1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở việt nam hiện nay

97 846 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 915,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả đã đạt được và một số hạn chế tồn tại của việc kết hợp pháp luật và đạo đức trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.. Tiếp tục xây dựng, ho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRƯƠNG PHƯƠNG DUNG

KẾT HỢP ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT

TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRƯƠNG PHƯƠNG DUNG

KẾT HỢP ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT

TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thúy Vân, người đã dành nhiều thời gian quý báu tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gian Hà Nội đã góp ý tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự giúp

đỡ, động viên của bạn bè và những người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Học viên

Trương Phương Dung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa

từng được công bố Các tài liệu sử dụng tham khảo đã được trích nguồn đầy

đủ và chính xác

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trương Phương Dung

Trang 5

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9

8 Kết cấu của luận văn 9

B NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 10

1.1 Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền, đạo đức và pháp luật 10 1.1.1 Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10

1.1.2.Một số vấn đề lý luận về đạo đức và vai trò của đạo đức trong xã hội. 18

1.1.3 Một số vấn đề lý luận về pháp luật và vai trò của pháp luật trong nhà nước và xã hội 22

1.2 Tính tất yếu của việc kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 27

1.2.1 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật 27

1.2.2 Sự cần thiết phải kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 30

1.3 Nội dung kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 33

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY HIỆU QUẢ KẾT HỢP ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37 2.1 Thực trạng kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 37

2.1.1 Khái quát lịch sử kết hợp đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội ở Việt Nam 37 2.1.2 Những kết quả đã đạt được và một số hạn chế tồn tại của việc kết hợp pháp luật và đạo đức trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay 43

2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 69

2.2.1 Đổi mới, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đạo đức, của pháp luật cũng như ý nghĩa của sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 69 2.2.2 Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với củng cố và phát triển các giá trị đạo đức tiến bộ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 71 2.2.3 Chú trọng việc giáo dục nâng cao đạo đức, ý thức pháp luật trong gia đình, nhà trường, xã hội 75 2.2.4 Đánh giá đúng vai trò của dư luận xã hội và dựa vào những luồng dư luận tích cực để góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội.

78

2.2.5 Tăng cường công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức; chú trọng giáo dục cải tạo khi xử lý người vi phạm pháp luật.

81 KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đạo đức và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội quan trọng trong kiến trúc thượng tầng, có vai trò rất quan trọng đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong xã hội Á Đông truyền thống, đạo đức vốn được xem là công cụ chủ yếu của các nhà cầm quyền dùng để điều chỉnh hành vi con người, nhằm đem lại sự ổn định cho xã hội Dần dần, sự phát tiển của xã hội làm cho các quan hệ xã hội biến đổi ngày càng phong phú và phức tạp, mà nếu chỉ dựa vào đạo đức, trật tự xã hội không được bảo đảm Khi đó, pháp luật xuất hiện với chức năng điều chỉnh hành vi con người mang tính bắt buộc Cả đạo đức và pháp luật đều có những thế mạnh và điểm yếu riêng Tuy vậy, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, biện chứng, tác động, ảnh hưởng

và bổ sung cho nhau Thực tiễn quản lý xã hội của các quốc gia cho thấy không thể tách rời mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, ngay cả khi xây dựng NNPQ: một nhà nước thượng tôn pháp luật, thì những qui phạm pháp luật vẫn phải luôn có mối quan hệ với các qui phạm đạo đức

Trong điều kiện Việt Nam xây dựng NNPQ, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, mọi hoạt động của nhà nước và công dân đều chịu sự điều tiết của pháp luật; sự bình đẳng trước pháp luật là quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Tuy nhiên, Việt Nam trong một thời gian dài chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo, sự coi trọng đạo lý, ứng xử theo đạo

lý đã trở thành truyền thống của dân tộc Người Việt đã quen với lối ứng xử

“trăm cái lý không bằng tý cái tình” Có thể nói, hiện nay thói quen xử sự theo đạo lý vẫn còn ngự trị trong lối sống của không ít người Vì vậy, trong điều kiện xây dựng NNPQ, khi pháp luật đã trở thành phương tiện chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng quản lý thì đạo đức vẫn giữ một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Chính trong nét đặc thù này, đặt ra yêu cầu nhận thức đúng đắn về vai trò, về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp

Trang 9

luật; Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế làm gia tăng tính phức tạp trong các quan hệ xã hội và đời sống

xã hội nói chung Song song với những ảnh hưởng tích cực là không ít những ảnh hưởng tiêu cực như lối sống thực dụng, xa rời các giá trị truyền thống v.v… Trong điều kiện đó, để nhà nước điều hòa một cách có hiệu quả nhất các quan hệ xã hội thì cần phải kết hợp chặt chẽ pháp luật với việc phát huy các giá trị đạo đức

Chính vì thế, nghiên cứu sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong điều kiện Đổi mới, xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa quan trọng và cần thiết, góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền Việt Nam có một môi trường pháp lý thực sự tôn nghiêm, bên cạnh việc giữ gìn và phát huy được các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài Kết hợp

đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay để viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Về phương diện lý luận, từ trước đến nay, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức đã thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học ở một số lĩnh vực như: Luật học, Đạo đức học và Triết học

Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu theo hai mảng sau:

Nhóm công trình nghiên cứu về đạo đức, pháp luật, về vai trò của đạo đức và pháp luật trong xã hội gồm có:

Lê Quang Thưởng (1994), Tìm hiểu mối quan hệ giữa đạo đức truyền

thống và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Văn Tỉnh (1994), Đạo đức truyền thống của dân tộc là môi trường thuận lợi của việc thực hiện pháp luật, Xã hội và Pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn

Trang 10

Quốc Việt (2002), Bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong quá

trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp

khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Thị Tuyết Ba (2002), Vai trò của

đạo đức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí Triết học, số 5; Nguyễn Bình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, Nxb Tư pháp, Hà Nội;

Hoàng Thị Kim Quế (2007), Pháp luật và đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Nguyễn Minh Đoan (2009), Vai trò của pháp luật trong đời sống xã

hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trong đó, nổi bật là các công trình:

Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam (Nxb Khoa

vấn đề pháp luật và đạo đức ở Việt Nam một cách tương đối toàn diện, theo tiến trình lịch sử của sự phát triển Sách tập trung phân tích những nét đặc trưng của đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam, thứ triết lý được hình thành từ lâu đời trong lịch sử dân tộc và đang biến đổi

do tác động của các nhân tố phát triển của xã hội hôm nay Có thể nói, trong từng chương của cuốn sách đều đã đề cập đến vị trí, vai trò của đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển của dân tộc qua các giai đoạn lịch sử của nó Tuy nhiên, cuốn sách không chỉ ra đặc điểm cũng như sự tương tác giữa pháp luật với đạo đức, không đề cập một cách cụ thể vai trò của đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội

Tác giả Nguyễn Quốc Việt có đề tài nghiên cứu: “Bảo lưu những giá

trị đạo đức truyền thống trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay” (Đề tài nghiên cứu cấp Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

2002) Đây là công trình tuy chỉ tiếp cận một khía cạnh của mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật, nhưng tác giả đã đề cập đến vấn đề rất có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay của nước ta Đó là việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo

Trang 11

đức truyền thống của dân tộc trong điều kiện mới, cụ thể là trong quá trình cải cách, đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, hợp tác và hội nhập quốc tế Tác giả đã nêu ra và luận giải các vấn đề như sự cần thiết phải bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình hoàn thiện pháp luật; thực trạng bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống ở nước ta hiện nay Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất nhiều giải pháp bao gồm các phương pháp, cách thức bảo lưu các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

Trong nội dung nghiên cứu này, phải kể đến công trình điển hình là

cuốn sách Pháp luật và đạo đức của tác giả Hoàng Thị Kim Quế (Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2007) Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu khá đồ sộ về pháp luật, đạo đức cũng như mối quan hệ giữa chúng Trong đó, tác giả đã đề cập một cách tương đối toàn diện các vấn đề như vị trí, vai trò của pháp luật

và đạo đức trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội; sự thống nhất,

sự khác biệt và sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức Công trình cũng giới thiệu cho người đọc những nội dung cơ bản trong tư tưởng pháp luật và đạo đức ở phương Đông, phương Tây Cuốn sách cũng đề cập đến thực trạng đạo đức, pháp luật trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Qua đó, tác giả đề xuất nhiều giải pháp nhằm tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật kết hợp giáo dục thực hành đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, tác giả không luận giải các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nhận thức của con người ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, và chưa phân tích mối quan hệ này trong điều kiện cụ thể xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Tiếp theo là cuốn Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội của tác

giả Nguyễn Minh Đoan (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) Đây là một cuốn sách viết về vai trò của pháp luật với nội dung khá rõ ràng và dễ hiểu

Trang 12

Trong đó, tác giả phân tích sâu sắc về vai trò của pháp luật đối với nhà nước, đối với đời sống kinh tế - xã hội, đối với đường lối, chính sách của Đảng Thông qua bốn chương của cuốn sách, tác giả nhấn mạnh rằng, pháp luật là công cụ quản lý xã hội không thể thiếu, công cụ quản lý xã hội quan trọng, có hiệu quả nhất Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định pháp luật không phải là công cụ quản lý duy nhất, càng không phải là công cụ quản lý vạn năng Thông qua luận giải của tác giả, người đọc có thể hình dung một cách rõ ràng

về vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội

Nhóm công trình nghiên cứu về sự kết hợp, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong đời sống xã hội có các công trình:

Triệu Vũ (1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng

giữa đức trị và pháp trị trong quản lý xã hội, Tạp chí Quốc phòng toàn dân,

số 11; Trần Hậu Thành (1998), Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 5; Trần Hậu Thành và Lê Thị Hoài Thanh (2000), Về

quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 6; Hoàng

Xuân Châu (2002), Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong nền kinh tế

thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học

Đại học Quốc gia Hà Nội; Lương Hồng Quang (2002), Tư tưởng Hồ Chí

Minh về kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội, Luận văn Thạc sĩ

Luật học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh; hàng loạt công trình nghiên cứu chuyên sâu của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế về mối quan hệ giữa pháp luật và

đạo đức như: Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

trong hệ thống điều chỉnh xã hội - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/ 1999;

Hoàng Thị Kim Quế (chủ nhiệm) Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, 2002; Vấn đề kết hợp quản lý xã hội bằng pháp luật với giáo dục nâng cao đạo đức ở nước

ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 12/2002; Nguyễn Thúy Hoa (2006), Kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước tại Việt Nam hiện nay, Luận văn

Trang 13

Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Tạ Thị Thu

Đông (2012), Kết hợp đạo đức và pháp luật – cơ sở và giải pháp trong việc

quản lý xã hội, xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Phát triển

nhân lực, số 3; Nguyễn Văn Năm (2012), Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận án

Tiến sĩ Đại học Luật Hà Nội

Xin điểm qua một số công trình nghiên cứu ở nội dung này như:

Đề tài nghiên cứu: "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản

lý xã hội ở nước ta hiện nay" của tác giả Hoàng Thị Kim Quế (Đề tài Khoa

học cấp Bộ, 2002) Đây là công trình nghiên cứu một cách khá toàn diện các vấn đề như vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong quản

lý xã hội; tác giả cũng bước đầu nghiên cứu những biểu hiện việc kết hợp giữa pháp luật với đạo đức ở một số lĩnh vực pháp luật cụ thể; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức

Tác giả Lương Hồng Quang có đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp

pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội (Học viện Chính trị quốc gia Hồ

Chí Minh, 2002), và tác giả Tạ Thị Thu Đông có đề tài Tư tưởng Hồ Chí

Minh về đạo đức và pháp luật (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010) nghiên cứu

về mối quan hệ giữa đạo đức, pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh Những

đề tài này đề cập một cách khá sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật; mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong tư tưởng

Hồ Chí Minh Hai tác giả đều có sự phân tích khá sâu sắc các quan điểm, tư tưởng của Hồ Chủ tịch và khẳng định, đạo đức là gốc, là cơ sở để xây dựng pháp luật tiến bộ, là nhân tố đảm bảo việc thực hiện pháp luật, là công cụ hỗ trợ cho pháp luật trong việc giữ gìn trật xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc; ngược lại, pháp luật cũng có tác động mạnh mẽ đến đạo đức Pháp luật ghi nhận và đảm bảo về mặt pháp lý các chuẩn mực đạo đức, là công cụ hữu

Trang 14

hiệu hỗ trợ cho cái thiện đấu tranh thắng cái ác, tạo điều kiện để các giá trị đạo đức phát triển bền vững Chính vì vậy, luận văn khẳng định, cần phải có

sự kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lý xã hội Có thể nói, các luận văn đều đã đề cập trực diện nhiều khía cạnh trong mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức

Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Xuân Châu với đề tài Mối quan hệ

giữa pháp luật với đạo đức trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002) Luận văn đã đề cập

những khía cạnh của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức Tuy nhiên luận văn không đề cập một cách cụ thể quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Luận văn trình bày về những điểm tương đồng, khác biệt và sự tác động qua lại giữa pháp luật với đạo đức cũng như đề cập đến vai trò của pháp luật, đạo đức trong quản lý xã hội nhưng chưa chỉ ra đặc thù của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong giai đoạn hiện nay; chưa luận giải về sự cần thiết phải kết hợp giữa pháp luật với đạo đức trong hoạt động quản lý xã hội

Nhìn chung, các công trình kể trên đã nghiên cứu về đạo đức và pháp luật, về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật nói chung, hay là mối quan hệ đạo đức và pháp luật trong nền kinh tế thị trường hiện nay Các tác giả đã nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt của đạo đức và pháp luật, sự ảnh hưởng qua lại một cách mật thiết giữa chúng; chỉ ra vai trò của đạo đức

và pháp luật trong đời sống xã hội với tư cách là những phương tiện quan trọng điều chỉnh hành vi con người Một số công trình nghiên cứu vấn đề kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội nói chung Tuy nhiên, các công trình chưa đề cập một cách cụ thể sự kết hợp đạo đức với pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiên nay Đây là hướng nghiên cứu mà tác giả luận văn muốn hướng đến

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích: Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về đạo

đức, pháp luật, nhà nước pháp quyền, luận văn đi vào làm rõ tính tất yếu và thực trạng sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp đạo đức và pháp luật một cách hiệu quả hơn

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải thực hiện

những nhiệm vụ sau:

Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền, về

đạo đức và pháp luật, về mối quan hệ giữa đạo đức pháp luật

Hai là, làm rõ tính tất yếu và thực trạng của việc kết hợp đạo đức và

pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Ba là, bước đầu đề xuất một số giải pháp phát huy hiệu quả việc kết

hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam

- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, từ thời kỳ Đổi mới đến nay, thể hiện trong các văn kiện Đảng, trong hoạt động lập pháp và thực thi pháp luật trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan niệm của triết học Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về lý luận NNPQ XHCN, về pháp luật và đạo đức Ngoài ra, luận văn còn tham khảo, sử dụng kết quả các công trình trong nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận văn

Trang 16

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu các phương

pháp của phép biện chứng duy vật như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống nhất logic – lịch sử, khái quát hóa…

6 Đóng góp mới của luận văn

- Trên cơ sở lý giải sự cần thiết và thực trạng kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, luận văn bước đầu đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho việc nâng cao hiệu quả của sự kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Góp phần bổ sung và làm sáng tỏ thêm những

vấn đề lý luận về kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo

dùng trong công tác nghiên cứu những vấn đề liên quan, tiếp cận ở cả góc độ triết học, đạo đức và pháp luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 17

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HỢP

ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền được hình thành cách đây hơn hai nghìn năm Lúc đầu đó chỉ là những ý tưởng, những quan niệm của các nhà tư tưởng về những yếu tố, những khía cạnh có tính đơn biệt của việc tổ chức quyền lực nhà nước, phát huy vai trò của pháp luật và giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật Sau đó những ý tưởng này được phát triển thành

tư tưởng có giá trị phổ biến của nhân loại Nội dung chủ yếu của tư tưởng nhà nước pháp quyền là đề cao vai trò của pháp luật nhằm bảo vệ các giá trị xã hội như tự do, công bằng, bình đẳng và phát triển

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, do đòi hỏi của lịch sử và xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, có hai thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm tích cực, tiến bộ về nhà nước pháp quyền Đó là thời kỳ nhà nước cổ đại

Hy Lạp, La Mã khi mà nhà nước chiếm hữu nô lệ đã thể hiện hết tính chất tàn bạo, dã man của nó và thời kỳ cách mạng tư sản ở châu Âu khi giai cấp tư sản phát động các cuộc cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, xây dựng nền cộng hoà và xã hội tự do, bình đẳng, bác ái

Những tư tưởng tích cực tiến bộ về Nhà nước pháp quyền trong thời kỳ

cổ đại ở phương Tây thể hiện rõ nét ở các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời kỳ này như Solong, Socrat, Platon, Aristot, Xixeron v.v…

Solong (638-559 tr.CN) được coi là người đầu tiên nêu ý tưởng về nhà nước pháp quyền khi ông chủ trương cải cách nhà nước Athen bằng việc đề

Trang 18

cao vai trò của pháp luật Theo ông, chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự

và tạo nên sự thống nhất, ông chủ trương giải phóng tất cả mọi người bằng pháp luật, nhà nước và pháp luật là hai công cụ để thực hiện dân chủ, tự do và công bằng, vì vậy, hãy kết hợp sức mạnh quyền lực nhà nước với pháp luật Nhà nước Athen với những tư tưởng cải cách của Solong được xem là nhà nước dân chủ nhất cho đến thời điểm đó

Heraclit (520-460 tr.CN) cho rằng pháp quyền là phương tiện quan

trọng để chống lại cực quyền, ông kêu gọi nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ

pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình

Platon (427-374 tr.CN) quan niệm tinh thần thượng tôn pháp luật phải

là nguyên tắc, bản thân nhà nước và các nhân viên nhà nước phải tôn trọng pháp luật; nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền; Xixeron (106-43 tr.CN) đưa ra quan niệm: nhà nước phải là một cộng đồng pháp lý

Quan niệm của các nhà tư tưởng cổ đại tuy được nêu ở những góc độ khác nhau nhưng tựu trung đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật và xây dựng nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật công bằng Những ý tưởng đó

có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành và phát các lý thuyết về tính tối cao của pháp luật, về phân chia quyền lực nhà nước và nhà nước pháp quyền nói chung

Những quan điểm, tư tưởng về nhà NNPQ thời kỳ cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài và vô pháp luật ở châu Âu thế kỷ 17, 18 Trong thời kỳ này tư tưởng về nhà nước pháp quyền được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành hệ thống quan điểm trong các học thuyết chính trị - pháp lý, tiêu biểu là quan điểm của các nhà tư tưởng: J.Lock, S.L.Montesquieu, J.J.Rousseau, I.Kant, Hegel, Monh Trong đó, đáng chú ý là học

Trang 19

John Lock (1632-1704) là người đặt nền móng cho sự ra đời học thuyết

về nhà nước pháp quyền tư sản Ông đưa ra tư tưởng về nhà nước trong cuốn

“Khảo luận thứ hai về chính quyền” J.Lock nhận thấy nguy cơ của quyền lực tuyệt đối, quyền của độc tài dù trao cho một cá nhân hay một nhóm người Ông cho rằng dạng nhà nước tốt nhất là quyền lực của hệ thống chính quyền được hạn chế bằng cách chia thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn riêng đủ cần thiết để thực hiện chức năng của mình Ông cho rằng một hệ thống nhà nước cần có quyền xét xử độc lập dựa trên duy nhất hiến pháp chung của quốc gia Trách nhiệm lập pháp là của quốc hội và nhiệm vụ của nhà vua là hành động như một người chấp pháp tối cao

Tiếp sau John Lock, Montesquieu (1698-1755) trong tác phẩm

“Tinh thần pháp luật” đã đề ra lý thuyết phân chia quyền lực, một trong những nội dung chủ yếu của NNPQ tư sản Ông quan niệm, khi nắm trong tay quyền lực con người thường có xu hướng lạm dụng nó, vì vậy, phân chia quyền lực để tránh lạm quyền Theo ông, mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực là: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Để chống độc quyền thì ba thứ quyền lực này phải được tổ chức sao cho có tính độc lập và kiềm chế lẫn nhau

J.J.Rousseau (1712-1788) trong “Bàn về khế ước xã hội” đã coi khế ước xã hội là cơ sở để giải quyết các vấn đề về nhà nước, pháp luật và công dân Ông đã bàn cặn kẽ về “tam quyền” theo lý thuyết của Montessquieu

“Khế ước xã hội” là ý chí chung, là quyền lực tối cao được thiết lập từ những

cá thể thành viên hợp lại Ý chí chung của toàn thể dân chúng khi được công

bố nó trở thành luật

Đến I.Kant (1724-1804) – học giả người Đức, lý thuyết về nhà nước pháp quyền tư sản với tính cách là một học thuyết triết học – chính trị tương đối hoàn chỉnh đã được xác định Ông triệt để tán thành việc áp dụng lý

Trang 20

thuyết phân quyền Theo ông ở đâu áp dụng nguyên tắc này thì ở đó có NNPQ, nếu không chỉ là chuyên quyền

Lý luận kinh điển về NNPQ phát triểm mạnh ở nước Đức vào nửa đầu thế kỷ XIX Robert Fon Mohn, Karl Teodor Valker - hai nhà luật học người Đức, là những người đầu tiên dùng thuật ngữ NNPQ đã được lập luận trong triết hoc của Canter, Hegen Mohn và Valker đề ra nguyên tắc về tính tối cao của luật như là tiêu chuẩn quan trọng nhất của NNPQ Theo Mohn, trong ba loại quyền trong NNPQ thì quyền lập pháp có vị trí cao nhất, không thể không

có sự kiểm tra của các cơ quan tư pháp lớn hơn sự hoạt động lập pháp mà chỉ lớn hơn các cơ quan hành pháp mà thôi Theo Mohn và Valker, trong những tiêu chuẩn của NNPQ đó là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, thừa nhận mục đích sống còn của tất cả mọi người không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ Tính tối cao của luật, sự ngự trị của pháp luật thể hiện qua quyền lực nhân dân dưới thình thức chủ quyền của nghị viện

Như vậy, từ thế kỷ XVII-XVIII, trong triết học pháp quyền đã thiết lập nguyên tắc bình đẳng về hình thức pháp luật của tất cả mọi người tham gia các quan hệ pháp luật, bằng sự thống nhất về bản chất của lợi ích và nhu cầu Trong quan niệm cổ điển của thuyết pháp quyền tự nhiên của J.J.Rousseau, cơ chế kiểm tra của bộ máy chính trị - nhà nước được dùng để cân bằng lợi ích của toàn dân, của các nhóm, các giai tầng và các lợi ích cá nhân Và sự cân bằng đó chỉ có thể đạt được, vẫn theo tư tưởng của J.J.Rousseau, khi có sự phân quyền và tôn trọng tính tối cao của luật và không chỉ là trật tự pháp luật tối ưu mà còn là tổ chức chính trị lý tưởng nói chung

Ở phương Đông, mầm mống về tư tưởng NNPQ cũng xuất hiện từ thời

cổ đại Đó là tư tưởng pháp trị của các nhà tư tưởng thuộc phái Pháp gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi… Quản Trọng chủ trương đề cao “Luật,

lệnh, hình, chính”, vua phải giữ pháp, không vì vua muốn mà thay đổi lệnh,

lệnh đáng tôn hơn vua Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của việc cai

Trang 21

trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng, không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật Học thuyết Pháp trị của Hàn Phi Tử là sự tiếp thu những điểm ưu trội của ba trường phái trong Pháp gia: “pháp” (Thương Ưởng), “thuật” (Thân Bất Hại),

“thế” (Thận Đáo); từ đó, phát triển và xây dựng một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời

Sự phân tích trên cho thấy tư tưởng về nhà nước pháp quyền nói chung, đặc biệt ở phương Tây là cả một quá trình phát triển kế tiếp và nối dài, có sự

kế thừa và hoàn thiện trong quá trình vận động đó, để đi đến những quan điểm chung thống nhất về nhà nước pháp quyền

* Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền

Nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, có thể rút ra những điểm chung, khái quát về đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền như sau:

- Nhà nước pháp quyền là tổ chức chính trị của nhân dân, là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân

- Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm chủ quyền của nhân dân bằng pháp luật, là nhà nước thượng tôn pháp luật, trong đó pháp luật phải phản ánh "ý chí chung của nhân dân", "lợi ích chung của xã hội"

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình, còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước và chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi vi phạm pháp luật của mình

Trang 22

- Nhà nước pháp quyền tư sản có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, có sự phân chia, đối trọng và kiểm soát quyền lực nhà nước giữ ba bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước bảo đảm sự độc lập của Toà án và tính chất dân chủ, minh bạch của pháp luật Có cơ chế giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý các vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện

Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn

bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Khi kế thừa, tiếp thu tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại là kế thừa, tiếp thu những mặt tích cực, hợp

lý, tiến bộ, khái quát trong các đặc trưng nêu trên Đó là thành quả trí tuệ, là kết tinh của khát vọng dân chủ, tự do và nhân quyền của nhân loại

NNPQ ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc Không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung cho mọi quốc gia, dân tộc Tính đặc thù của NNPQ được xác định bởi hàng loạt yếu tố Các yếu tố này về thực chất rất đa dạng, phong phú và phức tạp, được xác định bởi các điều kiện về lịch sử, truyền thống - văn hoá, tâm lý

xã hội của mỗi dân tộc, các chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá Các yếu

tố này không chỉ tạo ra các đặc sắc, tính riêng biệt của mỗi một dân tộc trong quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của mình mà còn quyết định mức

độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền

Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh

tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp

Trang 23

* Những đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

NNPQ với tư cách là cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội đã được xây dựng ở nhiều quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển

Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng NNPQ đang đặt ra như một tất yếu lịch

sử và tất yếu khách quan dựa trên quá trình nhận thức, tiếp thu tư tưởng tiến

bộ của nhân loại, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam với những đặc thù riêng Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “đẩy nhanh công cuộc xây dựng NNPQ XHCN trên nhiều mặt và xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”, “xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” [12, tr.126] Như vậy, ở đây chúng ta vẫn dễ dàng nhận thấy rằng, tính pháp chế là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền và bản chất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Về mặt tư duy

lý luận, có lẽ điểm khác biệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước pháp quyền khác là ở cơ chế vận hành của nhà nước, bởi vì ở các nhà nước pháp quyền tư sản thì cơ chế vận hành phổ biến

là “tam quyền phân lập” Còn chúng ta xác định quyền lực nhà nước là tập trung, thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp thực hiện quyền lực

Chủ trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng đã nêu ở trên vẫn tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong đó Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao

Trang 24

năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương” [13, tr.247]

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang những đặc trưng sau:

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” [31, tr.515]

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và Luật trong đời sống xã hội

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp

và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp

và tư pháp

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình và bảo đảm cho công dân thực hiện các nghĩa vụ trước nhà nước và xã hội

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, hữu nghị hợp tác, bình đẳng và phát triển với các nước láng giềng, các nhà nước và các dân tộc khác trên thế giới; tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước quốc tế đã tham gia

Trên đây là những đặc trưng cơ bản của NNPQ XHCN ở Việt Nam Sau một thời gian dài của quá trình nhận thức, tìm tòi, thể nghiệm, đến nay

Trang 25

yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã chính thức trở thành một

nguyên tắc định hướng cho quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam

NNPQ được nhận diện là phương thức tổ chức dân chủ quyền lực nhà nước mà theo đó pháp luật là cơ sở cho việc thực hiện quyền lực cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể trong xã hội

Về mặt tư duy lý luận, điểm khác biệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước pháp quyền tư sản là ở cơ chế vận hành của nhà nước Nếu các nhà nước pháp quyền tư sản có cơ chế vận hành phổ biến là “tam quyền phân lập”, thì NNPQ XHCN ở Việt Nam có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp Điều này để nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, cũng chính là dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước

này được hình thành từ rất sớm trong xã hội chiếm hữu nô lệ, khoảng thế kỷ

IV trước công nguyên, gắn với tên tuổi nhà tư tưởng vĩ đại Arixtốt (384-322) trước công nguyên Thời kỳ xa xôi người ta quan niệm đạo đức là những chuẩn mực chung nhằm điều chỉnh hành vi con người, sao cho tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con người với nhau, giữa con người với xã hội Theo

tiếng Hy Lạp cổ Ethos là luân lý, là thói quen, là phong tục tập quán, thông

qua đó mà điều chỉnh hành vi của con người Sau này, người phương Tây

cũng dùng từ "Ethique" với nghĩa là đạo đức học

Ở phương Đông, Trung Quốc là nơi mà các nhà tư tưởng nói đến đạo đức nhiều nhất, điển hình là Nho giáo Trong tiếng Trung Quốc, chữ "đạo

Trang 26

đức" có nghĩa là Đạo lý và Đức hạnh, là con đường đúng đắn (phép tắc) mà hành vi con người phải theo Trong Nho giáo đạo đức được lý giải ở cương thường, hay mở rộng ra là luân thường Đó là mối quan hệ vua - tôi, cha mẹ - con cái, chồng - vợ, anh - em, bạn bè

- Đạo đức, được đề cập trong từ điển tiếng Việt là “những tiêu chuẩn,

những nguyên tắc xử sự được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [52, tr.280]; hay “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bới niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18, tr.8] Mặc

dù có sự khác nhau về câu chữ song nhìn chung theo những cách hiểu này đạo đức được xem như là loại công cụ, phương tiện điều chỉnh hành vi con người trong các mối quan hệ xã hội

- Đạo đức Mác - lênin khẳng định đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những hành vi đánh giá cách ứng xử của con người trong quan

hệ với nhau và quan hệ với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và thông qua dư luận xã hội

Tóm lại, một cách chung nhất, đạo đức là những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi con người và là cơ sở để đánh giá xử sự của mỗi con người

Như vậy, đạo đức được xem là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Các khái niệm, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một

Trang 27

giai cấp nhất định Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân

Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành

vi đạo đức của cá nhân Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu

sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm… Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của

sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội… Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức

là sự lựa chọn của con người

Đạo đức nói chung, là kết quả phát triển tác động qua lại lẫn nhau của nhiều yếu tố, như: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật… mà trước hết là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, đạo đức là sự phản ánh của đời sống kinh tế của mỗi thời đại Tức

là các yêu cầu về đạo đức bắt nguồn từ điều kiện kinh tế, đời sống xã hội ở các giai đoạn lịch sử khác nhau thì phải có nội dung khác nhau Do đó, khi các quan hệ kinh tế xã hội đã thay đổi thì các quy tắc đạo đức cũng có sự vận động, biến đổi Đồng thời đạo đức cũng có tính độc lập tương đối của nó so với tồn tại xã hội

*Vai trò của đạo đức trong xã hội

Trong đời sống xã hội, cùng với pháp luật, đạo đức là một trong những công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh hành vi con người Trước hết, cần phải

Trang 28

khẳng định rằng đạo đức là một trong những công cụ điều chỉnh xuất hiện sớm nhất trong lịch sử loài người, nó xuất hiện ngay từ khi bắt đầu hình thành

xã hội loài người Đạo đức ra đời bắt nguồn từ nhu cầu tất yếu của đời sống

xã hội Ở đâu có đời sống xã hội thì ở đó cần có đạo đức Những chuẩn mực đạo đức không chỉ giúp giữ trật tự xã hội, giải quyết các tranh chấp… mà nó còn là công cụ hướng thiện, hướng cho xã hội đến những mục tiêu cao cả như lương thiện, nhân đạo, nhân văn; đạo đức giúp cho từng cá nhân hoàn thiện nhân cách, lối sống từ trong gia đình đến các quan hệ xã hội Sự tu dưỡng đạo đức giúp cho mỗi người hình thành lên lẽ sống đúng đắn, có những xử sự tốt được mọi người tôn trọng

Đạo đức có ảnh hưởng lớn đến các loại công cụ điều chỉnh khác đối với hành vi con người Bởi lẽ đạo đức được xác định là cơ sở của tất cả các phương tiện điều chỉnh khác, nói cách khác, các loại quy tắc ứng xử khác bao gồm cả pháp luật, đều được hình thành trên nền tảng đạo đức xã hội Điều đó

có nghĩa là điều chỉnh quan hệ xã hội bằng các công cụ khác phải thuận chiềuvới sự điều chỉnh bằng đạo đức, nói cách khác, các quy phạm xã hội khác phải phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội Bởi nếu trái đạo đức tức là trái lẽ phải ở đời, trái nguyên lí tự nhiên, trái yêu cầu, nguyên tắc của cuộc sống, do vậy, chúng không thể tồn tại được Một quy tắc xử sự nào đó không phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội sẽ khó có thể đi vào đời sống

Là hệ thống chuẩn mực chung, đạo đức góp phần quan trọng trong việc củng cố, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, thuần phong mỹ tục của dân tộc Đồng thời đạo đức góp phần đảm bảo cho xã hội phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, đảm bảo văn minh và tiến bộ xã hội Như vậy, đạo đức đã trở thành mục tiêu đồng thời là động lực để xã hội phát triển

Trang 29

1.1.3 Một số vấn đề lý luận về pháp luật và vai trò của pháp luật trong nhà nước và xã hội

- Khái niệm pháp luật được hiểu một cách phổ biến nhất "là hệ thống

các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội"

[8, tr.64] Pháp luật, về bản chất nguyên gốc là mối tương quan giữa con người với con người, giữa con người với tập thể, lâu dần trở thành quy tắc xử

sự, mỗi người phải tuân thủ khi giao tiếp với nhau cũng như giao tiếp với xã hội, sau này trở thành một định chế, trở thành khoa học được mọi người tuân theo, được bảo đảm thực hiện và có chế tài khi có sự vi phạm

Với tư cách là hệ thống các quy tắc xử sự, pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luật tương ứng Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật hoàn toàn không phải là sản phẩm thuần túy của lý tính hay bản tính tự nhiên phi giai cấp của con người như học thuyết pháp luật tự nhiên quan niệm Pháp luật, như Mác – Ăngghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của Nhà nước Tuy nhiên, pháp luật cũng mang tính xã hội, bởi

vì ở mức độ nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm những yêu cầu chung của

xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trường sống… Về mặt này, pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội

Theo Lênin, một đạo luật là một biện pháp chính trị Trong lịch sử, bất

cứ giai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị của giai cấp mình Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung,

Trang 30

trực tiếp chính trị của giai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện quyền lực của Nhà nước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó

* Vai trò của pháp luật trong nhà nước và xã hội:

Pháp luật với tư cách là nguyên tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nhà nước và đời sống xã hội nói chung Pháp luật được thừa nhận và sử dụng là công cụ để tổ chức và quản lý xã hội Nhà nước với tư cách là tổ chức quyền lực chung của xã hội, nó được xã hội uỷ quyền thay mặt xã hội để ban hành pháp luật, vì vậy pháp luật phải phù hợp với ý chí nhân dân, theo tinh thần của Rousseau, nhà nước ban hành pháp luật nhưng phải có sự phê chuẩn của nhân dân và chỉ khi có sự phê chuẩn nó mới trở thành luật Mọi thành viên trong xã hội dù trên cương vị nào cũng đều phải sống và làm việc theo pháp luật Và nếu có sự mâu thuẫn nào giữa pháp luật với các qui phạm xã hội khác thì pháp luật luôn có hiệu lực cao nhất Vai trò của pháp luật trong nhà nước và xã hội được thể hiện như sau:

Một là, pháp luật là công cụ để thiết lập và tăng cường quyền lực nhà nước, công cụ tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước

Trước hết, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại của nhà nước Sự tồn tại và hoạt động của nhà nước phải trên cơ sở của hiến pháp, trong khuôn khổ của hiến pháp- văn bản thể hiện tập trung ý chí của nhân dân Ngày nay, trên thực tế, sau những cuộc đấu tranh giành chính quyền, lực lượng nào giành được chính quyền cũng luôn tìm cách hợp pháp hóa sự tồn tại của chính quyền đó bằng cách tổ chức bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp và tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở của hiến pháp

Có nhiều công cụ, phương tiện để thực hiện việc kiểm soát và hạn chế quyền lực nhà nước, trong đó pháp luật là công cụ, phương tiện quan trọng bậc nhất Pháp luật qui định sự phân công, phân cấp giữa các cơ quan trong

Trang 31

bộ máy nhà nước Nói cách khác, pháp luật qui định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan, nhân viên nhà nước Một cơ quan không thể làm tất cả mọi việc cho dù đó là cơ quan tối cao Nhờ có các qui định cụ thể trong pháp luật, các cơ quan, nhân viên nhà nước xác định được một cách rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của mình, nắm bắt được hình thức, phương pháp, trình tự thủ tục tiến hành hoạt động Thông qua pháp luật, các cơ quan, nhân viên nhà nước biết được một cách rõ ràng trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể,

họ được làm gì, không được làm gì, phải làm gì, phải làm như thế nào… Thông qua pháp luật để kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, nhân viên nhà nước, xác định được tính chất hợp pháp, bất hợp pháp trong hành vi của họ Pháp luật qui định chế độ kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Pháp luật qui định vai trò của công dân và các thiết chế xã hội trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhân viên nhà nước… Pháp luật qui định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, miting, biểu tình, lập hội…, quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi lạm quyền, xâm hại quyền lợi của nhân dân Pháp luật qui định chế độ trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước với nhau cũng như giữa chúng với nhân dân Dựa vào pháp luật có thể đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ, qui kết tình trạng trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ hay lạm quyền, vượt quyền trong hành vi của nhà chức trách, nhờ đó có điều kiện để ngăn chặn, giảm thiểu, xóa bỏ những hiện tượng này Pháp luật qui định thời gian nắm giữ quyền hạn, chức vụ; pháp luật qui định điều kiện tuyển dụng, phẩm chất tư cách của nhân viên nhà nước, chế độ thi

cử, thăng, giáng, khảo hạch, thuyên chuyển, điều động… đối với họ Như vậy, một mặt, pháp luật tạo nên khung pháp lý, hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, mặt khác, pháp luật là công cụ quan trọng để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 32

Hai là, pháp luật là cơ sở để xây dựng hoàn thiện bộ máy nhà nước, để nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước

Để bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả thì nó cần phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của pháp luật và trong khuôn khổ của pháp luật Có thể nói, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để tổ chức bộ máy nhà nước, qui định con đường hình thành, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan, nhân viên nhà nước, xác lập mối quan hệ công tác giữa các cơ quan, nhân viên nhà nước với nhau, giữa cơ quan, nhân viên nhà nước với các cá nhân, tổ chức trong xã hội… Nhờ có pháp luật, việc tổ chức bộ máy nhà nước trở nên khoa học, bộ máy nhà nước trở nên nhịp nhàng, đồng bộ, tránh được sự chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ trống trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Đồng thời, pháp luật là công cụ để nhà nước tổ chức và quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Quản lý xã hội là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải được thực hiện trên cơ sở một hệ thống thể chế rõ ràng, minh bạch Dưới góc độ này, pháp luật thiết lập khuôn khổ, giới hạn cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thiết lập hình thức, phương pháp, nguyên tắc, cách thức hoạt động, giúp cho các cơ quan, nhân viên nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội một cách dễ dàng, có hiệu quả

Ba là, pháp luật là phương tiện bảo đảm và bảo vệ quyền con người, bảo đảm dân chủ, công bằng, bình đẳng trong xã hội

Ngày nay, quyền con người đã trở thành một giá trị chung được cả loài người công nhận Và trong điều kiện xã hội dân chủ, pháp luật thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền ấy

Vai trò quan trọng này của pháp luật thể hiện trước hết ở việc pháp luật ghi nhận các quyền, tự do, dân chủ của con người Đồng thời, pháp luật qui định các biện pháp nhằm bảo vệ quyền con người khỏi bị xâm hại từ phía các chủ thể khác, kể cả nhà nước Để đảm bảo quyền, tự do, dân chủ của con

Trang 33

người, đòi hỏi quyền lực nhà nước phải bị hạn chế và có sự kiểm soát Mặt khác, sự xâm hại các quyền và tự do cá nhân đều phải bị trừng trị nghiêm khắc Như vậy, có thể khẳng định rằng, chỉ trên cơ sở pháp luật, bằng các qui định của pháp luật thì các quyền con người mới được bảo đảm, bảo vệ và có điều kiện để được hiện thực hóa

Tuy vậy, quyền con người, tự do cá nhân cũng cần trong khuôn khổ và phải có điểm dừng, nó không thể được hiểu là được làm tất cả những gì mình muốn hay muốn làm gì thì làm “Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh

ta không còn tự do nữa vì nếu để anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả” [33, tr.99] Quyền, tự do cá nhân phải có sự kết hợp hài hòa với lợi ích chung của cộng đồng, mỗi người vừa tôn trọng cái chung, vừa có điều kiện để tự do hành động nhằm đạt được sự thỏa mãn nguyện vọng và lợi ích riêng của mình Vì vậy, vấn đề quyền, tự do cá nhân luôn phải được đặt trong

sự tôn trọng quyền, tự do của người khác, tôn trọng và tuân thủ những qui tắc chung của cộng đồng

Nói cách khác, quyền tự do của mỗi người phải bị giới hạn bởi quyền

tự do của người khác Pháp luật là phương tiện để mỗi cá nhân phải ràng buộc đối với cá nhân khác và xã hội Đồng thời, quyền, tự do, dân chủ của cá nhân phải luôn đi kèm với nghĩa vụ Một mặt cá nhân được làm tất cả trừ những việc bị pháp luật cấm, mặt khác, họ không được làm những gì có hại cho người khác, cho cộng đồng

Bốn là, pháp luật chính là khuôn mẫu ứng xử cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội

Để xã hội tồn tại trong trạng thái ổn định, trật tự, các quyền, lợi ích của các thành viên trong cộng đồng được bảo đảm và bảo vệ, đòi hỏi xử sự của mỗi người phải dựa trên những chuẩn mực nhất định, theo những khuôn mẫu nhất định Có nhiều loại chuẩn mực cho hành vi con người, trong đó pháp luật

là một loại chuẩn mực quan trọng

Trang 34

Pháp luật mô hình hóa các quan hệ xã hội thành các khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi ứng xử của con người, để họ bắt chước làm theo khi ở trong điều kiện hoàn cảnh nhất định Nó định hướng hành vi của cá nhân hay nhóm

xã hội trong những điều kiện nhất định; nó qui định những mục tiêu cơ bản, những giới hạn, những điều kiện và những hình thức ứng xử trong những lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống Pháp luật như là “hành lang”, “đường biên” cho ứng xử của con người, nó nói lên giới hạn cần thiết mà nhà nước qui định

