Công đức của Nguyễn Văn Siêu đối với các công trình văn hóa - lịch sử của Thăng Long còn được nhân dân ghi nhớ: "Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên, T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN VĂN ĐỨC
CHÂN DUNG CON NGƯỜI VĂN HÓA
NGUYỄN VĂN SIÊU QUA SÁNG TÁC THƠ CA CỦA ÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TÍNH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Tính Cô
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu cũng như luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành khoá luận
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tính Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác
giả khác Tôi xin cam đoan rằng:
Khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Mọi tư liệu trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Đức
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của khóa luận 6
6.1 Về lý luận 6
6.2 Về thực tiễn 6
7 Bố cục của khóa luận 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: Những vấn đề chung 8
1.1 Tác giả Nguyễn Văn Siêu 8
1.1.1 Cuộc đời 8
1.1.2 Sự nghiệp trước tác 15
1.1.3 Quan điểm sáng tác 17
1.2 Tác phẩm Phương Đình Thi tập 18
1.2.1 Phương Đình Vạn lý tập 18
1.2.2 Phương Đình Anh ngôn thi tập 19
1.2.3 Phương Đình Lưu lãm tập 19
1.2.4 Phương Đình Mạn hứng tập 20
Trang 5Chương 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn thế kỷ XIX 21
2.1 Nguyễn Văn Siêu - người có vốn hiểu biết uyên bác 21
2.1.1 Nguyễn Văn Siêu - nhà địa lý học 21
2.1.2 Nguyễn Văn Siêu - nhà sử học 25
2.1.3 Nguyễn Văn Siêu - nhà xã hội học 30
2.2 Nguyễn Văn Siêu - người khởi xướng phong trào chấn hưng văn hóa Thăng Long 36
2.2.1 Nguyễn Văn Siêu và sự nghiệp chấn hưng văn hóa giáo dục của Thăng Long 36
2.2.2 Nguyễn Văn siêu và khu quần thể di tích đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài Nghiên 40
2.3 Nguyễn Văn Siêu - nhà văn hóa có tâm với nhân dân, với đất nước 45
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 6Dẫu biết đây là lối nói “thậm xưng" của người đời ưu ái dành cho bốn nhà thơ tài danh trên nhưng qua đó ta cũng thấy được tầm vóc nhất định của
họ trong lịch sử văn học dân tộc thế kỷ XIX
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu không chỉ là “Thần Siêu” văn học, mà còn là một thầy giáo, một nhà văn hóa có nhiều công lao thiết thực đối với Thăng Long - Hà Nội Công đức của Nguyễn Văn Siêu đối với các công trình văn hóa - lịch sử của Thăng Long còn được nhân dân ghi nhớ:
"Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn Hỏi ai xây dựng nên non nước này…"
Ông là người có trách nhiệm với dân với nước, là người thầy uyên bác đức độ, là nhà văn hóa luôn luôn giữ gìn truyền thống và là tác gia với sự nghiệp trước tác khá đồ sộ Cuộc đời phong phú, phức tạp, chứa đựng đầy những biến cố, thăng trầm thăng chức rồi lại bị giáng chức của ông đã làm tốn không ít giấy mực của các sử gia, các nhà nghiên cứu, các chính khách và rất nhiều người ở các lĩnh vực khác nhau Nghiên cứu về chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua sáng tác thơ ca của ông sẽ góp phần giúp giải
Trang 7mã được những bí ẩn trong cuộc đời và tâm hồn của nhân vật lịch sử đặc biệt này
Là một sinh viên khoa Ngữ Văn và là một giáo viên dạy Văn trong tương lai thì việc hiểu biết sâu rộng về văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng là vô cùng cân thiết, đây sẽ là cơ sở để bổ trợ cho công việc học tập và giảng dạy sau này
2 Lịch sử vấn đề
Nói về Phương Đình Nguyễn Văn Siêu - một người tài năng, trí tuệ được người đời đương thời tôn vinh như thần Đương thời đều tôn trọng ông Tới tuổi già rút lui, ông thích bảo ban kẻ hậu học mà giảng giải ngay thẳng chỗ giống chỗ khác, lấy nghĩa lí làm chủ Đó là những nét lớn về hành trạng, phẩm giá cũng như tài năng của “Thần Siêu” Nguyễn Văn Siêu là một nhà Nho tiêu biểu của thế kỉ XIX
Lâu nay việc nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu công bố những tác phẩm của Nguyễn Văn Siêu được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên với khối lượng tác phẩm văn thơ đồ sộ của ông thì số tác phẩm đã dịch, giới thiệu còn khá ít
ỏi, tản mát Việc dịch và công bố các tác phẩm của Nguyễn Văn Siêu dường như mới chỉ tập trung vào mảng văn mà chưa khai thác hết những tinh túy trong thơ ông Đây là sự thiếu hụt trong quá trình tìm hiểu về một trí thức lớn, uyên bác, một nhà giáo gương mẫu, một nhà khảo cứu nghiêm túc, một nghệ
sĩ có tâm hồn nhạy cảm, đáng trân trọng của đất Kinh Kỳ
Ở Việt Nam, PGS Trần Lê Sáng - người có nhiều năm nghiên cứu về
danh nhân Nguyễn Văn Siêu, trong công trình nghiên cứu Danh nhân Nguyễn
Văn Siêu - Cuộc đời và văn nghiệp, Nxb Hà Nội, đã khẳng định Nguyễn Văn
Siêu là “một con người xuất chúng, một đại nhân đã để lại cho đất nước, trong muôn đời một đại bút Con người đó lúc còn trẻ đi học, học giỏi đến mức thần đồng (…) Ông là nhà Nho, hành xử theo Đạo, song cũng tự tin và ngang
Trang 8tàng, dám khen cái người khác không dám khen, dám chê cái người khác không dám chê Ông đích thực là một nhà văn lớn, một nhà thơ lớn của nước
