1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nho giáo trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

35 385 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 186 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU-----------------------------------------------------------------------------------------1. Tính cấp thiết của đề tài-------------------------------------------------------------2. Lịch sử nghiên cứu đề tài------------------------------------------------------------3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài-------------------------------------4. Phương pháp nghiên cứu------------------------------------------------------------5. Kết cấu đề tài--------------------------------------------------------------------------Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tư tưởng chính trị của Nho giáo-------------1.1. Sự ra đời và phát triển của Nho giáo--------------------------------------------1.1.1. Sự ra đời của Nho giáo---------------------------------------------------1.1.2. Sự phát triển của Nho giáo------------------------------------------------1.2. Những tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo--------------------------------1.2.1. Tư tưởng chính trị của Khổng Tử (551 – 478 TCN)------------------1.2.2. Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử (372 – 289 TCN)--------------------1.2.3. Tư tưởng chính trị của Tuân Tử (315 – 230 TCN)--------------------Chương 2: Sự tiếp biến và ảnh hưởng của giá trị Nho giáo ở Việt Nam---------2.1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam---------------------------------------2.2. Sự tiếp biến tư tưởng chính trị Nho giáo của người Việt Nam--------------2.2.1. Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc-------------------------------------------2.2.2. Thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc------------------------------------2.2.3. Thời kỳ phục hưng dân tộc (từ thế kỷ X - XV)-----------------------

Trang 1

“Nho giáo trong công cuộc đổi mới đất nước hiện

nay”

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

-1 Tính cấp thiết của đề

-2 Lịch sử nghiên cứu đề

-3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề

tài -4 Phương pháp nghiên

cứu -5 Kết cấu đề

tài -Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tư tưởng chính trị của Nho

giáo -1.1 Sự ra đời và phát triển của Nho

giáo -1.1.1 Sự ra đời của Nho

-1.1.2 Sự phát triển của Nho

-1.2 Những tư tưởng chính trị cơ bản của Nho

giáo -1.2.1 Tư tưởng chính trị của Khổng Tử (551 – 478

TCN) -1.2.2 Tư tưởng chính trị của Mạnh Tử (372 – 289

1.2.3 Tư tưởng chính trị của Tuân Tử (315 – 230

TCN) -Chương 2: Sự tiếp biến và ảnh hưởng của giá trị Nho giáo ở Việt

Nam -2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt

-2.2 Sự tiếp biến tư tưởng chính trị Nho giáo của người Việt

Nam -2.2.1 Thời kỳ Văn Lang – Âu

Lạc -2.2.2 Thời kỳ đấu tranh chống Bắc

thuộc -2.2.3 Thời kỳ phục hưng dân tộc (từ thế kỷ X -

Trang 2

XV) -2.2.4 Giai đoạn chia cắt đất nước và sự suy thoái của chế độ

phong kiến (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ

XX) -Chương 3: Nho giáo với công cuộc đổi mới nước ta hiện

nay -3.1 Định hướng kế thừa Nho

giáo -3.2 Kế thừa và phát huy những giá trị của Nho giáo trong công cuộc đổi mới đất

nước -3.2.1 Kế thừa và phát triển tư tưởng chính trị của Nho giáo trong vấn đề quản lý Nhà

nước -3.2.2 Đường lối trị nước của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

-3.2.3 Phải tiếp thu tư tưởng học tập, rèn luyện, tu dưỡng và coi trọng việc dạy học và học theo tinh thần của Khổng

Tử -3.2.4 Việc xây dựng con người Việt

Nam -KẾT LUẬN

-DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

-MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nho giáo vốn gốc từ Trung Quốc do Khổng Tử khai sáng nhưng đã xâmnhập vào nước ta qua hàng ngàn năm Nó đã giữ một vị trí quan trọng trong kiếntrúc thượng tầng của xã hội phong kiến Việt Nam và do đó đã chi phối đời sống

tư tưởng và tâm linh của nhân dân ta trong nhiều thế kỷ Ảnh hưởng của Nhogiáo không chỉ dừng lại ở trong phạm vi hoạt động của bộ máy Nhà nước, tronglĩnh vực giáo dục, học thuật và văn nghệ mà còn đi sâu vào phong tục, nếp sống,niềm tin và khát vọng của con người Trong quá trình thâm nhập vào Việt Nam,Nho giáo đã kết hợp với những tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền vốn có từ lâu đờitrên đất nước ta, chịu ảnh hưởng đồng thời cải tạo và củng cố một số tín ngưỡng

