1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY

74 632 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy...32 2.4.1 Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD trong bài nghiên c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN

PHAN THỊ HIỀN

TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÝ 8

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN TH.S LÊ THỊ KIỀU OANH

QUẢNG BÌNH, NĂM 2014

Trang 2

L ờ i đầ u tiên cho em xin gử i lờ i cả m ơ n

đ ế n toàn thể quý Thầ y, Cô trư ờ ng Đạ i họ c

Qu ả ng Bình, quý Thầ y, Cô khoa Khoa họ c Tự nhiên

đã d ạ y dỗ , truyề n đạ t nhữ ng kiế n thứ c quý báu

t ạ i trư ờ ng

Th ầ y, Cô giáo trư ờ ng THCS Lộ c Ninh đã nhiệ t

l ợ i cho em trong quá trình nghiên cứ u và thự c

hi ệ n đề tài

Đ ặ c biệ t, em xin bày tỏ lòng biế t ơ n sâu

s ắ c đế n cô hư ớ ng dẫ n – Thạ c Sĩ Lê Thị

Ki ề u Oanh trong suố t thờ i gian vừ a qua đã

nhi ệ t tình giúp đỡ để em có thể thự c hiệ n

t ố t bài khóa luậ n tố t nghiệ p này

Trang 3

Cu ố i cùng, em xin gử i lờ i cả m ơ n đế n gia

c ổ vũ tinh thầ n lớ n lao và đã ủ ng hộ em trong

su ố t thờ i gian qua

Đ ồ ng Hớ i, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG VÀ ĐỒ THỊ 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu nghiên cứu 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 8

5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 8

5.3 Phương pháp thống kê toán học 8

6 Cấu trúc luận văn 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO NHÓM VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 9

1.1 Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Các kĩ năng hợp tác nhóm 9

1.1.3 Tiến trình dạy học nhóm 11

1.1.4 Phân loại và cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm 12

1.1.5 Các tiêu chí thành lập nhóm trong dạy học 15

1.1.6 Các phương tiện hỗ trợ dạy học hợp tác nhóm 17

1.1.7 Ưu điểm và hạn chế của hoạt động dạy học theo nhóm 18

1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học 20

1.2.1 Khái niệm về Sơ đồ tư duy 20

Trang 5

1.2.2 Cấu trúc của Sơ đồ tư duy 20

1.2.3 Nguyên tắc vẽ Sơ đồ tư duy 21

1.2.4 Lợi ích của Sơ đồ tư duy 22

1.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm 23

1.3.1 Ứng dụng của Sơ đồ tư duy trong dạy học 23

1.3.2 Khả năng hỗ trợ của Sơ đồ tư duy trong tổ chức hoạt động nhóm 25

1.4 Kết luận chương I 27

CHƯƠNG II TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO NHÓM PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÝ 8 VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY 29

2.1 Tổng quan phần nhiệt học Vật lý 8 29

2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong dạy học phần nhiệt học 30

2.2.1 Thuận lợi 30

2.2.2 Khó khăn 30

2.3 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ tư duy trong tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm 31

2.4 Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 32

2.4.1 Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD trong bài nghiên cứu kiến thức mới 32

2.4.2 Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD trong bài thực hành thí nghiệm 38

2.4.3 Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD trong bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức 39

2.5 Tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong phần nhiệt học Vật lý 8 với sự hỗ trợ của Sơ đồ tư duy 40

2.6 Kết luận chương II 45

CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 47

3.1 Mục đích và nhiệm vụ TN sư phạm 47

3.1.1 Mục đích 47

3.1.2 Nhiệm vụ 47

3.2 Đối tượng và nội dung của TN sư phạm 48

Trang 6

3.2.1 Đối tượng 48

3.2.2 Nội dung 48

3.3 Phương pháp TN sư phạm 48

3.3.1 Chọn mẫu TN sư phạm 48

3.3.2 Quan sát giờ học 48

3.3.3 Các bài kiểm tra 49

3.4 Kết quả TN sư phạm 50

3.4.1 Nhận xét tiến trình dạy học 50

3.4.2 Đánh giá kết quả TN sư phạm 50

3.5 Kết luận chương III 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC P 1

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Cấu trúc của SĐTD 21

Hình 1.2 Nguyên tắc vẽ SĐTD 22

Hình 2.1 Nội dung phần Nhiệt học VL 8 29

Hình 2.2 SĐTD theo đề cương môn VL 8 33

Hình 2.3 SĐTD chương Nhiệt học VL 8 34

Hình 2.4 SĐTD theo đoạn văn “Chuyển vận của động cơ nổ 4 kì” 35

Hình 2.5 SĐTD bài “Các chất được cấu tạo như thế nào?” 36

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu thí nghiệm 48

Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số (Xi) của các bài kiểm tra 51

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm ĐC và TN 51

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và xu thế hội nhập toàn cầu, Đảng và nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến vấn đề đổi mới giáo dục Đổi mới giáo dục phải được tiến hành đồng bộ cả chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học (PTDH) cũng như phương pháp kiểm tra đánh giá để đào tạo

ra những con người năng động sáng tạo mà xã hội đang cần

Trong quá trình đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) giữ vai trò quan trọng Trong chiến lược phát triển giáo dục 2009 - 2020 Đảng và nhà nước ta

khẳng định: “Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có

tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về hệ thống giáo dục từ nội dung, PPDH đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng

và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống” [1], [11]

Trong số PPDH đang được sử dụng, PPDH nhóm có nhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực, sự tự tin, tinh thần hợp tác, những kỹ năng sống và làm việc trong tập thể của học sinh (HS)

Thực nghiệm (TN) đổi mới PPDH đã chứng tỏ qua hoạt động sẽ làm cho mỗi thành viên bộc lộ được suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình, qua đó được tập thể uốn nắn, điều chỉnh, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng Hoạt động trong tập thể quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động

xã hội, hiệu quả học tập sẽ tăng lên, nhất là phải giải quyết vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ học tập nhất định Như vậy tổ chức hoạt động nhóm trong thời gian qua, hiện nay và tương lai vẫn là cách tổ chức dạy học mang lại hiệu quả cao

Sau khi nghiên cứu cuốn sách “Use your head” và cuốn “The Mind Map book” của tác giả Tony Buzan – tôi có điều kiện tìm hiểu về hoạt động của bộ não, hai cuốn sách được thiết kế để giúp chúng ta hiểu được cỗ máy sinh học của chính chúng ta, để chăm sóc nó và để giải phóng những khả năng phi thường mà chúng ta có Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động của bộ não và nên sử dụng nó như thế nào để có hiệu

Trang 10

quả tối ưu, hay có thể ghi nhớ lâu hơn, đọc nhanh hơn, hiệu quả hơn Không những vậy, chúng ta còn hiểu được Sơ đồ tư duy (SĐTD), thấy được sự tương thích giữa SĐTD với cấu tạo, chức năng và hoạt động của bộ não Từ đó thấy được vai trò quan trọng của nó trong học tập và trong đời sống SĐTD không chỉ có tác dụng với mỗi cá nhân mà nó còn phát huy được sức mạnh tập thể Thực tế các em học bài nào biết bài đấy, học phần sau

đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức lại với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Nếu sử dụng SĐTD sẽ giúp các em tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng SĐTD trong dạy học thì HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo

và phát triển tư duy

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng SĐTD vào trong quá trình dạy

học như: Sử dụng SĐTD trong dạy học chương “Mắt Các dụng cụ quang” (Vật Lý 11

Nâng cao) của Liễu Văn Toàn, Sử dụng SĐTD trong dạy học Lịch sử ở trường THPT của

Nguyễn Chí Thuận, Ứng dụng SĐTD nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Anh của Nguyễn Đặng Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên, Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học

sinh trong dạy học phần Cơ học Vật Lý 10 Nâng cao với sự hỗ trợ của Mind Map và Máy

vi tính của Lê Thị Kiều Oanh, nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc sử dụng

SĐTD trong dạy học phần Nhiệt học Vật Lý 8

Từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Tổ chức dạy học nhóm phần nhiệt học Vật lý

8 với sự hỗ trợ của SĐTD ”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự

hỗ trợ của SĐTD trong dạy học Vật lý (VL) ở trường Trung học cơ sở (THCS)

- Xây dựng quy trình thiết kế tiến trình dạy học bài nghiên cứu kiến thức mới, bài thực hành thí nghiệm, bài ôn tập hệ thống hóa kiến thức theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD

- Thiết kế tiến trình dạy học một số bài cụ thể phần nhiệt học VL lớp 8 theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về PPDH theo nhóm

- Nghiên cứu lý thuyết về SĐTD

- Nghiên cứu vai trò hỗ trợ của SĐTD trong dạy học theo nhóm

- Nghiên cứu chương trình phần Nhiệt học VL lớp 8

Trang 11

- Thiết kế một số bài dạy học trong phần Nhiệt học VL 8 theo hướng tổ chức hoạt động học tập theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD

- Tiến hành TN sư phạm ở trường THCS để đánh giá kết quả của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD Phạm vi nghiên cứu: Phần Nhiệt học VL 8 THCS

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu văn kiện của Đảng và nhà nước, luật giáo dục cùng với các chỉ thị của

bộ Giáo dục và đào tạo về việc đổi mới PPDH trong nhà trường THCS hiện nay

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo nhóm

- Nghiên cứu các tài liệu về SĐTD

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD

- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình SGK phần Nhiệt học VL 8

5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành TN sư phạm ở trường THCS để đánh giá hiệu quả của việc dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lí số liệu thu được từ quá trình TN sư phạm dựa trên kết quả học tập của nhóm TN và nhóm đối chứng để kiểm tra tính hiệu quả mà đề tài thu được

6 Cấu trúc luận văn

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO NHÓM VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1.1 Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm

1.1.1 Khái niệm

Dạy học nhóm là phương pháp rất thích hợp đối với đối tượng HS, sinh viên và đem lại hiệu quả cao trong học tập HS vừa thể hiện được vai trò của cá nhân, vừa thể hiện được vai trò của tập thể, đồng thời tạo được mối quan hệ hai chiều giữa Học sinh – Học sinh, Học sinh - Giáo viên (GV)

Theo Vygotsky: “Điều người học có thể làm qua hợp tác hôm nay thì họ có thể làm vào ngày mai” và học tập cùng nhau để có thể phát triển được kĩ năng nhận thức và

xã hội [16]

Theo Trần Thị Ngọc Lan - Vũ Thị Minh Hằng: “Học hợp tác là một phương pháp học tập trong đó nhóm hoặc tập thể các HS cùng nhau chiếm lĩnh tri thức một bài học, phấn đấu

vì một mục đích chung, giải quyết một nhiệm vụ đặt trong quá trình học tập” [15]

Theo A.T.Francisco (1993): “Học tập nhóm là một phương pháp học tập mà theo phương pháp đó học viên trong nhóm trao đổi và giúp đỡ, hợp tác với nhau trong học tập” [16]

Tuy có những quan niệm rộng, hẹp khác nhau nhưng các tác giả đều đưa ra những dấu hiệu chung của dạy học theo nhóm là mối quan hệ giúp đỡ, gắn kết và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm với nhau nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập chung của nhóm

Như vậy, chúng ta có thể hiểu dạy học nhóm là PPDH, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

1.1.2 Các kĩ năng hợp tác nhóm

Để có thể cùng hoạt động cho một mục tiêu chung, mỗi thành viên trong nhóm cần

có những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội Do đó, GV cần làm cho mọi thành viên trong nhóm đều hiểu và chấp nhận cách diễn đạt, cách giao tiếp khác nhau GV cần luyện tập

Trang 13

cho HS những kỹ năng cơ bản và kỹ năng làm việc theo nhóm như sau:

- Thu thập thông tin

Thông qua việc tự làm thí nghiệm, hoặc quan sát thí nghiệm do GV làm nếu là những thí nghiệm khó thực hiện Thông qua việc quan sát các hiện tượng trong tự nhiên, tranh vẽ, mô hình, nghe thông báo của GV, đọc các bảng biểu HS thu thập những thông tin cần thiết cho việc giải quyết vấn đề của mình

Để thu thập được những thông tin cần thiết, HS phải nắm được mục tiêu của hoạt động Mục tiêu này do GV truyền đạt hoặc do HS tự xác định dưới sự hướng dẫn của GV [31]

- Xử lí thông tin

Đây là hoạt động đòi hỏi tư duy sáng tạo cao HS được hướng dẫn lập kế hoạch để

xử lí những thông tin thu thập được nhằm rút ra những kết luận cần thiết Hoạt động này

có thể được tiến hành dưới dạng thiết kế một phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra một

dự đoán, xử lí các số liệu thu thập từ thí nghiệm, tiến hành các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, quy nạp, suy luận, đánh giá các thông tin thu được để giải quyết tình huống học tập tự mình nêu ra hoặc do GV nêu ra

- Truyền đạt thông tin

Hoạt động này không những đóng góp phát triển năng lực ngôn ngữ của HS, mà còn giúp các em rèn luyện các phẩm chất cần thiết để hoà nhập với cuộc sống cộng đồng

HS sẽ thông báo về kết quả xử lí thông tin của cá nhân hay của nhóm mình, trình bày báo cáo, trình bày thí nghiệm, nhận xét đánh giá ý kiến của nhóm khác, của người khác

- Vận dụng

HS được hướng dẫn để vận dụng những kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình thu thập và xử lí thông tin để giải quyết những tình huống mới trong học tập cũng như trong thực tiễn

Hình thức hoạt động theo nhóm thường được áp dụng cho các loại hoạt động thu thập thông tin và nhất là xử lí thông tin và vận dụng vì đây chính là những hoạt động phức tạp, đòi hỏi sự đóng góp của trí tuệ tập thể [10]

- Kĩ năng hình thành nhóm

Di chuyển vào nhóm không gây tiếng ồn; tham gia hoạt động ngay sau khi ngồi

Trang 14

vào chỗ, nói đủ nghe không gây ảnh hưởng nhóm khác; khuyến khích các thành viên tham gia [10]

