Ảnh hưởng của dạng phân bón và mật độ trồng đến khả năng nhân giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 83 3.2.10.. Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng Kali bón dạng phân viên nén đến năng suấ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HOÀNG ĐỨC HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG CÓI
ĐANG TRỒNG PHỔ BIẾN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT CÓI TẠI NINH BÌNH VÀ THANH HOÁ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
HÀ NỘI, 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
HOÀNG ĐỨC HUẾ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ GIỐNG CÓI
ĐANG TRỒNG PHỔ BIẾN VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TĂNG NĂNG SUẤT CÓI TẠI NINH BÌNH VÀ THANH HOÁ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này ngoài sự nỗ lực của bản thân, nghiên cứu sinh
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể và cá nhân
Lời đầu tiên nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh, TS Ninh Thị Phíp đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo nghiên cứu sinh trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn thầy, cô giáo Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, Ban Quản lý Đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ Nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn UBND, Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây đã tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt để nghiên cứu sinh học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này cho phép nghiên cứu sinh được chân thành cảm ơn đến Công ty Nông nghiệp Bình Minh, Cán bộ, Nhân dân Thị trấn Bình Minh, Kim Sơn, Ninh Bình và xã Nga Tân, Nga Sơn, Thanh Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Cuối cùng nghiên cứu sinh xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã luôn ủng
hộ, động viên, tạo điều kiện giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Một lần nữa nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn tất cả những giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân dành cho nghiên cứu sinh
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Trang 51.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới và ở Việt Nam 5 1.2 Tình hình sản xuất các giống cói ở một số vùng tại Việt Nam 8
1.5.2 Đặc điểm quá trình đâm tiêm và đẻ nhánh của cây cói 17
1.6 Kết quả nghiên cứu về sinh thái của cây cói 20
Trang 61.11 Nhận xét chung về các kết quả nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 36
2.4.2 Xây dựng mô hình thử nghiệm kỹ thuật bón phân viên nén cho
2.4.4 Phương pháp tính toán và phân tích kết quả thí nghiệm 53
3.1 Nghiên cứu đặc điểm giống cói Cổ khoang Bông Trắngvà cói
Trang 73.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng
3.2.1 Ảnh hưởng của của tuổi ruộng cây giống đến khả năng nhân
3.2.2 Ảnh hưởng của phương thức tách mầm đến khả năng nhân giống
3.2.3 Ảnh hưởng của chiều cao cắt mầm đến khả năng nhân giống cói
3.2.4 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm đến khả năng nhân giống cói
3.2.5 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản cây giống đến khả năng nhân
3.2.6 Ảnh hưởng của thời vụ tách mầm đến khả năng nhân giống cói
3.2.9 Ảnh hưởng của dạng phân bón và mật độ trồng đến khả năng
nhân giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 83
3.2.10 Ảnh hưởng của khoảng cách hàng đến khả năng nhân giống cói
3.2.11 Ảnh hưởng của số lần cắt éo đến khả năng nhân giống cói Cổ
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón N, P, K đến năng suất,
3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức đạm bón dưới dạng viên nén đến
năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 89
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng lượng lân bón đến năng suất và phẩm chất
Trang 83.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng Kali bón dạng phân viên nén đến
năng suất và phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 93 3.4 Nghiên cứu kỹ thuật bón phân viên nén cho cói Cổ khoang Bông
3.4.1 Ảnh hưởng của các dạng phân bón khác nhau đến năng suất,
3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón NPK phối hợp đến
năng suất và phẩm cấp cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 96 3.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp bón phân viên nén đến
năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 98 3.4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của số lần và tỷ lệ các lần bón phân viên
nén trên bề mặt ruộng đến năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang
3.4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng khoảng cách giữa 2 lần bón phân viên nén
đến năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 101 3.4.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của mức đạm bón bổ sung trước thu hoạch
đến năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 102 3.5 Kết quả xây dựng mô hình thử nghiệm bón phân viên nén cho cói
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
TCMN Thủ công mỹ nghệ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình sản xuất cói ở Việt Nam qua các năm (từ 1998 - 2011) 7 1.2 Phân loại thực vật nguồn gen họ cói tại Việt Nam 13 1.3 Đặc tính cơ bản của 4 loài cói chính ở Việt Nam 14 2.1 Đặc điểm thổ nhưỡng, nông hóa đất thí nghiệm 39 3.1 Đặc điểm hình thái thân khí sinh và lá của các mẫu giống cói 54
3.3 Đặc điểm hình thái giải phẫu thân khí sinh và rễ của các mẫu
3.4 Chiều cao và đường kính thân khí sinh của các mẫu giống cói 62 3.5 Mức độ nhiễm sâu đục thân, bệnh đốm vàng và khả năng chống
3.6 Số tiêm hữu hiệu và năng suất của các mẫu giống cói 66 3.7 Phẩm cấp và hàm lượng xenluloza của một số mẫu giống cói 68 3.8 Tổng hợp một số đặc điểm chính của các mẫu giống cói 70 3.9 Ảnh hưởng của tuổi ruộng cây giống đến khả năng nhân giống
3.10 Ảnh hưởng của phương thức tách mầm đến khả năng nhân giống
3.11 Ảnh hưởng của chiều cao cắt mầm đến khả năng nhân giống cói
3.12 Ảnh hưởng của số dảnh cấy/khóm đến khả năng nhân giống cói
3.13 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản cây giống đến khả năng nhân
3.14a Ảnh hưởng của thời vụ tách mầm đến khả năng nhân giống cói
Trang 113.14b Một số yếu tố khí tượng tại các khu vực nghiên cứu giai đoạn từ
3.17a Ảnh hưởng của từng nhân tố nghiên cứu (dạng phân bón và mật
độ trồng) đến khả năng nhân giống cói Cổ khoang Bông Trắng
3.17b Ảnh hưởng tương tác của dạng phân bón và mật độ trồng đến
khả năng nhân giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 84 3.18 Ảnh hưởng của khoảng cách hàng đến khả năng nhân giống cói
phẩm chất cói cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 90 3.22 Kết quả ảnh hưởng của lượng lân bón dạng viên nén đến năng
suất và phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 923.23 Ảnh hưởng của lượng kali bón dạng nén đến năng suất và phẩm
3.24 Ảnh hưởng của dạng phân bón khác nhau đến năng suất, phẩm
3.25 Ảnh hưởng của các công thức bón NPK phối hợp đến năng suất,