cổ truyền ấy Với sự thúc đẩy và cổ vũ của các triều đình phong kiến Việt Nam,Nho giáo đã phát huy khía cạnh thần học và gắn với những nghi thức tế lễ cótính chất tôn giáo Hơn nữa Nho giáo còn hoà quyện với các tôn giáo lớn nhưPhật giáo và Đạo giáo để tạo nên cái khung cảnh “Tam giáo đồng nguyên”.Trong cái khung cảnh ấy, Nho giáo vừa chi phối sự phát triển của Phật giáo, Đạogiáo vừa tiếp thu những yếu tố của Phật giáo và Đạo giáo Có thể nói sự có mặtcủa Nho giáo là không thể thiếu trong bức tranh chung về sinh hoạt tôn giáo củađất nước Việt Nam trên nhiều chặng đường lịch sử

Tư tưởng Nho giáo chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởngchính trị Trung Quốc Nó đã ảnh hưởng sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hộiTrung Quốc và các nước láng giềng trong suốt hơn hai nghìn năm lịch sử Và tưtưởng ấy cũng đã ảnh hưởng rất sâu sắc trong tư tưởng chính trị Việt Nam.Trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, xu hướng chống Hán hoá là ý chí củanhững người Việt Nam yêu nước chống bọn xâm lược trên mọi lĩnh vực Nhưng

họ không chống đối cực đoan mà biết tiếp thu có chọn lọc những giá trị của vănhoá Hán để làm giàu vốn tri thức và làm phong phú nền văn hoá dân tộc Ngaykhi chế độ Bắc thuộc sụp đổ, những người Việt trong chế độ triều đình phongkiến Việt Nam đã từng ý thức được vai trò của Nho giáo đối với đời sống chính

Trang 4

trị và thấy được sự tiếp thu Nho giáo là cần thiết để chuyển hoá nó từ chỗ vốn là

vũ khí tinh thần của kẻ đi xâm lược đã bại trận trở thành một công cụ có ích choviệc xây dựng một Nhà nước phong kiến và một trật tự xã hội phong kiến ViệtNam vững mạnh

Dưới góc độ của Hệ tư tưởng học, sinh viên nhận thấy rằng: Để hiểu thêm

về tư tưởng chính trị của Nho giáo và vị trí, vai trò của nó trong xã hội ta là một

việc làm cần thiết Chính vì vậy, sinh viên đã chọn đề tài “Nho giáo trong công

cuộc đổi mới đất nước hiện nay”.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:

Ở nước ta trong nhiều năm qua đã có các công trình nghiên cứu về Nhogiáo đối với xã hội Việt Nam như: Cuốn “Nho giáo tại Việt Nam" của ViệnTriết học và Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia do nhà xuất bảnKhoa học – xã hội xuất bản năm 1994; Cuốn “Nho giáo xưa và nay” của tác giảQuang Đạm do nhà xuất bản Thông tin xuất bản năm 1999; cuốn “Nho giáo ảnhhưởng của nó - vấn đề của ngày xưa, ngày nay nước ta” của giáo sư Trần ĐìnhHượu; cuốn “Vài ý kiến ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam” củaĐào Duy Anh; cuốn “Người dân Vịêt Nam dưới tác động của Khổng Tử” của

Vũ Khiêu; cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim,… Trong số các tác giả trênmột số đánh giá cao vai trò của Nho Giáo đối với xã hội và con người Việt Namhiện nay, thậm chí có người coi Nho Giáo tạo cơ sở quan trọng cho việc xâmnhập dễ dàng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, hoặc coi các truyền thốngViệt Nam bắt nguồn từ Nho giáo Ngược lại với những quan điểm trên là phêphán, phủ nhận vai trò của Nho giáo, phê phán các tư tưởng của Nho giáo, phủnhận Nho giáo đã diễn ra ở Trung Quốc những năm 1950-1960, ở Việt Namcũng không ít người nhìn nhận Nho giáo dưới lăng kính tiêu cực cho rằng Nhogiáo là trở lực của sự phát triển của xã hội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

3.1 Mục đích:

Trang 5

Đề tài có mục đích là làm rõ tư tưởng về chính trị của Nho giáo và sự tiếpbiến tư tưởng chính trị của Nho giáo ở Việt Nam, từ đó chứng minh cho sự ảnhhưởng của nó đối với nước ta trong quá khứ và hiện tại, trên cơ sở đó có cáchnhìn nhận đúng đắn về nó và đồng thời đưa ra một hệ thống các quan điểm,chính sách đúng khoa học có ý nghĩa phương pháp luận đối với việc xây dựngnền văn hoá, chính trị, con người mới nói riêng và sự nghiệp đổi mới đất nướctiến lên chủ nghĩa xã hội nói chung.

