp nền giáo dục tốt hơn cho con cái của họ, dẫn đến thu nhập tương lai sẽ cao hơn
Đồng thời, tác giả Đặng Hải Anh (2007) cũng có cùng quan điểm trên, học thêm có tác động tích cực đến tổng chi tiêu của hộ gia đình Các số liệu của cuộc Khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam 1997-1998 và 1992-1993 được tác giả sử dụng để phân tích và ước tính bằng cách mở rộng hàm Tobit, dùng probit một mô hình kinh tế cho phép để giải quyết các biến nội sinh về chi tiêu cho học thêm của hộ gia đình Nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng học thêm ở Việt Nam là một điều cần thiết trong ngân sách gia đình đối với những học sinh trung học cơ sở và xu hướng tham gia học thêm mạnh mẽ hơn
Trang 19ở mức trình độ học vấn cao hơn Đặc biệt, học thêm có tác động lớn đến hoạt động và kết quả học tập của học sinh, nhưng ảnh hưởng này chỉ lớn đối với các học sinh ở cấp học cao hơn Học sinh dân tộc thiểu số chi tiêu vào học thêm ít hơn ở cấp tiểu học nhưng không phải ở cấp trung học cơ sở, cũng như những học sinh, sinh viên sống trong khu vực nông thôn Tuy nhiên, kết quả cho thấy không có sự phân biệt giữa nam và nữ trong chi tiêu cho học thêm, bên cạnh đó chi tiêu cho học thêm ở cấp tiểu học sẽ giảm đi đáng kể nếu chất lượng giảng dạy của các trường học đã được cải thiện bằng cách nâng cao trình độ học vấn của giáo viên tiểu học lên
Như đã đề cập ở trên, mặc dù mỗi nghiên cứu đều có riêng cách tiếp cận, cách đo lường đơn vị tính và phương pháp phân tích, ước lượng cũng khác nhau, nhưng đều nói đến vai trò và tầm quan trọng của giáo dục đối với đời sống của người dân, chi phí học tập có ảnh hưởng tích cực đến cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của việc trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân được thực hiện
ở khu vực ĐBSCL – Việt Nam
Vì thế, nghiên cứu về ảnh hưởng của trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống nhằm giúp người dân bớt đi gánh nặng trong việc đầu tư kinh phí cho việc học hành của con em
họ ở khu vực ĐBSCL Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào vai trò của trợ cấp sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc chi tiêu cho giáo dục của người dân ở khu vực ĐBSCL và số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu là từ cuộc Khảo sát mức sống dân cư 2010 ở Việt Nam và từ các nguồn đáng tin cậy khác
Trang 20CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái niệm về giáo dục và chi tiêu cho giáo dục
2.1.1.1 Khái niệm về giáo dục
a) Khái niệm về giáo dục
Theo Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục Chuyên nghiệp (2007) thì giáo dục là sự hình thành nhân cách của con người một cách có mục đích, có
tổ chức thông qua các hoạt động và mối quan hệ giữa người dạy và người học theo hướng tích cực nhằm giúp người học hoàn thiện nhân cách, lĩnh hội tri thức và trau dồi những kinh nghiệm xã hội của loài người, đáp ứng được nhu cầu tồn tại của xã hội đương đại
Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau
Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là “education” Đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ: “Ex” và “Ducere”_ “Exducere” Nghĩa là giúp con người vượt qua khó khăn để vươn tới những điều hoàn thiện và tốt đẹp hơn Nói đến giáo dục là nói đến hiện tại và nghĩ đến tương lai Giáo dục là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, đặc biệt là giữa hiện tại và tương lai Vì thế định hướng phát triển giáo dục phải gắn liền với sự nghiệp phát triển chung của đất nước Giáo dục bao gồm việc dạy và học, đồng thời có ý nghĩa như là truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác hơn trong việc tiếp thu những kiến thức mới, chuẩn bị hành trang cho nghề nghiệp và chuyên môn hướng đến tương lai Quá trình giáo dục bao hàm hai thành tố có quan hệ mật thiết với nhau: “dạy học và trau dồi học vấn”
Để nghiên cứu về vấn đề giáo dục, trước hết bản thân mỗi chúng ta nên hiểu rõ trau dồi học vấn là gì và dạy học là gì
Trau dồi học vấn là quá trình con người lĩnh hội những tri thức về xã hội, khoa học tự nhiên và về tư duy Điều này được đánh giá thông qua trình độ học vấn, kỹ năng kỹ xảo, khả năng phân tích và suy luận Còn dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học, điều khiển các hoạt động tâm lý của người học nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hoá mà nhân loại đã đạt được vào chính họ Điều đó giúp họ tự giác,
Trang 21tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học, phát triển năng lực nhận thức của bản thân và hình thành những kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa Hai thành tố này có quan hệ trực tiếp đến sự phát huy nhân tố con người, sức mạnh con người Sức mạnh đó được hiện thực hoá trong sức mạnh kinh tế, sức mạnh chính trị, sức mạnh văn hoá của đất nước,và nếu sức mạnh đó con người được đào tạo một cách đúng đắn thì sẽ phát huy mạnh mẽ và đầy đủ hơn Nhờ giáo dục con người hấp thụ những tinh hoa của nhân loại cho bản thân mình và rồi tiếp tục sáng tạo để thăng tiến cho bản thân, nhờ khả năng suy luận, phân tích và tổng hợp, dựa trên nền tảng của những điều mình đã tiếp thu, đã rèn luyện, để trở thành con người tiến bộ: “một sự tiến bộ đúng nghĩa, toàn diện của một đời người: thể chất – tri thức – tinh thần - tâm linh” Chủ trương giáo dục nào chỉ quan tâm đến một hoặc hai phương diện nào đó thôi, đều là cắt xén, làm hư hại, hoặc hủy hoại một phần sự sống của con người Những hình thức như thế đều là phản tiến bộ
b) Mục tiêu của giáo dục