Trang 123.26 Ảnh hưởng của phương thức bón phân viên nén đến năng suất,
phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 99 3.27 Ảnh hưởng của số lần và tỷ lệ các lần bón phân viên nén trên
mặt ruộng đến năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng
3.28 Ảnh hưởng khoảng cách giữa 2 lần bón phân viên nén đến năng
suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 102 3.29 Ảnh hưởng của mức đạm bón thúc bổ sung trước thu hoạch đến
năng suất, phẩm chất cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 1033.30 So sánh năng suất và chất lượng cói giữa mô hình bón phân viên
nén với mô hình bón phân đơn theo phương pháp truyền thống 105 3.31 So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình bón phân viên nén với mô
hình bón phân đơn theo phương pháp truyền thống 107 3.32 Tỷ số giá trị lợi nhuận biên giữa mô hình bón phân viên nén với
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Sơ đồ phân bố nguồn gen cói đã thu thập ở Việt Nam 11
3.2 Rễ, thân khí sinh, hoa cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 56
3.4 Rễ, thân khí sinh, hoa cói Cổ khoang Bông Trắng dạng xiên 56
3.10 Giải phẫu thân khí sinh có Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 61 3.11 Giải phẫu rễ cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng 61 3.12 Giải phẫu thân khí sinh cói Cổ khoang Bông Trắng dạng xiên 61 3.13 Giải phẫu rễ cói Cổ khoang Bông Trắng dạng xiên 61
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây cói thuộc họ cói (Cyperaceae) là cây công nghiệp, cây đặc sản ở vùng
nhiệt đới, được trồng chủ yếu để lấy sợi Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của cây cói thành những vùng rộng lớn (tính đến năm 2008 là 11.700 ha), tại nhiều xã, huyện ven biển thuộc 26 tỉnh thành trong cả nước, đã hình thành những làng nghề bao gồm từ trồng cói đến sản xuất và kinh doanh nguyên liệu cói thô, chiếu dệt truyền thống, thảm cói, chiếu xe đan xuất khẩu và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác khá sôi động và phong phú Nghề trồng và chế biến cói đã trở thành nghề chính của nông dân nhiều vùng đặc biệt như huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) có tới 80% nông dân sống bằng nghề cói, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cói năm 2006 đạt 90 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước 4,6 tỷ đồng; huyện Kim Sơn (Ninh Bình) có đến hơn 90% số làng đều có nghề sản xuất chế biến các mặt hàng từ cây cói, hàng nghìn hộ dân trong huyện
đã làm giàu từ nghề truyền thống này (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b)
Nghề trồng và chế biến cói của Việt Nam có từ thời xa xưa đến nay đã và đang tạo công ăn việc làm, nguồn thu nhập chính của hàng vạn nông dân các làng nghề cả nước nói chung và Ninh Bình, Thanh Hóa nói riêng, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn tại địa phương và phát triển dịch vụ xuất khẩu (mặt hàng cói của Việt Nam đứng thứ ba sau Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a, chiếm 10% trong 179 triệu USD tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bằng nguyên liệu tự nhiên (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2009) Đánh giá về vị thế của nguyên liệu sợi cói nhiều chuyên gia thiết kế hàng thủ công mỹ nghệ cho rằng: “Cói là nguyên liệu tự nhiên tốt, có thể dùng để sản xuất nhiều mặt hàng cói khác nhau, song có một số hạn chế như: nhuộm màu để lâu dễ bị phai, khó nhuộm các màu sắc đạt tới độ chuẩn,
dễ ẩm mốc… nên mẫu mã ít, kiểu dáng chưa phong phú, dẫn đến giá trị thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao” Do đó, để có nhiều sản phẩm cói có giá
Trang 15trị, đẳng cấp cao hơn, cần nghiên cứu cải tiến nâng cao năng suất và đặc biệt
là chất lượng nguyên liệu cói
Trên thực tế cho thấy: tại Ninh Bình, Thanh Hóa cũng như toàn Việt Nam,
loài cói được trồng phổ biến là Cyperus Malacensis Lam với 2 giống chính là: giống cói Bông Trắng (Cyperus Tagestiformis Roxb) - với 2 dạng đứng và xiên; giống cói Bông Nâu (Cyperus malaccensis Corymbosus Rottb) Theo kết
quả điều tra của các tác giả Nguyễn Tất Cảnh và Ngô Hương Trà (2006): tại Nga Sơn giống cói Bông Trắng chiếm 80 - 90%, cói Bông Nâu chiếm 10 - 20%, hai giống này có thân khí sinh dài, phẩm chất tốt, sợi dai dẻo, màu sắc tươi đẹp, đường kính cây đồng đều… Tuy nhiên, nhiều các kết quả nghiên cứu chưa xác định được về tỷ lệ cói Bông Trắng dạng đứng, dạng xiên, dạng nào năng suất, chất lượng tốt hơn…để có thể định hướng lựa chọn giống tốt phục
vụ sản xuất
Cũng theo kết quả điều tra của Nguyễn Tất Cảnh và Ngô Hương Trà (2006) cho thấy, một số diện tích cói tại Ninh Bình và Thanh Hóa đang bị thoái hóa Nguyên nhân chính dẫn đến thoái hóa là chất lượng giống, mống cói kém, dẫn đến khả năng mọc mầm đâm tiêm, tạo cây hữu hiệu và sinh trưởng kém, dễ dàng bị sâu bệnh và cỏ dại phá hoại Do đặc điểm của cây cói không những có khả năng sinh sản vô tính mà còn có khả năng sinh sản hữu tính theo kiểu thụ phấn chéo đã làm cho quần thể ruộng cói bị phân ly qua các năm, ruộng cói không đồng đều, ra hoa sớm, muộn, cây cao, thấp, lẫn tạp sinh học làm quần thể ruộng cói ngày càng suy thoái Ngoài ra, do nông dân trồng cói ngày càng sử dụng nhiều phân hóa học chủ yếu là phân đạm dẫn đến sợi cói nguyên liệu xốp, mềm dễ bị ẩm mốc trong quá trình bảo quản, cói xẫm màu, không đẹp và chất lượng kém Đặc biệt, tại ruộng cói tồn tại nhiều sâu, bệnh hại sức sinh trưởng kém, năng suất thấp
Điều này cho thấy cần phải có một nghiên cứu đồng bộ, mang tính hệ thống đi từ xác định giống, dạng cói tốt, nghiên cứu nhân nhanh các giống tốt
Trang 16đã lựa chọn và các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, đặc biệt là phân bón và bón phân cho cói sẽ là những biện pháp tối ưu tạo ra sự đột phá về năng suất và nâng cao chất lượng cói rõ rệt, trên cơ sở đó góp phần chuyển từ vùng cói sản xuất “Quảng canh” sang vùng cói “Thâm canh” theo hướng bền vững quy mô hóa, chuyên môn hóa và thâm canh hóa cho cây cói - một cây có khả năng thích ứng rộng, chịu úng, mặn, được xem là cây đi tiên phong trong mở rộng diện tích khai phá vùng đất hoang hóa, chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của việc biến đổi khí hậu ngày càng mạnh mẽ cho vùng cói Ninh Bình, Thanh Hóa nói riêng và trên toàn Việt Nam nói chung là hết sức cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá đặc điểm nông, sinh học của một số mẫu giống cói đang được trồng phổ biến nhằm xác định mẫu giống cói triển vọng và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng mẫu giống cói triển vọng đó
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, năng suất, chất lượng của ba mẫu giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng (CKBTDĐ),
Cổ khoang Bông Trắng dạng xiên (CKBTDX) và Bông Nâu (BN)
- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng biện pháp tách mầm và bón phân viên nén để đạt hệ số nhân giống, năng suất, chất lượng cao cho giống cói triển vọng
3 Những đóng góp mới của luận án
