Việt Nam trải qua gần nửa thế kỷ đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy với những phát triển, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình, giáo trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy nhưng đứng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU HÀ
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP MỚI CHO ĐÀO TẠO CỬ
NHÂN BÁO CHÍ CHÍNH QUY Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU HÀ
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP MỚI CHO ĐÀO TẠO CỬ
NHÂN BÁO CHÍ CHÍNH QUY Ở VIỆT NAM
Trang 3BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, ĐỒ HỌA TRONG LUẬN VĂN
1 Hình 0.1 Các đơn vị đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở
Việt Nam
07
2 Hình 1.1 Sơ đồ logic của khái niệm phương pháp đào ta ̣o 12
3 Hình 2.1 Mức độ sử dụng các phương pháp giảng dạy báo chí
của các giảng viên báo chí ở các cơ sở đào tạo
6 Hình 2.4 Sơ đồ những yếu tố chính tác đô ̣ng đến phương pháp
giảng dạy báo chí
11 Hình 3.5 Kế hoạch bài giảng “Những vấn đề chung về thiết
kế, trình bày báo in”
71
12 Hình 3.6 Kế hoạch bài giảng “Các yếu tố cấu thành hình thức 73
Trang 4của một tờ báo, tạp chí”
13 Hình 3.7 Kế hoạch bài giảng: “Những nguyên tắc và phương
pháp thiết kế, trình bày báo, tạp chí & sơ lược phần mềm thiết
kế, trình bày báo in”
76
14
Hình 3.8 Kết quả đánh giá chất lượng lớp học thực nghiệm 81
15 Hình 3.9 Mức độ quan tâm của người học khi đến với các
khóa học báo chí
86
Trang 5ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐHQG : Đại học Quốc gia
HVBC&TT : Học viện Báo chí và Tuyên truyền
PPĐT : Phương pháp đào tạo
PT-TH : Phát thanh - Truyền hình
THPT : Trung học Phổ thông
THVN : Truyền hình Việt Nam
TNVN : Tiếng nói Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Những đóng góp của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1:PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO BÁO CHÍ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 12
1.1.Khái niệm, thuật ngữ 12
1.1.1 Các khái niệm: Phương pháp đào tạo, phương pháp đào tạo báo chí 12
1.1.2 Các thuật ngữ liên quan: Chương trình đào tạo, Mô hình đào tạo, Quy trình đào tạo, Sản phẩm đào tạo, Chất lượng đào tạo, Công nghệ đào tạo 18
1.2 Đặc điểm của các phương pháp trong đào tạo báo chí 22
1.3 Các phương pháp trong đào tạo báo chí 24
1.3.1 Các nhóm phương pháp chung 24
1.3.2 Các phương pháp đặc thù 26
1.4 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đào tạo báo chí ở Việt Nam hiện nay 32
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRONG ĐÀO TẠO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 38
2.1 Tổng quan các cơ sở đào tạo được khảo sát 38
2.2 Khảo sát thực trạng vận dụng các phương pháp trong đào tạo báo chí tại các cơ sở 40
2.3 Những kết quả đạt được về phương pháp đào tạo báo chí ở Việt Nam 45
2.3.1 Những thành công 45
2.3.2 Những tồn tại và hạn chế 48
2.4 Những nguyên nhân tác động đến phương pháp đào tạo báo chí 51
2.4.1 Những nguyên nhân khách quan 51
2.4.2 Những nguyên nhân chủ quan 52
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3: ĐỀXUẤTMÔHÌNHPHƯƠNGPHÁP GIẢNG DẠY BÁOCHÍ DÀNH CHO CỬ NHÂNBÁOCHÍCHÍNH QUY ỞVIỆT NAM HIỆN NAY 56
Trang 73.1 Đề xuất mô hình phương pháp giảng dạy báo chí: Phương pháp đường tròn
thiên về thực hành 56
3.2 Các điều kiện cơ bản đáp ứng mô hình phương pháp giảng dạy báo chí 58
3.3 Dự báo khó khăn, thách thức khi áp dụng phương pháp giảng dạy cho đào tạo Cử nhân báo chí chính quy 62
3.4 Thực nghiệm phương pháp giảng dạy đặc thù cho sinh viên báo chí chính quy 65
3.4.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.4.2 Đối tượng, địa điểm, quy mô thực nghiệm 65
3.4.3 Giả thuyết thực nghiệm 66
3.4.4 Nhiệm vụ thực nghiệm 66
3.4.5 Quy trình thực nghiệm 66
3.4.6 Đánh giá, xử lý các kết quả thực nghiệm 82
3.5 Một số kiến nghị 84
3.5.1 Đối với giảng viên báo chí 84
3.5.2 Đối với cơ sở đào tạo 85
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, xã hội Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu giáo dục quốc gia: “…Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới,