- Kĩ năng giao tiếp trong nhóm

Nhìn vào người nói và không làm việc riêng; thảo luận và tranh luận có tổ chức, không tranh giành; truyền đạt rõ ràng và cảm nhận; lắng nghe chăm chú và diễn đạt lại chính xác; thống nhất ý kiến hoặc chấp nhận những ý kiến trái ngược [10]

- Kĩ năng xây dựng và duy trì sự tin tưởng lẫn nhau

Bày tỏ sự ủng hộ (ánh mắt, vẻ mặt ); yêu cầu sự giúp đỡ hay giải thích khi cần thiết; sẵn sàng giải thích hay làm rõ thêm; làm sáng tỏ ý kiến người khác; thận trọng thành quả của nhóm; làm cho nhóm hào hứng, nhiệt huyết

- Kĩ năng giải quyết bất đồng

Kiềm chế bực tức; xử lí bất đồng trong nhóm hợp lí, tế nhị; phê bình, bình luận ý kiến, chứ không bình luận cá nhân; phản đối một cách nhẹ nhàng không chỉ trích [31]

1.1.3 Tiến trình dạy học nhóm

Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản

Giai đoạn 1: Nhập đề và giao nhiệm vụ

Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, bao gồm những hoạt động chính sau:

- Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: Thông thường GV thực hiện việc giới thiệu chủ đề, nhiệm vụ chung cũng như những chỉ dẫn cần thiết, thông qua thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu Có khi việc này cũng được giao cho HS trình bày với điều kiện là đã

có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng GV

- Xác định nhiệm vụ của các nhóm: Xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể của các nhóm, xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt đuợc Thông thường, nhiệm vụ của các nhóm là giống nhau, nhưng cũng có thể khác nhau

- Thành lập các nhóm làm việc: Có rất nhiều phương án thành lập nhóm khác nhau Tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm

Giai đoạn 2: Làm việc nhóm

Trong giai đoạn này các nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ đuợc giao, trong đó có những hoạt động chính là:

Trang 15

- Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: Cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm, sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận Cần làm nhanh để không tốn thời gian và giữ trật tự

- Lập kế hoạch làm việc: Chuẩn bị tài liệu học tập, đọc sơ qua tài liệu, làm rõ xem tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu của nhiệm vụ hay không, phân công công việc cho từng thành viên, lập kế hoạch thời gian

- Thoả thuận về quy tắc làm việc: Mỗi thành viên đều có phần nhiệm vụ của mình, từng người ghi lại kết quả làm việc, mỗi người người lắng nghe những người khác, không

ai được ngắt lời người khác khi trình bày

Tiến hành giải quyết nhiệm vụ: Đọc kỹ tài liệu, cá nhân thực hiện công việc đã phân công, thảo luận trong nhóm về việc giải quyết nhiệm vụ, sắp xếp kết quả công việc

- Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp: Xác định nội dung, cách trình bày kết quả, phân công các nhiệm vụ trình bày trong nhóm, làm các hình ảnh minh họa, quy định tiến trình bài trình bày của nhóm

Giai đoạn 3: Trình bày và đánh giá kết quả

- Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp: Thông thường trình bày miệng hoặc trình miệng với báo cáo viết kèm theo

- Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho việc học tập tiếp theo

Tùy theo nội dung công việc, tổ chức hoạt động nhóm cũng có thể được tiến hành

Khi làm việc với các nhóm học hợp tác chính thức cần phải:

+ Cụ thể hoá mục tiêu bài học

Trang 16

+ Đưa ra được những quyết định trước khi tiến hành dạy học

+ Giải thích các nhiệm vụ và tính phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực cho các HS trong nhóm

+ Theo dõi việc học của HS và can thiệp để trợ giúp hoặc tăng cường kỹ năng liên

cá nhân và kỹ năng làm việc nhóm

+ Đánh giá việc học của HS và giúp các em nhìn lại nhóm mình đã làm việc như thế nào

- Nhóm hợp tác không chính thức

Là những nhóm người nhóm lại với nhau thất thường để làm việc, không theo một thể thức cố định nào, có thể tồn tại trong phạm vi vài phút đến một tiết học Có thể dùng kiểu nhóm này trong các hình thức dạy học trực tiếp như thuyết trình, các đoạn phim và video để hướng chú ý của HS vào một loại tài liệu cụ thể, tạo tâm thế thuận lợi cho tiết học, giúp ích trong việc đặt ra những mong đợi mà bài học hướng tới

- Nhóm hợp tác nền tảng

Thường kéo dài ít nhất trong một năm, gồm nhiều thành phần hỗn hợp, số thành viên ổn định và mục đích căn bản là để các thành viên ủng hộ, khuyến khích giúp đỡ lẫn nhau để đạt được thành công trong học tập Các nhóm hợp tác nền tảng tạo cho HS mối quan hệ mật thiết trong thời gian dài, cho phép các thành viên có điều kiện giúp đỡ, khuyến khích và trợ giúp nhau trong nhiệm vụ học tập để đạt được sự tiến bộ [9]

1.1.4.2 Cách thức tổ chức hoạt động theo nhóm

Tuỳ thuộc vào mục đích dạy học của người GV, nội dung của bài học, đặc điểm của HS và cơ sở vật chất học tập trên lớp (bàn, ghế, phòng học ) và cả thời gian dành cho học tập mà dạy học theo nhóm được tiến hành theo các hình thức khác nhau

- Nhóm nhỏ thông thường

GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ 3 - 5 người để thảo luận một vấn đề cụ thể nào đó Hình thức này thường được kết hợp với các kĩ thuật dạy học khác trong một bài học, tiết học Nội dung thảo luận của nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít 5 - 10 phút [18], [20]

- Nhóm rì rầm

GV chia nhóm thành những nhóm cực nhỏ khoảng 2 - 3 người (thường là cùng bàn) để trao đổi và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề, nêu một ý

Trang 17

tưởng, thái độ Để nhóm rì rầm có hiệu quả, GV cần phải cung cấp đầy đủ các dữ kiện, các gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với các câu hỏi để các thành viên tập trung vào giải quyết Việc chia lớp thành những nhóm nhỏ hoặc nhóm “rì rầm” là biện pháp để khắc phục hiện tượng “người ngoài cuộc” làm tăng hiệu quả của hợp tác theo nhóm

- Nhóm kim tự tháp

Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm Sau khi thảo luận theo cặp (nhóm rì rầm), các cặp kết hợp thành 4 - 6 người để hoàn thiện một vấn đề chung Nếu cần thiết có thể kết hợp các nhóm này thành nhóm lớn hơn 8 - 16 người

- Nhóm đồng tâm

GV chia lớp thành hai nhóm: Nhóm thảo luận và nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau) Nhóm thảo luận thường là nhóm nhỏ 6 - 10 người có nhiệm vụ thảo luận và trình bày vấn đề được giao, còn các thành viên khác đóng vai trò người quan sát, phản biện Hình thức này rất có hiệu quả, làm tăng trách nhiệm cá nhân trước tập thể và tạo động cơ cho những người ngại trình bày ý tưởng của mình trước tập thể