Nghiên cứu chi tiết về đặc điểm hình thái, giải phẫu, khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu và năng suất, chất lượng của ba mẫu giống cói CKBTDĐ, CKBTDX, BN Từ đó xác định được cói CKBTDĐ là mẫu giống
ưu thế
Nghiên cứu một cách hệ thống kỹ thuật nhân giống cói CKBTDĐ bằng biện pháp tách mầm cho hệ số nhân giống cao để phục vụ sản xuất
Trang 17Đề tài đã xác định được liều lượng phân bón phù hợp và kỹ thuật bón phân viên nén cho cói CKBTDĐ tại Kim Sơn - Ninh Bình, Nga Sơn - Thanh Hóa đạt năng suất, chất lượng cao, tiết kiệm phân bón và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài cung cấp các dữ liệu khoa học một cách hệ thống
về đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cói nói chung, giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng nói riêng, là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu, giảng dạy về cây cói trong các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp
4.2 Ý́ nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các nhà khoa học, người sản xuất phân biệt được rõ ràng hơn những đặc điểm nông, sinh học của cói Bông trắng và Bông Nâu, hai giống đang được trồng phổ biến ở nước ta, đồng thời góp phần xây dựng quy trình nhân giống và thâm canh cói đạt năng suất, chất lượng cao, nâng cao hiệu quả sử dụng đất vùng nước lợ ven biển và tăng thu nhập cho người sản xuất cói
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học tiến hành trên giống cói Bông
Trắng (Cyperus malaccensis tagetiformis Roxb) với 2 dạng đứng và xiên và cói Bông Nâu (Cyperus malaccensis Corymbosus Rottb), những giống đang
được trồng phổ biến tại các vùng trồng cói của Việt Nam
- Nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật trồng trọt (nhân giống, bón phân) chỉ tiến hành trên giống cói Cổ khoang Bông Trắng dạng đứng
- Đề tài tập trung nghiên cứu tại vùng cói Kim Sơn - Ninh Bình và Nga Sơn - Thanh Hóa, hai vùng cói trọng điểm của Việt Nam có điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội thuận lợi cho việc phát triển cói
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới mặc dù cây cói phân bố rộng rãi khắp nơi, nhưng hiện nay các vùng lãnh thổ, các nước có sản xuất và làm hàng thủ công mỹ nghệ từ cói cũng như nguyên liệu thay thế được biết đến là: Ở vùng ôn đới của châu Á gồm các nước Tây Á (Iran, Irăc), Trung Quốc (Vũ Hán, Quảng Tây và Sichuan), Đông Á (Nhật Bản - Hokkaido, Kyushu, Ryukyu, Islands, Shikoku, Đài Loan) Vùng nhiệt đới châu Á có các nước Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Phillippines Ở châu Úc với một số địa phương ở miền Bắc (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b)
Hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên hiện nay chủ yếu do các nước đang phát triển cung cấp Đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là những sản phẩm tương tự của Trung Quốc và Indonesia
Các nước như Trung Quốc, Nhật Bản hầu như không sản xuất cói chẻ
Các nước này chủ yếu trồng cói không chẻ thuộc họ Bấc (Juncaceae) Kỹ
thuật sản xuất cũng có nhiều điểm khác biệt như: Cói thu hoạch hàng năm, không lưu gốc, không mất thời gian cho công đoạn chẻ, sản phẩm của cói thân tròn bảo quản được lâu hơn (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b)
Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc so với Việt Nam về hàng thủ công
mỹ nghệ từ cói là do mẫu mã đa dạng và đẹp hơn Mặt khác ngoài nguyên liệu từ cói, Trung Quốc còn sử dụng các nguồn nguyên liệu thay thế vừa rẻ và lại nhiều như: cây liễu và xidan Xidan là nguyên liệu thay thế cói rất tốt trong nhóm hàng thảm đệm Liễu dùng làm rổ, khay, hộp đựng, làn, túi có màu sắc phong phú, dễ giữ hình dạng chính xác, giá rẻ và liên tục cải tiến kỹ thuật
Trang 19Ngoài ra, trong các nước khu vực Đông Nam Á cũng phải kể đến Indonesia, tại đây người ta đã thay thế cói bằng các nguyên liệu chủ yếu khác như: mây
và lá cọ Mây của Indonesia có nhiều loại hơn, chất lượng, tính năng tốt và giá rẻ Indonesia lại là Quốc gia có nhiều loại gỗ tốt Vì vậy, Indonesia có ưu thế về bàn ghế và đồ nội thất là nhóm sản phẩm có nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b)
Về thị trường tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cói và nguyên liệu tự nhiên trên thế giới ngày càng ổn định và mở rộng Thị trường lớn nhất
về tiêu tụ hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên trước tiên
là Mỹ, tiếp đến Liên minh châu Âu (EU) và Nhật bản
Theo Nguyễn Quang Học và cs (2008), nhu cầu các mặt hàng thủ công
mỹ nghệ từ cói thị trường EU tăng khoảng 14%, Mỹ tăng 8% và toàn thế giới tăng khoảng 4% so với năm 2007
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, mặc dù còn có những tồn tại như giống cói bị lẫn tạp, thoái hóa, nhưng diện tích sản xuất cói nguyên liệu vẫn được duy trì Năm 1998 diện tích trồng cói là 9.800 ha đến năm 2002 tăng lên 12.300 ha và đạt cao nhất 14.000 ha năm 2003 tăng từ 25,51 % đến 42,86% so với năm 1998 Từ năm 2004 đến năm 2006 diện tích trồng cói có
xu hướng giảm, nhưng năm 2007 tăng trở lại, tiếp sau 2008 giảm mạnh và tương đối ổn định cho đến năm 2011 (bảng 1.1) (Tổng cục Thống kê, 2012)
Hiện có 26 tỉnh, thành phố ven biển trồng cói tập trung ở 3 vùng lớn (1) Vùng đồng bằng sông Hồng (2) Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (3) Vùng đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh có diện tích trồng cói lớn như: Thanh Hóa, Ninh Bình, Vĩnh Long và Long An
Theo Nguyễn Tất Cảnh và cs (2008a) cói có thể trồng ở các vùng đất hoang hóa, đất ngập úng, nhiễm mặn nên tiềm năng mở rộng diện tích còn rất lớn, mặt khác trồng cói còn giúp cho việc chống xói lở, hạn chế tác hại của việc biến đổi khí hậu
Trang 20Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cói ở Việt Nam qua các năm (từ 1998 - 2011)
7,13 6,65 6,60 6,65 7,16 6,84 6,91 6,44 7,32 7,16 7,24 7,21 7,23 7,23
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2012)
Tuy nhiên, việc phát triển diện tích trồng cói có liên quan chặt chẽ đến giá cả thị trường Cũng qua bảng 1.1 cho thấy, diện tích trồng cói lớn nhất vào các năm 2003, 2004, 2007 (14.000, 13.000, 13.800 ha) do thời gian này nhu cầu tăng về cói nguyên liệu từ thị trường Trung Quốc và nước châu Âu dẫn đến giá cói tăng (1 ha cói giá trị tương đương 3 ha lúa) (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b); Song năm 2008 diện tích lại giảm mạnh chỉ còn 11.700 ha do giá cói giảm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “rớt” giá cói, trong đó có nguyên nhân về chất lượng của cói nguyên liệu đã không đáp ứng được sự đa dạng của mặt hàng cói, đặc biệt là thị trường thế giới