ta Với ông, viết chỉ vì trách nhiệm, vì hứng thú, không vì danh Ông là một bậc Danh Nho - nghệ sĩ Ông sống là người nhân đức Ông mất là Thành Hoàng làng” Điều này được tác giả Lê Sáng dẫn từ một đoạn trong bài văn
Bia Thần đạo ở lăng Tiên sinh Phương Đình của Đại học sĩ Nguyễn Trọng
Hợp viết cách ngày nay 105 năm về Phương Đình Nguyễn Văn Siêu: “Thiết nghĩ, Tiên sinh là người mà tôi ngưỡng vọng, công đức của Tiên sinh phải được truyền mãi cho đời sau; nhưng chúng tôi là người ngu tối, không thể biết hết công đức ấy, dù chỉ trong muôn một…” [44; tr.67- 68]
Trong bài viết Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) - Một tài năng kiệt xuất,
một con người xuất chúng đăng vào ngày 20 tháng 8 năm 2014 trên trang thông tin điện tử Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật, Phạm Khanh viết:
“Một cuộc đời dài cống hiến không mệt mỏi, Nguyễn Văn Siêu - một trong những trí thức Nho học uyên bác, đạo đức trong sáng, một nhà giáo có tâm, một nhà kiến trúc tinh tế, một thi sĩ có tâm hồn đồng cảm với người dân nghèo lam lũ xứng đáng nhận được sự tôn vinh, nể trọng của người đương thời và hậu thế Ghi nhận công lao của ông, Đảng và Nhà nước đã lấy tên Nguyễn Văn Siêu (hay Nguyễn Siêu) để đặt tên cho nhiều đường phố ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn… và nhiều trường học ở các tỉnh, thành phố trong cả nước” [34; tr 1- 2] Từ đó tác giá đánh giá Nguyễn Văn Siêu là một
vị quan chính trực và thiên lương; một nhà văn hóa có tâm, có tầm; một nhà kiến trúc tài năng
Mai Thục trong bài Thần Siêu Thánh Quát đăng tải trên trang web:
newvietart.com ở hải ngoại cũng viết: “Lượng sức mình Biết lòng mình yêu
văn hóa, trí tuệ, muốn dùng tri thức soi sáng muôn dân, xây nền hòa bình, bác
ái lòng dân tộc, Nguyễn Văn Siêu đứng ra sử sang ngôi đền Ngọc Sơn, bắc lại
Trang 9nhịp cầu Thê Húc, đắp núi Độc Tôn và xây trên đó ngọn Tháp Bút năm tầng Ngòi bút nhọn vươn thẳng lên trời cao, thênh thang chamh tới mặt trời, trăng sao, vũ trụ, với ba chữ “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh) Ba chữ đó như
sự thách đố cung đình Nó khẳng định học vấn và trí tuệ sẽ dẫn con người vươn tới hạnh phúc, áo cơm, độc lập, tự cường, dân chủ, văn minh…” [53; tr.405 - 406]
Như vậy chúng ta có thể thấy tất cả những công trình trên mới chỉ chủ yếu đánh giá Nguyễn Văn Siêu từ chức vị đến cống hiến của ông Ông là một
vị quan thanh liêm, chính trực, có nhiều công lao đóng góp cho sự phát triển của đất nước Còn qua thơ của ông, TS Nguyễn Thị Thanh Chung - Trường ĐHSP Hà Nội, Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc là những người có rất nhiều công trình nghiên cứu không chỉ về cuộc đời, con người mà còn nghiên cứu cả về tác phẩm thơ văn Nguyễn Văn Siêu Tuy nhiên, ở TS Nguyễn Thị Thanh Chung thì chân dung nhà văn hóa Nguyễn Văn Siêu được làm sáng tỏ
chủ yếu qua tập thơ Vạn lí tập nhờ việc nghiên cứu, phân tích tứ thơ, hình ảnh biểu tượng Còn ở các tập thơ khác: Anh ngôn thi tập, Mạn hứng tập, Lưu lãm
tập,… thì chủ yếu tập trung nghiên cứu, khai thác trên phương diện: nội dung,
nghệ thuật, bút pháp, thể loại Và cô đã rất thành công trong việc nghiên cứu,
khảo sát các thể loại thơ văn trong tập thơ Phương Đình Thi tập đồ sộ của
Nguyễn Văn Siêu
Còn đối với Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc: Theo Danh nhân Hà
Nội, Vũ Khiêu (Cb), Nxb Hà Nội, 2004, tr.591- 600, Tạp chí Văn học cũng đã
nghiên cứu và bước đầu làm rõ chân dung con người văn học Nguyễn Văn
Siêu qua hai tập thơ: Anh ngôn thi tập, Mạn hứng tập Thông qua hai tác
phẩm này tác giả Nguyễn Vinh Phúc cũng đã tìm hiểu, đúc kết cho ta thấy những việc làm văn hóa mà Nguyễn Văn Siêu đã làm khi cáo quan về quê mở trường dạy học Từ đó ông đã có đánh giá về nhân vật lịch sử này như sau:
Trang 10“Nguyễn Văn Siêu xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học
và văn hoá Việt Nam thế kỷ XIX” [41; tr 600]
Qua những bài viết về Nguyễn Văn Siêu đã giúp chúng ta hiểu thêm rất nhiều về con người cũng như thơ ca của ông Kế thừa những thành quả, thông tin trong việc nghiên cứu con người và thơ văn Nguyễn Văn Siêu dưới nhiều góc độ của các bậc tiền bối tôi tiếp tục phát triển chủ để thông qua việc đi sâu tìm hiểu, khám phá chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua sáng tác thơ ca của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Chuẩn bị các tư liệu cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu, giảng dạy thơ văn Nguyễn Văn Siêu cũng như bộ môn Văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XIX
- Góp thêm tiếng nói khẳng định tài năng văn chương, những công lao
mà nhà văn hóa Nguyễn Văn Siêu đã để lại cho dân tộc Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài này cần thực hiện những nhiệm
vụ như sau:
- Tập hợp các tài liệu liên quan đến Nguyễn Văn Siêu
- Tìm hiểu chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua bốn tập
thơ: Vạn lí tập, Anh ngôn thi tập, Lưu lãm tập, Mạn hứng tập
- Nhận xét, đánh giá về con người Nguyễn Văn Siêu thông qua các hành trạng, phẩm chất cũng như tài năng của ông
- Phân tích ý thơ, tứ thơ của một bài thơ tiêu biểu nằm trong Vạn lí tập,
Anh ngôn tập, Lưu lãm tập, Mạn hứng tập
