1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM cơ bản GIỐNG mía vụ tơ tại LONG AN

5 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 249,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Hà Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường ĐẶT VẤN ĐỀ Trong canh tác mía, giống đóng vai trò quan trọng, là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng nă

Trang 1

KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM CƠ BẢN GIỐNG MÍA VỤ TƠ

TẠI LONG AN

KS Nguyễn Thị Bạch Mai, KS Lê Thị Thường, ThS Đoàn Lệ Thủy,

ThS Lê Quang Tuyền, KTV Nguyễn Thị Hà

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong canh tác mía, giống đóng vai trò quan trọng, là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất và chất lượng mía nguyên liệu Giống mía tốt là giống mía phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, canh tác và chế biến của vùng, cho năng suất cao và ổn định, chất lượng mía tốt, thời gian giữ đường dài, đáp ứng các yêu cầu của chế biến công nghệ, rải vụ và kéo dài thời gian chế biến; có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của tự nhiên

Ở nước ta, trong những năm gần đây tỷ lệ diện tích các giống mía mới ở các vùng mía dần dần được nâng lên, nhờ đó, năng suất, chất lượng mía nguyên liệu từng bước được cải thiện, vụ mía 2004/2005 đạt 51,8 tấn/ha trên diện tích 280.000 ha trong khi trước năm 1986 chỉ đạt 30 tấn/ha và tiêu hao mía/đường là 9,9 Tuy nhiên, không chỉ năng suất mía mà cả năng suất đường bình quân của nước ta vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới, năng suất chỉ bằng 67% bình quân của thế giới, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực như Trung Quốc 72 tấn/ha, Thái Lan 75 tấn/ha, về chất lượng mía, ở Úc đạt gần 15 CCS, ở Nam Phi và Thái Lan đạt khoảng 12 – 13 CCS

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất và chất lượng mía thấp Thực trạng sản xuất mía cho thấy nguyên nhân về kỹ thuật chủ yếu là khâu giống và biện pháp canh tác Trong sản xuất hiện nay, phần lớn các giống mía hiện có đã có biểu hiện giảm sút

về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện bất lợi của môi trường Như vậy, có thể nói hầu hết các vùng trồng mía đều thiếu giống mía tốt, chưa có cơ cấu giống hợp lý và kỹ thuật canh tác chưa thực sự phù hợp nên hiệu quả kinh tế của sản xuất mía đường chưa cao Chính vì thế, thâm canh giống mía mới để tăng năng suất và chất lượng mía là con đường gần nhất làm giảm giá thành sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh nhằm giúp ngành mía đường nước nhà phát triển và hội nhập quốc tế và cũng là mục tiêu mà ngành đã đề ra

Để tuyển chọn các giống mía mới có năng suất và chất lượng cao, thích nghi với điều kiện sinh thái, từng bước xây dựng cơ cấu giống hợp lý cho vùng nguyên liệu mía của Công ty Cổ phần Mía Đường Hiệp Hòa – một trong những vùng mía trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long, thí nghiệm “Khảo nghiệm giống cơ bản tại Long An” được tiến hành với sự phối hợp của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường và Trung tâm Giống Gò Ngãi thuộc Công ty cổ phần Mía Đường Hiệp Hòa

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Trung tâm Giống Gò Ngãi – Đức Huệ – Long An

- Thời gian: từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 12 năm 2006 (vụ mía tơ)

2 Nội dung

Thí nghiệm gồm 5 giống mía mới là: C86-12, C85-212, C1324-74, C132-81, CR74-250 và giống đối chứng K84-200

Trang 2

- Ô thí nghiệm: diện tích 48 m2 (5 hàng dài 8 m x khoảng cách hàng 1,2 m).Bố

trí hàng theo chiều dài của liếp, khoảng cách giữa các ô là 2 m

* Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

Tỷ lệ mọc mầm, sức tái sinh, sức đẻ nhánh, mật độ cây và tỷ lệ cây bị sâu bệnh

hại qua các thời kỳ sinh trưởng, chiều cao cây, tỷ lệ cây trỗ cờ, tỷ lệ cây bị đổ; các yếu

tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu, các chỉ tiêu về chất lượng