Trang 21Nghề trồng cói của Việt Nam ngoài việc tiêu dùng trong nước, còn để xuất khẩu Ngay từ năm 1928, Việt Nam đã xuất khẩu 1500 tấn cói sang Hồng Kông Đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trồng cói ngoài việc sử dụng để dệt chiếu tiêu dùng trong nước còn phát triển các mặt hàng xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu Giữa thập kỷ 90, Liên Xô và Đông Âu tan rã Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu mặt hàng từ cói Từ năm 1998 đến nay, thị trường xuất khẩu được khai thông sang Trung Quốc, châu Âu, Nhật và Mỹ Nhiều vùng trồng cói, sản xuất và kinh doanh từ nguyên liệu cói thô, chiếu dệt truyền thống, thảm cói, chiếu xe đan xuất khẩu và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ khá sôi động và phong phú (Đỗ Khắc Ngữ, 2008)
Theo Phạm Như Phước (2008) và Bộ Nông nghiệp và PTNT (2009), hiện trên thế giới có hai thị trường chính cho hàng thủ công mỹ nghệ là thị trường đồ nội thất và thị trường hàng quà tặng trang trí, ước tính đạt khoảng 3
tỷ USD/năm, trong đó 1% là mặt hàng cói Nhiều chuyên gia thiết kế hàng thủ công mỹ nghệ cho rằng: “cói là nguyên liệu tự nhiên tốt, có thể dùng để sản xuất nhiều mặt hàng cói khác nhau Tuy nhiên, nguyên liệu này có một số hạn chế như có mùi, nhuộm màu dễ bị phai, khó nhuộm được các màu sắc chính xác và một số màu không thể nhuộm được Do đó, dẫn đến mẫu mã ít, kiểu dáng đơn điệu, giá trị thấp, khả năng cạnh tranh không cao” Vì vậy, để có được nhiều giá trị sản phẩm cói ở đẳng cấp cao hơn, việc nghiên cứu cải tiến,
áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm nâng cao năng suất, chất lượng của nguyên liệu cói là hết sức cần thiết
1.2 Tình hình sản xuất các giống cói ở một số vùng tại Việt Nam
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1996), Hoàng Văn Nghiệp (1980) ở nước ta cói được trồng phổ biến là cói Bông Trắng và cói Bông Nâu Cói Bông Trắng có năng suất và phẩm chất tốt hơn Cói Bông Trắng gồm hai dạng hình: dạng đứng và dạng xiên
Trang 22Theo Nguyễn Hữu Nghĩa và cs (1986) ở Hải Phòng, từ năm 1986 trở về trước, có một số nguồn gen cói được sử dụng làm vật liệu trồng là: Giống Bông Trắng: thân tương đối tròn, cao, dáng mọc hơi nghiêng, năng suất cao (54 - 95 tạ/ha); Giống Bông Nâu, thân to, mọc đứng, cứng cây, năng suất từ
40 - 60 tạ/ha, phẩm chất kém hơn cói Bông Trắng; Giống cói 3 cạnh, thân 3 cạnh, cạnh sắc, cây cứng và dòn, gốc to, ngọn nhỏ, năng suất thấp (27 - 40
tạ/ha), phẩm chất kém; cói đầu ruồi, thân tròn, cao 60 - 70 cm; Cói Kẹ, gần
giống cói 3 cạnh nhưng thân cây to, màu xanh đậm, ruột xốp, mềm Tuy nhiên giống được trồng phổ biến trong sản xuất là cói Bông Trắng
Ở Nga Sơn - Thanh Hóa có hai giống cói được trồng là cói Bông Trắng
(thân tròn) chiếm 80 - 90% và Bông Nâu (thân dẹt, có cạnh) chiếm 10 - 20% Đây là hai giống cói có chiều cao thân khí sinh dài nhất và phẩm chất tốt nhất (dai, dẻo, màu sắc tươi đẹp, đường kính cây đồng đều) được trồng phổ biến
hiện nay (UBND huyện Nga Sơn, 2009)
Theo số liệu thống kê của phòng Công thương huyện Kim Sơn, năm
2011, toàn huyện Kim Sơn có tổng diện tích trồng cói 2 vụ là 384,3 ha, sản lượng cói chẻ khô cả năm đạt 3.125 tấn Trong đó: giống cói Bông Trắng chiếm tỷ lệ khoảng 80%; giống cói Bông Nâu khoảng 20% (Ngân Hà, 2012)
Ở Bình Định từ năm 2006 - 2010 diện tích trồng cói của cả tỉnh dao động từ 304 - 363 ha Trong đó: giống cói Bông Trắng chiếm tỷ lệ 63,7%; giống cói Bông Nâu chiếm 36,3% (Nguyễn Thanh Phương, 2013)
1.3 Nguồn gốc và phân bố của cây cói
Nees (1842) cho biết trên thế giới từ rất sớm, các chi trong họ cói đã được ghi chép bởi Christian Gottfried Daniel Nees Von Esenbeck trong hệ thực
vật của Brazil Theo Rosetto et al (1992) cho rằng, cây cói phân bố ở hầu hết
trong hệ sinh thái của miền tây châu Úc Về nguồn gốc cây cói nhiều nghiên
Trang 23cứu cho rằng, cây cói có xuất xứ từ vùng Đông Nam Á, sau đó được mở rộng
ra phía Tây tới Irắc Ấn Độ, phía Bắc tới Nam Trung Quốc, phía Nam tới châu
Úc và Indonesia Theo Govaert and Simpson (2007), Irene et al (2011), một số loài trong họ cói thuộc chi Cephalocarpus phân bố ở Nam Mỹ, vùng sinh thái đặc hữu của Guayana và rừng Amazon Trong đó chi Carex là chi lớn nhất thuộc họ cói (Alves et al., 2009; Reznicek, 1990)
Kết quả nghiên cứu của Alves et al (2009) cho thấy, danh mục các loài của hệ thực vật ở Brazil chi Confertus thuộc họ cói có nguồn gốc từ
Brazil và Colombia Cói được nhập vào trồng ở Brazil để làm nguyên liệu đan lát Hiện nay, được biết họ cói phân bố rộng khắp thế giới, nhiều nhất
ở Bắc bán cầu với trung tâm đa dạng là miền nhiệt đới châu Á và Nam Mỹ (Goetghebur, 1998) Họ cói phát triển tốt, nhiều loài có thể tìm thấy ở các vùng sinh thái khác nhau như đầm lầy, vùng đất ít dinh dưỡng, đất ướt, đất phù sa bồi lấp gần các cửa sông, ven biển
Họ Cói (Cyperaceae) là một trong những họ đa dạng nhất trong thế giới
thực vật với khoảng 103 chi và gần 5400 loài (Govaert and Simpson, 2007)
Tại Việt Nam, theo sách “Vân Đài Loại Ngữ” của Lê Quý Đôn, cách đây 5 thế kỷ nhân dân ta đã biết trồng cói và dệt chiếu Nghề dệt chiếu có từ thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) do Phạm Đôn Lễ đưa về từ Quảng Tây, Trung Quốc Nhiều tài liệu cho thấy, cói thường mọc hoang trong rừng, ven đường, ruộng đồng, đầm lầy, bãi cát và được trồng ở vùng ven biển, các tỉnh phía Bắc từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa, và dọc ven biển các tỉnh Nam Trung bộ Tại miền Nam, cói mọc nhiều ở Đồng Tháp Mười Nó cũng có thể mọc và trồng ở ven sông lớn Nhìn chung điều kiện sinh thái của các loài cói trong chi cói là rộng rãi, vì vậy đại diện của nó có thể gặp ở rất nhiều nơi (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2008b)
Trang 24Hình 1.1 Sơ đồ phân bố nguồn gen cói đã thu thập ở Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Tất Cảnh (2010)
Trang 251.4 Phân loại thực vật
Trong hệ thống phân loại thực vật, cây cói được phân loại như sau: Giới (regnum): Plantae
Ngành (division): Magnoliophyta
Lớp (class): Liliopsida
Bộ (ordo): Cyperales
Họ (familia): Cyperaceae
Phân họ (subfamilia): Cyperoideae
Chi (genus): Cyperus
Cói, tên phổ biến tiếng Anh là Shichito matgrass, thực vật một lá mầm (Monocotyledones hay Liliopsida) gồm cả cói trồng và cói mọc hoang dại
thuộc chi cói (Cyperus), họ cói (Cyperaceae), bộ cói (Cyperales) Họ cói có
khoảng 95 chi với 3800 loài, phân bố rộng rãi khắp nơi, đặc biệt là ở vùng
ôn đới và hàn đới Nước ta hiện biết 28 chi và trên 300 loài (Hoàng Thị Sản, 2003; Võ Văn Chi và cs., 1999) Theo Phạm Hoàng Hộ (2000), họ cói ở Việt Nam có 384 loài
Tại Việt Nam họ cói có 28 chi và trên 360 loài, 2 phân loài và 24 thứ phân bố từ Bắc đến Nam, từ vùng núi cao, trung du đến đồng bằng, ven biển
và các hải đảo (Nguyễn Khắc Khôi, 2002)
Cũng theo Nguyễn Khắc Khôi (2002), họ Cyperaceae ở Việt Nam đã
được sắp xếp theo quan điểm 4 phân họ với 6 tông, 28 chi, như trình bày trong bảng 1.2
Ở nước ta chi cói Cyperus gồm 61 loài, đa phần là các loài hoang dại, thuộc
loại cỏ nhiều năm có thân rễ Thân 3 cạnh hay hình trụ, lá hình đường, đôi khi hình mũi mác Cụm hoa dạng anten mọc xòe rộng Lá bắc tổng bao 3 - 4, dài hơn nhiều so với cụm hoa Bông chét có từ 6 - 12 hoa, hình đường, vảy hình trứng, bầu dục hay mũi mác, Hoa lưỡng tính, không có bao hoa Nhị có 2 - 3 Quả hình thuôn, hình trứng 3 cạnh dẹp lưng, màu nâu thẫm hay đen, đầu nhụy xẻ 3
Trang 26Bảng 1.2 Phân loại thực vật nguồn gen họ cói tại Việt Nam
Trang 27Trong thực tiễn có 4 loài cói chính được trồng để làm hàng thủ công mỹ
nghệ Trong bảng 1.3 trình bày một số đặc tính cơ bản của 4 loài đó
Bảng 1.3 Đặc tính cơ bản của 4 loài cói chính ở Việt Nam
Cỏ đa niên, có thân rễ, có
nhiều chồi và căn hành
Cỏ đa niên,
có thân rễ,
Cỏ đa niên có thân bồ
màu nâu đen
Cao cây 0,8m (50 - 100cm)
Thân xanh có 3 cạnh bên,
3 mặt lõm, có cánh ở cạnh
phía đỉnh
Thân 3 cạnh ở phía đỉnh, gần như có cánh
Thân 3 cạnh, góc tù
có màng ngăn ngang
mờ
Thân 3 cạnh ở phía đỉnh
Lá gốc tiêu giảm, Lá giữa
thân dài =1/2 thân, bẹ dài
Lá tiêu giảm Lá tiêu giảm còn bẹ
trong mỗi bông, hình
đường , vảy hình trứng hay
đỏ tía Nhị 3
Cụm hoa dạng anten, dài 10cm Lá bắc tổng bao 3-4 ngắn hơn cụm hoa Bông chét hình đường, dài 1,5- 2cm, rộng 1,5-2mm
Vảy hình trứng màu vàng xanh hay nâu nhạt, mép bên mỏng
và trắng trong Nhị 3
Cụm hoa dạng anten rộng, dài 30cm Lá bắc tổng bao 4-8, dài hơn cụm hoa Bông chét hình đường, vảy hình trứng dài 1,2-1,7mm, đỉnh nhọn, 3-5 gân giữa nổi rõ, màu nâu, xếp 2 hàng Nhị 3
Quả hình thuôn, 3 cạnh,
dẹp lưng, màu nâu thẫm
hay đen, đầu nhụy xẻ 3
Quả hình trứng, 3 cạnh, dài 1mm, màu nâu thẫm, đầu nhụy
xẻ 3
Quả hình trứng ngược, đầu nhụy xẻ 3, màu nâu
Quả hình trứng ngược, 3 cạnh, nâu/vàng, đầu nhụy xẻ 3
Mùa hoa quả tháng 2-11 Mùa hoa quả
triều cao, đất bùn, nước lợ
hay trong đồng ruộng sau
đê, cây được trồng
Mọc ưu thế ở vùng ven biển, nơi triều cao, đất bùn, đồng cói trong đê, cây được trồng
Mọc rải rác ở vùng ven biển, trong trảng
cỏ
Mọc thành đám nhỏ, đồng bằng, ven biển; trong trảng cỏ đồng ruộng, đầm lầy, ao
hồ, đất chua hay lợ
Nguồn: Phạm Hoàng Hộ (2000)
Trang 28Các kiểu gen trồng trọt của cói gồm các giống, các dòng vô tính được tuyển chọn và các cây lai Các giống cói trồng được chia thành 3 nhóm tuỳ thuộc vào khả năng thích ứng của chúng đối với điều kiện môi trường cụ thể,
ví dụ như: đất ngập thường xuyên (đất trũng, đất lầy thụt hoặc ruộng trồng lúa nước) và đất ẩm ướt; nước lợ hay mặn hay chua phèn…
1.5 Đặc điểm sinh học cây cói
Chu kỳ sinh trưởng của cây cói được tính từ (khi thân ngầm nảy mầm, đâm tiêm, thân khí sinh phát triển đến khi ra hoa, xuống bộ lụi chết), như vậy vòng đời của cây cói chỉ kéo dài chỉ trong phạm vi 3 - 4 tháng, song tuổi thọ phần thân ngầm (dưới mặt đất) của cây cói lại kéo dài tới hàng chục năm Vì vậy, thời gian khai thác của ruộng cói có thể kéo dài tùy thuộc tuổi của thân ngầm (hàng chục năm hoặc có thể hơn) Thời gian khai thác dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện đất đai, kỹ thuật canh tác, bón phân, phòng trừ sâu bệnh… Các tài liệu đã công bố đều thống nhất, một chu kỳ sinh trưởng của cây cói từ nảy mầm của thân ngầm đến thu hoạch sợi cói được chia thành 4 giai đoạn chính: Nảy mầm của thân ngầm, đâm tiêm và đẻ nhánh, vươn cao ra hoa và chín Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh và có mối liên quan chặt chẽ với các yếu tố cấu thành năng suất (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
1.5.1 Đặc điểm nảy mầm của cây cói
Cói là thực vật sống lưu gốc, thân ngầm tồn tại trong đất, mỗi mắt đốt trên thân ngầm thường mang một mầm ngủ Khi gặp điều kiện thuận lợi, các mầm ngủ nảy mầm và phát triển thành nhánh mới
Trong thực tiễn sản xuất cho thấy, thời kỳ nẩy mầm bắt đầu sau khi cấy mống cói (thân ngầm có mang 1 đoạn thân) xuống ruộng Ở giai đoạn này, đối với ruộng cói mới cấy (1 - 2 năm) do mật độ các thân ngầm thưa, diện tích đất trống còn nhiều, đất xốp nên mầm mọc ngang, gần như song song với mặt đất (khoảng 2 - 3 cm) sau đó mới hướng lên phía trên và chuyển sang giai đoạn đâm tiêm (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
Trang 29Đối với ruộng cói đã có tuổi (thời gian cấy trên 2 năm) do mật độ các thân ngầm cao (dày đặc), đất chặt nên mầm cói nhanh chóng vươn lên khỏi mặt đất và bước vào giai đoạn đâm tiêm
Trong điều kiện thuận lợi, những mầm nằm ở các đốt phía trên thân ngầm, nẩy mầm phát triển thành nhánh mới Mỗi thân ngầm thường có 4 mầm trong đó mầm 1 và 2 luôn luôn ở trạng thái hoạt động, mầm 3 và 4 ở trạng thái ngủ được lá bẹ và lá vảy bảo vệ Khi gặp hoàn cảnh bất lợi như ngập nước hoặc nồng độ muối cao thì mầm 1 và 2 có thể chết do thiếu oxy và dinh dưỡng, còn mầm 3 và 4 vẫn an toàn, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tiếp tục phát triển Sự vươn dài hay ngắn của thân ngầm là do miền sinh trưởng nằm phía dưới mỗi lóng được bảo vệ bởi lá bẹ hay lá vảy quyết định, lóng càng vươn dài thân ngầm càng dài (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
Các yếu tố mật độ, đất đai, mực nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thân ngầm Nếu đất màu mỡ, mật độ thưa, mực nước nông thì thân ngầm dài có khi tới 20 cm Ngược lại, nếu mật độ dày, mực nước cao thì thân ngầm chỉ dài khoảng 1 - 2 cm Thân ngầm sinh trưởng thích hợp nhất ở
độ sâu 3 - 5 cm Ở độ sâu 15 cm thân ngầm sinh trưởng rất kém, chậm và gầy,
có xu hướng vươn dài lên trên mặt đất Trong thời gian 4 tháng ở mực nước nông thân ngầm phát triển dài tới 80 - 100 cm Ở điều kiện mực nước sâu cũng trong thời gian như vậy, thân ngầm chỉ dài khoảng 10 - 15 cm Ở vùng
có mực nước sâu, sau khi cắt, ruộng cói bị ngập nước lâu ngày làm cho các mầm 1 và 2 bị chết, nếu rút cạn nước, cói mọc lên toàn cọng bé, đó là do các mầm 3 và 4 phát triển thành (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
Nồng độ muối khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của mầm Với nồng độ muối 0,50% - 0,80% các mầm 1 và 2 bị ức chế dẫn đến huỷ diệt
Ở nồng độ 1,5% - 2,0% mầm 1 và mầm 2 bị chết sau 1 tuần còn mầm 3 và mầm 4 sau 3 tháng cũng bị chết
Trang 30Từ những phân tích trên cho thấy, trong sản xuất muốn ruộng cói có năng suất cao chất lượng tốt, yêu cầu thân ngầm phải to để tích luỹ chất dinh dưỡng được nhiều về sau sẽ cho cói dài và dẻo dai Còn độ vươn dài của lóng cần ngắn, càng ngắn càng nhiều tiêm mọc lên và thân khí sinh dài Muốn vậy khi cấy mống cần phải đảm bảo độ sâu hợp lý từ 3 - 4 cm, mức nước 2 - 3cm, đất có độ phì cao và khi nhổ mống cói cần bảo vệ tốt mầm 1 và 2
Phân bón cũng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng nẩy mầm, vươn dài của thân ngầm (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
1.5.2 Đặc điểm quá trình đâm tiêm và đẻ nhánh của cây cói
Đâm tiêm là giai đoạn đầu của đẻ nhánh Từ mầm thứ nhất của thân ngầm sẽ mọc ra 2 nhánh, 2 nhánh mọc ra từ 1 thân ngầm sẽ tạo thành 2 ngọn Khi nhánh nhô lên khỏi mặt đất từ 5 - 20 cm, các lá mác vẫn chưa xòe ra được gọi là cói đâm tiêm Sau 5 - 7 ngày, lá mác xòe ra gọi là đẻ nhánh Cây cói có thể đâm tiêm và đẻ nhánh liên tục nhưng chia thành từng đợt rộ, thường cứ 23
- 25 ngày có một đợt tiêm Ở miền Bắc trong điều kiện vụ Xuân cói đâm tiêm chậm, còn vụ Mùa thời tiết thuận lợi cứ 8 - 12 ngày có một đợt rộ Những tiêm ra vào tháng giêng, tháng 2 chiều cao chỉ phát triển tới 60 - 70 cm thì tàn lụi (dễ bị nấm hại và loại này chỉ dùng làm bổi) Lứa tiêm hữu hiệu thường tập trung vào các đợt cuối tháng 3 đầu tháng 4 (cói chiêm) và vào tháng 7, 8 (cói mùa) Lứa tiêm tháng 11, tháng 12 nếu chăm sóc tốt và đất đai màu mỡ thì sang tháng 2 có thể thu được (thân hữu hiệu cói dài, đanh sợi có thể thu hoạch