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp logic lịch sử kết hợp sử dụng cácphương pháp tổng hợp, so sánh, khái quát và hệ thống hoá

5 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở bài, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dungcủa đề tài gồm có 3 chương, 6 mục

Trang 6

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA NHO GIÁO

1.1 Sự ra đời và phát triển của Nho giáo.

1.1.1 Sự ra đời của Nho giáo (1)

Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của mình, Trung Quốc luôn luôn làquốc gia lớn ở Đông Á, trên lãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua,

đó là Hoàng Hà ở phía Bắc và sông Trường Giang ở phía Nam Lưu vực hai consông này sớm trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Hoa, về mặt chủng tộc,

cư dân ở lưu vực sông Hoàng Hà thuộc giống người Mông Cổ, đến thời XuânThu gọi là Hoa Hạ Đó là tiền thân của Hán tộc sau này

Trung Quốc cổ đại kéo dài từ thế kỉ XXI (TCN) đến cuối thế kỉ III(TCN), với sự kiện Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng uy quyền bạolực, mở ra thời kỳ phong kiến Lịch sử xã hội chiếm hữu nô lệ Trung Quốc làlịch sử đấu tranh tàn khốc giữa chủ nô và nô lệ; giữa tầng lớp thượng lưu của xãhội chiếm hữu nô lệ với những nông dân phá sản bị nô dịch và trở thành phụthuộc; giữa tầng lớp quý tộc truyền thống bị bần cùng hoá với những thươngnhân giàu có tiếm quyền

Lịch sử Trung Quốc cổ đại được chia làm ba thời tương ứng với bavương Triều: Hạ, Thương, Chu

Hạ: (khoảng thế kỷ XXI -XVI - TCN): mặc dù Vũ chưa xưng vương,nhưng là người đặt cơ sở cho triều Hạ Thời kỳ này Trung Quốc mới chỉ biếtđồng đỏ, chưa có chữ viết Sau bốn thế kỷ với đời vua kiệt bạo chúa nổi tiếngđầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, Triều Hạ bị diệt vong và không để lại nhữngchứng tích cụ thể

(1) – Lịch sử tư tưởng chính trị - NXB Chính trị Quốc gia, 4-2001, tr.28-31

Trang 7

Thương: (thế kỉ XVI - XII TCN) hay còn gọi là nhà Ân, Thăng là ngườiđem quân tiêu diệt vua kiệt, thành lập nhà Thương Thời kì này người TrungQuốc biết sử dụng đồng thau, chữ viết ra đời và họ đã biết làm lịch nông nghiệp,biết quan sát sự vận hành của mặt trăng, tính chu kì của nước sông dâng lên.Thời thương, giới quý tộc giữ vai trò thống trị, mà các tư tưởng gia đã khẳngđịnh sự thống trị của quý tộc là do trời định, nhà vua là "thiên tử", quản lí quốcgia theo mệnh trời.

- Chu: (thế kỉ XI - III TCN)

Người thành lập nhà Chu là Văn Vương, người có công tiêu diệt vua Trụ bạo chúa nổi tiếng thời Thương Trong hơn tám thế kỉ tồn tại, Triều Chu đượcchia thành hai thời kì Tây Chu và Đông Chu, thời Chu nhìn chung xã hội TrungQuốc tương đối ổn định từ năm 771 TCN, nhà Chu rời đô về Lạc Ấp ở phíaĐông nên gọi là Đông Chu Thời Đông Chu tương ứng với hai thời kì: XuânThu (772-481 TCN) và Chiến Quốc (403 - 221 TCN)

-Thời Đông Chu là thời kì chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế

độ phong kiến Đồ sắt được sử dụng rộng dãi, tạo nên cuộc cách mạng về công

cụ sản xuất Hệ thống thuỷ lợi rất phát triển, tạo điều kiện cho nông dân trồnglúa hai vụ, công cuộc khai hoang, khẩn hoá, mở rộng đất canh tác được nhànước khuyến khích Các nghề khai khoáng, chế tác kim loại, làm muối, làm thuỷtinh phát triển, theo đó xuất hiện các trung tâm buôn bán, đô thị mở rộng hệthống giao thông