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chân dung con người văn hóa Nguyễn Văn Siêu qua sáng tác thơ ca của ông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chủ yếu qua bốn tập thơ nằm trong bộ Phương Đình Thi
tập:
- Phương Đình Vạn lí tập (Trần Lê Sáng biên dịch)
- Phương Đình Anh ngôn thi tập (Phạm Vân Dung biên dịch)
- Phương Đình Lưu lãm tập (Lê Như Duy - Phạm Kỳ Nam biên dịch)
- Phương Đình Mạn hứng tập (Phạm Đức Duật biên dịch)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, căn cứ vào nội dung, yêu cầu của đề tài chúng tôi đã sử dụng lí thuyết thi pháp học và các phương pháp sau:
6.2 Về thực tiễn
- Khóa luận hướng tới giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về con người Nguyễn Văn Siêu - một tác gia văn học lớn thế kỷ XIX và hiểu rõ hơn về khu quần thể di tích đền Ngọc Sơn: Tháp Bút - Đài Nghiên - Cầu Thê Húc
Trang 12- Góp phần cho việc giảng dạy, học tập Nguyễn Văn Siêu ở các trường Cao đẳng, Đại học
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nguyễn Văn Siêu - Nhà văn hóa lớn của thế kỷ XIX
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề chung 1.1 Tác giả Nguyễn Văn Siêu
1.1.1 Cuộc đời
Nguyễn Văn Siêu tên khác là Định, tự Tốn Ban, thụy Chí Đạo, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư sĩ Ông là tác gia lớn trong thế kỉ XIX với những trước tác về lịch sử , địa lí, lịch sử, tư tưởng, thơ văn…
1.1.1.1 Năm sinh và năm mất
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Chung - Trường ĐHSP Hà Nội trong
bài viết Tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Văn Siêu đăng trên Tạp chí báo văn hóa
Nghệ An thì năm sinh của Nguyễn Văn Siêu được ghi chép chưa thống nhất Lược truyện các tác gia Việt Nam, Thơ đi sứ ghi năm 1795 (Ất Mão, năm
Cảnh Thịnh thứ 3 Tây Sơn) Quốc triều khoa bảng lục, Các nhà khoa bảng
Việt Nam, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam… ghi năm 1796
(Bính Thìn, năm Cảnh Thịnh thứ 4 triều Tây Sơn) Phương Đình Chí Đạo tiên
sinh thần đạo bi, Cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nét bút thần của Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử ghi năm 1799 (Kỉ Tị, năm Cảnh Thịnh thứ
7 triều Tây Sơn)
Năm sinh của Nguyễn Văn Siêu được ghi chép sớm nhất trong các tư
liệu chữ Hán nhưng Quốc triều khoa bảng lục ghi năm 1796 còn Phương
Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi ghi năm 1799 Theo tôi, năm sinh và mất
của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu được xác định trong bia thần đạo vì:
- Thời gian xuất hiện của tư liệu: Cả hai tư liệu này đều chính thức ra
đời năm Giáp Ngọ đời Thành Thái (1894) song Phương Đình Chí Đạo tiên
sinh thần đạo bi được công bố sớm hơn Quốc triều khoa bảng lục Thời gian
khắc của bia là Thành Thái Giáp Ngọ chính nguyệt- tháng Giêng năm Giáp
Trang 14Ngọ đời Thành Thái Thời gian khắc in của Quốc triều khoa bảng lục là Thành Thái Giáp Ngọ hạ- Mùa hạ năm Giáp Ngọ đời Thành Thái
- Tác giả của tư liệu: Nguyễn Trọng Hợp (1834 - 1902) soạn Phương
Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi, Cao Xuân Dục (1842 - 1923) soạn Quốc triều khoa bảng lục Nguyễn Trọng Hợp và Cao Xuân Dục đều là những nhà
Hán học nổi tiếng đương thời Nguyễn Trọng Hợp từng làm Văn minh đại học
sĩ, Cơ mật viện đại thần… Cao Xuân Dục cũng giữ chức Thượng thư Bộ Học Tuy nhiên, người soạn văn bia có mối quan hệ gần hơn với Nguyễn Văn Siêu Nguyễn Trọng Hợp và Nguyễn Văn Siêu đều thuộc họ Nguyễn tại Kim Lũ, một người ngành trưởng, một người ngành thứ Điều này được khẳng định
trong văn bia và các tư liệu khác như Thanh Trì Nguyễn thị phả đồ…
- Nội dung viết về Nguyễn Văn Siêu trong từng tư liệu: Quốc triều khoa
bảng lục khắc in ngắn gọn về từng nhân vật đỗ Đại khoa triều Nguyễn đến
năm 1898, trong đó ghi: “Nguyễn Văn Siêu, Hà Nội, Thọ Xương, Dũng Thọ, Bính Thìn, tứ thập tam Ất Dậu Cử nhân, Hưng Yên Án sát, giáng Thị độc công tịch Cư Hàn các, dĩ văn học danh cập môn đa sở thành lập, hữu Phương Đình thi văn tập hành thế” (Nguyễn Văn Siêu người Dũng Thọ, Thọ Xương,
Hà Nội, sinh năm Bính Thìn 1796, bốn mươi ba tuổi Năm Ất Dậu 1825 đậu
Cử nhân, làm Án sát Hưng Yên, giáng Thị độc công tịch, tại Viện Hàn lâm nổi danh văn chương và nhiều lĩnh vực khác, có Phương Đình thi văn tập) Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi đặt tại lăng mộ cho biết chi tiết hơn về cá tính, gia tộc, hành trạng và thời gian sinh của Nguyễn Văn Siêu Như vậy, với những lí do trên chúng ta có thể kết luận thời gian sinh và
mất của Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình Chí Đạo tiên sinh thần đạo bi
là chính xác: Nguyễn Văn Siêu sinh năm 1796, mất năm 1872
Trang 151.1.1.2 Quê hương và gia tộc
Nguyễn Văn Siêu sinh ra ở một làng khoa bảng Làng Lủ xưa gồm ba xóm lớn Lủ Cầu, Lủ Trung, Lủ Văn, sau phát triển thành ba làng Kim Giang, Kim Lũ, Kim Văn Đến cuối thời Lê, Kim Lũ thành một xã thuộc tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội Dù không nổi tiếng bằng Mộ Trạch, Hoa Đường, Hành Thiện… nhưng Kim Lũ cũng là một làng quê giàu truyền thống Theo
cuốn Tiến sĩ Nho học Thăng Long Hà Nội, Kim Lũ tiêu biểu về khoa cử trong
14 làng khoa bảng của Hà Nội với năm vị đỗ đại khoa gồm Tiến sĩ Hồng Hạo (1710), Tiến sĩ Nguyễn Công Thái (1715), Phó bảng Nguyễn Văn Siêu
(1838), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1865), Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Cốc (1910)
Dòng họ của Nguyễn Văn Siêu cũng có nhiều người đỗ đạt Họ Nguyễn làng Lủ Trung chia thành hai ngành Ngành trưởng (Đại tông), đến đời thứ
sáu có Nguyễn Văn Siêu đỗ Phó bảng Theo Thanh Trì Nguyễn thị phả đồ có
ghi: Thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, Hà Nội Thủy tổ họ Nguyễn của Nguyễn Văn Siêu là ông Phúc Tâm Ông Phúc Tâm lại sinh ra được hai ngành Ngành trưởng là ông Phúc Canh Từ Phúc Canh trải năm đời thì sinh ông Hoằng Nghị, một người học rộng, hiếu cổ, lấy đạo Nho khởi nghiệp nhà Ông Hoằng Nghị sinh được năm người con, con trưởng là Phương Đình, đỗ Phó bảng, từng làm quan ở Nội các, phụng mệnh đi sứ Yên Kinh, làm Án sát sứ, sau thăng Thị độc tại Hàn lâm viện, rồi trí sĩ Văn chương của Phương Đình bề thế được người đời ngưỡng mộ Còn ngành thứ (Tiểu tông) đến đời thứ tư có Nguyễn Công Thái
đỗ Tiến sĩ, sau là Nguyễn Trọng Hợp và Nguyễn Sĩ Cốc Theo Tiến sĩ Nho
học Thăng Long Hà Nội, họ Nguyễn làng Lủ thuộc 11 dòng họ khoa bảng ở
Hà Nội cùng họ Phạm (Đông Ngạc), họ Nguyễn (Vân Điềm), họ Nguyễn (Nguyệt Áng)…
Trang 16Theo Thanh Trì Nguyễn thị phả đồ, Nguyễn Văn Siêu thuộc ngành
trưởng họ Nguyễn làng Lủ Ngành trưởng, trước Nguyễn Văn Siêu trải sáu đời không có người đỗ đạt nhưng cha ông học rộng, hiếu cổ, chuộng đạo Nho
Là con trưởng, Nguyễn Văn Siêu đã được cha giáo dục bằng sự hiểu biết sâu
rộng về tư tưởng Nho gia ngay từ khi còn nhỏ Bia thần đạo cho biết Hoằng
Nghị công thường lấy điều tiết tháo khích lệ Nguyễn Văn Siêu
Mặt khác, Nguyễn Văn Siêu sinh tại làng Lủ nhưng lại theo gia đình chuyển đến thôn Cổ Lương, giáp Giang Nguyên, phường Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, Hà Nội Với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và là một trung tâm quy tụ nhân tài, nơi đây đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn nhạy cảm và giàu khát vọng cho Phương Đình Quê hương, dòng họ, gia đình đã hội tụ đủ điều kiện cho sự phát triển tài năng và nhân cách của Nguyễn Văn Siêu
Về gia đình riêng của Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình binh nhật trị
mệnh đã ghi rõ ông không lấy chính thất mà có hai thứ thất Bà họ Hoàng sinh
được hai gái (Thị Giản và Thị Ý), một trai (Tập Hinh) Bà họ Bùi cũng sinh được hai gái (Thị Sử, Thị Đoan), một trai (Văn Dĩnh) Ngoài ra, Nguyễn Văn Siêu còn có một thiếp do bà họ Bùi mua về, bà này sinh được một trai (Văn Xiển) Nguyễn Văn Siêu trân trọng tình cảm gia đình Hình ảnh con thơ, ngôi nhà, mảnh vườn, cây cầu… biểu hiện trong thơ ông một cách xúc động, thân thương Khi gặp con trai Tập Hinh trên đường đi sứ, ông ngậm ngùi thương con còn quá nhỏ, khả năng ứng biến lại non nớt mà sớm chậm chạp như cha; rồi khi ghé thăm ngôi nhà thân thuộc, ông bồi hồi thấy cây quế trước sân gầy đón cổng, cây mai trong vườn xòa xuống người:
Tiếp môn đình quế như nhân sấu, Phúc ốc viên mai quá ngã kiều
(Bán dạ đáo gia - Vạn lí tập)
Trang 17
Dịch nghĩa:
Cây quế ở đình bên cửa gầy như người,
Mai trong vườn che rợp mái nhà cao hơn ta
(Nửa đêm về đến nhà)
Nguyễn Văn Siêu rất yêu quê hương và gia đình của mình Chính quê hương và gia đình có ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp sáng tác thơ ca của Nguyễn Văn Siêu Hình ảnh quê hương đi vào trong thơ ca của ông thật dung
dị, gần gũi song với tài văn chương của mình, Nguyễn Văn Siêu đã phô bày cho chúng ta thấy được những vẻ đẹp đặc trưng nhất của đất Hà Thành Từ đây cũng toát lên cái hồn khí của truyền thống hiếu học, truyền thống văn hóa của đất Thăng Long (Kim Lũ - Hà Nội)
1.1.1.3 Đời tư
Nguyễn Văn Siêu sinh tại thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì nhưng ngay từ nhỏ ông theo gia đình định cư tại Dũng Thọ, Thọ Xương, Hà Nội Năm 13 - 14 tuổi, khi được cha dạy học ở nhà, cậu bé Định tự đề hoành biển hai chữ Lạc Thiên (Vui với mệnh trời) và treo ở phòng
học câu đối: Đạo tại cổ kim vô khúc kính, thiên đa bồng tất sản cao nhân
(nghĩa là: Đạo từ xưa đến nay không phải đường tắt, trời thường sinh bậc anh tài trong chốn nhà tranh lều cỏ) Hoành biển và câu đối bộc lộ ý chí muốn thành người tài đức đã nảy nở trong tâm hồn người con đất Kinh Kỳ ngay từ lúc ấu thơ
Khi thành niên, con người giàu khát vọng theo học Tiến sĩ Phạm Quý Thích ở làng Hoa Đường, huyện Đường An, trấn Hải Dương, Nguyễn Văn Siêu nổi tiếng học giỏi, tung hoành văn từ cổ, không chịu gò bó theo kiểu học thời tục, tiếng tăm bắt đầu vang dậy khắp nơi, vượt qua nhiều bậc danh Nho đương thời
Trang 18Năm 1825, Nguyễn Văn Siêu đỗ Cử nhân Quốc triều khoa bảng lục
ghi: “Khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825), gồm 6 trường thi, lấy 117 người, trong đó trường Thăng Long lấy 28 người, Nguyễn Văn Siêu đậu Á nguyên”
Bia thần đạo tại lăng Phương Đình còn cho biết năm Ất Dậu (1825),
Nguyễn Văn Siêu nhiều lần nhận được giấy chiêu hiền nhưng chưa dự tuyển
vì muốn ở nhà phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc các em Lệ thường, những người đỗ thi Hương sẽ dự thi Hội vào năm kế tiếp còn Phương Đình thì mười
ba năm sau mới đi thi Hội (1838)
Cuốn Nét bút thần của Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử giải thích
nguyên nhân đỗ đạt chậm của Nguyễn Văn Siêu là từ khi mới học thường đọc nhanh viết thảo nên chữ xấu, dẫn đến kết quả thi không như mong muốn Khoa Ất Dậu, ông phải dùng mẹo đau bụng để kéo dài thời gian, may nhờ tấm
lòng liên tài của Nguyễn Hàm Ninh mới đỗ Á nguyên Tuy nhiên, theo Quốc
triều hương khoa lục, chức vụ tại trường Thăng Long năm Ất Dậu gồm Hữu
tham tri Bộ Lễ Nguyên Đăng Tuân làm Đề điệu, Hiệu trấn Sơn Nam Ngô Huy Viên làm Giám thị, Thiêm sự bộ Hộ Thân Văn Duy, Thự Thiêm sự Bộ Lại Lê Quang làm Giám khảo Như vậy, không có nhân vật Nguyễn Hàm Ninh tại
trường thi này Có lẽ, những chi tiết trên được tác giả cuốn Nét bút thần của
Nguyễn Văn Siêu thi ca và lịch sử hư cấu
Năm 1838, khoa Mậu Tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, Nguyễn Văn Siêu đậu Phó bảng chỉ có ở đời Nguyễn từ khoa thi Hội năm Kỉ Sửu (1829), không được trọng vọng so với học vị Tiến sĩ Thông lệ, người đỗ Phó bảng không được thi lại Tiến sĩ khi nhà Nguyễn mở Chế khoa vào năm 1851
Sau khi đỗ Phó bảng, Nguyễn Văn Siêu được nhận chức Hàn lâm viện kiểm thảo (hàm tòng thất phẩm) ở Viện Hàn lâm, cơ quan có nhiệm vụ khởi thảo công văn triều đình ban hành gồm chế, chiếu, biểu… Triều Nguyễn có
Trang 19nhiều ân điển ban cho người đỗ đạt như Tiến sĩ cập đệ được nhận chức ngay còn Tiến sĩ xuất thân, Đồng Tiến sĩ xuất thân, Phó bảng vào Viện Hàn lâm ăn lương đọc sách ba mươi năm mới sát hạch, thăng bổ
Năm 1841, Nguyễn Văn Siêu được thăng Viên ngoại lang Bộ Lễ (hàm chính ngũ phẩm) Sau ba năm làm việc tại Hàn lâm viện, Phương Đình được thăng bốn bậc từ tòng thất phẩm lên chính ngũ phẩm Nhưng cũng vào năm này, khi làm Phó chủ khảo trường Thừa Thiên, ông bị hệ lụy vì liên quan tới Cao Bá Quát và việc xảy ra tại trường thi Hai viên sơ khảo Cao Bá Quát, Phan Nhạ ngầm lấy muội đèn chữa văn cho bài thi gồm hai tư quyển, đỗ được năm người Giám sát trường vụ thấy phép tắc không nghiêm, yêu cầu Bộ Lễ
và Viện Đô sát điều tra Án quyết Cao Bá Quát và Phan Nhạ bị xử tử, Nguyễn Văn Siêu bị phạt trượng đồ Sau khi nghị tội, Nguyễn Văn Siêu bị cách chức nhưng vẫn được làm Bộ Lễ Và cũng chính vào cuối năm này, ông còn bị khiển trách do liên quan đến Ngọc điệp nhầm năm Minh Mệnh thứ 21 tháng
12 ngày 28 từ giờ Ất Hợi sang giờ Giáp Tuất
Thời gian sau, ông nhận chức Nội các Thừa chỉ (hàm tòng nghũ phẩm) Nội các là nơi cơ yếu tham mưu cho triều đình, theo vua tuần du, giữ ấn, truyền lưu chỉ dụ cho nha môn, ghi chép chương sớ… Nội các chia làm bốn Tào, thuộc viên khoảng ba mươi người Thừa chỉ là chức quan phụ trách Tào Biều bộ, chuyên trách lưu giữ châu bản, sổ sách, giấy tờ
Năm 1848, Phương Đình được thăng chức Thị giảng học sĩ (hàm tòng tứ phẩm), phụ trách việc giảng dạy cho hoàng tử
Năm 1849, Nguyễn Văn Siêu được cử làm Ất sứ sang nhà Thanh Trên hành trình, ông sáng tác Phương Đình vạn lí tập Đi sứ về, Nguyễn Văn Siêu làm việc tại Tập hiền viện, Khai kinh diên (hai cơ quan tập hợp nhân tài để bàn luận chính trị, sách vở, thơ phú…) Khi làm việc ở đây, ông giữ chức Khởi cư chú, phục vụ các buổi giảng tập ở Kinh diên
Trang 20Sau đó, năm 1851 Nguyễn Văn Siêu được bổ chức Án sát Hà Tĩnh, một thời gian ngắn chuyển về Hưng Yên Hưng Yên hay bị vỡ đê Nguyễn Văn Siêu gửi về Kinh đô Huế một số điều trần, song không hợp ý vua Ít lâu sau, Nguyễn Văn Siêu bị giáng chức
Lúc này tư tưởng của ông đã thay đổi vì nẻo thanh vân cũng trải hơn chục năm, vì tâm huyết đổ ra mà dân chẳng yên còn bề trên lại không thấu hiểu Ông đành thoái lui về con đường phù hợp hơn với mình, không thể làm chính trị thì trở thành người dạy học
Năm 1854, Nguyễn Văn Siêu trí sĩ Từ khi trí sĩ đến lúc mất, ông góp sức chống thực dân Pháp xâm lược, khởi xướng phong trào chấn hưng văn hóa Thăng Long, mở trường đào tạo nhân tài…
Có thể nói cả một cuộc đời cống hiến cho đất nước cho nhân dân không
hề mệt mỏi, một lòng tận trung với vua Con đường làm quan của Nguyễn Văn Siêu gặp rất nhiều những biến cố thăng trầm, nhiều lần thăng rồi lại giáng chức Suốt chiều dài của lịch sử đương thời, ông đã những đóng góp vô cùng to lớn cho sự phát triển của đất nước, được nhân dân yêu mến, kính nể Nhưng tạo hóa xoay vần, đứng trước cái thời cuộc rối ren, Nguyễn Văn Siêu cũng như nhiều nhà trí thức đương thời đành chọn cho mình giải pháp về quê
ở ẩn, mở trường dạy học để đào tạo nhân tài cho đất nước và cũng là để giữ gìn thiên lương, nhân cách cao đẹp của một nhà Nho
1.1.2 Sự nghiệp trước tác
Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, tính đến lúc qua đời (1872) ông đã
có hơn nửa thế kỉ cầm bút và đã để lại cho đất nước, cho muôn đời sau một sự nghiệp văn chương đồ sộ, được dư luận đương thời và hậu thế suy tôn lên bậc
thần: Thần Siêu bên cạnh Thánh Quát (Cao Bá Quát)
Trang 21Văn nghiệp của Nguyễn Văn Siêu trải qua ba thời kì: thời còn đi học kể
cả đi thi, thời làm quan, thời thôi quan về mở trường dạy học với tư cách một bậc sư biểu ở tầm cỡ quốc gia