- Nhóm khép kín và nhóm mở

Nhóm khép kín là nhóm mà các thành viên trong nhóm làm việc trong khoảng thời gian dài, thực hiện trọn vẹn một hoạt động học tập, từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối cùng Nhóm mở là các thành viên có thể tham gia một vài giai đoạn phù hợp với khả năng và sở thích của mình Hình thức này mang lại cho người học nhiều khả năng lựa chọn vấn đề và chủ động về thời gian và sức lực [18], [20]

- Nhóm xuất phát và nhóm chuyên sâu

Chia lớp học thành các nhóm HS, mỗi nhóm khoảng 5 người Mỗi người được đánh số thứ tự từ 1 - 5 Các nhóm này gọi là nhóm xuất phát Mỗi HS trong nhóm xuất phát được giao một nhiệm vụ cụ thể

Những người có số giống nhau ở trong các nhóm xuất phát (có nhiệm vụ giống nhau) tìm đến nhau và thành lập nhóm mới Các nhóm này gọi là nhóm chuyên sâu; cùng trao đổi, thảo luận về nhiệm vụ đã được giao

Sau đó tất cả trở về lại nhóm ban đầu để thông tin lại cho những người trong nhóm những gì họ đã học được từ nhóm chuyên sâu

Trang 18

1.1.5 Các tiêu chí thành lập nhóm trong dạy học

Tiêu chí Cách thực hiện - Ưu () , nhược () điểm

1 Các nhóm

gồm những

người tự

nguyện, chung

mối quan tâm

 Đối với học sinh thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất

 Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất

2 Các nhóm

ngẫu nhiên

Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,

 Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các học sinh đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các học sinh khác

 Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao Học sinh phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường

3 Nhóm ghép

hình

Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài liệu cần xử lý Học sinh được phát các mẩu xé nhỏ, những học sinh ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu đó sẽ tạo thành nhóm

 Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch

 Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm

Trang 19

 Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên

Trang 20

 Học sinh sẽ biết các em thuộc dạng học tập như thế nào ?

 Học sinh chỉ học những gì mình thích và bỏ qua những nội dung khác

 Tạo điều kiện học tập theo kinh nghiệm đối với những gì đặc biệt quan tâm

 Thường chỉ có thể được áp dụng trong khuôn khổ một dự án lớn

10 Phân chia

học sinh nam

và nữ

 Có thể thích hợp nếu học về những chủ đề đặc trưng cho con trai

và con gái, ví dụ trong giảng dạy về tình dục, chủ đề lựa chọn nghề nghiệp,

1.1.6.2 Phiếu học tập

Phiếu học tập có thể là văn bản, bảng số liệu, hình ảnh, sơ đồ…nhằm cung cấp

Trang 21

những thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện cần thiết cho người học Trong dạy học hợp tác, HS

có thể nghiên cứu những dữ liệu này theo hình thức cá nhân hoặc phân chia dữ liệu cho các thành viên trong nhóm Phiếu học tập cũng có thể là hệ thống những câu hỏi, hệ thống những yêu cầu hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ học tập, hệ thống những công việc cần giải quyết…Điều đó có nghĩa là có 2 phiếu học tập chức năng, chức năng cung cấp thông

tin và sự kiện, chức năng công cụ hướng dẫn và giao tiếp trong quá trình học tập

1.1.6.3 Thí nghiệm

VL là một môn khoa học TN nên việc sử dụng các thí nghiệm VL ở trường THCS

là một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS Thí nghiệm VL còn có tác dụng to lớn trong việc phát triển năng lực nhận thức khoa học của HS, giúp HS làm quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học Đối với dạy học hợp tác nhóm, thí nghiệm có thể được sử dụng như là một phương tiện tổ chức để làm việc theo hình thức cá nhân hoặc theo nhóm Khi tiến hành thí nghiệm đòi hỏi HS phải tự lực làm việc hoặc phối hợp với tập thể, qua đó phát huy vai trò của từng cá nhân và tính cộng đồng trách nhiệm trong công việc của các em

1.1.6.4 Máy vi tính

Ngày nay, máy vi tính đã trở thành một phương tiện đắc lực phục vụ cho Quá trình dạy học (QTDH) Máy vi tính được sử dụng để mô phỏng các đối tượng nghiên cứu, hỗ trợ xây dựng các mô hình, hỗ trợ thí nghiệm cũng như giúp HS trong quá trình ôn tập, kiểm

tra, đánh giá…

1.1.6.5 Sơ đồ tư duy

Gần đây, SĐTD trở thành “ chủ đề nóng” thu hút sự quan tâm của nhiều người, việc nghiên cứu ứng dụng SĐTD trong dạy học được phát huy mạnh mẽ, đặc biệt là trong hoạt động nhóm SĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của SĐTD và tổng quan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào Sử dụng SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi

Trang 22

nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào SĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học

1.1.7 Ưu điểm và hạn chế của hoạt động dạy học theo nhóm

1.1.7.1 Ưu điểm

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt, sẽ thực hiện được những chức năng và lợi ích khác với dạy học toàn lớp, do đó có tác dụng bổ sung cho dạy học toàn lớp Cụ thể là:

- Phát huy tính tích cực, tự lực và tính nhiệm của HS: Trong dạy học nhóm, HS phải

tự lực giải quyết nhiệm vụ học tập, có trách nhiệm với nhiệm vụ và kết quả công việc của mình Dạy học nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm và hành động độc lập, sáng tạo của HS

- Phát triển năng lực cộng tác làm việc: Làm việc nhóm là phương pháp làm việc được HS ưa thích HS có điều kiện rèn luyện những kỹ năng cộng tác làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến những người khác và tính khoan dung

- Phát triển năng lực giao tiếp: Thông qua cộng tác làm việc trong nhóm mà năng lực giao tiếp của HS được phát triển như biết lắng nghe, chấp nhận hoặc phê phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trước các thành viên khác của nhóm

- Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội: Dạy học nhóm là quá trình học tập mang tính xã hội HS được học tập trong mối tương tác lẫn nhau của các thành viên trong nhóm, các em có thể giúp đỡ lẫn nhau, tạo lập, củng cố các quan hệ xã hội và không cảm thấy phải chịu áp lực từ phía GV

- Tăng cường sự tự tin cho HS: Vì HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xã hội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc phải sai lầm Mặt khác, thông qua giao tiếp sẽ giúp khắc phục sự thô lỗ, cục cằn trong giao tiếp

- Phát triển năng lực phương pháp: Thông qua quá trình tự lực làm việc, chia sẻ kinh nghiệm sẽ giúp HS rèn luyện, phát triển phuơng pháp làm việc, mà trước hết là phương pháp tự học

- Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá: Lựa chọn nhóm theo hứng thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên, đặt yêu cầu như nhau hay khác nhau về mức độ khó khăn, cách học tập như nhau hay khác nhau, phân công công việc như nhau hoặc khác nhau, HS nam và HS nữ làm bài cùng nhau hay riêng lẻ

- Tăng cường kết quả học tập: Những nghiên cứu so sánh kết quả học tập của HS

Trang 23

cho thấy nếu được làm việc theo nhóm thì HS sẽ tiến bộ nhanh hơn và kết quả đạt được ngày càng cao hơn