Trong xã hội, bên cạnh các giai cấp, tầng lớp xã hội cũ (quý tộc, nôngdân, thợ thủ công, nô lệ), đã xuất hiện những giai cấp tầng lớp mới là địa chủ,thương nhân Trước đây khi nhà Chu thịnh vượng thì đất đai thuộc nhà vua Vàothời kì Chiến Quốc, đất đai phần lớn thuộc địa chủ, sự phân hoá sang hèn dựatrên cơ sở số lượng tài sản, đạo đức, trật tự xã hội suy thoái, đảo lộn, tình trạngtôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng trở nên phổ biến, thời đại "lễ hư, nhạchỏng ", nhân dân bị đói khổ vì chiến tranh, bị áp bức,bóc lột nặng nề, lúc nàytrong xã hội xuất hiện tầng lớp trí thức mới " kẻ sĩ văn học", họ không trị nước

mà bàn việc nước từ đó hình thành nhiều trường phái, học thuyết chính trị khác

Trang 8

nhau, hoạt động sôi nổi, rầm rộ gọi là phong trào " Bách gia chư tử" (Bách giatranh minh, chư tử hưng khởi) Nhìn chung các trường phái chính trị - xã hội haycác học thuyết xã hội cũng hướng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đạo đức

- chính trị của xã hội Trong các học thuyết đó có nho giáo do Khổng Tử sánglập

1.1.2 Sự phát triển của Nho giáo

Nho giáo chính là hệ thống học thuyết và đạo lý bảo vệ đến cùng và cốsức phục hồi hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ nhà Chu, cho nên nókhông phù hợp với thế lực nổi lên thời Xuân Thu - Chiến Quốc Vì vậy, khiDoanh Chính tức Tần Thuỷ Hoàng lên ngôi, bằng bạo lực và pháp trị với chínhsách hà khắc như:" đốt sách chôn nho" đã ra sức diệt Nho giáo - một học thuyếttriết học chính trị Có thể nói vào thời Tần, đạo của Khổng Mạnh bị chôn vùitheo các nhà Nho và tiêu huỷ theo các sách Nho qua ngọn lửa Tần Không thểnhư nhà Tần trị nước, bằng binh hùng , tướng mạnh, gươm sắc, giáo nhọn, LưuBang rất cần có một học thuyết chính trị để điều hành xã hội đương thời cùngvới Nho giáo cũng có nhiều học thuyết như "vô vi" của Lão Đau, "Vị Ngã " củaChu Phương, "Kiêm Ái" của Mạc Định tồn tại nhưng Lưu Bang đã chấp nhậnNho giáo Nho giáo đã dần dần được phục hồi và trở thành vũ khí tinh thần củanhà Hán và chiếm địa vị cao nhất trong Tam Giáo

Đến các Triều đại nhà Đường thì Nho giáo lại không chiếm vị trí đáng kể(phật giáo được đề cao) nhưng đến nhà Tống thì Nho giáo lại được đề cao Nổibật là hai anh em Trình Hạo - Trình Di mở trường học Nho giáo đầu tiên Thànhngữ "Cửa Khổng Sân Trình" xuất hiện từ đời Tống thể hiện rõ điều đó

Ngót một thế kỉ, Triều đại Mông Nguyên thống trị toàn bộ nước TrungHoa, Nho giáo vẫn được duy trì bằng công việc giảng dạy đạo, thi cử.Từ đầu thế

kỉ XVI, Vương Dương Minh (đời nhà Minh) đã phát triển Nho giáo theo hướngduy tâm chủ quan cực đoan

Đến đời nhà Thanh, thời thế có nhiều thay đổi, Trung Hoa tiếp xúc vớivăn hoá Tây Âu Đại biểu của các nhà cải cách dân chủ là Khang Hữu Vi vàLương Khải Siêu, cũng muốn nước Trung Hoa phát triển công nghiệp, khoa học

Trang 9

- kĩ thuật song cuối cùng họ chỉ đi đến chỗ tìm đường cải lương và duy tândưới ngọn cờ của hoàng đế Thanh Triều

Như vậy, trong suốt hơn hai nghìn năm trường tồn, qua mỗi triều đại,chính thể, tuy Nho giáo cũng có những thay đổi có những vị trí và vai trò nhấtđịnh trong thượng tầng kiến trúc, song không đến mức làm thay đổi bản chất của

nó Trong mỗi giai đoạn, về tổ chức, thể chế và pháp luật thì dĩ nhiên Triều đạisau có những cái mới so với Triều đại trước, song những tư tuởng cơ bản củaNho giáo thì triều đại nào cũng phải giữ lấy.Vì vậy, Nho giáo, hệ tư tưởng chínhtrị chính thống của giai cấp phong kiến thống trị đã ăn sâu, bám chặt vào đờisống xã hội, tinh thần Trung Quốc hơn hai nghìn năm qua, cho đến khi cáchmạng Tân Hợi nổ ra 10.10.1911