Văn nghiệp của Thần Siêu cũng trải qua nhiều tình huống trong nhiều quan hệ: quan hệ giao du với bạn bè, với thầy học, trong tư cách một ông quan có quan hệ gắn bó thân tình và viết theo lệnh của nhà vua, trong tư cách một vị phó chánh sứ đi sứ nhà Thanh (Trung Hoa), trên cương vị một thành viên toàn tu quốc sứ quan của triều Nguyễn, trong hoàn cảnh làm ông thầy dạy học, trong các chuyến du ngoạn nơi danh lam này thắng cảnh nọ… Và chính hoàn cảnh sáng tác của Thần Siêu da dạng như thế cho nên loại hình văn chương đó cũng đa dạng Có văn học hành chức, chức năng; có văn học
kí sự, tùy bút; có văn học khảo cứu, bác học; có văn học du hí, thù tạc; và dĩ nhiên còn có văn học trữ tình mà chủ yếu là thơ Những thể tài văn học đã có trong văn nghiệp của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu là: Chiếu, biểu, sắc, cáo, sơ, gián, bi kí, minh, chí, châm, trướng, khánh hạ, di chức,… thuộc loại hình văn học chức năng; có văn sách, biện thuyết… thuộc loại hình văn học chính luận; có dư địa chí thuộc loại hình văn học phê bình; có kí sự, tùy bút thuộc loại hình gần với văn học mỹ học
Riêng trong thơ thì chủ yếu là các thể thơ: Đường luật, thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt, cổ phong, cổ phong trường thiên
Nguyễn Văn Siêu đã để lại các tác phẩm: Phương Đình văn loại (gồm 5 quyển: Giáp tập, Ất tập, Bính tập, Đinh tập và Tục tập), Phương Đình Tùy bút
lục (gồm 6 quyển), Phương Đình Địa chí loại (hay còn được gọi là Phương Đình Dư địa chí), Chư sử khảo thích, Chư kinh khảo ước, Tứ thư bị giảng,…
Ngoài các tập văn vừa kể trên thì ở lĩnh vực thơ ca, Phương Đình
Nguyễn Văn Siêu còn có bộ Phương Đình Thi tập đồ sộ (gồm 4 tập thơ:
Trang 22Phương Đình Vạn lí tập, Phương Đình Anh ngôn thi tập, Phương Đình Lưu lãm tập, Phương Đình Mạn hứng tập)
Chúng ta có thể đánh giá sự nghiệp trước tác của tác gia Phương Đình Nguyễn Văn Siêu như sau: số lượng tác phẩm đồ sộ và đa dạng, phong phú về thể loại
1.1.3 Quan điểm sáng tác
Mỗi người nghệ sĩ, tùy theo phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo và
tư tưởng thẩm mĩ mà có những quan niệm riêng về văn chương Có người cho rằng văn chương là sự thoát ly hay quên lãng, lại có nghệ sĩ muốn văn chương phải là "sự thực ở đời", phải là "những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những
đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”
Nguyễn Văn Siêu đã bày tỏ quan niệm của mình về văn chương chân chính Văn chương được ông chia làm hai loại Loại văn chương "đáng thờ" là văn chương "chuyên chú ở con người", là văn chương "nghệ thuật vị nhân sinh" hướng đến phục vụ cuộc sống con người Loại văn chương "không đáng thờ" là loại văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương", lo rèn câu đúc chữ, ở hình thức nghệ thuật, đó là "nghệ thuật vị nghệ thuật"
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính,đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thể quân sự cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi Một tác phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên", nó đem đến cho người đọc hơi thở, nhịp đập của chính cuộc đời cho
Trang 23người đọc những "bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng) "Tác phẩm văn nghệ phải thể hiến sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống mà văn là cuộc sống" (Trường Chinh) Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lý tưởng, chứ không phải mình họa lý tưởng cuộc sống Lý tưởng nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người ta toát y hay quên lãng Văn chương chân chính không phải là công thức sao chép, nô lệ hiện thực mà phải thể hiện sự sáng tạo độc đáo, nghiêm túc của ngời nghệ sĩ Quá trình sáng tạo ấy là quá tình nhà văn gom góp, nhặt nhạnh chắt chiu những mảnh đời, những số phận, thu nhận vào mình muôn vẻ của cuộc sống ngoài kia để trải nghiệm, chúng đúc Công việc phản ánh hiện thực cũng giống như cuộc đời gạn lọc những vẻ đẹp tinh túy của một đời trai thầm lặng đớn đau Chỉ có công phu và sáng tạo như vậy, tác phẩm văn chương mới chở
đi được linh hồn của cuộc sống, bắt người đọc phải hướng về cuộc đời mà tìm kiếm, khám phá, say mê Văn chương chân chính nhất định không phải là thư văn dễ dãi, người đọc không hiểu gì
chào, Trương cũng có thơ tiễn, trong thơ tiễn có câu “Tự cổ văn chương vô
định bình, tài hoa tín thị bất hư sinh” (Từ xưa văn chương không định bình
Trang 24được, tài hoa đúng là không phải từ hư không mà sinh ra) Nay đi sứ về,
Nguyễn lại đưa tập thơ Vạn lý xin viết Tựa
Đại học sĩ Trương khen Nguyễn Văn Siêu là người “phú học công thi”,
lại đi sứ qua nhiều núi sông, danh thắng, linh tích xưa nay, vì vậy tập thơ Vạn
lý có nhiều bài hay…
1.2.2 Phương Đình Anh ngôn thi tập
Là tập thơ xếp thứ hai trong bộ Phương Đình Thi tập Anh nghĩa đen là tiếng chim gọi nhau; ở đây Anh ngôn có nghĩa là lời nói bạn bè
Tập thơ Anh ngôn phần nhiều là thơ được Nguyễn Văn Siêu làm lúc còn
trẻ; thường là tác giả “phong hồ Vũ Vu, dục hồ Nghi” ngao du với thầy, bạn rồi vịnh sông núi như Nhị Hà, Tô Giang, Tây Hồ, đền thờ Chu Văn An Ngoài
ra còn có thơ vịnh sử, vịnh vật, thù tạc,… Toàn tập có 283 bài thơ
1.2.3 Phương Đình Lưu lãm tập
Là tập thơ thứ ba trong bộ Phương Đình Thi loại, có 305 bài; chủ yếu là
thơ làm trong chuyến chu du quan lãm, vịnh danh lam thắng cảnh, tiễn tặng ở Kinh đô Huế
Thơ trong tập Lưu lãm của Phương Đình, phần lớn làm về bạn bè,
nhưng chủ yếu là bạn bè đang làm quan, khung cảnh là ở Kinh đô Huế Bởi vậy, tìm hiểu về không khí quan trường và phong cảnh cố đô Huế đương thời,
tập Lưu lãm có thể tính là tư liệu tham khảo sinh động Mặt khác, tập thơ
cũng cho chúng ta biết sâu hơn về tư tưởng tình cảm của Phương Đình thời kỳ
ở Kinh đô Có thể nói là ông không vui Trước đây, khi đọc một số bài ký của ông, chúng ta đã cảm thấy ông không thuần Nho, dù có lúc ông tự nhận là Nho, tranh biện kịch liệt với Trang Tử, bảo vệ Nho đến cùng Nhưng trong
Lưu lãm, ở không ít bài thơ, ông cho biết vào những ngày ở Kinh đô, ông lại
muốn được như Trang Tử, như Đào Tiềm Có điều dễ thấy là thơ trong tập
Lưu lãm tập phần nhiều là thơ trữ tình, ý thơ phóng khoáng
Trang 251.2.4 Phương Đình Mạn hứng tập
Cuối bộ Phương Đình Thi loại là tập thơ Mạn hứng Đây là tập thơ tùy
hứng mà Phương Đình làm chủ yếu với bạn bè, đồng nghiệp ở Hà Nội Toàn tập có 325 bài, trong đó có một số bài giúp chúng ta hiểu thêm chuyến đi sứ
và thơ Vạn lý của Phương Đình
Như vậy Phương Đình Thi loại với 4 tập thơ, có 1083 bài thơ Đúng là
một thế giới thơ mênh mông thăm thẳm, đương thời đã được các bậc danh sĩ,
kể cả vua chúa, có thể kể như: Vua Tự Đức, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Cao Bá Quát, Ngô Thế Vinh, Chu Doãn Tri,… đã ca ngợi, tôn vinh rất mực
Trong bài Ký Nguyễn Phương Đình, Miên Thẩm- một trong bốn đại danh:
Siêu, Quát, Tùng, Tuy thì đã viết về thơ Phương Đình là:
…Lãng vân lão bút khí phiêu phiêu Thi thảo do ưng nhiến mãn biều…
Nghĩa là:
Khi bút già dặn cao trên tầng mây vời vợi Bài thơ mới làm nên kèm theo bầu rượu đầy Lời khen này cũng gần với lời khen của Phan Bội Châu về thơ Cao Bá
Thần):
Mây gió xoay tròn đầu ngọn bút Càn khôn chép lóng nửa tròng người
Tóm lại, công trình thơ ca Phương Đình Thi tập (Vạn lí tập, Anh ngôn
thi tập, Mạn hứng tập, Lưu lãm tập) bao gồm hai phần “Văn” và “Thơ” Công
trình đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về danh nhân văn hóa này, những cống hiến đóng góp của ông, cũng như bước đầu có những đánh giá về văn thơ Phương Đình - Nguyễn Văn Siêu cả về giá trị nội dung và nghệ thuật Qua sáng tác thơ văn của ông, người đọc có thể hiểu được tư tưởng của một nhà văn hóa lớn của Thăng Long - Hà Nội, cũng từ đó có thể hiểu được những giá trị văn hóa của mảnh đất kinh đô nghìn năm
Trang 26Chương 2: Nguyễn Văn Siêu- Nhà văn hóa lớn thế kỷ XIX 2.1 Nguyễn Văn Siêu - người có vốn hiểu biết uyên bác
Nguyễn Văn Siêu là người có vốn kiến thức rộng lớn về địa lý, lịch sử, văn hóa không chỉ của Việt Nam mà còn cả của Trung Hoa Điều đó được thể
hiện trong công trình Dư địa chí nổi tiếng Phương Đình Địa dư chí Sách đã
thâu tóm khá nhiều hiểu biết về địa lý, lịch sử từ trước cho đến đương thời Công trình này, ngoài tư liệu phong phú, sắp xếp khoa học, còn có một số phát hiện và kiến giải mới cho đến nay vẫn có giá trị khoa học nhất định Qua
đó, thể hiện được tầm tư tưởng lớn của Nguyễn Văn Siêu
Trong bộ Phương Đình Thi tập thì tập thơ Phương Đình Vạn lí tập thể
hiện rõ nét nhất tầm hiểu biết sâu rộng của ông về địa lý, lịch sử Việt Nam cũng như của Trung Hoa Từ đó cho thấy ông là một học giả nghiêm túc, có nhiều phát hiện đáng quý
2.1.1 Nguyễn Văn Siêu - nhà địa lý học
Năm Kỉ Dậu, Nguyễn Văn Siêu được vua Tự Đức phái đi sứ nhà Thanh
với chức Phó sứ Sắc chỉ: “Khanh thiên tính thông minh, học vấn uyên bác,
thành thử nghi thu tập văn, tác trẫm nhĩ mục, lịch lãm Bắc triều chư danh lam thắng cảnh, cập chư địa phương phong tục, tức mệnh quản thành tử chu
tường, sĩ hồi trình tiến lãm, tá trẫm minh kiến vạn lý chi ngoại” Nghĩa là:
“Khanh thiên bẩm thông minh, học vấn uyên bác, đi chuyến này nên thu thập những điều mắt thấy tai nghe, làm tai mắt cho trẫm, qua các nơi danh lam thắng cảnh cùng phong tục các nơi bên Bắc triều, phải ghi chép kĩ càng, đợi
về dâng lên, giúp trẫm thấy được ngoài muôn dặm” Vâng theo sắc chỉ,
Nguyễn Văn Siêu quan sát các nơi đã đi qua và ghi chép lại Khi về nước, ông
dâng lên tập Như Yên lịch trình tấu thảo (Bản tấu về chuyến hành trình đi Yên
Kinh), chép lại cảnh vật mười ba nơi đoàn sứ bộ đi qua, từ Nam Quan sơn lộ đến Bắc Bình, phong vật mỗi nơi đều nêu được nét đặc sắc với bút pháp hết sức điêu luyện, ghi chép lại dịa lí đất ta, địa lí đất tàu rồi sự quan tâm sản vật,
Trang 27phong thủy,… của ông đối với từng vùng đất Chính vì thế, tập Vạn lý tập có
rất nhiều bài thơ đi kèm với những bài Tựa như để giải thích rõ hơn, sâu hơn cho mọi người cùng hiểu được về địa hình cũng như sản vật, phong thủy ở những địa dnh, thắng cảnh mà Nguyễn Văn Siêu đã từng đặt chân tới
Nguyễn Văn Siêu đọc sách rất nhiều sách địa lý để biết tính hình sông núi, ông rất thích phong thủy Trên hành trình từ biệt ải Nam Quan để sang
cửa Long Giang, Nguyễn Văn Siêu đã đọc sách Thương Ngô Vương liệt
truyện, Quảng dư ký, Mã Viện truyện,… của Trung Quốc để có thêm những
vốn hiểu biết về địa hình sông núi ở vùng đất Long Giang:
Giao Chỉ sơn hà cổ Lạc cương, Tây Vu lộ biệt Thái Bình hương
Lệ Minh giang khẩu tam kỳ thủy, Cao Lạng khê nguyên chất lạm thương