Mục tiêu của giáo dục là các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình thành ở đối tượng người được giáo dục, hay nói cách khác là chiến lược xây dựng con người, phát triển nguồn lực, là bộ phận của hệ thống những vấn đề then chốt trong chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2009)
Có thể hiểu mục tiêu của giáo dục là mục tiêu phát triển nhân cách của giáo dục Việt Nam, là đào tạo thế hệ trẻ phát triển nhân cách toàn diện, có đức, có tài, có trí tuệ thông minh, có lý tưởng thẩm mỹ, có sức khoẻ dồi dào, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc; nhân cách con người Việt Nam vừa truyền thống, vừa hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới Theo Luật giáo dục năm 2005 của nước ta cũng quy định như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Tóm lại, mục tiêu giáo dục là kết quả mong muốn đạt được của hoạt động giáo dục, giảng dạy và học tập, giáo dục luôn phát triển theo định hướng phát triển bền vững chung của xã hội, phù hợp theo định chế và quan niệm ở từng thời kỳ nhất định của đất nước
Trang 22c) Hệ thống giáo dục quốc dân
Theo Luật giáo dục năm 2005 của nước ta quy định:
Hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta gồm: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao
gồm: giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; giáo dục phổ thông có tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; giáo dục đại học và sau đại học có đào tạo trình
độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ
d) Chương trình giáo dục
Chương trình giáo dục (hay còn gọi là chương trình đào tạo) là một khối lượng kiến thức về lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; đồng thời thể hiện phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập và các điều kiện thực hiện chương trình: điều kiện nhập học, điều kiện tốt nghiệp
Bên cạnh đó, chương trình giáo dục còn thể hiện được mục tiêu giáo dục; cũng như những quy định về chuẩn kiến thức, kỹ năng và cấu trúc nội dung đào tạo; phải bảo đảm tính ổn định, tính hiện đại, tính thống nhất giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sự phát triển, liên thông, luân chuyển giữa các ngành đào tạo, trình độ đào tạo và hình thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân
2.1.1.2 Khái niệm về chi tiêu cho giáo dục
Chi tiêu cho giáo dục là những nguồn kinh phí đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường, bảo đảm chất lượng dạy và học góp phần nâng cao nhận thức và trình độ dân trí của người dân (Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục Chuyên nghiệp, 2007)
Về phía người dân
Chi cho giáo dục là các khoản chi cho quần áo đồng phục, dụng cụ học tập, học phí, các tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình và các khoản đóng góp và những khoản chi khác thuộc về giáo dục
Về phía Nhà nước
Chi cho giáo dục là các khoản chi về tiền lương giáo viên, chế độ phụ cấp, học bổng, mua sắm thiết bị, đồ dùng dạy học, nâng cấp trường lớp Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến khoa học giáo dục Bởi lẽ, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển con người và xã
Trang 23hội Ngân sách Nhà nước có vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục
2.1.1.3 Vai trò của giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, nhân loại đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nền kinh tế tri thức, một xã hội thông tin Vì vậy muốn biết tương lai một dân tộc
ra sao Hãy nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang có nền giáo dục như thế nào Nền giáo dục của một dân tộc là yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến
bộ xã hội của mỗi quốc gia Sự phát triển của giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có đạo đức và trí tuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Sự phát triển nguồn nhân lực do tích hợp nhiều nhân tố: giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm và cả sự giải phóng con người Trong đó, giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhất Bởi vì, giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực có chất lượng, có tay nghề và trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng CNH, HĐH có mối quan hệ chặt chẽ với sự nghiệp của giáo dục và đào tào
Có thể nói rằng giáo dục và đào tạo là yếu tố tác động mạnh mẽ đến quy
mô, tốc độ, cũng như sự thành công trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Bởi
lẽ CNH, HĐH là một quá trình mà trong đó sử dụng toàn bộ năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ của con người để tạo ra và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại kết hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc
để đổi mới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm hướng tới một xã hội văn minh, tiến bộ và hiện đại Chính vì lẽ đó mà CNH, HĐH đòi hỏi phải có một lực lượng lao động có chất lượng cao, có đủ trí lực, năng lực và thể lực Tuy nhiên, xã hội muốn đạt tới trình độ phát triển mới và cao hơn thì tất yếu phải dựa trên sự phát triển tương xứng về mặt giáo dục và đào tạo Trong
đó, giáo dục phổ thông được coi là nền tảng và giáo dục bậc cao là hết sức cần thiết, vì đó là sự kết hợp giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, kết hợp văn hóa với tay nghề để hình thành năng lực thực sự trong bản thân người lao động Nó tạo nên một đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cũng như những phẩm chất cần có để làm chủ được tri thức, làm chủ các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đồng thời bắt nhịp được với yêu cầu của cơ chế thị trường cũng như sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước
Có thể nói rằng, nếu sự nghiệp giáo dục và đào tạo chậm đổi mới, chậm đẩy mạnh và chậm phát triển thì nguy cơ tụt hậu càng cao cũng như CNH, HĐH sẽ bị bó hẹp về quy mô, phương thức sản xuất, chậm về tốc độ và kém