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Khả năng mọc mầm và sức đẻ nhánh

Bảng 1 Tỷ lệ mọc mầm và sức đẻ nhánh Công thức Tỷ lệ mọc mầm (%) Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)

- Các công thức thí nghiệm mọc mầm ở mức trung bình đến khá tốt, tỷ lệ mọc mầm từ

58,45% (C86-12) đến 76,04% (C1324-74) và vượt trội so với giống đối chứng K84-200

(38,17%)

- Nhìn chung, các giống trong thí nghiệm đẻ nhánh thấp, sức đẻ nhánh biến động

từ 0,55 nhánh/cây mẹ (giống đối chứng K84-200) đến 0,76 nhánh/cây mẹ (C1324-74),

không có sự khác biệt giữa các giống về phương diện thống kê ở mức tin cậy 95%

- Trong thời kỳ mọc mầm – đẻ nhánh, các giống thí nghiệm đều có ưu thế sinh

trưởng tốt hơn giống đối chứng K84-200, có thể xếp theo thứ tự từ tốt đến giảm dần là

C1324-74, CR74-250, C85-212, C132-81, C86-12 và đối chứng K84-200

2 Các yếu tố cấu thành năng suất

- C132-81 và C85-212 có chiều cao nguyên liệu vượt trội so với giống đối

chứng K84-200, các giống còn lại đạt chiều cao nguyên liệu tương đương đối chứng

(220,6 cm)

- Tất cả các giống đều có đường kính thân khá cao, từ 2,7 cm đến 2,9 cm và

không khác biệt so với giống đối chứng

- Trọng lượng cây của giống C85-212 đạt 1,6 kg, vượt trội đối chứng K84-200

(1,4 kg), các giống còn lại có trọng lượng cây tương đương đối chứng K84-200 (1,4 kg)

- Mật độ cây hữu hiệu của các giống biến động từ 64,70 ngàn cây/ha (C85-212)

đến 81,13 ngàn cây/ha (C1324-74) Ngoại trừ C1324-74 có mật độ cây hữu hiệu vượt

trội so với giống đối chứng K84-200 (65,04 ngàn cây/ha), các giống còn lại có mật độ

cây hữu hiệu không có sự khác biệt so với giống đối chứng

Trang 3

Bảng 2 Các yếu tố cấu thành năng suất

Công thức Chiều cao cây nguyên liệu

(cm)

Đường kính thân (cm)

Trọng lượng cây (kg)

Mật độ cây hữu hiệu (1000 cây/ha)

CV (%) 5,34 4,98 4,27 5,74

3 Khả năng tích lũy đường

Bảng 3 Diễn biến CCS (%) của các giống

Diễn biến kết quả phân tích chất lượng mía nguyên liệu cho thấy:

- C86-12 là giống giàu đường và có khả năng tích lũy đường sớm, mía 10 tháng

tuổi (ở thời điểm cuối tháng 10) đã cho CCS trên 13%, kết quả cũng cho thấy C86-12

có khả năng giữ đường dài và khá ổn định từ khi mía 10 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi

- Các giống C85-212, C1324-74 và C132-81 có khả năng cho hàm lượng đường

cao, CCS có thể đạt trên 14% Trong đó C85-212 và C132-81 chín trung bình, mía từ

12 tháng tuổi mới cho chất lượng cao, giống C1324-74 chín trung bình sớm, mía 11

tháng tuổi cho chữ đường cao nhất

- Giống CR74-250 có chữ đường ở mức khá, CCS trên 11%, chênh lệch không

nhiều so với giống đối chứng K84-200, chín trung bình muộn

Trang 4

đối chứng K84-200 đạt năng suất 78,05 tấn/ha, trong khi các giống mía mới tham gia trong thí nghiệm cho năng suất từ 79,37 tấn/ha (C86-12) đến 101,94 tấn/ha