để mọi người (chủ thể) có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép Nhờ có pháp luật, các thành viên trong xã hội nắm bắt được những hành

vi nào là hợp pháp, được khuyến khích, hành vi nào là bắt buộc, hành vi nào

bị ngăn cấm để từ đó có cách ứng xử phù hợp khi bắt gặp một tình huống cụ thể nào đó Dưới góc độ xã hội, có thể nói, pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc” và “đào thải” một cách tự nhiên các cách xử sự trong xã hội, trải qua bao biến cố xã hội, bỏ qua và vượt lên những yếu tố ngẫu nhiên, không hợp lý, để giữ lại những cách xử sự phổ biến, hợp lý, khách quan

Tóm lại, nói một cách tổng thể nhất, pháp luật là công cụ để thiết lập và tăng cường quyền lực nhà nước, công cụ để tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước; là khuôn mẫu ứng xử của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội; là công cụ quan trọng nhất để điều tiết các quan hệ xã hội, định hướng cho sự phát triển của các quan hệ xã hội; là cơ sở để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn

xã hội; bảo đảm và bảo vệ quyền con người, bảo đảm dân chủ, công bằng và bình đẳng trong xã hội; cùng với các công cụ quản lý xã hội khác, pháp luật giữ vai trò quan trọng đảm bảo sự phát triển ôn định, bền vững của xã hội

1.2 Tính tất yếu của việc kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật

Đạo đức và pháp luật đều là những hình thái ý thức xã hội, bị quy định bởi tồn tại xã hội Về lý luận cũng như thực tiễn, đạo đức và pháp luật luôn có

Trang 35

mối quan hệ khăng khít, gắn bó Trước khi nhà nước và pháp luật ra đời, xã hội được điều chỉnh bằng các qui phạm xã hội, trong đó có qui phạm đạo đức Khi pháp luật đã trở thành phương tiện chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội thì đạo đức vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Sở dĩ như vậy bởi giữa đạo đức và pháp luật có mối quan hệ hỗ trợ nhau cho nhau; pháp luật và đạo đức đều có những điểm mạnh, điểm yếu mà khi kết hợp lại chúng bổ sung cho nhau, điểm mạnh của pháp luật sẽ hỗ trợ cho điểm yếu của đạo đức, ngược lại điểm mạnh của đạo đức sẽ bổ sung cho điểm yếu của pháp luật

Cùng tham gia điều chỉnh hành vi con người, pháp luật điều chỉnh hành

vi con người ở mức độ tối thiểu, nhằm giữ cho xã hội trong vòng ổn định; đạo đức điều chỉnh hành vi con người ở mức tối đa với mong muốn cho xã hội ngày càng nhân văn, nhân đạo

Quan hệ giữa pháp luật và đạo đức được thể hiện một cách đầy đủ, tập trung thông qua sự tác động qua lại giữa chúng đối với nhau Đạo đức có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành các qui định cụ thể trong hệ thống pháp luật cũng như quá trình thực hiện pháp luật Ngược lại, pháp luật có thể ghi nhận, khẳng định, luật hóa những quan điểm, quan niệm, qui tắc đạo đức hay phủ định, loại trừ nó, ngăn chặn sự hình thành và loại bỏ nó khỏi đời sống xã hội, ngặn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức

Pháp luật ra đời trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, do kinh tế quyết định, nhưng đồng thời pháp luật muốn đi vào đời sống phải bao hàm trong nó những giá trị đạo đức, phải nhằm mục đích hướng tới một xã hội nhân văn, tiến bộ

Bản chất của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức là sự thống nhất, đồng bộ giữa chúng Hơn thế nữa, đạo đức còn là cơ sở của pháp luật, là gốc

của pháp luật; là nền tảng tinh thần của xã hội, đạo đức không chỉ tác động

đến việc hình thành nên các qui định cụ thể trong pháp luật mà còn tác động

Trang 36

đến việc pháp luật đi vào đời sống Đạo đức là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, hay nói cách khác, có thể coi đạo đức là chất liệu làm nên các qui định của pháp luật Khi pháp luật phù hợp với quan điểm, quan điểm, chuẩn mực đạo đức xã hội, nó sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, ngược lại nếu pháp luật trái với đạo đức xã hội, nó sẽ khó có thể đi vào đời sống

Ý thức đạo đức cá nhân có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp

luật, người có phẩm chất đạo đức tốt trong mọi trường hợp sẽ chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh, nếu thiếu luật nhưng con người có đạo đức thì họ sẽ không

vi phạm hoặc biết kiềm chế tối đa sự vi phạm Ngược lại đối với những người

ý thức đạo đức thấp kém thường coi thường pháp luật, dễ có hành vi vi phạm pháp luật Bởi lẽ dù có pháp luật mà thiếu lương tâm người ta sẵn sàng bất chấp luật, xuyên tạc luật, lợi dụng luật… Có thể nói ý thức đạo đức cá nhân là

cơ sở để mỗi người nhận thức và hành xử theo pháp luật

Bên cạnh đó, pháp luật cũng có những tác động không nhỏ đến đạo đức Nhờ có pháp luật, đạo đức có thêm sức mạnh để củng cố, khẳng định vị trí, vai trò trong đời sống xã hội Có thể nói pháp luật là phương tiện quan trọng làm cho những quan niệm, quan điểm, những chuẩn mực đạo đức của giai cấp cầm quyền được truyền bá một cách phổ biến trong đời sống xã hội Tuy nhiên, những quan điểm đó là những quan điểm phải phù hợp với suy nghĩ, lối sống của nhân dân thì mới được quần chúng nhân dân dễ dàng tiếp nhận

Pháp luật giúp cho những chuẩn mực đạo đức mang giá trị tích cực trong truyền thống được giữ gìn, kế thừa và phát huy trong đời sống; đồng thời pháp luật ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức Điều đó thể hiện sự

vi phạm các chuẩn mực đạo đức không chỉ bị dư luận xã hội lên án mà còn chịu sự tác động từ pháp luật, những biện pháp nhà nước Bên cạnh đó, pháp luật cũng loại trừ những quan niệm, chuẩn mực đạo đức không chính thống (của các lực lượng

Trang 37

đối lập), những tư tưởng lạc hậu (của xã hội cũ), xây dựng các tư tưởng đạo đức mới phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của xã hội

Như vậy, đạo đức và pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ, bổ sung cho nhau Pháp luật cần đạo đức để hỗ trợ, bổ sung cho nó trong trường hợp pháp luật còn hạn chế, khiếm khuyết, nó cũng cần đạo đức để tạo

ra động lực thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống

1.2.2 Sự cần thiết phải kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Việc xây dựng nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh hành vi con người và điều chỉnh các quan hệ xã hội Tuy nhiên, xét một cách cụ thể Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện kinh tế - xã hội mang tính đặc thù riêng Không như những quốc gia phương Tây, nơi mà truyền thống pháp lý đã hình thành

từ rất sớm, mọi vấn đề đều được giải quyết trên cơ sở pháp luật

Khác với xã hội phương Tây, xã hội Á đông, trong đó có Việt Nam, đạo đức rất được coi trọng, nó có ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong đời sống và

cả trong việc hình thành những qui định trong hệ thống pháp luật cũng như trong việc thực thi pháp luật Trong thực tiễn truyền thống, người ta ứng xử với nhau trước hết bằng đạo lý, sau đó mới bằng pháp lý, thể hiện trong quan niệm “trăm cái lý không bằng tý cái tình” Chính trong những đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử đặc thù ấy, nền văn hóa Phương Đông - văn hóa làng xã với hệ thống các quy phạm đạo đức có điều kiện phát huy vai trò điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng xã hội