Trang 24về hiệu quả Thế nên việc đầu tư cho giáo dục không chỉ nên đi trước một bước mà phải cần đi trước nhiều bước Giáo dục và đào tạo không chỉ có ý nghĩa chiến lược mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với sự thành công của CNH, HĐH và chính những thành tựu của CNH, HĐH lại tác động trở lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiện đại hoá giáo dục và đào tạo (chẳng hạn như các trang thiết bị tiên tiến phục vụ cho việc dạy học giúp cho giáo dục và đào tạo
sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao đáp ứng chính yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH)
Nếu xét trong phạm vi của một nền kinh tế tri thức, ưu thế không nhất thiết phải lệ thuộc vào các nhân tố truyền thống như: tài nguyên, đất đai, hay nhân công mà nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao, là chất xám của các chuyên gia Vì vậy, tri thức có vai trò to lớn đối với việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… Đồng thời, phát triển kinh tế tri thức sẽ tiết kiệm được tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm bớt nặng nhọc trong lao động Tổ quốc Việt Nam của chúng ta muốn sánh vai cùng với các nước bạn trên khắp thế giới thì trước hết phải làm tốt chiến lược “trồng người” theo tư tưởng của vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh Hay nói cách khác, chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của con người Việt Nam đó là yêu nước, cần cù, ham học, thông minh, sáng tạo để xây dựng chiến lược phát triển trí tuệ con người và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Nhận định được vấn đề này, trước đây vào năm 1994 thì tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tuyên bố rằng:
“Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản” Bởi thế, giáo dục văn hóa, chuyên môn, nghiệp
vụ là rất cần thiết Nếu không học tập văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không thể tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ Ngược lại, nếu chỉ học văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ mà không học chính trị thì giống như một con thuyền mất phương hướng
Chính vì lẽ đó mà giáo dục ngày nay có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành nhân cách con người Bởi lẽ, giáo dục là sự tác động có mục đích,
có hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ để hình thành nhân cách mà con người mong muốn cần đạt đến Mặt khác, giáo dục còn truyền lại những thành tựu của nền văn minh xã hội theo con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Nhân cách
Trang 25con người được hoàn thiện bởi một nền giáo dục xã hội và tự giáo dục toàn diện sẽ trở thành những người vừa có phẩm chất, vừa có năng lực; những công dân tốt, những cán bộ tốt, sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam mới
Nhận thức được vai trò của giáo dục, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta đã khẳng định rằng “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Để có thể cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2012) đã chủ trương và quyết tâm đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, mà trước tiên là phải đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý giáo dục, vì đây là khâu then chốt để cải thiện nền giáo dục
và nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Tóm lại, trong các nguồn lực để phát triển (năng lực về tâm lý, năng lực
về trí tuệ, năng lực về thể chất), nguồn nhân lực có trí tuệ là yếu tố cơ bản, quyết định nhất đối với sự phát triển của các quốc gia Vì vậy hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân lực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân Giáo dục và đào tạo là chiến lược xây dựng con người được các quốc gia đặc biệt quan tâm nhằm tạo ra lớp người lao động có trí tuệ thích hợp, có tài năng và có đạo đức góp phần xây dựng sự nghiệp phát triển chung của đất nước Do đó, quản lí giáo dục và đào tạo là quản lí một vấn đề có tầm quan trọng và có ý nghĩa quốc sách hàng đầu của Nhà nước ta
2.1.2 Khái niệm trợ cấp và trợ cấp giáo dục
2.1.2.1 Khái niệm trợ cấp
Theo quy định tại Điều 1 trong Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), trợ cấp là một khoản đóng góp do Chính phủ hoặc một tổ chức Nhà nước hoặc một tổ chức công cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá và mang lại lợi ích cho đối tượng được nhận sự đóng góp tài chính hay hỗ trợ thu nhập/hỗ trợ giá đó
Các hình thức trợ cấp trong quy định của WTO: thứ nhất là miễn hoặc cho qua các khoản thu đáng lẽ phải đóng (chẳng hạn như: ưu đãi thuế tín
Trang 26dụng), thứ hai là hỗ trợ trực tiếp tiền bằng cách chuyển ngay hoặc hứa chuyển (cấp vốn, cho vay, bảo lãnh cho các khoản vay), thứ ba là cung cấp dịch vụ và mua hàng (không kể các cơ sở vật chất hạ tầng chung), thứ tư thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc là một đơn vị tư nhân khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ theo quy định của WTO và cách thức của Chính phủ
Hiện nay, các chương trình trợ cấp ở Việt Nam nhìn chung có giá trị không lớn, phần nhiều mang tính chất hỗ trợ bổ sung hoặc khuyến khích động viên Hình thức trợ cấp phổ biến là ưu đãi miễn giảm về thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu) dưới dạng các ưu đãi đầu tư để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước nước tham gia vào các lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên phát triển hoặc các địa bàn khó khăn cần có đòn bẩy kinh tế để phát triển
Bên cạnh đó những khoản hỗ trợ này là nhằm mang lại lợi ích cho những đối tượng được hưởng hỗ trợ, có ý nghĩa lớn đối với đời sống của bộ phận lớn dân cư, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội
2.1.2.2 Khái niệm trợ cấp giáo dục
Trợ cấp giáo dục là bất kỳ các khoản hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc của một tổ chức công mà nó mang lại lợi ích cho đối tượng là học sinh – sinh viên hoặc nhà giáo dục (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2009) Các hình thức trợ cấp về giáo dục thuộc từng đối tượng như sau:
Về phía học sinh - sinh viên
Miễn, giảm học phí cho những học sinh – sinh viên mồ côi cha mẹ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, gia đình thuộc diện hộ nghèo
Cho học sinh – sinh viên vay tiền phục vụ việc học tập với lãi suất thấp Tặng học bổng khuyến khích cho học sinh – sinh viên nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng vượt khó học tập
Về phía nhà giáo
Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường chuyên biệt hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 mức lương tối thiểu
Nhà giáo công tác ở các trường chuyên biệt được trợ cấp tham quan, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được hỗ trợ tiền mua tài liệu để học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí và tiền đi lại
Trang 27Ngoài ra giáo viên sẽ hưởng chế độ hưu trí (lương hưu), phụ cấp ưu đãi; trợ cấp thâm niên trong lương hưu
2.1.2.3 Tác động của việc trợ cấp giáo dục đến mức sống của người dân
Ở nước ta, những nỗ lực của Chính phủ trong công tác tăng cường xoá đói giảm nghèo, đồng thời với các chính sách xoá đói giảm nghèo hợp lý thì tỷ
lệ hộ nghèo có xu hướng giảm dần trong thời gian qua, tuy nhiên ở nhiều địa phương tình trạng nghèo vẫn còn đang diễn ra và thực tiễn cho thấy rằng nhiều
hộ tuy thoát nghèo nhưng vẫn không đủ sống và đời sống vẫn còn khó khăn Bên cạnh đó, việc tăng học phí ở các trường học trong những năm gần đây khiến nhiều gia đình có thu nhập thấp, không đủ khả năng trang trải các khoản chi tiêu cho việc học, thậm chí có gia đình phải cho con em họ nghỉ học để ở nhà phụ giúp công việc gia đình hay đi làm ăn nơi xa; chính điều đó, phần nào tăng thêm thu nhập thay vì cho con em họ cắp sách đến trường, lớp Nhận định được vấn đề bức thiết của xã hội, Nhà nước ta có những quy định, chính sách trong công tác hỗ trợ cho hộ nghèo, đặc biệt là hỗ trợ về giáo dục Việc trợ cấp giáo dục (chẳng hạn như miễn, giảm học phí, tặng học bổng, cho học sinh - sinh viên vay lãi suất thấp phục vụ việc học tập) phần nào giúp nhiều gia đình nghèo vượt qua những khó khăn, để con em của họ vẫn có thể tiếp bước đến trường, lớp
Ngoài ra, việc trợ cấp còn khuyến khích, động viên người dân nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của việc đầu tư giáo dục, góp phần nâng cao trình độ dân trí, mức sống của họ Đây là hoạt động có ý nghĩa, giúp người dân phần nào bớt đi gắng nặng trong cơ cấu chi tiêu của gia đình
Vì thế, họ sẽ yên tâm làm tốt việc, tận tuỵ với công việc, học hỏi và phục vụ sản xuất, tìm tòi và sáng tạo nhằm tạo ra những sản phẩm cần thiết cho nhu cầu xã hội; một mặt làm tăng thu nhập, tăng mức sống của chính bản thân họ; mặt khác góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của đất nước
Đồng thời, Nhà nước ta còn hỗ trợ tài chính cho các trường học trong việc mua sắm, bảo trì, sửa chữa các trang thiết bị - kỹ thuật, đầu tư xây dựng
và đảm bảo chất lượng các cơ sở vật chất – hạ tầng (nâng cấp phòng học, trang thiết bị theo hướng chuẩn, hiện đại) nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, chương trình đào tạo, giúp các em học sinh - sinh viên kịp thời tiếp cận với các máy móc, thiết bị đo đạc, sử dụng hoá chất và dụng cụ thí nghiệm và đặc biệt là trong việc sử dụng tin học và tiếp cận internet trong thời kì nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới
Trang 282.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân Những nguyên nhân chính nào mà ảnh hưởng hoạt động chi tiêu cho giáo dục của người dân?
Trợ cấp giáo dục là một trong những yếu tố có tác động đến hoạt động
chi tiêu cho giáo dục (Gomez, 2005) Trợ cấp cho giáo dục của Chính phủ là
một khoản tiền mà Chính phủ phải chi ra từ nguồn ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo, người dân tộc hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa nhằm giúp họ giảm bớt phần nào về chi phí cho học tập Giả định rằng, người được nhận trợ cấp sẽ có thể tiếp tục học ở các cấp học cao hơn người không nhận được bất kỳ khoản trợ cấp nào, nếu điều này xảy ra thì chính sách trợ cấp của Chính phủ đã có hiệu quả
Học thêm là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu
cho giáo dục (Đặng Hải Anh, 2007; Tansel, 2005) Vì học thêm ở Việt Nam
là một điều cần thiết trong ngân sách gia đình đối với những học sinh trung học cơ sở và xu hướng tham gia học thêm mạnh mẽ hơn ở mức trình độ học vấn cao hơn
Giới tính của chủ hộ có thể là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động chi tiêu cho giáo dục (Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên, 2008) và có quan niệm cho rằng người con sẽ học cấp học cao hơn nếu trình độ học vấn của người mẹ cao hơn người cha Bởi vì, người mẹ thường quán xuyến việc nhà, chăm sóc con, yêu thương con, kề cận và gần gũi bên con nhiều hơn người cha Người cha phải tất bật với nhiều việc bên ngoài xã hội nên ít có thời gian bên đứa con, mặc dù tình thương của người cha vẫn dành hết cho
đứa con nhưng ít được bộc lộ hay biểu hiện ra bên ngoài
Trình độ học vấn của chủ hộ cũng có thể là một trong những yếu tố
ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục (Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên, 2008; Phạm Lê Thông, 2011; Tansel, 2005) Thông thường trong gia đình mà cha hoặc mẹ có trình độ học vấn cao thì con cái của họ sẽ học ở các cấp học cao hơn Bởi lẽ, họ nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của việc học đối với tương lai của con cái họ sau này
Số người trong gia đình là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động chi tiêu cho giáo dục Vì thực tế cho thấy nếu số người có đi học càng nhiều trong gia đình thì việc chi tiêu cho giáo dục sẽ càng nhiều
Trang 29Khu vực sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến đến hoạt động chi tiêu
cho giáo dục (Đặng Hải Anh, 2007; Tansel, 2005) Phần lớn người dân vùng ĐBSCL sống tập trung chủ yếu ở nông thôn Hộ gia đình sống ở nông thôn thường là hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, điều kiện vật chất thiếu thốn, mức sống thấp và họ có tư tưởng, quan niệm rằng sẽ đi lao động sớm để có tiền phụ giúp gia đình hay tiêu sài hơn là đầu tư cho việc học Chính vì lẽ đó
mà việc chi tiêu cho giáo dục của người dân ở nông thôn trong thời gian qua
ít hơn ở thành thị Do đó mà hầu như trình độ dân trí cũng như tay nghề kỹ thuật chuyên môn của người dân mà sống ở nông thôn thấp hơn thành thị
Nghèo cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục
Do điều kiện và mức sống thấp nên phần lớn các hộ nghèo sẽ chi tiêu cho giáo dục ít hơn các hộ giàu
Dân tộc cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục
Thông thường dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng và giao kém phát triển, phương tiện đi lại khó khăn nên đầu tư cho giáo dục gặp nhiều trở ngại và ngược lại thì dân tộc Kinh sống ở những nơi có điều kiện thuận lợi hơn nên sẽ đầu tư cho giáo dục nhiều hơn
Tuổi của chủ hộ cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chi tiêu cho
giáo dục Thông thường chủ hộ thường là người lớn tuổi trong gia đình, có nhiều kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm cao Tuổi chủ hộ càng lớn thì khả năng lao động càng kém, năng suất lao động thấp, nguồn thu nhập chính của
hộ cũng từ đó mà giảm xuống, kéo theo chi tiêu trong gia đình cũng giảm nên vấn đề đầu tư cho giáo dục sẽ là gánh nặng cho hộ
Tổng thu nhập của hộ gia đình cũng là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục (Đặng Hải Anh, 2007; Tansel, 2005) Vì thông thường gia đình có nguồn thu nhập cao thì mức sống của họ
sẽ cao nên có nhiều điều kiện và khả năng chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn gia
đình có nguồn thu nhập thấp
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn số liệu được sử dụng trong phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập từ cuộc Khảo sát mức sống dân cư năm 2010 Đây là cuộc Khảo sát mức sống dân cư được điều tra trên phạm vi cả nước và thực hiện vào 2 năm một lần Ngoài ra số liệu được sử dụng trong đề tài để phân tích còn thu thập qua các nguồn khác: Niên giám thống kê, Tổng cục thống kê, các đề tài khác và các tài liệu có liên quan đến chi tiêu cho giáo dục Năm 2012 dự kiến sẽ công
Trang 30bố vào năm 2014, vì vậỵ, đây là bộ số liệu Khảo sát mức sống dân cư mới nhất
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích như phân tích thống kê mô tả, phân tích mô hình hồi quy đa biến để giải quyết các mục tiêu của đề tài và sử dụng phần mềm Stata để hỗ trợ trong việc phân tích số liệu
2.2.2.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả là quá trình thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu để biến số liệu thành những thông tin, sau đó mô tả dữ liệu này thông qua các giá trị được biểu diễn từ bảng số liệu và đồ thị Ngoài thống kê mô tả còn có thống kê suy luận Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo Đồng thời phân tích số liệu thông qua các phép tính thông thường như: số trung bình (Mean) để đo giá trị trung tâm của dữ liệu; độ lệch chuẩn (Standard Deviation) để đo sự biến thiên, biểu diễn sự biến thiên xung quanh giá trị trung bình; phương sai (Variance) để phản ánh độ phân tán và sự biến thiên của dữ liệu; hệ số biến thiên (Coeffecient of variation) để so sánh sự biến thiên của hai hay nhiều tập dữ liệu Các phép tính này nhằm giúp mô tả các đặc tính cơ bản của dữ liệu và rút ra các kết luận dựa trên kết quả nghiên cứu từ mẫu
2.2.2.2 Mô hình Tobit
Mô hình Tobit nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa mức độ biến động của biến phụ thuộc với các biến độc lập Mô hình Tobit còn có tên gọi khác là mô hình hồi qui có biến phụ thuộc bị chặn, bởi vì có một số quan sát của biến phụ thuộc y* bị chặn hay được giới hạn
Để xem xét vấn đề chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình và muốn ước lượng hệ số tương quan của các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu chi tiêu cho giáo dục Đồng thời, do số liệu trong mẫu nghiên cứu có nhiều quan sát mà chi tiêu cho giáo dục bằng 0 nên mô hình Tobit được sử dụng để phân tích Mô hình Tobit được trình bày như sau:
yi* = ∑ βxi + ui nếu yi* > 0: gia đình có chi cho giáo dục
Yi =
0 nếu yi* ≤ 0: gia đình không chi cho giáo dục
Trang 31CHIGDi = 0 + 1TROCAPi + 2HOCTHEMi + 3GIOITINHCHi +
4HVANCHi + 5TSONGUOIi + 6VITRIi + 7NGHEOi + 8DANTOCi +
9TUOICHi + 10TTHUNHAPi + u i (Mô hình 1)
Ngoài ra, do mô hình xuất hiện biến nội sinh – trợ cấp nên ước lượng có thể sẽ bị chệch và không vững Để khắc phục hiện tượng này và cũng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của trợ cấp đến hoạt động chi tiêu cho giáo dục của hộ, bài nghiên cứu sử dụng mô hình Probit với phương pháp khả năng lớn nhất để ước tính tỷ lệ nhận trợ cấp của hộ ở ĐBSCL bị chi phối bởi các yếu tố nào
Mô hình Probit được trình bày như sau:
TROCAPi = α0 + α1HOCTHEMi + α2GIOITINHCHi + α3HVANCHi +
α4TSONGUOIi + α5VITRIi + α6NGHEOi + α7DANTOCi + α8TUOICHi +
α9TTHUNHAPi + α10SNAMDIHOCi + α11SNUDIHOCi + i (Mô hình 2)
Diễn giải các biến trong mô hình 1 và mô hình 2:
Yi (biến phụ thuộc) là chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình (1.000 đồng)
Xi là vectơ của các biến giải thích trong mô hình 1 bao gồm: trợ cấp, học thêm, giới tính chủ hộ, trình độ học vấn chủ hộ, tổng số người trong gia đình,
vị trí sống, hộ nghèo, dân tộc của chủ hộ, tuổi chủ hộ, thu nhập của hộ
βk (k=0,…10) là hệ số quy hay còn gọi là tham số của mô hình 1
αz (z=0,…11) là hệ số quy hay còn gọi là tham số của mô hình 2
i; ui (sai số ngẫu nhiên) tức là phần biến động mà mô hình không thể giải thích được
Các biến độc lập chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến trợ cấp và chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL như sau:
+ TROCAP: là biến trợ cấp Đây là biến giả và biến này nhận giá trị 1 nếu hộ gia đình nhận được trợ cấp, ngược lại nhận giá trị 0 nếu hộ không nhận được trợ cấp (Gomez, 2005) Khi hộ được trợ cấp thì sẽ giảm bớt phần nào chi tiêu cho giáo dục trong tổng cơ cấu chi tiêu của gia đình Vì thế mà hệ số 1của biến nàyđược kì vọng là âm với chi tiêu cho giáo dục
+ HỌCTHEM : là biến học thêm, đây là biến giả và biến này nhận giá trị
1 nếu người học có học thêm, nhận giá trị 0 nếu người học không có thêm Vì học thêm có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh (Đặng Hải Anh, 2007) Và thực tiễn cho thấy rằng phần lớn những học sinh ở các cấp học phổ thông thường được cha mẹ cho đi học thêm ngoài giờ học chính thức ở trường Học thêm ở đây có thể là học thêm anh văn, vi tính và các môn khác nhằm giúp học sinh có kĩ năng và giải quyết các vấn đề liên quan đến công
Trang 32việc học tập cũng như đời sống của chính bản thân các học sinh Bên cạnh đó, thông thường hộ mà chi cho học thêm nhiều nghĩa là hộ gia đình có thu nhập
ổn định nên hộ ít nhận được trợ cấp từ Chính phủ Do đó, hệ số 2 của biến này được kì vọng là dương với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α1 kỳ vọng là âm với trợ cấp giáo dục
+ GIOITINHCH: là biến giới tính của chủ hộ Biến này nhận giá trị là 1 nếu chủ hộ là nam, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ Theo như nghiên cứu cho rằng người con sẽ học cấp học cao hơn nếu trình độ học vấn của người mẹ cao hơn người cha (Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên, 2008) Bởi vì, người mẹ thường quán xuyến việc nhà, chăm sóc con, yêu thương con, kề cận và gần gũi bên con nhiều hơn người cha Người cha phải tất bật với nhiều việc bên ngoài xã hội nên ít có thời gian bên đứa con, mặc dù tình thương của người cha vẫn dành hết cho đứa con nhưng ít được bộc lộ hay biểu hiện ra bên ngoài Bên cạnh đó, nếu hộ có nhận được trợ cấp thì nam giới sẽ nhận được nhiều nữ giới, bởi lẽ chủ hộ đa phần là nam giới Do đó, hệ số 3 của biến nàyđược kỳ vọng
là âm với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α2 kỳ vọng là dương với trợ cấp giáo dục
+ HVANCH: là biến trình độ học vấn chủ hộ và thể hiện số năm học của chủ hộ, được giả định như sau nếu 0 là chưa hết lớp 1 hoặc không đi học (không có bằng cấp); 1-12 là từ 1 đến lớp 12; 13 là giáo dục nghề nghiệp; 14
là cao đẳng; 15 là đại học; 16 là sau đại học Nếu trình độ học vấn cha mẹ càng cao thì các thành viên trong gia đình sẽ được học nhiều hơn nên có trình
độ học vấn cao hơn và ngược lại (Nguyễn Hạnh Thảo Nguyên, 2008; Phạm Lê Thông, 2011; Tansel, 2005) Bên cạnh đó, nếu có đi học nhiều hơn thì sẽ nhận được trợ cấp nhiều hơn Vì vậy, mà hệ số 4 của biến này được kì vọng là dương với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α3 kỳ vọng là dương với trợ cấp giáo dục
+ TSONGUOI: là biến thể hiện các thành viên trong gia đình Trong gia đình mà số người có đi học càng nhiều thì sẽ chi tiêu cho giáo dục càng nhiều Bên cạnh đó, hộ gia đình có nhiều người tham gia đi học thì sẽ nhận được nhiều nguồn trợ cấp giáo dục hơn Chính vì thế, mà hệ số 5 của biến này được
kì vọng là dương với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α4 kỳ vọng là dương với trợ cấp giáo dục
+ VITRI: là biến thể hiện khu vực sống của người học (Đặng Hải Anh, 2007; Tansel, 2005) và đây là biến giả Biến này nhận giá trị là 1 nếu người học sống ở thành thị, nhận giá trị là 0 nếu người học sống ở nông thôn Thông thường những người sống ở thành thị có điều kiện học tập và cơ hội phát triển
Trang 33cao hơn ở nông thôn, đồng thời những hộ gia đình ở thành thị có mức sống và thu nhập cao hơn nên việc chi tiêu cho việc học nhiều hơn những hộ sống ở nông thôn Bên cạnh đó, nông thôn thì điều kiện học tập còn khó khăn nên sẽ nhận được trợ cấp từ phía Chính phủ nhiều hơn Do đó, hệ số 6 của biến này được kì vọng là dương với chi tiêu giáo dục và hệ số α5 kỳ vọng là âm với trợ cấp giáo dục
+ NGHEO: là biến thể hiện hộ gia đình nghèo và đây cũng là biến giả Biến này nhận giá trị là 1 nếu hộ là hộ nghèo và ngược lại nhận giá trị là 0 Hộ nghèo của năm 2010 là hộ có giấy chứng nhận nghèo được chính quyền địa phương bình xét và công nhận vào cuối năm 2009 để được hưởng lợi năm
2010 Tỷ lệ hộ nghèo vào năm 2010 được tính theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015, ở thành thị có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống, ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống Do là hộ nghèo, điều kiện sống khó khăn nên sẽ gặp khó khăn trong việc đầu tư cho giáo dục, tuy nhiên hộ lại được Chính phủ quan tâm hơn, đặc biệt là trợ cấp về giáo dục Do đó, hệ số 7 của biến nàyđược kì vọng là âm với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α6 kỳ vọng dương với trợ cấp giáo dục
+ DANTOC: là biến thể hiện dân tộc của chủ hộ và đây là biến giả Biến này nhận giá trị là 1 nếu chủ hộ là dân tộc Kinh và ngược lại nhận giá trị 0 Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện sống thấp,
cơ sở hạ tầng và giao thông kém phát triển, phương tiện đi lại khó khăn nên đầu tư cho giáo dục gặp nhiều trở ngại và ngược lại thì dân tộc Kinh sống ở những nơi có điều kiện thuận lợi hơn nên sẽ đầu tư cho giáo dục nhiều hơn Bên cạnh đó, hộ là dân tộc thiểu số sẽ được Nhà nước ưu ái trong công tác trợ cấp giáo dục Do đó, hệ số 8 của biến này được kì vọng là dương với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α7 kỳ vọng âm với trợ cấp giáo dục
+ TUOICH: là biến thể hiện tuổi của chủ hộ Thông thường chủ hộ thường là người lớn tuổi trong gia đình, có nhiều kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm cao Tuổi chủ hộ càng lớn thì khả năng lao động càng kém, năng suất lao động thấp, nguồn thu nhập chính của hộ cũng từ đó mà giảm xuống, kéo theo chi tiêu trong gia đình cũng giảm nên vấn đề đầu tư cho giáo dục sẽ là gánh nặng cho hộ Và khả năng hộ cho con em nghỉ học giữa chừng là rất cao,
do đó để khuyến khích thì Nhà nước luôn quan tâm, thường hỗ trợ nguồn học bổng hay miễn, giảm học phí, cấp học phẩm cho những hộ gia đình này Do
đó, hệ số 9 của biến này được kì vọng là âm với chi tiêu cho giáo dục và hệ số
α8 kỳ vọng dương với trợ cấp giáo dục
Trang 34+ TTHUNHAP: là biến thể hiện tổng thu nhập của hộ gia đình Gia đình
có nguồn thu nhập cao thì mức sống của họ sẽ cao nên có nhiều điều kiện và khả năng chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn gia đình có nguồn thu nhập thấp Bên cạnh đó, những hộ này sẽ không được Chính phủ trợ cấp, bởi lẽ thu nhập
và mức sống của hộ đã được ổn định Do đó, hệ số 10 của biến này được kì vọng là dương với chi tiêu cho giáo dục và hệ số α9 kỳ vọng âm với trợ cấp giáo dục
+SNAMDIHOC/SNUDIHOC: là biến thể hiện số nam hoặc nữ đi học trong hộ Nếu trong gia đình có càng nhiều người tham gia đi học thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều và hơn nữa có đi học sẽ nhận được trợ cấp giáo dục
Do đó, hệ số α10 ;α11 của 2 biến này được kỳ vọng là dương với trợ cấp giáo dục
Bảng 2.1: Tóm tắt dấu kỳ vọng của các biến trong mô hình 1 và mô hình 2
hình 1
Mô hình 2
TROCAP
Là biến trợ cấp, đây là biến giả và biến này nhận giá trị
1 nếu hộ gia đình nhận trợ cấp, nhận giá trị 0 nếu hộ không nhận trợ cấp
Có = 1 Không = 0
-
HỌCTHEM
Là biến học thêm, đây là biến giả và biến này nhận giá trị 1 nếu người học có học thêm, nhận giá trị 0 nếu người học không có thêm
Có = 1 Không = 0
GIOITINHCH
Là biến giới tính của chủ hộ
Biến này nhận giá trị là 1 nếu chủ hộ là nam, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ
Nam =1
TSONGUOI Là biến thể hiện các thành
TUOICH Là biến thể hiện tuổi của
Trang 35Ký hiệu Diễn giải Đơn vị tính Mô
hình 1
Mô hình 2
HVANCH
Là biến trình độ học vấn chủ
hộ và được giả định như sau: nếu 0 là chưa hết lớp 1 hoặc không đi học (không
có bằng cấp); 1-12 là từ 1 đến lớp 12; 13 là giáo dục nghề nghiệp; 14 là cao đẳng;
15 là đại học; 16 là sau đại học Nếu trình độ học vấn cha mẹ càng cao thì các thành viên trong gia đình sẽ được học nhiều hơn nên có trình độ học vấn cao hơn và ngược lại
NGHEO
Là biến thể hiện hộ gia đình nghèo và có giá trị là 1 nếu gia đình nghèo, ngược lại có giá trị là 0
Nghèo = 1
DANTOC
Là dân tộc của chủ hộ, có giá trị là 1 nếu dân tộc thuộc chủ hộ Kinh và 0 nếu ngược lại
Kinh = 1 Khác = 0
là 0 nếu người học sống ở nông thôn
Thành thị = 1 Nông thôn = 0
Trang 36CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TRỢ CẤP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA NGƯỜI DÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG
3.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH
TẾ XÃ HỘI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
3.1.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Cửu Long (còn gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc
miền Tây Nam Bộ) nằm ở cực Nam của Tổ quốc Có vị trí nằm liền kề với
vùng Đông Nam Bộ, phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp Campuchia, phía Đông Nam giáp biển Đông, phía Tây Nam giáp biển Đông và vịnh Thái Lan; là một trong những đồng bằng lớn, phì nhiêu của vùng Đông Nam Á và thế giới Vùng bao gồm 12 tỉnh và có 1 thành phố trực thuộc Trung ương
ĐBSCL là một trong những đồng bằng lớn của Việt Nam, là vùng đất màu mỡ phì nhiêu, và được phù sa bồi tụ hằng năm nhờ vào hệ thống sông ngòi chằn chịt, có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước Đồng thời, ĐBSCL cũng có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội cả nước, hợp tác đầu tư và giao thương giữa các tỉnh trong vùng, với miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, với các
nước bạn trong khu vực và thế giới
3.1.1.2 Khí hậu và thủy văn
Khí hậu: Mang tính chất khí hậu cận xích đạo Tổng giờ nắng trung bình
từ 2.200-2.700 giờ Nhiệt độ cao, ổn định với nhiệt độ trung bình năm 250-270
C Lượng mưa lớn từ 1.400mm-1.800mm tập trung vào các tháng mùa mưa (tháng 5-tháng 11) Đây là vùng thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực
Thuỷ văn: Hệ thống sông ngòi dày đặc, kênh rạch lớn nhỏ đan xen, chủ
yếu là sông Cửu Long nên rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm, cộng với hàng nghìn km đường kênh rạch, cắt xẻ châu thổ thành những ô vuông,
Trang 37khiến giao thông trở nên dễ dàng Về mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, sông