1.2 Những tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo

Tư tưởng chính trị của Nho giáo chiếm vị trí đặc biệt trong lịch sử tưtưởng của Trung Quốc Hệ tư tưởng chính trị Nho giáo được thể hiện một cách

cơ bản có hệ thống trong tư tưởng của người khởi xướng (Khổng Tử), nhữngnhà Nho tiếp theo, xuất phát từ đó mà cụ thể hoá và phát triển thêm theo một sốhướng khác nhau, tiêu biểu là Mạnh Tử và Tuân Tử

1.2.1 Tư tưởng chính trị của Khổng Tử ( 551 -478 TCN)

Khổng Tử là người sáng lập trường phái Nho gia Ông tên là Khâu, tự làTrọng Ni, sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ ở nước Lỗ Thời trẻ, ông đã mởtrường dạy học, sau đó làm chức quan nhỏ, quản lý kho và trông coi trâu, dê, sau

đó là Trung đô tể, quan Tư khấu Vì không được trọng dụng, ông dẫn các học trò

đi chu du các nước hơn 10 năm Cuối đời, ông trở về nước Lỗ tiếp tục dạy học

và chỉnh lý, san định các thư tịch cổ như ngũ kinh: Thi, Thư, Lễ, Ngạc, Dịch vàviết kinh Xuân Thu Luận Ngữ là bộ sách do các học trò của Khổng Tử ghi lại

Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết là vì sự bình ổn xã hội - một xã hội

“thái bình thịnh trị”

Những nội dung cơ bản của chính trị (1)

(1) Theo sách Nho giáo - Trần Trọng Kim, NXB Văn học, H 2001, tr.38

Trang 10

Về chính trị và quyền lực chính trị: Ông dùng khái niệm về cai trị là

"chính" như" vi chính", "vấn chính" Và ông quan niệm lĩnh vực cai trị, ngườicai trị lấy việc ngay thẳng, giữ lòng tin làm chuẩn mực: "chính giả, chính dã, tửxuất dĩ chính, thục cảm bất chính" nghĩa là việc cai trị phải ngay thẳng, nayngài ngay thẳng chính trực, ai còn dám lừa dối (Nhan Uyên - Luận Ngữ) Vậychính trị là chính đạo, thẳng thắn, cai trị phải ngay thẳng

Phương pháp cai trị

Theo ông phương pháp cai trị lý tưởng phải là cai trị bằng đạo đức: "caitrị bằng đức, giống như sao Bắc Đẩu cứ ở yên một chỗ mà các sao khác phảihướng theo về" (Vi Chính - Luận Ngữ)

Quyền lực nhà nước phải tập trung vào một người là vua, bên dưới có chưhầu, đại phu cùng cai quản dân

Lý tưởng chính trị của ông là xây dựng quốc gia Trung Quốc thống nhấttheo mẫu hình nhà Tây Chu, nhà nước đó, trên có thiên tử song vua phải sáng,tôi phải hiền,vua quan tâm chăm sóc dân như cha đối với con

Quan niệm chung về chính trị cũng như lý tưởng về chính trị được ôngtriển khai theo phương pháp luận "Nhất Dĩ Nhi Quán Chi" (Lấy cái bao trùmnhững cái khác) và lấy cái nội dung như dùng "Lễ", "Chính Danh", vàđạo"nhân" là các phương pháp cai trị

"bề trên thích lễ thì dễ sai khiến dân", (hiến vấn - luận ngữ) Lễ nhà Tây Chu là

hệ thống "Lễ"phong phú, phức tạp và nhiều khi giáo điều gò ép Đó là các loại lễ

tế của dân thường cho tới thiên tử ; các quy định xe ngựa, vẻ mặt khi giao tiếp,

Trang 11

chỗ ngồi chỗ đứng, cách đi theo ông "Lễ" quan trọng trong việc cai trị vì các lý

do sau: thứ nhất, nó quy định danh phận thứ bậc người trong xã hội; thứ hai, lễ

có tác dụng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ ứng xử, "không học lễ,

không có gì làm chỗ dựa" (Quý thị - Luận ngữ); thứ ba, "Lễ" có tác dụng hình

thành thói quen đạo đức, thí dụ như con cho cha mẹ ăn phải cung kính, nếukhông cung kính thì khác nào cho chó ngựa ăn" (cung kính dần thành thói quenứng xử)

Quan niệm về "chính danh"

