1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN cứu LIỀU LƯỢNG, THỜI điểm áp DỤNG các hóa CHẤT gây CHÍN GLYPHOSATE và ETHREL CHO mía đầu vụ ép

3 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 215,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG, THỜI ĐIỂM ÁP DỤNG CÁC HÓA CHẤT GÂY CHÍN GLYPHOSATE VÀ ETHREL CHO MÍA ĐẦU VỤ ÉP ThS.. Ở các tỉnh Nam bộ nước ta, điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây mía

Trang 1

NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG, THỜI ĐIỂM ÁP DỤNG CÁC HÓA CHẤT

GÂY CHÍN GLYPHOSATE VÀ ETHREL CHO MÍA ĐẦU VỤ ÉP

ThS Lê Văn Sự, ThS Phạm Văn Tùng

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây mía là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao Ở các tỉnh Nam bộ nước ta, điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây mía phát triển, nhưng mía thu hoạch ở đầu vụ (từ tháng 9 đến tháng 10) có chữ đường khá thấp, không thuận lợi cho chế biến đường (tỷ lệ thu hồi 12 - 14 mía/đường) Nguyên nhân cơ bản là do thời gian này trùng với cuối mùa mưa, lượng mưa còn khá lớn (giao động từ 150 - 300 mm/tháng), không thuận lợi cho quá trình chín của mía Mặt khác, cơ cấu giống mía chín rải vụ ở nhiều vùng nguyên liệu của các nhà máy chế biến; chế độ bón phân và các biện pháp canh tác khác chưa hợp lý đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng mía thu hoạch đầu vụ ép Việc tác động cho mía chín sớm sẽ góp phần kéo dài thời gian hoạt động của các nhà máy chế biến Mía có chất lượng tốt, hiệu suất thu hồi đường cao hơn, chi phí vận chuyển và chế biến giảm

Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các hóa chất gây chín là một yêu cầu cấp thiết, nhằm kích thích quá trình chín và tăng chất lượng mía đầu vụ ép, góp phần nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất mía và chế biến đường

Để giải quyết những nhu cầu cấp bách trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên

cứu liều lượng, thời điểm áp dụng các hóa chất gây chín Glyphosate và Ethrel cho mía đầu vụ ép"

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu

- Giống mía chín sớm: VN84-4137

- Đất thí nghiệm: Đất xám bạc màu Bình Dương (Haplic Acrisols)

- Hóa chất gây chín: Glyphosate (Lyphoxim 41SL); Ethrel (48% a.i.)

2 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo nghiệm trên mía tơ vụ trồng cuối mưa năm 2005 Khảo nghiệm bao gồm

5 công thức, bố trí theo kiểu khối đầy đủ (RCBD), 3 lần lặp lại, diện tích ô 60 m2 Sử dụng các hóa chất Glyphosate với liều lượng 0,30; 0,60 kg a.i./ha và Ethrel với liều lượng 0,96; 1,44kg a.i./ha phun cho mía và đối chứng phun nước lã

- Thời gian xử lý: 28/08/2006

- Chỉ tiêu theo dõi: sự biến đổi màu sắc lá, đánh giá chất lượng mía (Bx%;

Pol%; F%; Rs%; AP% và CCS%) vào các thời điểm: sau khi phun 2; 4; 6 và 8 tuần

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Sự biến đổi hình thái

Quan sát màu sắc của lá mía sau khi xử lý hóa chất nhằm đánh giá bằng cảm quan sự chín của mía Kết quả theo dõi như sau:

Trang 2

Bảng 1 Màu sắc lá mía trước và sau khi xử lý

Màu sắc lá mía tại thời điểm lấy mẫu (sau khi xử lý) Nội dung công thức

0 tuần 2 tuần 4 tuần 6 tuần 8 tuần

Glyphosate 0,3 kg a.i./ha XN VN V VS NV; lá, ngọn khô nhiều Glyphosate 0,6 kg a.i./ha XN V VS NV-lá khô NV; lá, ngọn khô rất nhiều Ethrel 0,96 kg a.i./ha XN XN-VN VN V VS; lá khô rải rác

Ethrel 1,44 kg a.i./ha XN VN V VS-NV NV; lá, ngọn khô

rải rác

Ghi chú: XN: xanh nhạt; VN: vàng nhạt; V: vàng; VS: vàng sẫm; NV: nâu vàng

Sau khi xử lý hóa chất gây chín, màu sắc lá có sự biến đổi nhanh chóng so với công thức không sử lý (phun nước lã) Tùy từng loại hóa chất, khi nồng độ phun tăng lên, màu sắc lá biến đổi nhanh hơn Trong 2 loại hóa chất đã xử lý, glyphosate có sự biến đổi màu sắc lá từ xanh nhạt sang vàng và nâu vàng nhanh hơn Ethrel Qua đánh giá

về sự biến đổi màu sắc, có thể xác định mía chín sau khi xử lý Glyphosate 4 tuần; và sau khi xử lý Ethrel 4 - 6 tuần