để dệt chiếu, làm thủ công mỹ nghệ) Ngoài các đợt tiêm rộ, tập trung trên, các đợt tiêm khác do điều kiện ngoại cảnh không thích hợp thường bị chết lụi
và trở thành cói bổi Khi nhiệt độ dưới 120C tiêm cói hầu như không phát triển, trên 250C cói đẻ nhánh thuận lợi Đất có độ pH: 6 - 7 và độ mặn 0,15 - 0,20% thích hợp cho cói đẻ nhánh Mực nước trong ruộng quá sâu không có lợi cho cói đâm tiêm, cần giữ lớp nước mỏng hoặc đất vừa đủ ẩm để cói đâm tiêm tốt Nếu ruộng luôn đủ ẩm thì sự đâm tiêm càng cao Cói phát triển tốt
Trang 31nhất là cói ráo chân hoặc là 4 ngày ráo chân 1 ngày, mực nước khoảng 5cm Cói sẽ hoàn thành đâm tiêm sớm, số tiêm nhiều hơn Cấy mống càng sâu, ngày kết thúc đâm tiêm càng lâu, bón phân NPK theo tỷ lệ thích hợp thì cói đâm tiêm nhanh, tập trung và khoẻ (Nguyễn Tất Cảnh, 2010)
Vụ cói chiêm, tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng 3 đầu tháng 4
là lúc nhiệt độ tăng dần và bắt đầu có mưa rào nên cần bón phân trước thời kỳ đâm tiêm mới có thể đạt tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao Đối với vụ mùa, tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 do vậy cần bón phân trước tiết lập thu (ngày 7 - 8 tháng 8 hàng năm) mới có thể đảm bảo tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao Bón phân chuồng đầy đủ kết hợp bón N, P, K với tỷ lệ thích hợp, kết hợp với điều tiết nước làm cho cói đâm tiêm đẻ nhánh thuận lợi (Nguyễn Tất Cảnh, 2010)
1.5.3 Đặc điểm vươn cao của cây cói
Sau khi nhánh đã có lá mác vượt qua 10 cm khỏi lá bẹ, thân cói bắt đầu vươn cao Tốc độ vươn cao của thân cói khi gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ cao, mưa nhiều) có thể đạt 3 - 6 cm/ngày Thời gian vươn cao kể từ lúc nhánh xuất hiện đến khi thân ngừng sinh trưởng kéo dài từ 30 - 45 ngày Ở thời kỳ này cây cói chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ và phân bón Ở nhiệt độ 22 - 280C, là khoảng nhiệt độ thích hợp với sự sinh trưởng và vươn cao của cói, đặc biệt khi nhiệt độ cao kèm theo mưa nhiều làm cho cói vươn càng cao nhanh Ngay cả khi mưa nhỏ, sương nhiều cũng có tác dụng thúc đẩy cói vươn cao, nhưng khi nhiệt tăng cao trên 350 kéo dài cói sinh trưởng kém (cói xuống bộ) Ngược lại, khi nhiệt
độ thấp hạn chế vươn cao, làm cho cây cói nhỏ, thấp, chóng lụi ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng Cói đòi hỏi đủ độ ẩm để vươn cao nhưng khi mực nước trong ruộng quá sâu lại có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, làm cho thân mềm yếu, dễ bị lướt đổ, phẩm chất kém Trong thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sự vươn cao của thân cói
Trang 32bằng cách dùng giấy màu tối che thân cói Kết quả cho thấy, chiều cao cây cói
có bọc dài hơn không bọc từ 20 - 30 cm nhưng cây yếu ớt và thường chết sớm hơn tới 1 tháng Vì vậy, việc điều tiết ánh sáng thích hợp cho cói bằng cách trồng với khoảng cách hợp lý, đảm bảo số tiêm/m2 vừa cho sợi cói dài, phẩm chất tốt, chống lốp đổ Đất quá mặn sẽ hạn chế cói vươn cao Khi nồng độ muối lên tới 1,5%, cói có thể chết Thời kỳ vươn cao, cói yêu cầu nhiều về N,
P, K nên cần bón đầy đủ (Nguyễn Tất Cảnh, 2010)
1.5.4 Đặc điểm ra hoa và chín của cây cói
Cói chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn Mầm hoa hình thành ở kẽ lá mác, phía đầu thân khí sinh Đối với cói vụ chiêm ở miền Bắc, cói ra hoa rộ
từ tháng 5 đến trung tuần tháng 6 thì lụi dần Còn cói vụ mùa ra hoa rộ vào tháng 8 đến trung tuần tháng 9 thì bắt đầu lụi Hoa cói phơi màu và chín theo kiểu vô hạn từ dưới lên trên Hoa đầu tiên và hoa cuối cùng trên bông thường
ra cách nhau 9 - 10 ngày Hoa cói vụ chiêm thường bé và ngắn, hoa cói vụ mùa to và dài hơn Khi hoa từ màu trắng chuyển sang màu ngà khi đó gọi là cói bắt đầu chín Lúc này, thân cói từ màu xanh chuyển sang màu xanh vàng bóng, sợi cói đanh và khi có gió nhẹ, phát ra tiếng động khẽ Thời kỳ chín của cói thể hiện qua tỷ lệ khô/tươi cao, khi hàm lượng đường (pentosan) đã chuyển hóa hết Nếu tỷ lệ đường còn cao, cói phơi lâu khô, tỷ lệ khô/tươi thấp, năng suất cói thấp Dấu hiệu bên ngoài nhận biết cói chín là khi thân cói ngả màu xanh vàng óng, hoa từ màu trắng chuyển sang màu ngà rồi chuyển sang màu nâu (Nguyễn Tất Cảnh, 2010)
Cói là cây lưu gốc vì thế năng suất thân cói biến động theo thời gian, khai thác (tuổi cói) chịu ảnh hưởng của bản chất giống hay kiểu gen và điều kiện canh tác (Ninh Thị Phíp và cs., 2008) Đặc điểm này thể hiện rõ qua kết quả điều tra năng suất và phẩm cấp của 2 giống cói: Bông TrắngvàBông Nâu
ở các thời điểm khác nhau tại Nga Sơn - Thanh Hóa và Kim Sơn - Ninh Bình (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2006) cho thấy: cói sau trồng 3 năm tuổi cho năng
Trang 33suất và tỷ lệ khô/tươi cao nhất Năng suất cói giảm dần sau trồng 4 năm và giảm mạnh sau trồng 5 năm Đồng thời tỷ lệ cói cấp 1 tăng dần từ khi trồng đạt cao nhất ở thời điểm sau trồng 3 năm, sau đó giảm dần ở năm thứ 4, giảm mạnh ở năm thứ 5 Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đã cho nhận xét: thời gian đảo cói thích hợp là sau 4 năm trồng Trồng giống cói Bông Trắng cho năng suất và phẩm cấp cói cao hơn cói Bông Nâu , ở tất cả các độ tuổi Do đó, cần phát triển diện tích trồng cói Bông Trắng và duy trì một diện tích vừa phải cói Bông Nâu bảo đảm đa dạng nguồn gen trong sản xuất
1.6 Kết quả nghiên cứu về sinh thái của cây cói
1.6.1 Nhiệt độ
Phạm vi chịu đựng của cói với yếu tố nhiệt độ là khá rộng có thể biến động từ 12 - 350C, nhưng nhiệt độ thích ứng cho sự sinh trưởng, phát triển là từ 22 - 280C Ở nhiệt độ thấp cói chậm phát triển Khi nhiệt độ thấp dưới 120C, cói ngừng sinh trưởng, nếu cao hơn 350C ảnh hưởng đến sự sinh trưởng đặc biệt là vào giai đoạn cuối, cói sinh trưởng chậm Khi nhiệt độ cao kéo dài, cói mau xuống bộ (héo dần từ trên xuống dưới) (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)
1.6.2 Ánh sáng
Cói là cây ngày ngắn, nhưng không phản ứng chặt với quang chu kỳ
Sự ra hoa không phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng trong ngày Cói là cây ưa sáng Cói cần nhiều ánh sáng ở thời kỳ đẻ nhánh, sau khi đâm tiêm và lá mác
đã xòe Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến quang hợp và khả năng vươn dài của thân khí sinh Trong sản xuất, trồng ở nơi có bóng rợp làm cói vươn dài, yếu cây, dễ đổ, phẩm chất cói xấu (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)
1.6.3 Gió
Hoạt động của gió, bão là một hiện tượng đáng lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cói Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên,
Trang 34tốc độ gió lớn ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây Gió mùa đông bắc, gió heo may ảnh hưởng làm cói mau tàn, mau xuống bộ (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)
1.6.4 Yêu cầu về nước và độ mặn