…Long Giang hữu nhị nguyên, nhất xuất Lạng Sơn Kỳ Cùng giang; nhất xuất Cao Bằng hợp Thái Nguyên chư thủy vi Trăn Hiến giang viết Đại Thủy Nguyên do Long Châu lưu kinh thượng Hạ Đống Châu, chí Ninh Minh châu Bắc hợp Minh giang lưu hạ Bạch Tuyết đường vi Lệ Giang, giang khúc oánh hồi vị chi Văn tự thủy Lưỡng biên giai sơn vi ngạn Sơn thế đại để dữ ngã Ôn Châu Hữu Lũng tương tự, nhi hùng tuấn tắc quá nhiên Thủy bất tương xứng sơn, tổng vi biên địa, tự kỳ nhất phong nhất lĩnh nhi quan diệc túc tư hứng (Long giang khẩu - Mạn hứng tập)
Dịch nghĩa:
Non sông Giao Chỉ là biên cương đất Lạc xưa,
Lộ Tây Vụ có hương Thái Bình riêng
Cửa sông Lệ Minh chia làm ba sông,
Các sông đều bắt nguồn ở Cao Bằng, Lạng Sơn rồi chảy sang
… Long Giang có hai nguồn; một bắt nguồn từ sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn; nguồn khác là các sông ở Cao Bằng và Lạng Sơn họp lại, làm thành sông Trăn Hiến, gọi là Đại Thủy Nguồn từ Châu Long, chảy qua Thượng
Trang 28Đống Châu, Hạ Đống Châu, đến phía bắc châu Ninh Minh, hợp với Minh
Giang, chảy xuống Bạch Tuuyết Đường là Lệ Giang, sông gấp khúc đẹp nên
gọi là Văn tự thủy (sông như chữ viết) Hai bên sông đều là núi Thế núi đại
thể giống núi ở Hữu Lũng Ôn Châu nước ta, nhưng hùng vĩ hơn Sông không
tương xứng với núi; nhìn chung đất là biên giới, nhìn từng dãy núi, từng ngọn
núi rất hứng thú
Rồi khi đoàn sứ quân đậu thuyền dưới thành phủ Thái Bình, Nguyễn
Văn Siêu đã viết bài thơ Châu bạc Thái Bình phủ thành hạ, tìm hiểu cái tên
huyện Sùng Thiện: Huyện Sùng Thiện là phụ trách tây bắc của phủ Thái
Bình; có sông Sùng Thiện bắt nguồn ở huyện Sùng Quan Sơn, cho nên có tên
là Sùng Thiện Nhà Đường coi là quận ngoài phụ thuộc, nhà Tống đặt Thái
Bình trại, nhà Minh thăng là phủ; nay bỏ phủ Tư Minh, giáng làm Ninh Minh
châu Thái Bình kiêm Ty; nhưng là cái khóa của Nam Quan, thế đất nơi này
tăng thêm quan trọng
Thanh Liên sơn dẫn giang như đới, Thành quách nhân dân cộng nhất hồ
Dịch nghĩa:
Núi Thanh Liên dẫn liền đến sông giống như cái đai,
Thành quách và nhân dân giống như ở chung trong một quả bầu
Khi đến thành Quý Huyện (tên huyện, thuộc phủ Tầm Châu, tỉnh Quảng
Tây), Nguyễn Văn Siêu lại tìm hiểu rất chi tiết, tỉ mỉ địa mạch, thủy mạch nơi
đây:
Lộ nhập Tây Âu thủy tự Đông, Tiểu khê hoành vọng thú lâu không
Nhân yên đới quách tà lâm chử,
Xuân vũ liên giang vãn hệ bồng (Quý Huyện thành châu thứ hứng tác - Thuyền đỗ ở thành Quý Huyện hứng
tác)
Trang 29Dịch nghĩa:
Đường vào Tây Âu theo sông từ phía Đông,
Trên con suối nhỏ nhìn hai bên thấy chòi biên phòng bỏ không
Khói nhà dân theo tường thành nghiêng xuống bến, Mưa mùa xuân nối giòng sông chiều với các con thuyền
Đặc biệt thông qua sách Huyện chí, Nguyễn Văn Siêu đã tìm hiểu rất kĩ
lưỡng các giếng nổi tiếng ở vùng đất này: Đất này có nhiều giếng nổi tiếng,
do mạch thiêng chảy ra Có giếng Cốc Vĩnh, khơi mãi được; có giếng Đông; nước theo đá lạ tràn ra… Và ông cho biết ở đời Đường có Hà Lý, Hà Quang đến ẩn cư ở đây
Dừng chân tại mảnh đất Quế Bình (nay là huyện Quế Bình, thuộc miền đông Quảng Tây - Trung Quốc Vùng đất này chính thức thuộc về Trung Quốc từ năm 214 trước Công nguyên, khi quân đội nhà Tần chiếm hết miền
Quế Bình rất hay: Quế Bình tứ tuyệt (Tứ tuyệt về Quế Bình) và kèm theo lời dẫn: “Tứ tuyệt về Quế Bình nằm trong Bát cảnh của phủ Tầm Châu Đó là
Nam Tân Cổ Độ (Bến đò xưa ở ghềnh Nam), Bắc Ngạn Ngư Tiều (Chài lưới tiều phu ở bờ Bắc), Đông Tháp Hồi Lan (Sóng quành ở Tháp Đông), Kim Liên Dạ vũ (Mưa đêm ở Sen Vàng), đó thực là thắng cảnh…”
Hành trình đi sứ này là cơ hội để Nguyễn Văn Siêu có thêm những vốn hiểu biết mới, những trải nghiệm đáng quý và thể hiện thể hiện tài năng văn chương của mình Có thể nói, những bài thơ cùng với các bài đề tựa, lời dẫn,
bút kí trong hành trình đi sứ được tập hợp trong Vạn lí tập đã thể hiện rất rõ
tính chất đại gia, đại bút của “Thần Siêu” Ở thời trung đại, thơ văn của nhiều
vị sứ thần Việt Nam đi sứ Trung Hoa là không hiếm Nhưng thử hỏi đã ở đâu
tỏ rõ một năng lực quan sát tỉ mỉ, một sự am hiểu sâu rộng về sử sách, đất
Trang 30nước xứ, người dân đến những lời nhận xét, phản biện khảo nghiệm thông thái, sắc sảo như ở đây của “Thần Siêu”, mặc dù chỉ mới là nói thoáng, nói qua?
Uất Giang hữu sơn danh Đại Thủy,
Lưỡng huyện trung gian sơn thế khởi
Giang lưu uyển chuyển Thập Tam Đường, Thanh thúy tung hoành tam bách lý
(Tư Nam Bình Tùng Lĩnh Đường chí
Đằng Huyện Tam Giang khẩu - Vạn lí tập)
Dịch nghĩa:
Huyện Uất Giang có núi gọi là Đại Thủy,
Giữa hai huyện, thế núi vồng lên
Sông chảy uyển chuyển ở Thập Tam Đường, Màu xanh biếc rải rác ba trăm dặm
(Từ Tùng Lĩnh Đường ở Nam Bình đến Tam Giang khẩu ở Đằng Huyện)
Trong Vạn lí tập còn rất nhiều bài thơ khác Nguyễn Văn Siêu miêu tả phong cảnh, địa hình sông núi rất đẹp và nên thơ: Ngô Châu lãm cổ, Giang
vũ, Ninh Minh Giang Châu thứ, Đăng Tượng Tỵ sơn lâu, Vũ trung vọng Bắc Chướng sơn,… Đọc các bài thơ viết về địa lý của ông một mặt chúng ta mở
mang thêm tri thức địa lý cổ, mặt khác chúng ta cũng cảm nhận được văn hóa địa lý mà tác giả muốn gửi gắm
2.1.2 Nguyễn Văn Siêu - nhà sử học
Nguyễn Văn Siêu cũng rất chú ý đến Sử học Đối với lịch sử nước nhà, ông tỏ ra là một học giả có quan điểm Sử học dân tộc vô tư và vững vàng