(C1324-74) Tuy nhiên, về phương diện thống kê ở mức tin cậy 95% chỉ có giống C1324-74 đạt năng suất vượt trội so với giống đối chứng, các giống còn lại có năng suất tương đương đối chứng

Tất cả các giống mía tham gia trong thí nghiệm cho năng suất quy 10 CCS từ 97,84 tấn/ha (CR74-250) đến 141,29 tấn/ha (C1324-74), cao hơn giống đối chứng K84-200 (89,68 tấn/ha) từ 9,1% đến 57,55%

Bảng 4 Năng suất thực thu và năng suất quy 10 CCS

Năng suất quy 10CCS Công thức Năng suất thực thu (tấn/ha)

Tấn/ha % chênh lệch so đối chứng

KẾT LUẬN

Ở vùng Long An, tất cả các giống thí nghiệm đều có khả năng cho năng suất và chất lượng trong vụ tơ cao hơn đối chứng

- Giống C1324-74 có năng suất, chất lượng cao và chín trung bình sớm

- Các giống C85-212 và C132-81 cho năng suất khá cao, chất lượng cao và chín trung bình muộn

- Giống C86-12 có năng suất khá, đặc biệt chất lượng đường cao, ổn định, thời gian giữ đường dài và chín sớm

- Giống CR74-250 có năng suất và chất lượng khá, chín trung bình muộn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Song Dự, Nguyễn Thị Quý Mùi (1997) Cây mía, Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ

Chí Minh

2 Trần Văn Sỏi (2003) Cây mía, Nhà xuất bản Nghệ An

3 Trần Văn Sỏi (1995) Kỹ thuật trồng mía đồ, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 236 trang

4 Nguyễn Huy Ước (1994) Kỹ thuật trồng mía, NXB Nông nghiệp

5 Bull T (2000) “The Sugarcane plant” Manual of cane growing (Hogarth M, and Allsopp

P, eds), Bureau of Sugar Experimental Station, Indooroopilly, Australia, pp 71 – 83

6 Taiwan Sugarcane Research Institute (2001) Annual Reports, Published by the Taiwan

Sugar Research Institute Vol I II III IV http://www.tsri.sugarnet.com.tw

Trang 5

RESULT OF BASIC TEST EXPERIMENT (PLANT CANE)

IN LONG AN

(Summary)

Eng Nguyen Thi Bach Mai, Eng Le Thi Thuong, MSc Doan Le Thuy,

MSc Le Quang Tuyen, Tec Nguyen Thi Ha

Sugar and Sugarcane Research and Development Center

Experiment was conducted in randomized complete block design (RCBD) with six treatments and three replications Area 48 square meter per plot and control variety was K84-200 Target of expriment was selected good varieties (high cane yielding, high quality) and suitable for Long An province The result of plant all varieties have high yield and quality C1324-74 variety have high yield and quality and medium maturing; C85-212 and C132-81 varieties have rather yield, high sugar content and moderate – late maturing; C86-12 variety have rather yield, the best quality and stable and early maturing; CR74-250 variety have rather yield and quality, medium – late maturing

Ngày đăng: 09/10/2015, 09:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ mọc mầm và sức đẻ nhánh - KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM cơ bản GIỐNG mía vụ tơ tại LONG AN
Bảng 1. Tỷ lệ mọc mầm và sức đẻ nhánh (Trang 2)
Bảng 2. Các yếu tố cấu thành năng suất - KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM cơ bản GIỐNG mía vụ tơ tại LONG AN
Bảng 2. Các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 3)
Bảng 4. Năng suất thực thu và năng suất quy 10 CCS - KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM cơ bản GIỐNG mía vụ tơ tại LONG AN
Bảng 4. Năng suất thực thu và năng suất quy 10 CCS (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm