1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ

19 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ

Trang 1

MỤC LỤC

A Lời mở đầu 2

B Nội dung 4

Chương I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA .4

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4

1.2 Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay 7

Chương 2 VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 8

2.1 Khái niệm con người 8

2.2 Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay 9

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 13

3.1 Chất lượng nguồn lực con người Việt Nam – Thế mạnh và hạn chế 13

3.2 Một số giải pháp phát huy vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 15

C Kết luận 18

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

Trong các quan niệm trước đây ở nước ta về quá trình công nghiệp hóa, vai trò của con người mặc dù đã được đề cao ở mức độ đáng kể, song con người với tất cả tiềm năng, hiện trạng và sức mạnh của nó thì lại chưa được nhìn nhận như là nguồn lực của bản thân quá trình công nghiệp hoá Do vậy, trên thực tế trong một thời gian tương đối dài con người đã vô tình bị đặt ra ngoài hệ thống các nguồn lực nội tại của sự phát triển Đây là một trong những nguyên nhân làm cho quá trình công nghiệp hóa trước đây thiếu động lực và đạt được kết quả rất hạn chế

Ngày nay, do sự tác động chi phối bởi những đặc điểm mới của thời đại và

do những nhu cầu của sự phát triển đất nước , cùng với những bài học rút ra từ thực tế và kinh nghiệm của nhiều nước, quá trình công nghiệp hóa trong thực tiễn cũng như trong lý luận đã có những thay đổi đáng kể về nội dung và giải pháp Vị trí và đặc điểm của các nguồn lực của công nghiệp hoá hiện đại hóa cũng được nhìn nhận lại, trong đó con người vừa là nguồn lực nội tại , cơ bản quyết định sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá , vừa là đối tượng mà chính quá trình công nghiệp hóa ,hiện đại hoá phải hướng vào phục vụ Với tính cách là nguồn lực quyết định sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nguồn lực con người thể hiện vai trò ở cả phương diện là chủ thể vừa ở là phương diện là khách thể của quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hóa Là chủ thể con người khai thác,

sử dụng nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá Là khách thể con người trở thành đối tượng được khai thác triệt để cho sự thành công của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá , đồng thời chính con người là đối tượng hưởng thụ những thành quả của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá Vì vậy ngày nay con người được coi là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên, giữ vị trí trung tâm trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa Được sự giúp đỡ của,

em xin chọn đề tài: “Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước”.

II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

- Nêu rõ vai trò của con người với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

- Đề xuất những giải pháp để phát huy vai trò của con người trong quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 3

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

- Đối tượng nghiên cứu : Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

- Phạm vi nghiên cứu :

+ Về nội dung : Tiểu luận tập trung nghiên cứu vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Về không gian : Tiểu luận tập trung nghiên cứu vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Tiểu luận vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: phân tích

và tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê so sánh…

V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Bài tiểu luận chia làm 3 chương :

Chương I : Khái quát về công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2 Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay

Chương II : Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.1 Khái niệm con người

2.2 Con người – Yếu tố quyết định quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chương III : Một số giải pháp phát huy vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

3.1 Chất lượng nguồn lực con người Việt Nam – Thế mạnh và hạn chế 3.2 Một số giải pháp phát huy vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Cho đến nay tất cả những lý thuyết phát triển đều không thể bỏ qua một trong

những nội dung chủ yếu của nó đó là công nghiệp hóa.Vậy công nghiệp hoá là

gì? Và những nước đang phát triển như nước ta cần phải tiến hành công nghiệp hoá?