Theo ngài muốn cai trị trước hết phải chính danh, nghĩa là mọi vất vả phảihợp với cái danh mà nó mang Mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm vàbổn phận, phù hợp với danh ấy Chính danh là xác định rõ trật tự cai trị, thứ bậc,trách nhiệm xã hội: ông cho rằng chính danh là hợp với tự nhiên, "Mệnh trời",

"vật các đắc kỳ sở" (Vật đều có chỗ xác định của nó), ông cho rằng một trongnhững nguyên nhân của rối loạn trật tự xã hội là do mỗi người không xác địnhđúng vị trí của mình, ngược lại còn tiếm quyền, tiếm lễ, nội dung chính danh củaông đưa ra gồm: tương xứng với địa vị cai trị phải có phẩm chất tương sứng nhưnhân, nghĩa, liêm , đồng thời chỉ sử dụng “lễ” tương ứng với địa vị đang đượcthừa nhận, bề tôi là thứ hầu, đại phu không dùng lễ của thiên tử

Là thách thức của người cai trị và của mọi thành viên xã hội: "vua phải cư

xử cho ra vua, tôi cho ra tôi , cha cho ra cha , con cho ra con ,"(Nhân Uyên-Luận Ngữ) Ông nhận xét :nếu không chính danh tất loạn, nếu chính danh thìkhông cần ép buộc dân cũng theo và tất "Trị"

Cai Trị Bằng Đạo "Nhân "

• Là chuẩn mực ứng sử giữa người với người, là một giá trị đạo đức xãhội với những nội dung khác nhau

• Tự thắng mình, thực hiện theo lễ đạo nhân (Nhân Uyên -Luận Ngữ ).Điều mình không muốn thì đừng thực hịên ở người khác

• Cung, khoan, tín, miến, huệ (Dương Hoá - Luận Ngữ), nghĩa là khoandung, cung kính giữ lòng tin, chăm chỉ, lòng tốt) Đạo "Nhân" là phương pháp

Trang 12

cai trị được khổng Tử tiếp cận từ quan niệm về phẩm chất của người cai trị, nếutheo điều "Nhân" sẽ tập hợp đươc dân và sẽ khiến dân "bề trên thích lễ, thì dâncũng kính, bề trên thích tín thì dân không dám nói sai" (Tự Lộ - Luận Ngữ ) Ông cho rằng chỉ khi nào thu phục được lòng dân thì mới có quốc gia cườngthịnh.

Ngoài ra Khổng Tử còn nêu những vấn đề khác có liên quan đến việc caitrị như xây dụng hình mẫu con người lý tưởng, người quân tử, phương pháp rènluyện đạo đức con người, giáo hoá dân

Như vậy, có thể nói rằng học thuyết chính trị của Khổng Tử được xâydựng trên ba phạm trù cơ bản: nhân - lễ - chính danh Nhân là cốt lõi của vấn đề,vừa là điểm xuất phát nhưng cũng là mục đích cuối cùng của hệ thống Do vậy,

có thể gọi học thuyết chính trị của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốchay “nhân trị” (chính trị dùng điều nhân) Điều nhân được biểu hiện thông qua

lễ, chính danh là con đường để đạt đến điều nhân Ba yếu tố đó có quan hệ biệnchứng với nhau, tạo nên tính chặt chẽ của học thuyết Về bản chất, học thuyếtchính trị của Khổng Tử là duy tâm và phản động, vì nó không tính đến các yếu

tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thác yếu tố tinh thần (đạo đức) Mục đích củahọc thuyết là bảo vệ chế độ đẳng cấp, củng cố địa vị thống trị của giai cấp quýtộc đã lỗi thời, đưa xã hội trở về thời Tây Chu

1.2.2 Tư tưởng chính trị của Mạnh tử (372 - 289 TCN)

Mạnh Tử là người nước Trâu ông đã kế thừa và phát triển sáng tạo những

tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng học thuyết “Nhân chính”, của mình

Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị

Về quyền lực chính trị:

Cũng giống như Khổng Tử, Mạnh Tử ít bàn đến cách thức tổ chức thể chếchính trị mà thường bàn nhiều về phương pháp cai trị, ông lên án cách cai trịbằng bá đạo (bạo lực), chủ chương cai trị bằng vương đạo (cai trị bằng đạo đức)

Ông giải thích nguồn gốc của quyền lực nhà nước là theo ý trời - lòngdân- nhân đức có quan hệ với nhau, vua phải quan tâm đến dân, giáo hoá dân,

Trang 13

phải được lòng dân mới giữ được ngôi Vua phải chăm lo cho nhân dân "hằngsản " để "hằng tâm", dân có no đủ mới không loạn lạc, không chống đối vua.