có ý thức vươn lên về khoa học công nghệ” Điều 39, mục 4 (chương II) Luật Giáo dục năm 2005 quy định mục tiêu đào tạo đại học: “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” Để đạt được mục đích đó, cần thiết phải đề cập đến phương pháp đào tạo nguồn nhân lực Bởi phương pháp đào tạo là một trong những nhân tố cốt lõi, có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo Điều 40, mục 4 (chương II) Luật này cũng quy định về phương pháp đào tạo đại học và cao đẳng phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện khả năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” Điều này hoàn toàn phù hợp khi đề xuất
phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam
Việt Nam trải qua gần nửa thế kỷ đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy với những phát triển, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình, giáo trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy nhưng đứng trước sự phát triển chóng mặt về nhu cầu thông tin, sự phát triển vượt bậc của báo chí Việt Nam cũng như thế giới, vấn đề tự đổi mới mình và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực báo chí luôn là một vấn
đề lớn, thách thức đối với các cơ sở đào tạo Bởi, lịch sử đã chứng minh rằng xã hội càng phát triển thì báo chí càng tham gia tích cực vào đời sống xã hội “Xu hướng phát triển tất yếu đó buộc chúng ta phải nhìn nhận lại quan điểm và cách thức đào tạo cán bộ báo chí cho thời kỳ mới - cho thiên niên kỷ mới , hiê ̣n đa ̣i, hô ̣i nhâ ̣p và
thần tốc”[18, 119]
Trang 9Vấn đề đổi mới, đề xuất phương pháp giảng dạy nói chung, phương pháp giảng dạy báo chí nói riêng ở các cơ sở đào tạo không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ Mỗi một thầy cô giáo trước khi lên lớp đều hình thành cho mình một phương pháp giảng dạy nhất định để chuyển tải một khối lượng kiến thức nào đó cho sinh viên Tuy nhiên, phương pháp đào tạo nào phù hợp với tính chất, đặc trưng, yêu cầu nghề nghiệp của sinh viên là một vấn đề cần xem xét về mặt lý luận và thực tiễn Bởi phần lớn các phương pháp sư phạm được sử dụng trong thực tiễn giảng dạy báo chí chủ yếu được hình thành và phát triển một cách tự nhiên, dựa trên những trải nghiệm của bản thân, học hỏi kinh nghiệm của thế hệ đi trước Do đó, việc hình thành phương pháp và rèn luyện phương pháp giảng dạy báo chí ở giảng viên chưa thực sự đầy đủ cơ sở khoa học
Cử nhân Báo chí, hệ Chính quy ở Việt Nam ra trường làm báo chí chiếm 30%
và khoảng 50% trong số đó trụ lại với nghề nhưng trong tương lai không xa, họ là lực lượng nòng cốt, nếu được đào tạo bài bản - “cả gốc lẫn ngọn” trong điều kiện lý tưởng để làm nghề [48] Và nói như GS.TS Eddie C.Y.Kuo, Cựu Hiệu trưởng Trường Truyền thông Singapore khi nhận định về tình hình đào tạo truyền thông ở các nước ASEAN đã khái quát rằng: “Ở khu vực ASEAN hiện nay truyền thông đang phát triển cực mạnh và kéo theo đó, việc đào tạo truyền thông cũng phát triển mạnh (…) nhiều vấn đề nhất là đào tạo truyền thông phải được giải quyết trong 25 năm, thậm chí 50 năm, trong đó có những vấn đề bao gồm cả bình diện lý luận lẫn thực tiễn”[54, 27] Có thể thấy đó là mục tiêu, chiến lược lâu dài không loại trừ một quốc gia nào Đây là đi ều đáng lưu tâm, xoay quanh câu chuyện đào tạo Cử nhân báo chí, hệ Chính quy ở Việt Nam
Có điều kiện tiếp xúc, thừa hưởng một nền đào tạo báo chí - truyền thông rất hiệu quả và chuyên nghiệp của một số nước trên thế giới, nhưng việc vận dụng như thế nào vào đặc thù nền báo chí xã hội chủ nghĩa, điều kiện đào tạo của nước nhà hiện nay là điều không phải ngày một ngày hai Chúng ta đang đứng trước 2 câu hỏi: “1 Xã hội đang cần gì ở nền báo chí, ở người làm báo?; 2 Người làm báo cần được đào tạo những gì để đảm đương công việc, đáp ứng nhu cầu xã hội?”[43] Với những cách nhìn nhận ở trên, không phải các nhà làm giáo dục, nhà đào tạo báo chí
Trang 10không quan tâm, đẩy mạnh công tác đào tạo báo chí có hiệu quả mà ngược lại, chúng ta đã bàn luận rất nhiều, ở mọi góc độ với những tầm nhìn khác nhau trên mọi diễn đàn Tuy nhiên, đi tìm câu trả lời cho thật kín kẻ: Đẩy mạnh chất lượng đào tạo báo chí là đẩy mạnh như thế nào? Từ những “lực tác” nào?
Để làm nên chất lượng của mỗi một sản phẩm đào tạo, những nhà đào tạo báo chí - truyền thông cần phải quan tâm đến phương pháp đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo Mặc dù trong thực tế: “hoạt động giáo dục có thể diễn ra rất khác so với những phương pháp đã xác định, điểm đạt tới của giáo dục giống như kết quả của một thỏa hiệp của nhiều lực tác động khác nhau, điều đó không ngăn cản nổi chúng ta mong muốn có được những phương pháp tốt hơn nữa và việc lựa chọn theo phương pháp nào vẫn là vấn đề hoàn toàn chính đáng”[21] Do đó, tìm phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí là điều hết sức cần thiết cho dù ở loại hình đào tạo nào đi nữa
Như vậy, những vấn đề nêu trên đã khơi gợi cho người viết ý tưởng lựa chọn
đề tài: “Đề xuất phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở Việt
Nam”, với mong muốn gợi mở một phương pháp giảng dạy mới để các nhà đào tạo
tham khảo, lựa chọn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy nói riêng, các hệ đào tạo khác nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đào tạo báo chí ở Việt Nam nằm trong hệ thống giáo dục đã diễn ra hơn nửa thế
kỷ (tính từ lúc thành lập và đào tạo chuyên ngành Báo chí ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền từ năm 1962 đến nay) Nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Báo chí đã được áp dụng cho mọi đối tượng, với nhiều loại hình đào tạo đã có từ lâu Do đó, việc nghiên cứu công tác đào tạo báo chí ở các cơ sở đào tạo được các nhà đào tạo, nhà nghiên cứu chú ý Có thể nêu lịch sử các vấn đề được nghiên cứu như sau:
Về nội dung chương trình đào tạo: Công trình đáng chú ý đầu tiên không thể
không kể đến là: “Đổi mới nội dung chương trình đào tạo cán bộ báo chí trên cơ sở
những kinh nghiệm lịch sử của báo chí thế giới” của PTS Tạ Ngọc Tấn (bảo vệ
thành công năm 1995 tại Phân viện Báo chí & Tuyên truyền) Với sự nghiên cứu công phu và tỉ mỉ, công trình đã nêu ra những kinh nghiệm đào tạo báo chí của một
Trang 11số nước trên thế giới, đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp về đổi mới nội dung chương trình đào tạo ở Việt Nam Sau này, một số giới nhà nghiên cứu trẻ cũng khá quan tâm đến chương trình đào tạo ở một số cơ sở đào tạo Có thể kể đến
công trình nghiên cứu:“Đổi mới chương trình đào tạo Cao đẳng báo chí (Khảo sát
Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình 1 và Trường Cao đẳng Truyền hình)”
của học viên Lại Huy Thỏa ở Học viện Báo chí &Tuyên truyền; hoặc kỷ yếu Hội
thảo khoa học Đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy chuyên ngành Phát
thanh, Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy chuyên ngành Truyền hình lần lượt tổ chức năm 2006, 2007 tại Hà Nội
Về thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo: Năm 2003, nhà báo
Vũ Đình Hương đã bảo vệ thành công đề tài cấp cơ sở về đào tạo Cử nhân Báo chí
với tiêu đề “Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Cử nhân
Báo chí” Qua việc khảo sát mô hình chương trình đào tạo Cử nhân Báo chí ở Phân viện Báo chí & Tuyên truyền trong 4 năm (2001 - 2003), tác giả đã đề xuất một số
giải pháp khắc phục những hạn chế, phát huy ưu điểm nhằm nâng cao chất lượng
Cử nhân báo chí của Phân viện ở thời điểm đó Tuy nhiên, những giải pháp mà tác giả đưa ra áp dụng với những yêu cầu đào tạo ở thời điểm hiện tại chỉ còn giá trị lịch sử Trở lại vấn đề này, năm 2007, các nhà nghiên cứu Hoàng Đình Cúc, Đức
Dũng cũng đã xuất bản một chuyên luận có tựa đề “Những vấn đề của báo chí hiện
đại” và dành hẳn 40 trang (từ tr.134 - 175) để bàn luận về công tác đào tạo, bồi
dưỡng báo chí và vấn đề bố trí, tuyển dụng sinh viên báo chí sau khi tốt nghiệp,…Phát triển thêm những bàn luận này, năm 2010, tác giả Đức Dũng đưa
trực tiếp vấn đề nêu trên thành tựa đề của một cuốn sách đáng chú ý khác “Báo chí
và đào tạo báo chí” Trong đó, ông bàn luận khá kỹ về: Đào tạo báo chí ở Học viện Báo chí & Tuyên truyền; Nâng cao chất lượng đào tạo báo chí; Vai trò của giảng viên trong đào tạo báo chí Song song với vấn đề thực trạng đào tạo của báo chí thì
những những giải pháp đưa ra qua bàn luận của một số bài báo cũng khá thuyết
phục như: Bồi dưỡng – đào tạo báo chí: Cần được đầu tư xứng đáng hơn (Huỳnh Dũng Nhân, Nguyễn Hoàng Minh, Tạp chí Nghề báo số 109 - 110, tháng 11 và 12.2011); Gắn Nhà trường với tòa soạn, giải pháp cơ bản để tăng tính chuyên
nghiệp trong đào tạo báo chí (Đỗ Chí Nghĩa, Tạp chí Nghề báo số 109 - 110, tháng
Trang 1211 và 12.2011); Đào tạo phải đáp ứng nhu cầu của người học (Bảo Hòa, Tạp chí