Ở Việt Nam trong xã hội cũ, đạo đức được đặt ra để dành cho vua, quan lại và giai cấp thống trị, pháp luật được đặt ra dành cho dân chúng,

“quan thì xử theo lễ, dân thì xử theo luật”, “lễ nghi không tới thứ dân, hình phạt không tới trượng phu”, trái lại, trong điều kiện nhà nước pháp quyền,

Trang 38

pháp luật và đạo đức có ý nghĩa như nhau đối với tất cả mọi thành viên trong

xã hội, không có bất cứ ngoại lệ hay sự phân biệt đối xử nào Tuy nhiên hệ thống pháp luật của ta vẫn chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ, ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn chưa cao, chưa đồng đều

Pháp luật và đạo đức dù cùng là những công cụ điều chỉnh hành vi con người, điều chỉnh các quan hệ xã hội, song chúng không thể thay thế cho nhau Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh được những quan hệ xã hội mà hành vi của các chủ thể bị chi phối bởi các yếu tố lý trí, ý chí con người Còn đối với những quan hệ xã hội mà hành vi của các chủ thể bị chi phối bởi yếu tố tình cảm, lương tâm, chẳng hạn quan hệ tình bạn, tình yêu, tình làng nghĩa xóm… lại thuộc về lĩnh vực đạo đức, pháp luật không phát huy được tác dụng điều chỉnh Vì vậy, một mình yếu tố pháp luật chưa bao giờ là đủ Theo quan điểm

của chủ tịch Hồ Chí Minh thì đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn, gốc có vững thì cây mới xanh tốt; đạo đức, lệ có vững thì pháp luật mới được đảm

bảo Có pháp luật nhưng nếu không có lương tâm thì người ta sẽ bất chấp luật, lách luật, bẻ cong luật…; hoặc ngược lại, có những hành vi pháp luật không cấm, nhưng nếu trái với đạo đức xã hội thì không nên làm Kết hợp đạo đức và pháp luật trong mối quan hệ hỗ trợ của nó thì hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội cao hơn

Như trên đã phân tích, cả đạo đức và pháp luật đều có những thế mạnh riêng và điểm yếu riêng Thế mạnh của pháp luật là khả năng điều chỉnh rõ ràng, dứt khoát, theo ý chí của giai cấp cầm quyền đối với các quan hệ xã hội

cơ bản của đất nước Sự điều chỉnh này thống nhất trên một phạm vi rộng theo những trình tự, cơ chế luật định, đặc biệt là sự đảm bảo thực hiện pháp luật bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước với hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật: Tòa án, Quân đội, Cảnh sát, Nhà tù… Trong khi đó, thế mạnh của đạo đức lại là khả năng tham gia điều chỉnh tất cả mọi mối quan hệ xã hội, mọi

Trang 39

góc độ tình cảm trong đời sống giữa cá nhân và nhà nước, cá nhân với cá nhân và cá nhân với chính bản thân mình Bằng cơ chế điều chỉnh từ bên trong, đạo đức tác động đến đời sống tình cảm, danh dự, uy tín của con người

để từ đó hình thành nhiều cách xử sự phù hợp với chuẩn mực chung của xã hội, thực hiện chúng bằng niềm tin nội tâm, sự tự giác và sức ép của dư luận

xã hội Bên cạnh đó, đạo đức có thể hỗ trợ cho pháp luật để các văn bản pháp luật ban hành ra phù hợp với thực tiễn và đi vào cuộc sống một cách thuận lợi hơn Đồng thời pháp luật có thể giúp ghi nhận, củng cố những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp và cổ vũ, bảo vệ những giá trị đạo đức mới

Như vậy, kết hợp đạo đức và pháp luật trong quá trình xây dựng NNPQ

ở Việt Nam là một tất yếu Ý thức đạo đức cá nhân luôn luôn là nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy việc thực hiện pháp luật Pháp luật chỉ có thể được thực hiện nghiêm chỉnh khi mỗi cá nhân trong xã hội đều là những người có ý thức đạo đức tốt, mỗi người đều tự ý thức được một cách sâu sắc vai trò, bổn phận, trách nhiệm của mình trong đời sống cộng đồng Bởi vậy, xây dựng NNPQ cũng chính là làm cho đạo đức xã hội được coi trọng và phát huy vai trò tích cực của nó Bằng việc xây dựng NNPQ, các quan niệm, quan điểm đạo đức xã hội, đặc biệt là các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được giữ gìn, bảo lưu và phát huy vai trò tích cực của nó trong điều kiện mới, góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội mới văn minh nhưng luôn giữ vững truyền thống, tạo lập nền tảng văn hóa tinh thần vững chắc cho công cuộc hợp tác, hội nhập quốc tế

Như vậy, bên cạnh những ưu thế vốn có, cả pháp luật và đạo đức đều

có những hạn chế nhất định; song giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, bổ sung cho nhau Do vậy, cả đạo đức và pháp luật đều cần được coi trọng Đặc biệt trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN hiện nay, chức năng của cả đạo đức và pháp luật phải được thực hiện trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau

Trang 40

1.3 Nội dung kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Lý luận và thực tiễn cho thấy, không có pháp luật, không có đạo đức tồn tại độc lập mà chúng tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ, gắn bó, tương trợ lẫn nhau "Trên thực tế, không một lĩnh vực quan hệ xã hội nào từ lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế - kinh doanh, quân sự, hành chính pháp lý mà lại không có quan hệ ít nhiều với đạo đức, từ các phạm trù của đạo đức: thiện, ác, tốt, xấu, công bằng, nhân đạo, lương tâm, vinh, nhục " [36, tr.15] Xuất phát

từ lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy rằng sự kết hợp đạo đức và pháp luật phải được thể hiện, được chứa đựng trong một hình thức tồn tại hợp pháp, để cả đạo đức và pháp luật phát huy được vai trò trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; bên cạnh đó không được vi phạm nguyên tắc pháp chế, vi phạm nguyên tắc hiến định là nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật

Bất kỳ một hệ hống pháp luật hay một nền đạo đức nào cũng luôn phản ánh các đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, truyền thống lịch sử, tín ngưỡng của dân tộc đó Bởi vậy, mỗi dân tộc có những quan niệm, chuẩn mực đạo đức riêng, hệ thống pháp luật phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của dân tộc mình Chỉ có kết hợp hài hòa các giá trị của cả đạo đức và pháp luật, mới có thể tác động tích cực nhất tới con người, nhằm xây dựng con người có văn hóa pháp lý cao, có phẩm chất đạo đạo đức lành mạnh, tích cực trong cộng đồng xã hội

Nội dung kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng NNPQ thể hiện

ở những phương diện sau đây:

Một là, hoạt động xây dựng pháp luật luôn đặt trên nền tảng những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc; góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp đó

Ngày đăng: 07/10/2015, 20:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w