Quan hệ vua - tôi là quan hệ hai chiều, vua đối với bề tôi như thế nào, bềtôi đối với vua như thế ấy "Dân quý nhất, xã tắc thứ hai, vua là nhẹ nhất" đây làmột yếu tố dân chủ sơ khai đã thấy rõ sức mạnh của nhân dân

Ông ủng hộ phân biệt đẳng cấp: quân tử lao tâm còn tiểu nhân thì lao lực.Ông cho rằng con người ta sinh ra vốn thiện, nên phải đề cao giáo dục, đểcon người dời xa điều ác, quay trở về điều thiện

Ngoài ra, Mạnh Tử còn nêu ra những vấn đề chính trị khác như tổ chứcthể chế chính trị thời Tây Chu, quan hệ bang giáo hợp mệnh trời giữa nước lớn

và nước nhỏ

Kết luận:

Nhìn chung học thuyết của Mạnh Tử đã đề cập đến những vấn đề cơ bảncủa lĩnh vực chính trị như:quyền lực phong kiến, quan hệ cai trị và bị cai trị,phẩm chất thủ lĩnh chính trị Tuy nhiên trên lập trường giai cấp phong kiến vàlập trường triết học duy tâm là căn bản, học thuyết chính trị của Mạnh Tử khôngthể không xa vào những mâu thuẫn cả trong lý thuyết và vận dụng trong thựctiễn chính trị Chính vì vậy, học thuyết của ông không được phát tác dụng với xãhội đương thời(1)

1.2.3 Tư tưởng chính trị của Tuân Tử (315 - 230 TCN)

Tiểu sử:

Tuân Tử tên là Huống, tự là Khanh, người nước Triệu Ông sống vào cuốithời Chiến Quốc, là thời kỳ cục diện chiến tranh "Thất hùng" đi vào giai đoạncuối xã hội loạn lạc, dân lành khổ sở vì chiến tranh Khi ở nước Sở ông là mônkhách của Xuân Thân Quân từng giữ một số chức quan như quan Tế Tửu nước

Tề, huyện Lệnh Lang Lăng nước Sử khi Xuân Thân Quân mất ông bỏ quan vềnhà dạy học, viết sách Ông có hai học trò nổi tiếng là Lý Tư (Tể tướng nướcTần) và Hàn Phi (học giả nổi tiếng của phái Pháp gia) Tuân Tử theo Nho học

(1) Mạnh Tử - theo sách lược tư tưởng chính trị - NXB Chính trị Quốc gia, 2001 – tr.92

Trang 14

phát triển Nho học theo hướng đối lập với Mạnh Tử về một số nội dung chínhtrị, triết học Ông mất 230 trước Tây lịch, thọ chừng 80 tuổi.

Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị

Ông phát triển Nho giáo theo hướng đi sâu vào đời sống hiện thực, giảiđáp những vấn đề thực tiễn chính trị

Ông nhấn mạnh vai trò của người làm vua, vua là nguồn gốc nảy sinh mọiviệc, là khuôn mẫu để dân chúng noi theo, "vua là nguồn, nguồn trong thì nướctrong, nguồn đục thì nước đục" (quân đạo - Tuân Tử) ; vua là người biết tập hợptạo nên sức mạnh quốc gia, muốn tập hợp được thì vua phải có trí, có nhân

"Đạo là gì ? Đạo là vua, vua là gì ? Vua là người có thể tập hợp được người ta.Tập hợp được thì giữ khéo cho người ta sống, khéo nuôi người ta; khéo đặt ratrật tự cai trị người ta; khéo làm rõ và định việc cho người ta; khéo che đậy sửasai cho người ta Bốn điều ấy mà đủ là thiên hạ theo về, thế là quần tụ người ta"(quân, đạo -Tuân Tử); quan hệ giữa vua và dân thì vua phải thấy được sức mạnhcủa nhân dân

Trang 15

tinh thần lý giải thực tế hợp lý, ông chủ chương cai trị bằng pháp luật điều màKhổng Tử và Mạnh Tử ít bàn đến(1).

(1) Tuân Tử - theo sách lược Lịch sử tư tưởng chính trị - NXB Chính trị Quốc gia, 2001 – tr.94

Trang 16

Chương 2

SỰ TIẾP BIẾN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

2.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam.