2 Sự biến đổi chất lượng

Đánh giá về chất lượng mía, ở công thức không xử lý hóa chất gây chín, hàm lượng đường trong cây mía tăng theo thời gian và đạt cao nhất 8 tuần sau thời điểm phun hóa chất chất gây chín ở các công thức khác

Bảng 2 Ảnh hưởng của các liều lượng và thời điểm áp dụng Glyphosate và

Ethrel đến chất lượng và năng suất đường của mía đầu vụ ép

CCS (%) tại thời điểm gian lấy mẫu (sau khi xử lý) Nội dung công thức

Đối chứng (phun nước lã) 12,74 ab 13,66 b 14,09 b 14,68 ab

Glyphosate 0,3 kg a.i./ha 14,20 a 16,76 a 15,32 a 15,23 a

Glyphosate 0,6 kg a.i./ha 14,13 a 15,30 a 14,33 b 13,76 bc

Ethrel 0,96 kg a.i./ha 11,27 b 13,39 b 12,92 c 12,30 d

Ethrel 1,44 kg a.i./ha 11,46 b 13,86 b 13,25 c 12,87 cd

Công thức phun Glyphosate 0,3 kg a.i./ha duy trì sự vượt trội chữ đường so với đối chứng cho đến tuần thứ 8 sau phun; trong đó, sự khác biệt có ý nghĩa từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 6 sau khi xử lý Tuy nhiên, mức độ chênh lệch thể hiện rõ nhất ở tuần lễ thứ 4 sau phun (CCS tương ứng 16,76% so với đối chứng 13,66%; chênh lệch 3,1 CCS);

Trang 3

kế tiếp là tuần lễ thứ 2 sau phun (tương ứng 14,20% so với đối chứng 12,74%; chênh lệch 1,46 CCS); và tiếp theo là tuần lễ thứ 6 sau phun (CCS tương ứng 15,32% so với đối chứng 14,09%; chênh lệch 1,23 CCS)

Ở công thức phun Glyphosate 0,6 kg a.i./ha, chỉ duy trì chữ đường cao hơn đối chứng đến tuần lễ 6 sau phun; tuy nhiên, mức chênh lệch rõ nhất thể hiện ở tuần lễ thứ 4 sau phun (tương ứng 15,30% so với đối chứng 13,66%; chênh lệch 1,64 CCS), kế tiếp là tuần lễ thứ 2 sau phun (tương ứng 14,13% so với đối chứng 12,74%; chênh lệch 1,39 CCS)

2 công thức áp dụng phun Ethrel (liều lượng 0,96 và 1,44 kg a.i./ha) không thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa ở mức xác xuất P0.05 về chữ đường so với đối chứng ở thời điểm theo dõi sau phun 2 tuần và 4 tuần Ở thời điểm 6-8 tuần sau khi phun, CCS thấp hơn so với không phun và có sự khác biệt có ý nghĩa

KẾT LUẬN

Xử lý Glyphosate với liều lượng 0,3 kg a.i./ha vào thời điểm trước thu hoạch từ

2 - 6 tuần, làm tăng cao hàm lượng đường cho mía đầu vụ ép Trong đó, thời điểm xử

lý tốt nhất là trước khi thu hoạch 4 tuần

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Goanzales M Y., Tianco A.P (1978) Early and late season chemical ripening cane,

52nd Proc So Afr Sug Technol Assoc

2 Legendre B L., Martin F.A (1976) Specific cane ripening problems and chemical

ripener in Louisiana, Proc Sugarcane ripener seminar 130-134 (Orlando,Florida)

3 Mohan N., Arulraj S (1987) Sugarcane technology, Sugarcane Breeding Institute,

Coimbatore, India 641007

4 Yang P.C., Ho F W (1978) Artificial ripening of sugarcane with chemiacal ripener

1977/78, Res Rept Taiwan Sug Res Inst., pp 171-179

5 Yang P.C., Ho F W., Pao T P (1976) Artificial ripening of sugarcane with chemical

ripener 1975/76, Res Rept Taiwan Sug Res Inst., pp 56-66

EFFECT OF DOSAGES, USED TIME OF RIPENIG CHEMICALS ON SUGARCANE QUALITY FOR EARLY PROCESSING SEASON

(Summary)

MSc Le Van Su, MSc Pham Van Tung

Sugar and Sugarcane Research and Development Center

Effect of dosages, used time of ripening chemicals on sugarcane quality for early processing season was studied on Haplic Acrisols in Binh Duong Province The targets on green color and quality (Bx%; Pol%; F%; Rs%; AP% và CCS%) were studied The study result indicated that chemical treated formulars changed quick color and quality The dose of 0.3 kg a.i./ha in 4 weeks after treatment had highest CCS% Sugarcane should be harvested from 2 to 6 weeks after treatment

Ngày đăng: 09/10/2015, 09:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Màu sắc lá mía trước và sau khi xử lý - NGHIÊN cứu LIỀU LƯỢNG, THỜI điểm áp DỤNG các hóa CHẤT gây CHÍN GLYPHOSATE và ETHREL CHO mía đầu vụ ép
Bảng 1. Màu sắc lá mía trước và sau khi xử lý (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w