1.1.7.2 Hạn chế

Trong quá trình thảo luận nhóm có thể có một vài thành viên trong nhóm nổi trội hơn; nhưng cũng có thể có một vài thành viên khác trong nhóm co lại và ít tham gia vào hoạt động của nhóm Có trường hợp một HS trong nhóm làm việc nhiều còn (các) HS khác có thể chỉ nghe không làm gì cả, thậm chí có khi còn làm việc riêng (khi GV đến giúp đỡ một nhóm khác)

Việc tổ chức cho HS học tập theo nhóm có thể gây ra tiếng ồn Nhiều GV ngại không muốn tổ chức hoạt động này vì sợ Hiệu trưởng đánh giá là quản lí lớp học không tốt

Các HS trong nhóm có thể học những “sai sót” của nhau, nếu như học lực đều yếu kém như nhau

Một vài HS có thói quen làm việc độc lập, do vậy không thích làm việc chung với các HS khác

1.2 Cơ sở lí luận của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học

1.2.1 Khái niệm về Sơ đồ tư duy

SĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào đầu những năm 1970 SĐTD là một công cụ cho mọi hoạt động tư duy Có thể miêu tả nó là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của

bộ não Bộ não của chúng ta có khả năng nảy sinh ý tưởng vô hạn Nó hoạt động tốt nhất khi các ý tưởng được tự do tuôn trào trước khi phải sắp xếp lại Có vô số hệ thống ghi nhớ được phát minh để giúp bộ não tự do nảy sinh các ý tưởng nhưng phương pháp lập SĐTD vượt xa tất cả Theo Tony Buzan trí nhớ đều dựa trên hình ảnh và sự liên kết, mọi người không phụ thuộc lứa tuổi, giới tính đều có khả năng này nên mỗi người đều có một bản đồ cho riêng mình Bản đồ đó giúp ích cho mỗi người, cho công việc, cuộc sống và

xã hội

1.2.2 Cấu trúc của Sơ đồ tư duy

- Ở giữa SĐTD là một ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm

Trang 24

- Ý tưởng chính hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh chính thể hiện ý tưởng chính và đều được nối với trung tâm

- Các nhánh chính lại được phân thành các nhánh nhỏ nhằm thể hiện chủ đề ở mức

độ sâu hơn

- Cứ thế sự phân nhánh tiếp tục và các kiến thức hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Hình 1.1: Cấu trúc của SĐTD 1.2.3 Nguyên tắc vẽ Sơ đồ tư duy

SĐTD khai thác toàn diện kỹ năng tư duy của vỏ não từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc, nhận thức không gian bằng một kỹ thuật độc đáo, đặc sắc Vận dụng SĐTD, bạn có thể mặc sức tung hoành với khả năng tư duy vô hạn của não Để có SĐTD hiệu quả chúng ta phải tuân thủ các bước lập SĐTD được đề cập trong [7], [14], [33]

- Tại trung tâm tờ giấy: Vẽ một HÌNH ẢNH (hay bức tranh) Một hình ảnh trung tâm thú vị hơn, giúp tập trung vào những điểm quan trọng và làm cho bộ não phấn chấn hơn Nếu viết chữ thì hãy cô đọng nó thành một TỪ KHÓA CHÍNH

- Luôn sử dụng Màu Sắc: Vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích như hình ảnh Màu sắc mang đến cho bản đồ tư duy những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống

và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo

- Nối các Nhánh Chính tới hình ảnh trung tâm và nối các nhánh cấp 2, cấp 3 với nhánh cấp 1, cấp 2, : Vì bộ não làm việc bằng sự Liên Tưởng Nếu nối các nhánh lại với nhau ta sẽ dễ hiểu và nhớ nhiều thứ dễ dàng hơn rất nhiều

Trang 25

- Vẽ nhiều nhánh CONG hơn đường thẳng vì chẳng có gì mang lại sự buồn tẻ cho não hơn các đường thẳng Giống như các nhánh cây, các đường cong có tổ chức sẽ lôi cuốn và thu hút được sự chú ý hơn rất nhiều

- Sử dụng MỘT TỪ KHÓA cho mỗi nhánh: Vì từ khóa mang lại nhiều sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ khóa hay mỗi hình ảnh giống như một cấp số nhân mang đến

sự liên tưởng và liên kết, khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới

Hình 1.2: Nguyên tắc vẽ SĐTD 1.2.4 Lợi ích của Sơ đồ tư duy

1.2.4.1 Sơ đồ tư duy giúp tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa

Việc sử dụng SĐTD với những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khối lượng kiến thức khá lớn (khoảng 10 trang sách) được ghi chú hết sức cô đọng trong một trang giấy

mà không bỏ qua bất kỳ một thông tin quan trọng nào Tất cả những thông tin cần thiết để

đạt điểm cao trong kỳ thi vẫn được lưu giữ nguyên ven từ những chi tiết nhỏ nhất

1.2.4.2 Sơ đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng

Ngoài việc tận dụng các từ khóa, SĐTD còn tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng, và từ đó tăng khả năng nhớ bài của HS

- Sự hình dung: SĐTD có rất nhiều hình ảnh để chúng ta hình dung về kiến thức

cần nhớ Đây là những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng, đối với não bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

Trang 26

- Sự liên tưởng: SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng

- Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạc đơn điệu, SĐTD cho phép

chúng ta làm nổi bậc các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa việc SĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến bạn phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thông thường, SĐTD giúp bạn tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết chặt chẽ về những gì bạn được học

1.2.4.3 Sơ đồ tư duy sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc

SĐTD thật sự giúp chúng ta tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải khi học Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của cả bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong chúng ta, đưa chúng ta lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài [12], [13]

1.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm

1.3.1 Ứng dụng của Sơ đồ tư duy trong dạy học

Lập kế hoạch là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất để quản lý thời gian hiệu quả SĐTD về một kế hoạch cụ thể nếu được tổ chức, sắp xếp khoa học thì không những

sẽ giúp cho GV và HS có cái nhìn tổng quan về những việc đã, đang và sẽ làm mà còn rất thuận tiện khi muốn bổ sung một công việc mới vì không cần phải xóa bỏ cả sơ đồ

- Thảo luận nhóm

SĐTD giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến trong khi đó mỗi người luôn giữ chính kiến của mình, không hướng vào

Trang 27

mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút ra được kết luận cuối cùng Sử dụng SĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi SĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đi lạc chủ đề SĐTD còn tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng SĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên SĐTD Trong thảo luận nhóm, SĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Sử dụng SĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào SĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học

Như vậy, sử dụng SĐTD trong thảo luận nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối

đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả SĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn

- Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng

Trong phạm vi cá nhân, HS có thể sử dụng SĐTD để học bài mới hay ghi chép, tóm

tắt, hệ thống hóa nội dung bài học

Mục đích hàng đầu của ghi chép là ôn lại thông tin nhằm tăng cường khả năng ghi nhớ Những bài ghi chép chỉ là những từ và cụm từ không cần thiết sẽ khiến cho quá trình

ôn lại rất khó khăn, ngoài ra HS ít có cơ hội bổ sung những liên tưởng và cách sắp xếp của chính mình

Lập SĐTD là hình thức ghi chép hiệu quả hơn rất nhiều Kỹ thuật ghi chép này cho phép HS nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho HS cơ hội để hình thành những mối liên hệ và liên tưởng Khi sử dụng SĐTD để học bài mới hay ghi chép, điều quan trọng là chỉ nên dùng các từ khóa SĐTD tự động loại bỏ những từ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp

sơ bộ thông tin được tiếp nhận Để rút ra các từ then chốt, HS cần phải chú ý và tham gia vào bài học, qua đó nắm được nội dung cơ bản của bài học, tăng khả năng hiểu bài và ghi nhớ của HS

Trang 28

Như vậy, ưu điểm của SĐTD là đem đến cho HS những lợi ích cụ thể trong quá trình học tập: Nắm được những nội dung cơ bản của bài học, hệ thống nội dung kiến thức

và biểu thị bằng sơ đồ, ghi nhớ nội dung học tập một cách sâu sắc, rèn luyện kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK Có thể sẽ gặp khó khăn lúc đầu khi tập cho HS xây dựng SĐTD, nhưng chỉ là lúc đầu Khi đã thành thói quen, HS sẽ rất thích thú sử dụng trong học tập và hình thành thói quen làm việc sau này, từ việc nắm vững vấn đề, biểu thị bằng sơ đồ vận hành các biện pháp giải quyết SĐTD càng có tác dụng nếu HS sử dụng cho những bài ôn tập, tổng kết chương

1.3.2 Khả năng hỗ trợ của Sơ đồ tư duy trong tổ chức hoạt động nhóm

1.3.2.1 Cách tạo Sơ đồ tư duy trong hoạt động nhóm

- Xác định đối tượng

Chủ đề được xác định rõ ràng và cô đọng, các mục tiêu được đặt ra, và những thành

viên trong nhóm được cung cấp tất cả thông tin liên quan đến suy nghĩ của họ

- Động não cá nhân

Mỗi thành viên của nhóm phải dành ít nhất một giờ thực hành bùng phát SĐTD theo kiểu lửa lan nhanh cùng với SĐTD tái lập và chỉnh sửa để tìm những nhánh chính hoặc ý chủ đạo Phương pháp động não thông thường thì khác hẳn Trong phương pháp này, một cá nhân sẽ điều khiển nhóm và ghi những ý có Từ Khóa của các thành viên lên bảng Điều này phản ánh sự sáng tạo vì mỗi từ hay khái niệm được nêu lên công khai như thế sẽ lôi kéo tất cả các thành viên còn lại theo cùng một hướng Như vậy, nhóm theo phương pháp động não thông thường đã phủ nhận khả năng liên tưởng phi tuyến của

bộ não cá nhân và kết quả là làm mất đi các thành tựu to lớn lẽ ra đã có nếu lúc đầu bộ não cá nhân được cho phép tự do “bay nhảy” với dòng Tư duy về chủ đề

- Thảo luận theo nhóm nhỏ

Bây giờ chia nhóm thành những nhóm nhỏ hơn có từ 3 - 5 người Trong mỗi nhóm nhỏ, các thành viên trao đổi ý và thêm ý của những thành viên khác vào SĐTD của mình Cần duy trì thái độ tích cực đón nhận trong suốt quy trình thảo luận theo nhóm nhỏ Bất

kỳ ý nào do một thành viên nêu lên cũng phải được tất cả các thành viên khác hỗ trợ và chấp nhận Làm như vậy, bộ não cá nhân đã phát sinh ra ý đó sẽ được tạo điều kiện để tiếp tục thăm dò ý tưởng theo một chuỗi liên tục Ý tiếp theo trong chuỗi có thể là kiến

Trang 29

giải rất sâu sắc, xuất phát từ ý mà lúc ban đầu bị cho là rất yếu kém, ngu xuẩn hoặc không thích hợp

- Tạo Sơ đồ tư duy tổng hợp

Sau khi đã hoàn tất giai đoạn thảo luận theo nhóm nhỏ, nhóm sẽ chuẩn bị để tạo SĐTD tổng hợp

Dùng một màn hình khổng lồ hoặc một tờ giấy cực lớn để ghi lại cấu trúc cơ bản

Cả nhóm, một thành viên ứng dụng tốt SĐTD từ mỗi nhóm nhỏ, hoặc người ghi chép của nhóm sẽ làm việc này Phải thống nhất các quy ước về màu sắc cũng như hình thức để bảo đảm ý tưởng và trọng tâm được rõ ràng

Những ý chủ đạo được chọn để làm các nhánh chính, và tất cả các ý đều được đưa vào SĐTD Nhóm vẫn phải duy trì thái độ đón nhận Trong Tư duy tập thể, SĐTD này là tiêu biểu cho cấp độ mà cá nhân ứng dụng SĐTD đạt được ở Giai đoạn 2 trong quy trình

động não các nhân

- Nghiền ngẫm ý tưởng

Một lần nữa, quy trình động não ứng dụng SĐTD lại hoàn toàn khác với các phương pháp thông thường Các phương pháp thông thường tìm ý bằng cách lên tục dùng ngôn ngữ để diễn đạt và phân tích cho đến khi có được kết quả Như vậy, chỉ một phần nhỏ năng lực của bộ não được sử dụng và kết quả đạt được tất nhiên phải đạt được phải ít hơn cái phần nhỏ này Rõ ràng là khi bỏ đi quá nhiều kỹ năng tư duy tự nhiên của não thì không những các kỹ năng này không được sử dụng mà mối tương quan mật thiết giữa chúng với một số ít kỹ năng khác được sử dụng cũng bị mất đi

- Tái lập và chỉnh sửa lần thứ hai

Sau quy trình nghiền ngẫm ý, nhóm cần lặp lại Giai đoạn 2, 3, 4 để nắm vững kết quả của các ý tưởng vừa được xem xét và kết hợp Việc này có ý nghĩa là phải thực hiện bùng phát SĐTD theo kiểu lửa lan nhanh rồi tạo ra những SĐTD đã được tái lập để cho thấy các nhánh chính, trao đổi ý, sửa đổi SĐTD theo từng nhóm nhỏ, và cuối cùng tạo ra một SĐTD tập thể thứ hai

- Phân tích và quyết định

Ở giai đoạn này, nhóm đưa ra những quyết định quan trọng, nêu lên các mục tiêu, lên kế hoạch và hiệu chỉnh để đi đến kết quả cuối cùng

Trang 30

1.3.2.2 Các lợi ích của việc ứng dụng Sơ đồ tư duy trong hoạt động nhóm

- Phương pháp suy nghĩ và học tập theo cách này rất phù hợp với bộ não người

- Quy trình ứng dụng SĐTD trong hoạt động nhóm chú trọng đồng đều đến cá nhân

và tập thể Cá nhân được cho phép khám phá thế giới tâm thức của mình nhiều chừng nào thì đóng góp cho tập thể nhiều chừng nấy mà vẫn không đánh mất phần đóng góp riêng của mình