Nho giáo từ Trung Quốc đã truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản và ViệtNam để hình thành một vành đai văn hoá Nho giáo Khi nghiên cứu sự xâmnhập của Nho giáo vào Việt Nam, tác giả Ngô Xuân Thảo, Nông Thị Mồng cóchung một nhận định: Hán Nho được du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối

trước công nguyên, bằng những con đường khác nhau: một là: thông qua con đường của những đội quân xâm lược được trang bị hệ tư tưởng Nho giáo; hai là:

thông qua con đường truyền giáo có tổ chức của đội ngũ quan chức người TrungQuốc được các Triều đình phong kiến Trung Quốc đánh phá thực hiện ách thốngtrị Bắc thuộc ở Việt Nam, trong đó có Quang Tích, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp lànhững quan lại đã có nhiều nỗ lực trong việc truyền bá Nho giáo tới Việt Nam;

ba là: con đường của những thương nhân theo đường biển đưa Nho giáo tới Việt

Nam; bốn là: thông qua con đường của những dân cư tự do người Trung Quốc

có hành động chống lại triều đình và bị săn đuổi đã di cư tới Việt Nam để sinhsống Sự di cư của những người dân Trung Quốc này cũng góp phần đưa tưtưởng Nho giáo vào Việt Nam

Trong các cách thức xâm nhập của Nho giáo vào Việt Nam thì con đườngtruyền giáo có tổ chức của đội ngũ những quan lại người Trung Quốc trong suốtthời kỳ Bắc thuộc là chủ yếu.Vì nó nằm trong chính sách chủ động âm mưuđồng hoá của các triều đình phong kiến đối với Việt Nam

2.2 Sự tiếp biến tư tưởng chính trị Nho giáo của người Việt Nam.

Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu như thế nào? Tác giả Tô XuânThảo đã có những phân tích và luận giải sâu sắc Tác giả cho rằng: Tuy là mộthọc thuyết có nhiều nhân tố tích cực nhưng suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc,

Trang 17

Nho giáo vẫn không có vị trí đáng kể trong đời sống tinh thần của cộng đồng xãhội người Việt, không được đa số người Việt hào hứng đón nhận, bởi nhiều lý

do khác nhau: Nho giáo là công cụ của kẻ thống trị ngoại bang ức hiếp nhân dân

ta nên không được chấp nhận Hơn nữa nó cũng không phù hợp với xã hội vừathoát thai từ chế độ Lạc Hầu, Lạc Tướng

Sau một thời gian, người Giao Châu dần dần làm quen với Nho giáo, từ

đó có sự thay đổi trong nhận thức, trong thái độ đối với Nho giáo; từ phản ứngđến tiếp thu, từ xa lạ đến gần gũi, biến công cụ của kẻ địch thành công cụ củachính bản thân mình(1)

Nét đặc trưng của người Việt trong quá trình tiếp thu hệ thống tư tưởngNho giáo không phải tiếp thu hệ thống này như một hệ thống "những công thứctoán" đã có sẵn để áp đặt một cách giáo điều, máy móc vào thực tiễn của đờisống xã hội, mà tiếp thu có chọn lọc có phát triển, người Việt đã kế thừa và pháthuy những tư duy vốn có của tổ tiên, đồng thời tiếp thu hệ thống tư duy đã pháttriển qua mấy nghìn năm của người Hán, làm phong phú vốn tri thức của mình

và trở thành những yếu tố Nho giáo mang bản sắc Việt Nam như:

 Yếu tố áp dụng cho việc xây dựng một nhà nước phong kiến và một trật

tự xã hội phong kiến Việt Nam vững mạnh và phát triển

 Yếu tố tư tưởng về xây dựng các mối quan hệ xã hội theo cấu trúc "Ngũluân"

 Yếu tố tư tưởng coi trọng dân

Theo hướng nghiên cứu chi tiết hơn về phương pháp người Việt đã tiếpthu Nho giáo các tác giả: Lê Bỉnh, Lê Thị Thuỷ đã có những nhận định sắc nét,đồng quan điểm với những nhà nghiên cứu về Nho giáo, trong cuốn "một số vấn

đề về Nho giáo Việt Nam" NXB chính trị QG 1999 của tác giả Nguyễn NamThắng cho rằng: "Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc,đến nước ta Nho giáo được dung hợp và hoà đồng theo cách nghĩ của người ViệtNam" Từ khi được Việt Nam hoá, Nho giáo đã góp phần đáng kể vào việc tạo

(1) Nghiên cứu khoa học: 1993 – 2003, NXB Chính trị Quốc gia, tr.92

Ngày đăng: 08/10/2015, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w