Mê Công là nguồn nước mặt duy nhất Về mùa mưa, lượng mưa cao tập trung
ở vùng phía Tây và ở vùng trung tâm của khu vực và thấp ở vùng phía Đông
Về mùa lũ, thường xảy ra vào tháng 9, nước sông lớn gây ngập lụt
Chế độ thuỷ văn của ĐBSCL có 3 đặc điểm nổi bật:
+ Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, phù du
+ Nước mặn vào mùa khô ở vùng ven biển
+ Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn
+ Nhóm đất phèn: hằng năm thường bị ngập úng vì trũng Đất có độ phì thấp, rất chua, đặc trưng bởi độ axit cao, nồng độ độc tố nhôm tiềm tàng cao
và thiếu lân Phân bố ở Đồng Tháp, tứ giác Long Xuyên, Tây Hậu Giang Nhóm đất này cũng bao gồm cả các loại đất phèn nhiễm mặn nặng và trung bình
+ Nhóm đất mặn ven biển: Chịu ảnh hưởng của nước mặn trong mùa khô (bản chất là đất phù sa bị nhiễm mặn do triều dâng), phân bố ở ven biển từ Gò Công qua Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau đến Kiên Giang Các vùng đất này khó có thể được cung cấp nước ngọt Hiện nay lúa được trồng vào mùa mưa
và ở một số khu vực người ta nuôi tôm trong mùa khô
Đặc biệt, khó khăn vướng phải là khi khai thác 2 nhóm đất: nhóm đất phèn và nhóm đất mặn, vì đất thiếu dinh dưỡng, nhất là các nguyên tố vi lượng, đất quá chật, khó thoát nước
+ Các loại đất khác: Gồm đất than bùn (vùng rừng U Minh), đất xám trên phù sa cổ (cực Bắc của ĐBSCL) và đất đồi núi (phía Tây Bắc của ĐBSCL) Tài nguyên sinh vật: Rừng ngập mặn ven biển (rừng tràm, đước…) Vườn chim tự nhiên nổi tiếng ở Ngọc Hiển, Cái Nước, Vĩnh Lợi, U Minh… Rừng ngập mặn còn là địa bàn để nuôi tôm, cá ven bờ, chắn sóng, bồi đắp phù
sa mở rộng đồng bằng
Trang 38Tài nguyên biển: Có 736 km bờ biển với nhiều cửa sông, chứa đựng nguồn hải sản thuộc loại lớn nhất cả nước Trữ lượng tôm chiếm 50% của toàn quốc
Khoáng sản: Có đá vôi ở Hà Tiên, than bùn ở Cà Mau, dầu khí có triển vọng, phân bố ở thềm lục địa giáp biển Đông và vịnh Thái Lan Quan trọng nhất là có các triển vọng về dầu khí trong thềm lục địa như bể trầm tích Nam Côn Sơn khoảng 3 tỉ tấn dầu, bể trầm tích Cửu Long dự báo khoảng 2 tỷ tấn Ngoài ra, khu vực còn có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi
3.1.2 Đặc điểm về xã hội
3.1.2.1 Dân số
Đến cuối năm 2012, dân số trung bình nước ta ước tính đạt khoảng 88,77 triệu người, tăng 1,06% so với năm 2011 bao gồm: dân số nam là 49,92 triệu người, tăng 1,09%; dân số nữ 44,86 triệu người, tăng 1,04% Trong đó, ĐBSCL có dân số trung bình khoảng trên 17,39 triệu người (chiếm khoảng 19,6% dân số cả nước), chỉ đứng sau Đồng bằng sông Hồng với dân số trung bình gần 20,23 triệu (chiếm khoảng trên 22%) và cao gấp hơn 3 lần so với Tây Nguyên ĐBSCL với diện tích tự nhiên toàn vùng trên 40,55 nghìn km2 (chiếm khoảng trên 12% diện tích cả nước)và mật độ dân số của vùng khá cao 429 người/km2,, đứng vị trí thứ 3 sau Đồng bằng sông Hồng (961 người/km2) và Đông Nam Bộ (644 người/km2) (Niên giám thống kê, 2012)
Về quy mô dân số, An Giang là tỉnh đứng đầu khu vực với 2.153,7 nghìn người, kế đến là các tỉnh Kiên Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang; thấp nhất là tỉnh Hậu Giang với 769,7 nghìn người Dân số tình An Giang cao gấp 2,8 lần
so với dân số tỉnh Hậu Giang Bên cạnh đó, mặc dù diện tích tỉnh An Giang ít hơn tỉnh Kiên Giang và tỉnh Long An nhưng số dân ở An Giang lại cao nhất Điều này cho thấy cơ cấu dân số của vùng phân bố chưa hợp lý
Về mật độ cư trú, thành phố Cần Thơ có mức độ tập trung dân cư đông nhất cả vùng với 862 người/km2, thấp nhất là tỉnh Cà Mau, chỉ với 230
người/km2 Dân số nam của vùng vào năm 2012 là 8.646,3 nghìn người (chiếm khoảng 19,84% tổng dân số nam của cả nước) và dân số nữ là 8.744,2 nghìn người (chiếm 19,63% tổng dân số nữ của cả nước) Ngoài ra, dân số của vùng ở nông thôn là 13.123,8 nghìn người, chiếm 75,73% dân số toàn vùng Điều này cho thấy rõ vùng ĐBSCL dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn Được đánh giá thông qua bảng 3.1 sau:
Trang 39Bảng 3.1: Dân số trung bình, diện tích và mật độ dân số cụ thể ở ĐBSCL
năm 2012
Tỉnh Dân số trung bình
(Nghìn người)
Diện tích (Km 2 )
Mật độ dân số (Người/km 2 )
Nguồn: Niên giám thống kê, 2012
3.1.2.2 Cơ cấu lao động
Nhìn chung, ĐBSCL là vùng có dân số khá đông, lao động khá trẻ, nguồn nhân lực dồi dào Nguồn lao động dồi dào hầu hết là ở độ tuổi thanh niên và trung niên Nếu đội ngũ này được chăm lo tốt về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần và được trang bị kỹ thuật tốt thì có thể đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng ổn định lâu dài Chính điều kiện này sẽ góp phần thu hút được nguồn vốn từ nước ngoài đổ xô vào khu vực với các dự án đầu tư, kinh doanh
và sản xuất; đồng thời sẽ tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp họ trao dồi kỹ năng, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao tay nghề trong sản xuất Đặc biệt là các sản phẩm từ nông nghiệp và thủy sản – thế mạnh của vùng Điều này được thể hiện qua hình 3.1 sau:
Trang 40Đơn vị tính: nghìn người
Nguồn: Niên giám thống kê, 2012
Hình 3.1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo từng khu vực
năm 2012Vào năm 2012, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của vùng khoảng 10.459,3 nghìn người (chiếm gần 19,9% tổng dân số trong độ tuổi lao động của cả nước) đứng thứ ba sau Đồng bằng Sông Hồng (chiếm khoảng 22,45% tổng dân số trong độ tuổi lao động của cả nước), Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung với khoảng 11.352,3 nghìn người (chiếm trên 21% tổng dân số trong độ tuổi lao động của cả nước)
Nguồn: Niên giám thống kê, 2012
Hình 3.2: Cơ cấu (%) lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo từng khu vực
năm 2012