- Đóng góp của cá nhân mang lại lợi ích cho Tư duy tập thể và Tư duy tập thể lập tức phản hồi sức mạnh của nó cho từng thành viên từ đó tăng cường đóng góp của mỗi thành viên cho Tư duy của tập thể Ngay cả trong các giai đoạn đầu việc ứng dụng Tư duy của tập thể cũng có khả năng mang lại nhiều ý tưởng hữu dụng và sáng tạo hơn trong những phương pháp động não thông thường

- Việc ứng dụng Tư duy của tập thể tự động tạo ra dần dần một sự đồng tâm nhất trí, nhờ đó bồi đắp tính thần đồng đội và hướng tất cả các bộ não vào mục tiêu của nhóm

- Mọi ý tưởng đều được chấp nhận, nhờ vậy, các thành viên tự tin hơn vì cảm thấy mình có được sự nhất trí của tập thể

- SĐTD của tập thể được xem là bản in ra giấy của ký ức tập thể, đồng thời bảo đảm rằng cuối buổi học, mỗi thành viên trong nhóm đều có sự hiểu biết toàn diện và như nhau

về những tri thức mà nhóm đã đạt được

- SĐTD tập thể mang lại một công cụ mạnh cho sự phát triển tự thân của mỗi thành viên và là điểm tham chiếu tương đối khách quan của cá nhân có thể kiểm tra cũng như khám phá các ý tưởng liên quan

1.4 Kết luận chương I

Trong chương này tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống

cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS theo hình thức nhóm với sự

hỗ trợ của SĐTD trong dạy học VL Những vấn đề đã được trình bày trong chương này

có thể được tóm tắt thành những điểm chính như sau:

- Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động dạy học theo hình thức nhóm: Khái niệm dạy học nhóm, các kỹ năng hợp tác nhóm, tiến trình dạy học nhóm, phân loại và cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm, các tiêu chí thành lập nhóm trong dạy học, các phương tiện hỗ trợ dạy học hợp tác nhóm, ưu điểm và nhược điểm của hình thức hoạt

Trang 31

động dạy học theo nhóm Từ những nghiên cứu, tôi nhận thấy: Dạy học theo nhóm là một hình thức dạy học tăng cường sự hợp tác các thành viên trong nhóm, trong lớp học với nhau, giúp HS chia sẽ những kinh nghiệm, sáng kiến của bản thân để giúp nhau cùng tiến bộ Đồng thời hình thức dạy học này cũng góp phần hình thành cho HS những phẩm chất của người lao động trong thời đại mới: Năng lực tự giải quyết vấn đề, sự tự tin, năng động và sáng tạo

- Cơ sở lý luận của việc sử dụng SĐTD trong dạy học: Khái niệm của SĐTD, cấu trúc của SĐTD, nguyên tắc vẽ SĐTD, lợi ích của SĐTD, ứng dụng của SĐTD trong dạy học nhóm Từ đó tôi nhận thấy: SĐTD là công cụ có thể sử dụng để cho các cá nhân đưa

ra ý tưởng, liên kết các ý tưởng, liên kết nhớ lại, giải quyết vấn đề và phân tích theo nhóm, quyết định theo nhóm… Sự hỗ trợ của SĐTD đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các cá nhân khám phá thế giới tâm thức của mình, phát triển khả năng sáng tạo tối đa của các cá nhân và tập thể, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong tổ chức hoạt động nhận thức của HS

Với sự hỗ trợ của SĐTD, việc tổ chức hoạt động dạy học hợp tác nhóm sẽ mang lại kết quả cao trong QTDH Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác của HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức

Trang 32

CHƯƠNG II TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO NHÓM PHẦN NHIỆT

HỌC VẬT LÝ 8 VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY 2.1 Tổng quan phần nhiệt học Vật lý 8

Phần nhiệt học là phần thứ hai trong chương trình VL 8, nội dung kiến thức phần nhiệt học bao gồm 10 bài: Các chất được cấu tạo như thế nào?; Nguyên tử - phân tử chuyển động hay đứng yên; Nhiệt năng; Dẫn nhiệt, Đối lưu – bức xạ nhiệt; Công thức tính nhiệt lượng; Phương trình cân bằng nhiệt; Năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu; Sự bảo toàn năng lượng trong các hiện tượng cơ và nhiệt; Động cơ nhiệt

Hình 2.1: Nội dung phần Nhiệt học Vật lý 8

Các kiến thức của phần này rất gần gũi và có nhiều ứng dụng trong đời sống và

kỹ thuật Phần này cũng bao gồm nhiều thí nghiệm có thể là những thí nghiệm đơn giản, giúp cho HS tự lực tiến hành các thao tác thí nghiệm, đo đạc, xử lí số liệu hay giúp HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tạo hứng thú học tập

Hệ thống bài tập của phần này cũng rất đa dạng và phong phú, có nhiều bài tập gắn liền với thực tế, giúp các em có sự tin tưởng vào lí thuyết, phù hợp với những trình

độ khác nhau của HS

Qua phân tích đặc điểm của phần này, tôi biết được HS đã biết những gì và cần hình thành, phát triển những kiến thức, kĩ năng nào cho các em Đó chính là cơ sở để lựa

Trang 33

chọn và đưa ra các hình thức tổ chức dạy học với SĐTD phù hợp với yêu cầu về mục tiêu, nội dung chương trình SGK và trình độ của HS

2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong dạy học phần nhiệt học

ra kiến thức mới HS tiếp thu và tái hiện, ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, không phát huy được tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của mình

- Hầu hết GV đều tiến hành thí nghiệm trong phần lớn giờ học nhưng chủ yếu là dưới dạng thí nghiệm biểu diễn, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc tổ chức hoạt động

tự chủ chiếm lĩnh kiến thức trong giờ học của HS

- Thời gian trong việc cho HS tự lực hoạt động chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo còn ít Cơ sở vật chất tuy đã được đầu tư và phát triển nhưng chưa tạo ra được môi trường giáo dục thuận lợi cho HS trong quá trình tự lực hoạt động HS còn gặp khó khăn trong việc khai thác và sử dụng thông tin, hình ảnh, thí nghiệm mô phỏng, videoclip…trong quá trình tự lực hoạt động giải quyết nhiệm vụ nhận thức

Những phân tích trên cho thấy rằng việc sử dụng SĐTD hỗ trợ cho HS trong dạy học phần nhiệt học là hết sức cần thiết Với sự hỗ trợ của SĐTD, HS sẽ ghi chú nội dung bài học một cách tích cực, chủ động, từ đó tăng khả năng hiểu bài, ghi nhớ của HS trong dạy học

Trang 34

Từ việc sử dụng SĐTD, HS sẽ tích cực, chủ động đưa ra các lập luận chứng minh cho những ý tưởng, giải pháp được vạch ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhận thức của mình Như vậy, sử dụng SĐTD hỗ trợ tổ chức hoạt động hận thức sẽ phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ và năng lực tư duy sáng tạo của HS trong dạy học phần nhiệt học nói riêng và dạy học VL nói chung

2.3 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ tư duy trong tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm

- GV phải đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển, định hướng, kiểm tra và giám sát hoạt động học tập của HS trong QTDH

Trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học với sự hỗ trợ của SĐTD, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, xây dựng các hoạt động tương ứng với nội dung kiến thức của bài học hoặc một phần của bài học HS tích cực, chủ động, sáng tạo tham gia các hoạt động dưới sự hướng dẫn, điều khiển và kiểm tra giám sát của GV ở những cấp độ khác nhau: Cá nhân, nhóm, lớp để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

- Tạo môi trường học tập thuận lợi cho HS

GV cần phải đảm bảo các điều kiện để việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học với sự hỗ trợ của SĐTD diễn ra thành công, tức là phải tạo được môi trường học tập thuận lợi cho việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS; cụ thể: Chuẩn

bị chu đáo về trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ: SGK, phiếu học tập, thí nghiệm thật

- Thực hiện đúng và điều phối các hoạt động phù hợp với tiến trình dạy học

Trong quá trình sử dụng SĐTD tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, GV cần phân phối một cách hợp lý giữa thời gian tổ chức các hoạt động nhận thức, thời gian cho HS

tự lực hoạt động chiếm lĩnh tri thức, thời gian dành cho việc lập SĐTD và thời gian GV dùng để chính xác hóa nội dung kiến thức của bài học hoặc một phần của bài học GV cần lưu ý rằng SĐTD không phải là một tác phẩm hội họa Vì vậy trong dạy học, GV tránh để cho HS dành quá nhiều thời gian vào việc “trang trí, trau chuốt” SĐTD mà không chú ý đến việc tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Phải đảm bảo các quy tắc vẽ Sơ đồ tư duy

Trong quá trình tổ chức cho HS lập SĐTD đưa ra các ý tưởng, giải pháp giải quyết

Trang 35

vấn đề, GV cần lưu ý HS thực hiện đúng các quy tắc vẽ SĐTD bao gồm nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc

- Tổ chức cho HS tự đánh giá, nhận xét và GV đánh giá, nhận xét sau khi HS hoàn thành và trình bày SĐTD của mình

Sau khi HS hoàn thành và trình bày các ý kiến khác nhau của mình hay của cả nhóm, các em rất cần những lời nhận xét, đánh giá, công bố đáp án từ phía GV Khi các

em nhận thấy kiến thức mà do mình tự lực tìm kiếm được là đúng thì các em sẽ cảm thấy hưng phấn, hứng thú với môn học hơn, còn nếu chưa đúng thì các em cũng rút ra được những kinh nghiệm và cố gắng nổ lực hơn trong những lần tiếp sau

2.4 Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học theo nhóm với sự hỗ trợ của sơ đồ

- Bước 1: Phân tích nội dung bài dạy để giúp GV dự kiến được PPDH, PTDH, cách

tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

- Bước 2: Sắp xếp nội dung theo một trình tự khoa học và hợp lý

- Bước 3: Lựa chọn logic hình thành kiến thức phù hợp, tối ưu nhất dựa trên trình

độ HS, PTDH của nhà trường Kết hợp nhiều PPDH để mang lại kết quả cao

Trang 36

2.4.1.3 Lựa chọn các nội dung có thể thảo luận nhóm với sự hỗ trợ của Sơ đồ tư duy

Thảo luận nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD là một hình thức dạy học mới, phát huy tối

đa tính tích cực, sáng tạo của HS, tuy nhiên hình thức này chỉ phù hợp với một số kiến thức cần có sự phối hợp hoạt động của tập thể thì mới hiệu quả, vì vậy, trong QTDH, GV cần xác định các kiến thức cần và có thể thảo luận nhóm với sự hỗ trợ của SĐTD để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Thực tế giảng dạy cho thấy SĐTD hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động nhóm ở các đơn

vị kiến thức sau đây:

+ Sơ đồ tư duy theo đề cương

Dạng đầu tiên là SĐTD theo đề cương (còn gọi là SĐTD tổng quát) Dạng này được tạo ra dựa trên mục lục trong sách

Dạng SĐTD này mang lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học Những SĐTD theo đề cương khổng lồ về các môn học dán trên tường sẽ rất hữu ích cho chúng

ta Chúng giúp chúng ta có khái niệm về số lượng kiến thức chúng ta phải chuẩn bị cho

kỳ thi Chúng ta nên tạo SĐTD theo đề cương cho mỗi môn học Hình vẽ bên dưới là một SĐTD theo đề cương dành cho môn VL

Hình 2.2: SĐTD theo đề cương môn VL 8

Trang 37

+ Sơ đồ tư duy theo chương

Loại thứ hai là SĐTD theo chương Đối với các chương ngắn khoảng từ 10 – 12 trang, chúng ta có thể tập trung tất cả các thông tin trên một trang SĐTD Đối với những chương dài khoảng 20 trang trở lên, chúng ta có thể cần đến 2 - 3 trang SĐTD Chú ý rằng một SĐTD lý tưởng không nên chỉ lưu lại những ý chính mà còn phải thể hiện đầy

đủ tất cả các chi tiết hỗ trợ quan trọng khác Chúng ta có thể kèm theo các bảng dữ liệu,

đồ thị và các loại biểu đồ khác trong SĐTD nếu cần thiết Hình vẽ bên dưới là một ví dụ

về SĐTD chương Cơ học VL 8

Hình 2.3: SĐTD chương Cơ học Vật lý 8 + Sơ đồ tư duy theo đoạn văn

Một cách khác là vẽ SĐTD theo từng đoạn văn nhỏ trong sách Mỗi SĐTD dùng

để tóm tắt một đoạn văn hoặc một trích đoạn trong sách SĐTD theo đoạn văn giúp bạn tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó Bạn có thể vẽ những SĐTD tí hon này lên những nhãn dán nhỏ và đính chúng trong SGK của bạn

Ngày đăng: 08/10/2015, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu trúc của SĐTD 1.2.3. Nguyên tắc vẽ Sơ đồ tư duy - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Hình 1.1 Cấu trúc của SĐTD 1.2.3. Nguyên tắc vẽ Sơ đồ tư duy (Trang 24)
Hình 1.2: Nguyên tắc vẽ SĐTD - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Hình 1.2 Nguyên tắc vẽ SĐTD (Trang 25)
Hình 2.1: Nội dung phần Nhiệt học Vật lý 8 - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Hình 2.1 Nội dung phần Nhiệt học Vật lý 8 (Trang 32)
Hình 2.2: SĐTD theo đề cương môn VL 8 - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Hình 2.2 SĐTD theo đề cương môn VL 8 (Trang 36)
Đồ thị và các loại biểu đồ khác trong SĐTD nếu cần thiết. Hình vẽ bên dưới là một ví dụ - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
th ị và các loại biểu đồ khác trong SĐTD nếu cần thiết. Hình vẽ bên dưới là một ví dụ (Trang 37)
Hình 2.5: SĐTD bài “Các chất được cấu tạo như thế nào?” - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Hình 2.5 SĐTD bài “Các chất được cấu tạo như thế nào?” (Trang 39)
Bảng 3.2  Bảng thống kê các điểm số (X i ) của các bài kiểm tra - TỔ CHỨC dạy học NHÓM PHẦN NHIỆT học vật lý 8 với sự hỗ TRỢ của sơ đồ tư DUY
Bảng 3.2 Bảng thống kê các điểm số (X i ) của các bài kiểm tra (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w