Nghề báo, số 107, tháng 9/2011),…
Đặc biệt, phương pháp cho đào tạo báo chí ở Việt Nam đã được gợi mở qua việc triển khai các khóa đào tạo báo chí của Viện Đào tạo báo chí nâng cao Thụy Điển (FOJO) ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 1998, giai đoạn 2000 - 2003 mà người có công lớn trong việc thụ giáo, đưa điển hình báo chí Bắc Âu - báo chí Thụy Điển vào Việt Nam, làm trợ giảng một số khóa đào tạo báo chí của chuyên gia Thụy Điển ở Việt Nam lúc bấy giờ chính là PGS.TS Vũ Quang Hào, đồng thời là tác giả cuốn sách “
Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển”, xuất bản năm 2004 Qua đó, PGS.TS Vũ
Quang Hào cũng đã giới thiệu một số phương pháp đào tạo của Viện Đào tạo báo chí nâng cao Thụy Điển đã triển khai thành công ở các khóa đào tạo tại Việt Nam,
đó là: Lối dạy phi giáo án; Lối dạy đuổi theo yêu cầu của học viên; Lối dạy bán
giảng đường; Lối dạy lấy việc truyền thao tác và kỹ năng cho học viên làm trọng
Bên cạnh đó, giá trị của cuốn sách còn chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm làm báo và phương pháp đào tạo báo chí ở Việt Nam từ khái quát đến cụ thể Và liên quan đến vấn đề này, nhiều nghiên cứu mở rộng đến chất lượng đào tạo một cách cụ thể, sâu
sắc hơn qua công trình “Chất lươ ̣ng đào tạo Cử nhân báo chí - Truyền thông ở Học viê ̣n Báo chí & Tuyên truyền giai đoạn 2000 - 2005, Đề tài cấp cơ sở tro ̣ng điểm ,
Viê ̣n nghiên cứu Báo chí & Tuyên truyền, năm 2012 của tác giả Nguyễn Đức Hạnh
hay đề tài “Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập
viên của Đài Truyền hình Việt Nam” của nhà báo Ngô Đức Tùng bảo vệ thành công
năm 2013 Và mới đây nhất , năm 2014, công trình: Sử dụng báo chí để dạy báo chí
(Cẩm nang da ̀ nh cho những ng ười đào tạo ) đươ ̣c di ̣ch sang tiếng Viê ̣t b ởi tác giả
Clas Thor và các cô ̣ng sự Tuy các phương pháp đào tạo đặc thù của Fojo mới triển khai đào tạo tại chỗ và đào tạo tập trung ngắn hạn (2 - 8 tuần) ở một số đơn vị báo chí, truyền hình nhưng đã giúp các nhà đào tạo hình dung được mô hình đào tạo báo chí khá thành công của Fojo (Thụy Điển) tại Việt Nam
Tuy nhiên, những mô hình và phương pháp đào tạo nêu trên mới áp dụng cho những khóa học ngắn hạn dành cho cán bộ quản lý, đội ngũ phóng viên đang làm việc tại các cơ quan báo chí trên cả nước Bởi vậy, cũng như một số cán bộ giảng dạy báo chí có tâm huyết, có tầm nhìn, chúng tôi rất mong muốn đề xuất những
Trang 13phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam Tất nhiên, điều này phải dựa trên những nghiên cứu có cơ sở khoa học, hệ thống và những bước tính toán lâu dài, phù hợp trong thực tiễn
Như vậy, đề tài “Đề xuất phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo chí
chính quy ở Việt Nam” sẽ là một cố gắng khi bàn luận, đưa ra phương pháp đào tạo
báo chí bậc Cử nhân khả thi ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Bước đầu đề xuất phương pháp giảng dạy mới cho đào tạo Cử
nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam
-Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát các phương pháp giảng dạy của giảng viên báo chí ở 5 cơ sở đào tạo báo chí
- Bước đầu đề xuất phương pháp giảng dạy cho đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy
ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu phương pháp giảng dạy của giảng viên
báo chí dành cho sinh viên báo chí, hệ chính quy
- Phạm vi nghiên cứu: Giảng viên, cán bộ quản lý báo chí ở 5 cơ sở đào tạo
(Hình 0.1)
STT Đơn vị khảo sát Thuộc Trường/Học viện
Năm đào tạo bậc Cử nhân Báo chí
Trang 14học Quốc gia Hà Nội
Hình 0.1.Các đơn vị đào tạo Cử nhân Báo chí chính quy ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Đề xuất phương pháp mới cho đào tạo Cử nhân Báo
chí chính quy ở Việt Nam”, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo báo chí
- Nghiên cứu lý luận về phương pháp giảng dạy, đào tạo báo chí
5.2 Các phương pháp về khoa học giáo dục:
- Phương pháp tham dự: Là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo
dục - đào tạo trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những quy luật nhằm chỉ đạo, tổ chức quá trình giáo dục - đào tạo được tốt hơn Cụ thể, đó là quan sát hoạt động của thầy giáo, người học, các điều kiện, môi trường và kết quả hoạt động của
họ qua các hình thức: quan sát thăm dò, quan sát phát hiện và quan sát kiểm nghiệm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đây là một phương pháp khá quan
trọng khi muốn xây dựng một mô hình giáo dục, nghiên cứu phương pháp đào t ạo
Trang 15cho một đối tượng nào đó Là phương pháp dùng để tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết tình huống giáo dục; tổng kết sáng kiến, thành công, hạn chế của một đơn vị giáo dục,…
- Phương pháp điều tra giáo dục: Đây là phương pháp thể hiện sự tác động
trực tiếp của người nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cần thiết cho công việc của mình Mục đích của phương pháp là thu nhận số liệu, sự suy nghĩ, quan điểm,…Để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện cũng như khắc phục những hạn chế về mặt tư liệu khi đánh giá phương pháp dạy - học của các thầy, cô giáo trước đây (do điều kiện lịch sử), chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu các thầy cô giáo đã về hưu; các thầy, cô giáo đang giảng dạy trong và ngoài nước, một số học viên, nhà báo đang nghiên cứu báo chí - truyền thông ở một số trường đại học trên thế giới
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Là phương pháp thu nhận thông tin về
sự thay đổi số lượng, chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục do nhà khoa học tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra Phương pháp này được sử dụng khi nhà khoa học sư phạm đề ra một phương pháp giáo dục, một phương pháp dạy học mới, một nội dung giáo dục mới,…Cụ thể, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành tổ chức một lớp thực nghiệm các phương pháp giảng dạy báo chí đặc thù, gồm có 25 sinh viên
với 3 chuyên đề: Nhiếp ảnh báo chí, Kỹ thuật viết báo hiện đại, Tổ chức nội dung
và thiết kế, trình bày báo in
5.3 Các phương pháp khác
- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, xử lý các thông tin, số
liệu điều tra
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp lấy ý kiến các nhà quản lý, các
giảng viên có nhiều kinh nghiệm để thẩm định các giải pháp, đề xuất
6 Những đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt lý luận:
Công trình nghiên cứu là tư liệu có giá trị về phương pháp luận trong lĩnh
vực đào tạo - giáo dục cho một chuyên ngành vốn mang đặc thù như báo chí, cụ thể:
Trang 16- Có thêm một gợi ý mới về phương pháp đào tạo để các trường tham khảo trong quá trình thực thi giảng dạy báo chí cũng như dự báo những vấn đề liên quan đến phương pháp đào tạo báo chí - truyền thông cho những đối tượng người học
khác như: Cử nhân Báo chí hệ Vừa học vừa làm, Cử nhân báo chí là người dân tộc
thiểu số,…
6.2 Về mặt thực tiễn:
- Công trình nghiên cứu này sẽ là một “cẩm nang” tham khảo dành cho các
cơ sở đào tạo, cán bộ giảng dạy, quản lý chuyên ngành Báo chí chính quy
- Những điều tra, phân tích, đánh giá và tư vấn trong luận văn là cơ sở để các
cơ quan chức năng truyền thông có thêm chỗ dựa để xây dựng các chiến lược truyền
thông cho Việt Nam trong tương lai, bắt nguồn từ cơ sở đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Phương pháp đào tạo báo chí – Những vấn đề lý luận cơ bản
- Chương 2: Thực trạng vận dụng phương pháp trong đào tạo báo chí ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Đề xuất mô hình phương pháp giảng dạy báo chí dành cho Cử nhân báo chí chính quy ở Việt Nam hiện nay
Trang 17NỘI DUNG Chương 1:
PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TA ̣O BÁO CHÍ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 1.1.Khái niệm, thuật ngữ
1.1.1 Các khái niệm: Phương pháp đào tạo, phương pháp đào tạo báo chí
- Phương pháp đào tạo:
Phương pháp có nguồn gốc tiếng Hy Lạp là “methods”, có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt mục đích Theo Hêghen (dưới góc độ triết học): “Phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung” Định nghĩa này được hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Đi tìm nội hàm hay cắt
nghĩa “phương pháp”, tác giả Nguyễn Văn Xô trong Tiếng Việt thông dụng (2001)
của NXB Trẻ cũng đưa ra cách hiểu: “Phương pháp là cách, lối, cách thức hoặc phương cách, phương sách, phương thức,…để giải quyết một vấn đề Nói gọn lại, phương pháp là cách thức để làm một việc nào đó”
Phương pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung, nó gắn liền với hoạt động của con người, giúp cho con người hoàn thiện được những nhiệm vụ phù hợp đề ra “Bởi vậy, phương pháp bao giờ cũng có tính mục đích, tính cấu trúc
và luôn gắn với nội dung, nội dung quy định phương pháp nhưng bản thân phương pháp có tác dụng trở lại làm cho nội dung ngày càng hoàn thiện hơn…”[ 32, 117] Điều này hoàn toàn có lý khi John Dewey cho rằng: “Phương pháp nghĩa là sự sắp xếp của nội dung mà nhờ đó, nội dung được sử dụng hiệu quả nhất Phương pháp là cái không bao giờ nằm bên ngoài vật liệu” [74, tr.499] Mở rộng ra, “phương pháp đào tạo” nhấn mạnh cách thức riêng trong đào tạo, nhất là đối với những chuyên ngành đặc thù, sao cho người học đạt kết quả cao nhất