Mặc dù thuật ngữ và cả thực tiễn công nghiệp hoá không còn mới mẻ, nhưng cho đến nay khái niệm công nghiệp hoá vẫn là một nội dung có tính thời sự được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trao đổi Có tới hàng chục định nghĩa vể công nghiệp hoá được đưa ra trong những thời điểm khác nhau ở các nước tiến hành công nghiệp hoá

Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “ công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp ” Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ

Nghiên cứu định nghĩa phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên

Xô (cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “ công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến” Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã được chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của nước ta

Trong cuốn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và các nước trong khu vực ( Pham Khiêm Ích, Nguyễn Đình Phan NXB Thống Kê, 1995, tr 59 )đã

định nghĩa: “Công nghiệp hoá là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác

có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ quốc tế xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng hiện đại” Định nghĩa này có phạm vi bao quát khá rộng bao gồm tất cả những kết quả mà công nghiệp hoá mang lại nhưng chưa làm nổi bật nội dung căn bản của công nghiệp hoá

Nhận thức rõ sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đến quá trình công nghiệp hoá ngày nay, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành

Trang 5

Trung Ương khoá VII của Đảng đã xem xét công nghiệp hoá trong mối quan hệ với hiện đại hoá và cho rằng, “công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ

tạo ra năng suất lao động xã hội cao.” (Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, H 1994, tr

42) Định nghĩa trên về cơ bản phản ánh được phạm vi rộng lớn của quá trình công nghiệp hoá, chỉ ra được cái cốt lõi là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động

xã hội cao, gắn được công nghiệp hoá với hiện đại hoá, xác định được vai trò của công nghiệp và khoa học – công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất

với nhau Theo nghĩa của từ, hiện đại hoá là làm cho một cái gì đó mang tính

chất của thời đại ngày nay Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân làm cho kỹ thuật

và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế đạt được trình độ tiên tiến của thời đại, đây chính là khía cạnh kinh tế kỹ thuật của hiện đại hoá Phải nói rằng đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh bao quát hết nội dung phức tạp của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phù hợp với thời đại ngày nay là rất khó Các học giả ở trong nớc và nước ngoài cho đến nay vẫn chưa nhất trí hoàn toàn với nhau

về bất cứ định nghĩa nào đã từng được đưa ra Song trong điều kiện hiện nay quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá dù từ góc độ nào cũng không đồng nhất với quá trình phát triển công nghiệp

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình rộng lớn và phức tạp, nó bao gồm những mặt cơ bản sau:

- Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình trang bị và trang bị lại

công nghệ hiện đại cho tất cả các nghành kinh tế quốc dân, trước hết là nghành chiếm vị trí trọng yếu Lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hóa gắn liền với các cuộc cách mạng về kỹ thuật và công nghệ.Do vậy ngày nay trong quá trình công nghiệp hoá việc trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại hoá ở cả phần cứng lẫn phần mềm của công nghệ

- Thứ hai,quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ liên quan đến

phát triển công nghiệp mà là quá trình bao trùm tất cả các nghành các lĩnh vực hoạt động của một nước, nó thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý , cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực và lợi thế của đất nước Đó là điều tất yếu

Trang 6

vì nền kinh tế của mỗi nước là một thể thống nhất , các nghành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ biện chứng với nhau Sự thay đổi ở nghành kinh tế, lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo hoặc đòi hỏi sự thích ứng ở các nghành các lĩnh vực hoạt động khác và ngược lại.Vì thế quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình phân công lại lao động xã hội với những đặc điểm có tính quy luật Cùng với sự phân công lại lao động xã hội, cơ cấu kinh tế mới cũng dần dần đựoc hình thành và vị trí của các nghành cũng thay đổi

- Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là

quá trình kinh tế - xã hội Công nghiệp hoá tác động đến mọi lĩnh vực xã hội từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất từ cơ sở thượng tầng đến kiến trúc thượng tầng Việc thực hiện có hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, thấp kém vế kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi vòng luẩn quẩn nghèo nàn lạc hậu

- Thứ tư, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình

mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.Trong điều kiện ngày nay nền kinh tế của một nước sẽ không thể tăng trưởng và phát triển mạnh nếu rơi vàotình trạng “đóng cửa”, “ bế quan toả cảng” không có được các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài

- Thứ năm, công nghiệp hoá, hiện đại hoá không phải là mục đích tự thân mà

là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu phát triển mỗi nước Tinh phổ biến của công nghiệp hoá, hiện đại hoá thể hiện ở nhiều khía cạnh Một

là, bản thân công nghiệp hoá, hiện đại hoá là hiện tượng có tính phổ biến, nghĩa

là để từ hém phát triển trở thành phát triển, từ lạc hậu trở thành tiên tiến hiện đại, các nước đều phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hai là, mặc dầu nội dung cáchthức bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tính đặc thù tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và bối cảnh quốc tế ở từng thời kỳ, nhưng những nội dung cơ bản nói lên thực chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại có những nét chung