Nước cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây cói Trong cây cói trồng, nước chiếm từ 80 - 88%, do vậy nước là nhu cầu quan trọng để cói sinh trưởng và phát triển Nếu ở thời kỳ đẻ nhánh, bị hạn hay úng cói sẽ đẻ nhánh kém Ruộng cói không đảm bảo mật độ nên năng suất giảm Ở thời kỳ vươn cao, cói cần nhiều nước, đặc biệt vào mùa mưa cói vươn cao mạnh Vào mùa hanh khô (tháng 1, 2, 3), đồng cói thường khô thiếu nước, nếu không đáp ứng đủ nhu cầu nước trong thời gian này cói kém hẳn và hầu như ngừng sinh trưởng Ngược lại nếu bị ngập úng quá lâu làm cói đen gốc, phẩm chất kém Nước mặn hay ngọt đều ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của cói (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2010)
Nước có độ mặn vừa phải cói mới đanh cây Cói chỉ phát triển tốt ở độ mặn từ 0,2% trở xuống, ở độ mặn cao 0,4% các quá trình sinh trưởng, phát triển bắt đầu giảm, từ nồng độ 0,8 - 1% cói phát triển rất yếu và trên 1% cói bắt đầu chết Tuy nhiên, thân ngầm có sức chịu mặn cao hơn nên vẫn tồn tại
Vì vậy, cói bãi nước mặn thường chỉ thu hoạch 1 vụ vào mùa nước ngọt Nước ngọt giúp cói mọc nhanh, vươn cao mạnh nhưng nước ngọt làm cói to cây, xốp ruột, độ bền, độ dai kém Cói đồng thường có đường kính thân khí sinh to hơn cói bãi chủ yếu do nước bớt mặn và chăm sóc thuận lợi hơn Còn nước lợ có nồng độ muối thấp ≤ 0,2% cũng giúp cói sinh trưởng, phát triển tốt, phẩm chất cói cao Ngoài ra, độ ẩm đất thích hợp cho cói sinh trưởng, phát triển khoảng 85% độ ẩm bão hòa, nhưng phát triển tốt nhất trong điều kiện đất ướt hay ngập Điều kiện khô hạn cây cói giảm năng suất rõ rệt Cói được trồng chủ yếu ở vùng đất bãi ven biển có ảnh hưởng của thủy triều hoặc
ở vùng đất có độ mặn ít (Nguyễn Tất Cảnh, 2010)
Trang 35Kiểu gen và khả năng chịu mặn của cói:
Cói là cây chịu mặn và cần có độ mặn thích hợp để đảm bảo chất lượng sản phẩm Để đạt năng suất cao phẩm chất cói tốt, ngoài yếu tố đất thịt hàm lượng dinh dưỡng cao, đất cần có độ mặn từ 0,1 - 0,2% là tốt nhất Các giống cói khác nhau có tính chịu mặn không như nhau Giống cói Nhật, đây là giống cói được trồng ở vùng nước ngọt, có phản ứng khá rõ rệt với độ mặn Ở mức độ mặn thấp dưới 0,1% cói Nhật sinh trưởng tốt, tuy nhiên khi độ mặn tăng cao thì sự sinh trưởng bị hạn chế đáng kể, đặc biệt là khi độ mặn vượt cao hơn 0,2% Giống cói Udu có khả năng chịu mặn khá tốt, ở mức độ mặn cao 0,4 - 0,8% cói Udu vẫn sinh trưởng phát triển bình thường Ở mức độ mặn cao còn giúp cho cây cói Udu trở nên cứng hơn và khả năng đẻ nhánh cao hơn Đối với giống cói Bông Trắng và Bông Nâu , ở độ mặn 0,1 - 0,2% cói sinh trưởng tốt, độ mặn tăng khả năng sinh trưởng của cói giảm dần, đặc biệt là khi độ mặn cao trên 0,4%
Nguồn gen cói, đặc biệt là các loài cói dại có tính thích ứng rất cao với các điều kiện bất thuận như: hạn, úng, nóng Vì thế, cói phân bố và có thể trồng được ở các vùng đất hoang hóa, ngập úng, ngập phèn, nhiễm mặn (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2008)
1.6.5 Yêu cầu về đất
Cây cói được xem là loại cây có khả năng chịu được đất nghèo dinh dưỡng, song đồng thời lại có thể tạo ra một năng suất và hiệu quả cao hơn so với một số cây trồng khác Cói trồng được trên nhiều loại đất: đất mặn, đất ngọt, chân cao, chân trũng, bãi ven sông, ven biển Nhưng thích hợp nhất là trồng trên đất phù sa, màu mỡ, vùng ven biển hoặc ven sông nước lợ, độ sâu tầng đất từ 40 - 50cm trở lên pH từ 6 - 7, độ mặn từ 0,1 - 0,2%, thoát nước
Về khả năng chịu đựng của cói lại khá rộng, có thể sống trên đất rất chua pH
từ 4 - 5, ở độ chua này cói xấu, cây thấp bé Còn với độ mặn < 0,1%, cói tuy sinh trưởng tốt nhưng cây không đanh, phẩm chất sợi cói giảm (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)
Trang 36Nguyễn Hữu Thành (2006) cũng có nhận xét: chính sự khác nhau về các chỉ số đất đai (pH nước, nồng độ muối tan, hàm lượng đạm trong đất, chỉ
số OC% ) của hai vùng trồng cói: Nga Sơn - Thanh Hóa và Kim Sơn - Ninh Bình đã dẫn đến năng suất và tỷ lệ cói loại 1 giữa hai vùng là khác nhau Nga Sơn - Thanh Hóa năng suất cói chẻ 75 tạ/ha/vụ, tỷ lệ cói loại 1 đạt 38% cao hơn Kim Sơn - Ninh Bình (năng suất cói chẻ chỉ đạt 70 tạ/ha/vụ và 34% cói loại 1), mặc dù hai vùng rất gần nhau về vị trí địa lý và điều kiện khí hậu
1.7 Những kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây lấy sợi
Cây trồng lấy đi phần lớn lượng dinh dưỡng từ đất Nhưng lượng dinh dưỡng cây lấy là tùy thuộc vào năng suất và các bộ phận lấy đi khỏi đất Sau vài vụ trồng liên tiếp dẫn đến đất bị thiếu hụt dinh dưỡng Khi thâm canh tốt, các chất dinh dưỡng trong đất bị giới hạn được bổ sung nhờ phân bón Lượng dinh dưỡng mất đi do rửa trôi, xói mòn sẽ ảnh hưởng tới khả năng cung cấp của phân bón Ngược lại, trong điều kiện thâm canh kém khả năng sinh trưởng, phát triển của cây sẽ phụ thuộc vào thời gian cho đất nghỉ để huy động hoặc phân hủy chất hữu cơ khôi phục lại chất dinh dưỡng dễ tiêu cho đất (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Theo Hoàng Minh Tấn và cs (2000) đạm và các nguyên tố khoáng có 3 vai trò cơ bản tạo nên năng suất và chất lượng cây trồng vì:
- Tham gia xây dựng cấu trúc của bộ máy quang hợp
- Có mặt trong các protein cấu trúc, protein enzym, hệ thống sắc tố, trong lục lạp
- Tham gia vào các quá trình chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học và tham gia vào sự điều tiết các hoạt động của hệ enzym trong cây
Dinh dưỡng khoáng và quang hợp là hai mặt của một quá trình thống nhất trong cơ thể thực vật Trong đó các nguyên tố khoáng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây (Vũ Văn Vụ và cs., 1997)
Các cây lấy sợi đã được khẳng định vị thế từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Thậm chí đối với các nước đã phát triển
Trang 37như Mỹ, Canada và EU nhận thấy, vai trò quan trọng của nguồn sợi tự nhiên như cây lanh, cây gai và nhiều cây khác đã phát triển khắp thế giới hàng triệu năm, nguồn sợi này được coi như là những sản phẩm có giá trị cao trên thị trường (Rajesh and Najiwala, 2006) Sản phẩm từ cây lấy sợi như đay, bông, lanh được sử dụng trong nhiều ngành như bao bì, công nghiệp giấy Theo
tác giả Feihu et al (2013), phân bón có tác dụng tích cực đến tăng năng suất
và chất lượng của các cây lấy sợi
Đối với cây lấy sợi (Đay, Lanh ) phân đạm ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng và năng suất đay N có tác dụng làm sợi đay dài hơn Kết quả nghiên cứu bón N cho cây đay cho thấy với lượng từ 150 - 180 kg N/ha cây đay đạt chiều cao từ 2,6 - 3,3 m, đường kinh thân to từ 5,9 - 6,9 mm Những nghiên
cứu của Hazandy et al (2009) cũng cho kết quả tương tự
Phân lân đối với cây đay yêu cầu không lớn, theo nghiên cứu của Mai Thành Phụng (1999) cho rằng, trên đất phèn nặng vùng Đồng Tháp Mười lượng bón thích hợp nhất là 60 kg P2O5/ha và liều lượng bón K2O là 120 kg
K2O/ha làm tăng năng suất so với đối chứng 47,17% Sợi đay trắng
(Corchorus Capsularis L.) với liều lượng 90 kg N/ha; 15 kg P2O5/ha; 30 kg