Trang 18Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ
nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo
chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo 1
Phát triển quan điểm về đào tạo, tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Đào tạo
là dạng hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt và tập luyện những kinh nghiệm hoạt động trong một lĩnh vực xác định (…) Đào tạo phục vụ nhu cầu nhân lực” [31, tr.38] Từ cắt nghĩa hai từ trên, tác giả mạo muội đưa ra một cách hiểu riêng về phương pháp đào tạo như sau: “Phương pháp đào tạo là lối đi, cách thức truyền đạt
và tập luyện những kinh nghiệm cho một hoạt động, lĩnh vực xác định (chủ yếu là hoạt động dạy nghề - truyền nghề) nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực”
Khác với phương pháp dạy học, phương pháp đào tạo có hàm nghĩa rất rộng –
“phương pháp luận tổng quan”, chi phối toàn bộ hoạt động giáo dục – đào tạo Dường như hợp lý nếu khi lựa chọn người ta dựa vào một phương pháp luận tổng quan Phương pháp luận này phải tính đến những mục đích theo đuổi (mục tiêu đào tạo), nội dung đào tạo (những kiến thức người học phải lĩnh hội), đặc điểm của đối tượng đào tạo, quy trình đào tạo, những phương tiện có trong tay và đặc trưng của phương pháp đào tạo và giáo dục Vì những nhân tố này không hề độc lập với nhau, cần phải bằng một loạt những tác động tương hỗ và những giải pháp liên tiếp tiến tới một giải pháp tối ưu [21, 3] Có thể sơ đồ hóa khái niệm phương pháp đào tạo bằng sơ đồ sau:
1 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
Trang 19Hình1.1: Sơ đồ logic của khái niệm phương pháp đào tạo
(Nguồn: tác giả luận văn)
Có rất nhiều tiêu chí để phân chia các phương pháp đào tạo đã từng xuất hiện trong lịch sử giáo dục đào tạo
Xét về tính chất của nội dung, có: Phương pháp đào tạo lý thuyết (lý luận),
Phương pháp đào tạo thực hành, Phương pháp đào tạo kết hợp lý thuyết và thực hành, Phương pháp đào tạo thực nghiệm,…
Xét về mục tiêu đào tạo, có: phương pháp đào tạo rộng, phương pháp đào
tạo chuyên môn hóa hợp lý, phương pháp đào tạo đa năng,…
Xét về hình thức đào tạo, có: phương pháp đào tạo niên chế, phương pháp đào
tạo học phần, phương pháp đào tạo tín chỉ (phương pháp đào tạo module 2 )
- Phương pháp đào tạo báo chí:
Để cụ thể hóa cho quá trình nghiên cứu, luận văn chọn tiêu chí tính chất của nội dung đào tạo để khảo sát phương pháp đào tạo ở các cơ sở báo chí Phương
2 Đây là giai đoa ̣n II của đào ta ̣o tín chỉ: thiết kế các khối kiến thức thành các mô-đun (module) và tăng cường các môn học lựa chọn (elective subject) tạo điều kiện thuận lợi cho người học dễ dàng đăng ký học theo trình độ, khả năng, tốc độ và nguyện vọng lựa chọn khác nhau.
P đt: Phương pháp đào tạo
- Đối tượng đào tạo
- CB, GV tham gia đào tạo
-Thời gian đào tạo
- Quy tri ̀nh đào ta ̣o
Trang 20pháp đào tạo báo chí chính là phương pháp giảng dạy (khác với phương pháp dạy - học: bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học) của giảng viên báo chí dành cho sinh viên báo chí Sở dĩ, tác giả chọn tiêu chí này để khảo sát các phương pháp đào tạo báo chí bởi phương pháp đào tạo này được quy định bởi tính chất nội dung đào tạo Mặt khác, nội dung đào tạo (chương trình) chi phối việc lựa chọn và vận dụng các phương pháp giảng dạy nhưng nhờ có sự lựa chọn và vận dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy mà nội dung đào tạo (vốn tồn tại khách quan ngoài ý thức của người học) sẽ trở thành một bộ phần hữu cơ trong vốn kinh nghiệm riêng, từ đó người học có thể nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, tri thức cơ sở và tri thức chuyên ngành Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy báo chí cần phải đảm bảo cho sinh viên phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy nghề báo Chức năng này phản ánh mặt tích cực của phương pháp giảng dạy
Không giống như các ngành nghề đào ta ̣o thuô ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i khác , chuyên ngành báo chí cũng có mô ̣t phương pháp đào ta ̣o riêng nếu không nói là đă ̣c thù Tính chất này quy định bởi tính chất nội dung đào tạo, bản chất hoạt động nghề nghiê ̣p, yêu cầu đă ̣c biê ̣t đối với sản phẩm đào ta ̣o
Một là, nội dung đào tạo báo chí có tính chất đào tạo nghề nên phương pháp