Tóm lại, từ những vấn đề phân tích ở trên, có thể rút ra kết luận khái quát về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong điều kiện ngày nay, bản chất của công nghiệp hóa hiện đại hoá là quá trình cải biến lao động thủ công lạc hậu thành sử dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại nhằm phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý để đạt tới năng suất lao động xã hội cao, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hóa dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ

Trang 7

1.2 Những đặc điểm cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay.

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng Trong bối cảnh đó, mô hình công nghiệp hóa hỗn hợp theo hướng hội nhập quốc

tế tỏ ra có triển vọng hơn cả, đang được nhiều nước thực hiện ở những mức độ khác nhau Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta về cơ bản cũng đang vận đọng theo mô hình công nghiệp hoá đó Do vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay có những đặc điểm mới so với trước đây:

-Thứ nhất, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa; kết hợp công nghệ

truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hóa ở

những khâu quyết định

- Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thực hiện trong điều kiện kinh

tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, láy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản

- Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân của tất cả

thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo

- Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với việc xây dựng nèn kinh

tế mở

- Thứ năm, khoa hoc – công nghệ được xác định là nền tảng và động lực của

công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thứ sáu, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải láy việc phát huy nguồn lực

con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bèn vững; công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn với phát triển bền vững

Tóm lại, công nghiệp hoá là hiện tượng có tính quy luật phổ biến, là quá trình tất yếu mà các nước đang phát triển sớm hay muộn phải trải qua Những đặc điểm cơ bản trên đây của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho tháy giờ đay con người được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ; công nghiệp hoá, hiện đại hoá do con người và vì con người; con người không chỉ là chủ thể mà còn là khách thể cần được khai thác triệt để trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá, là đối tượng mà chính quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải hướng vào phục vụ

Trang 8

CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC 2.1 Khái niệm con người.

Con người là sinh vật có tính xã hội Đối với Mác “con người không phải

là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới” Đó là những con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có những quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát triển của văn minh

Các Mác viết “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu

cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta thấy Mác muốn nói bản chất con người, một sự trừu tượng khoa học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể, từ thuộc tính của con người hiện thực, thế hệ này qua thế hệ khác, bản chất con người được thể hiện và chỉ có thể được thể hiện thông qua tổng thể các quan

hệ xã hội Muốn tìm bản chất con người thì phải tìm ở bên trong chứ không phải

ở bên ngoài đời sống hiện thực của con người Luận đề của Mác không làm mất

đi tính cá nhân, khẳng định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con người Nếu đứng trên quan điểm sinh vật học mà xét thì không thể hiểu được chẳng những thực chất của con người, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con người,

từ khi quá trình nguồn gốc loài người kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều được hướng dẫn bởi ảnh hưởng quyết định của văn hoá: khả năng đối xử có tính người đối với thế giới và đối với những người khác, khả năng lao động, giao tiếp với những người chung quanh, khả năng tư duy, có những tình cảm đạo đức

và những xúc cảm thẩm mỹ, tất cả những cái đó đều không phải là đặc tính của

cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội, tiêu biểu cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể của nó Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội (lao động, hoạt động) Chính trong quá trình này con người đã tự sáng tạo ra bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản thân với tư cách là con người Tiêu chuẩn lịch sử cho phép người ta phân biệt con người- đó

là sản xuất ra công cụ lao động cũng bằng chính công cụ Đồng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện của văn hoá con người là giới tự nhiên mà con người dùng để xây dựng nền văn hóa của mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng

Trang 9

tạo Con người xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình Chính

vì vậy, con người hoàn toàn mang tính xã hội

2.2 Con người – Yếu tố quyết định quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con người-yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội mới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại

Vai trò quyết định đặc điểm của con người biểu hiện ở những đặc điểm sau:

2.2.1 Nguồn lực con người trong mối quan hệ với các nguồn lực khác.

Như chúng ta đã biết yếu tố giữ vai trò chi phối quyết định đến sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và lực lượng sản xuất hay nói cách khác gồm yếu tố con người và yếu tố vật của quá trình sản xuất Yếu tố vật ở đây gồm tư liệu lao động

và đối tượng lao động Tuy nhiên, yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là yếu tố con người Về điều này, Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì mình tư liệu lao động, dù là tư liệu cơ giới hay hay bất kì tư liệu nào khác cũng không đủ mà cần có con người

có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó Do bản chất hoạt động con người là lao động sáng tạo và để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, con người không ngừng cải tiến và sáng chế ra những tư liệu lao động mới có năng suất và hiệu quả hơn đồng thời liên tục mở rộng phạm vi đối tượng lao động, tạo ra thiên nhiên thứ hai phong phú.Cùng với điều đó tri thức của người lao động cũng không ngừng được nâng cao Như vây với tư cách là một lực lượng sản xuất con người giữ vai trò quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất quyết định toàn bộ quá trính sản xuất của xã hội dúng như Lênin đã khẳng định:“Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” (V.I.Lênin : Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1979,tập 12, trang430)

Xem xét dưới góc độ nguồn lực, trong mối quan hệ với các ngồn lực khác nguồn lực con người cũng tỏ rõ vai trò quyết định của mình Điều này thể hiện ở chỗ các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các nguồn lực

Trang 10

khác là những khách thể, chịu sự cải tao khai thác của con người và hết thảy chúng đều phục vụ lợi ích, nhu cầu của con người nếu con người biết tác động và khai thác chúng

Các nguồn lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đều quan trọng nhưng xét đến cùng nếu thiếu sự hiện diện của trí tuệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa, thậm chí ngay cả khái niệm nguồn lực cũng không còn lý do gì để tồn tại : “ cho dù có đủ các nguồn lực khác mà không

có những con người tương xứng, đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó và nếu không có một môi truờng kinh tế, chính trị, xã hội, tâm ly và dư luận xã hội thuận lợi cho con người hành động thì vị tất đã có thể đạt được sự phát triển

mong muốn” (Nguyễn Trọng Chuẩn (1990), Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000, Tạp chí Triết học( số 4)) Sự khẳng

định này không chỉ nói lên vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác mà còn phản ánh một đặc điểm quan trọng của nó, đó là: nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất mà nhờ nó các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và có ý nghĩa tích cực đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với ý nghĩa đó nguồn lực con người là yếu

tố tất yếu không thể thay thế được Tuy nhiên cần lưu ý rằng trong khi nhấn mạnh vai trò quyết định của nguồn lực con người chúng ta không bao hìơ được tuyệt đối hoá nó, không được tách rời nguồn lực con người ra khỏi mối quan hệ hữu cơ với nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác, không được đặt nó ở bên ngoài những điều kiện lịch sử hiện thực

2.2.2 Tiềm năng của trí tuệ

Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt trong khi đó nguồn lực con người mà cái cốt lõi là trí tụê, lại có tiềm năng vô tận Tiềm năng

vô tận của trí tuệ con người thể hiện ở chỗ nó có khả năng tự sản sinh , đổi mới

và phát triển không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó chính là lý do làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận, xem xét trên phạm vi cộng đồng nhân loại Tiềm năng vô tận của trí tuệ có cơ sở ở cả phương diện sinh học lẫn phương diễnã hội của con người

Ở khía cạnh sinh học, tiềm năng đó trước hết thể hiện ở cơ chất của bộ não người - một dạng vật chất phát triển cao nhất được rổ chức theo một cách thức đặc biệt mà đặc trưng nổi bật của nó là năng lực sáng tạo Đó là một trong những thuộc tính cơ bản phản ánh bản chất con người Nhờ năng lực sáng tạo này mà khối lượng tri thức của loài người không ngừng gia tăng gấp bội và ngày nay đang diễn ra sự bùng nổ thông tin tri thức

Ngày đăng: 09/10/2015, 11:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w