K2O/ha và 10 kg S/ha cho chất lượng đay trắng là tốt nhất (Sayma et al., 2012)
Nghiên cứu phân bón cho cây bông, kết quả cho thấy phân bón là một trong những điều kiện để cây bông có thể tổng hợp và điều tiết dinh dưỡng hữu cơ Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và phát dục của cây bông qua đó tới năng suất và chất lượng chủ yếu là ảnh hưởng gián tiếp Thông qua việc bón phân hợp lý, làm cho cây bông khỏe mạnh thời kỳ đầu, sinh trưởng
ổn định thời kỳ giữa, không bị vống và không sớm tàn ở thời kỳ cuối, từ đó tăng diện tích quang hợp, tăng cường độ quang hợp, kéo dài thời gian quang hợp, gia tăng vật chất quang hợp được, tăng năng suất và chất lượng bông (Phan Thanh Kiếm và Lê Minh Thức, 1996; Lê Công Nông, 1998)
Trang 38Đạm có hiệu lực mạnh mẽ đến hầu hết các chỉ tiêu quan sát, có xu thế làm tăng chiều cao cây bông Liều lượng bón đạm khác nhau đều có ảnh hưởng không đáng kể đến thời gian phát dục qua các giai đoạn cũng như tỷ lệ đậu quả Phân bón có ảnh hưởng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất như số quả/m2, khối lượng quả, nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng
xơ bông (Nguyễn Hữu Bình và cs., 1996) Khi lượng đạm bón tăng thì chiều cao cây, số cành quả và số quả/cây cũng tăng, lượng phân bón có hiệu quả nhất trong điều kiện trồng bông có phủ màng Polyethylene là 100 kg N + 40
kg P2O5 + 50 kg K2O/ha (Kim et al., 1987)
Kali có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành sợi, phun phân kali qua lá vào giai đoạn muộn của cây bông có thể giúp cải thiện chất lượng sợi bông Shanmugham and Bhat (1991) cho rằng, để cải thiện chiều dài sợi,
độ dai và mịn của sợi bông cần phun bổ sung kali vào giai đoạn ra hoa Điều này cũng được tìm thấy giới hạn của bổ sung kali trong giai đoạn phát triển sợi có thể làm giảm áp suất trương trong sợi làm giảm khả năng kéo dài của sợi và làm sợi ngắn hơn ở giai đoạn thành thục (Oosterhuis, 2002) Theo kết
quả nghiên cứu của Aladakatti et al (2011) cho rằng bón RDF + Phun phân
bón lá kali 2 lần tại giai đoạn sớm và giai đoạn làm quả làm tăng độ dai của sợi bông so với chỉ bón N, P
Khi bón đồng bộ các nguyên tố đa lượng và vi lượng thì năng suất và chất lượng bông tăng lên, ví dụ giống Taxken - 3 trên đất Xeroziom khi bón
180 kg N + 180 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha năng suất bông hạt đạt 35,4 tạ/ha; khi tăng lượng bón 320 kg N + 320 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha thì năng suất đạt 45,7 tạ/ha; còn không bón phân năng suất chỉ đạt 22,8 tạ/ha (dẫn theo Dương Xuân Diêu, 2012)
Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy tác động của các biện pháp
kỹ thuật đều ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây lấy sợi nói chung và cây bông nói riêng Kết quả nghiên cứu của Rimon (1994) tại Hassadeh
Trang 39(Israel) cho thấy trồng với mật độ 8 khóm/m2 (khoảng cách hàng 1m) cho năng suất bông cao nhất trong các công thức nghiên cứu Ở mật độ này, tỷ lệ chất tươi giữa cơ quan sinh sản và cơ quan dinh dưỡng trước khi nở quả là 1:1 Mật độ 15 khóm/m2 (khoảng cách hàng 0,5m) cho năng suất thấp và tỷ lệ này chỉ là 0,7 Tỷ lệ chất khô giữa cơ quan sinh sản và cơ quan sinh dưỡng lúc thu hoạch ở mật độ trồng dày (12 khóm/m2) là 0,51 - 0,56 so với trồng thưa (2 khóm/m2) là 0,32 - 0,38 (Jones and Wells, 1997); Thời vụ và mật độ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng bông cũng được chỉ ra ở kết quả nghiên
cứu của Hayatullah et al (2011)
Ryszard et al (2008) thuộc Viện Nghiên cứu Cây lấy sợi Ba Lan đã
nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến năng suất và chất lượng sợi của cây gai dầu Bón quá nhiều đạm có thể gây ra sinh trưởng quá mức về chiều dài, làm xốp thân và chín muộn, làm giảm độ dầy của bó mạch và hàm lượng sợi cũng như độ dai của sợi trong cây gai dầu, tỷ lệ cây đổ tăng lên Bón phối hợp N với P và K hợp lý làm tăng khả năng tích lũy xenlulo trong vách tế bào sợi và tăng độ dầy, độ dai của sợi Kết quả cho thấy, mật độ trồng
và thời gian thu hoạch có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất, chất lượng sợi cây gai Trồng dầy (60 kg hạt/ha) chất lượng sợi thể hiện ở các chỉ tiêu chiều cao,
độ dầy vỏ thân, độ dai của sợi và hàm lượng lignin thể hiện tốt hơn so với trồng thưa (50 kg hạt/ha) Ngoài ra tác giả còn khẳng định thời gian thu hoạch cây gai dầu cũng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sợi
Như vậy, tác động các biện pháp kỹ thuật đặc biệt là phân bón có ảnh hưởng lớn đến năng suất chất lượng của các cây lấy sợi Do đó, thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật trong đó có phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất chất lượng cói là thực sự có ý nghĩa
1.8 Những nghiên cứu về kỹ thuật trồng cói trên thế giới và ở Việt Nam
1.8.1 Những nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cói trên thế giới
Những nghiên cứu về cây cói nói chung và phân bón cho cói nói riêng
Trang 40trên thế giới còn rất hạn chế Đa số những nghiên cứu chỉ tập trung dưới góc
độ, cói là loài cây xâm lấn Nghiên cứu mới nhất của Rong et al (2011), về thay đổi các chất trong đất mặn ven biển, nơi có loài cói Cyperus malaccensis
sinh sống, tại vùng có thủy triều lên xuống ngày 2 lần, đã làm thay đổi tính chất
lý hóa học của đất tại miền Nam Trung Quốc Kết quả đã chỉ ra hàm lượng Can
xi tăng theo độ sâu của đất, trong khi P, Al và Fe gần như ít thay đổi ở cả các điểm điều tra Al và Fe trên bề mặt đất (10cm) giảm dần từ vùng D đến vùng
A, trong khi đó hàm lượng Ca tăng ở mức có ý nghĩa Còn ở độ sâu 30-40 cm, cho thấy P, Al và Fe tăng mạnh Khi phân tích các thành phần hóa học trong các bộ phận của cây cho thấy, Can xi chủ yếu tích lũy nhiều trong bộ phận trên mặt đất, trong khi đó Al và Fe tích lũy nhiều ở bộ phận dưới mặt đất, P được tìm thấy nhiều trong mô của cói Cây Cói mọc ở vùng D có hàm lượng P trong mầm và Al, Fe trong rễ thấp hơn Hàm lượng Can xi trong mầm cao hơn ở những vùng cói mọc lâu năm Kết quả của nghiên cứu này đã có giá trị đóng góp cho bảo tồn và quản lý vùng đất ven biển tại miền Nam Trung Quốc
1.8.2 Những nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cói ở Việt Nam
Cói là loại cây cần nhiều chất dinh dưỡng, muốn đạt năng suất cao nhất thiết phải bón đủ phân Nông dân trồng cói rất chú trọng bón các loại phân hữu cơ như phân lợn ủ mục, phân bắc ủ trấu Bón phân bắc nguyên chất làm cói chóng bốc nhưng mềm cây; phân trâu bò ủ chưa kĩ, phân rác không tốt vì chứa nhiều hạt cỏ là mầm mống của các loại cỏ dại nguy hiểm lan tràn trên ruộng cói Những năm gần đây, người dân bắt đầu sử dụng phân hoá học cho cói Do chưa có loại phân bón chuyên dụng cho cói nên người dân chủ yếu sử dụng phân đạm, phân lân, NPK các loại và hầu như không bón phân kali (Vũ Đình Chính, 2008)
Theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs (1996) nguyên tắc bón phân cho cói
là kết hợp phân chuồng và phân hóa học, bón cân đối các loại phân N, P, K coi trọng bón lót và bón thúc thích hợp với các thời kì sinh trưởng của cói