đào tạo cũng phải thể hiện tính chất dạy nghề Yêu cầu đào tạo báo chí phải thể hiện
rõ tính chất dạy nghề “Điều này không chỉ được thể hiện rõ trong các chương trình
mà còn phải được thể hiện ngay trong quá trình thực hiện các chương trình đó” [25, 97] Phải đào tạo chuyên nghiệp, trang bị cho nhà báo hệ thống kiến thức nền rộng rãi, hệ thống lý thuyết và các kỹ năng nghề nghiệp “Nghề báo là nghề thực hành, nên càng cần có những kỹ năng trong tác nghiệp rất cụ thể”[36, 312] Thực tế cho thấy, không ít sinh viên tốt nghiệp ra trường không thích ứng được với nghề nghiệp, không theo nghề và hành nghề một cách chuyên nghiệp bởi họ được trang bị một hệ thống tri thức và kỹ năng nghề nghiệp còn mang tính chất “hàn lâm”; việc thực tập
và môi trường tập nghề còn quá hạn chế về phương pháp, quy trình và điều kiện hoạt động chuyên nghiệp Do đó, cũng như đào tạo ngành Luật sư, trong hệ thống đào tạo chuyên ngành xã hội ở Việt Nam thì tính chất “nghề” của báo chí được đề cao và được thừa nhận như là “chuẩn đầu ra” của ngành Với những yêu cầu như
Trang 21vậy nên ngay từ khi đăng ký làm hồ sơ tuyển sinh, các ứng viên cũng phải cân nhắc những điều kiện, tố chất cơ bản của bản thân cũng như những kỹ năng, kỹ xảo mà mình sẽ tích lũy được trong quá trình học mới quyết định học và theo nghề
Hai là, nội dung đào tạo báo chí là sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học về báo
chí và thực hành báo chí, giữa lý luận và thực tiễn, giữa lý thuyết và kỹ năng nên phương pháp đào tạo báo chí phải có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; giữa lý
luận, thị phạm và thực tế Nghề báo là nghề ho ̣c qua các trải nghiê ̣m nhưng bất cứ ngành nghề nào cũng cần được đào tạo (bài bản) “Nghề làm báo không chỉ bắt đầu
ở Nhà trường Và sau khi tốt nghiệp, không ai lập tức trở thành nhà báo giỏi Có những người làm báo không bắt đầu từ một trường lớp nào Nhưng để có những vốn kiến thức cơ bản, đi đôi với lập trường quan điểm vững vàng của nhà báo xã hội chủ nghĩa thì việc đào tạo một cách cơ bản theo một cơ cấu chương trình có hệ thống là cần thiết….”[27, 114] Do đó , mỗi đơn vi ̣ ho ̣c phần , các cơ sở đào tạo đều yêu cầu
mô hình chuẩn thực hành (thị phạm – mô phỏng – thực tế) gồm 3 bước: giảng viên cho sinh viên làm bài tâ ̣p ta ̣i lớp ; đưa tình huống và yêu cầu sinh viên giải quyết , dàn trang, tổ chức talk, dựng Clip, sản xuất chương trình; thực tâ ̣p 2 - 3 tháng tại cơ quan báo chí Mô hình lớp ho ̣c phải theo lối da ̣y “bán giảng đường” , lấy viê ̣c truyền thao tác và kỹ năng cho người ho ̣c làm tro ̣ng hay “dùng truyền thông da ̣y truyền thông (use media to teach media)”[27]
Như vậy, với nghề báo, ở trình độ nào thì việc ứng dụng lý thuyết đã được học vào công việc thực hành của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong đào tạo Lúc này, người học mới có thể hiện được bằng những sản phẩm đã học được Lúc đó, giáo viên mới có điều kiện phát hiện những ưu điểm, tiềm năng của người học để khích lệ và định hướng cho họ phát triển, giúp họ khắc phục những khiếm khuyết, xác định trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp
Đây là đặc thù bổ trợ thêm cho đặc thù nêu trên, bởi tuy đào tạo bậc Cử nhân
là đào tạo nghề nhưng không phải là đào tạo nghề thuần túy mà người học phải được trang bị những kiến thức lý luận cơ bản về khoa học báo chí – “nguyên lý” để sáng tạo nên những tác phẩm báo chí ở các loại hình Bởi đây là sản phẩm hết sức
Trang 22đặc biệt, mang trên mình “một thiết chế chính trị, xã hội”, là vấn đề nhân sinh quan, thế giới quan hết sức cụ thể, phong phú, đa dạng và không ngừng vận động và phát triển Điều này nó sẽ không giống nhau ở mỗi thể chế chính trị, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi thời đại
Đặc biệt ở góc độ nào đó, con người ta quá đề cao sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, công nghệ hiện đại – “cỗ máy tự động” của những thao tác thực hành mà quên đi vai trò, vị trí của CON NGƯỜI và chính bản thân CON NGƯỜI thì đó là một sự sai lầm Bởi vậy, khi tiếp cận vấn đề và sáng tạo những tác phẩm báo chí -truyền thông có dấu ấn và sức nặng với công chúng, với thời gian, công chúng cần lắm “con mắt” của một nhà báo không chỉ có kỹ năng nghiệp vụ tinh thông mà còn
có một tư duy sâu sắc: Anh viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì ? Viết như thế nào? (Hồ Chí Minh) Để làm được như vậy, đòi hỏi những phóng viên - nhà báo phải có kiến thức xã hội chung, kiến thức chuyên môn vững chắc Đặc biệt, là phải
có một bản lĩnh chính trị vững vàng, sâu sắc và nhạy bén Đó là chưa kể việc áp
dụng kiến thức của các khoa học khác phục vụ cho nghiệp vụ báo chí như: Xã hội
học, Tâm lý học, Văn hóa học, Nhân học …Nói như vậy để chúng ta thấy rằng, để
làm nên một “sản phẩm đào tạo nhà báo” là điều không đơn giản
Trên đây là hai đặc thù khá cơ bản chi phối một cách mạnh mẽ và sâu sắc tính chất của phương pháp đào tạo báo chí dành cho sinh viên báo chí nói chung, sinh viên báo chí chính quy nói riêng Do đó, phương pháp đào tạo báo chí chính là sự vận dụng các phương pháp giảng dạy mà giảng viên báo chí sử dụng cho sinh viên báo chí Trong đó, bao gồm: các phương pháp giảng dạy (tích cực) chung, các phương pháp giảng dạy đặc thù dành cho sinh viên báo chí Hay nói cách khác, nhờ
có sự lựa chọn và vận dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy mà nội dung đào tạo (chương trình) vốn tồn tại khách quan ngoài ý thức của sinh viên sẽ trở thành một
bộ phận hữu cơ trong vốn kinh nghiệm riêng của sinh viên trong quá trình làm nghề sau này
Tất nhiên, theo sơ đồ logic về khái niệm phương pháp đào tạo, phương pháp
đào tạo phụ thuộc rất nhiều yếu tố: đối tượng đào tạo, mục tiêu đào tạo, nội dung
đào tạo, quy trình đào tạo, đội ngũ tham gia đào tạo Ví dụ như phương pháp đào
tạo phải gắn chặt với mục tiêu đào tạo, phải làm thế nào để người học có khả năng
Trang 23sáng tạo, vận dụng thành thạo các kỹ năng nghề nghiệp, có tư duy độc lập và làm việc nhóm, chủ động và nhạy bén trong công việc của mình; phương pháp đào tạo phải phù hợp đáp ứng nhu cầu của người học và xã hội cần một quy trình đào tạo (đào tạo như thế nào) tương xứng Theo phương pháp đào tạo của Fojo, quy trình đó
là: Trước khóa đào tạo, khóa học, kết thúc khóa học, sau khóa học Cụ thể hơn là:
đánh giá nhu cầu đào tạo xây dựng chương trình giảng dạy và kế hoạch khóa học, hậu cần và các công việc chuẩn bị cho các khóa học, tìm hiểu học viên, giảng viên, xây dựng nhóm, viết báo cáo, đánh giá sau khóa học…
Nhưng yếu tố có tính chất quyết định nhất, mấu chốt nhất vẫn là năng lực, phẩm chất nghề nghiệp của giảng viên trong quá trình tổ chức, thực hiện (phương pháp giảng dạy) các môn thuộc chuyên ngành báo chí Bởi không phải cứ có một quy trình đào tạo tốt là tự nó có thể tạo ra phương pháp đào tạo theo ý muốn Bởi có một phương thức tối ưu nhưng thực ra đó là hình thức, còn chất lượng thực sự nó lại phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của đội ngũ giảng viên Do đó, phương pháp đào tạo báo chí chính là phương pháp giảng dạy của giảng viên báo chí đối với sinh viên báo chí
Đặc biệt, phương pháp giảng dạy từng bộ môn cần quán triệt: nội dung tri thức vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để rèn luyện bộ óc cho sinh viên báo chí nhưng việc giúp người học chiếm lĩnh tri thức lại quan trọng hơn rất nhiều Có như vậy,
khi ra trường người học mới có một công cụ phương pháp để tiếp tục học tập suốt
đời
1.1.2 Các thuật ngữ liên quan: Chương trình đào tạo, Mô hình đào tạo, Quy trình đào tạo, Sản phẩm đào tạo, Chất lượng đào tạo, Công nghệ đào tạo
- Chương trình đào tạo (Curriculum): Trong bảng từ vựng về giáo dục của
tiếng Anh, chương trình đào tạo có nghĩa là “curriculum”: Là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời lượng dành cho mỗi môn mà nhà
Trang 24trường tổ chức giảng dạy để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho sinh viên theo học một ngành nào đó 3
Quan niệm hiện đại về chương trình đào tạo là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động đào tạo trong một khoảng thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học tập, cách thức đánh giá kết quả học tập,…nhằm đạt được mục tiêu học tập
đã đề ra Trong đó, cần lưu ý, một chương trình hiện đại cần được thiết kế cho người học, mà người học có rất nhiều yếu tố khác nhau về tâm sinh lý, văn hóa địa phương, gia đình,…nên chương trình đào tạo có thể có nhiều phiên bản, nhiều hình thức văn bản thể hiện Hay nói cách khác, đó là một chương trình mở
Tại Điều 2 của Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ “Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu đào tạo giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi
và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học”[6]
Hay nói cách khác, CTĐT là “cương lĩnh”, kim chỉ nam và mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp dạy học của chuyên ngành đó, ngoài ra chương trình còn quy định cả những điều kiện đảm bảo, cách thức tổ chức dạy học và những biện pháp kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh trong quá trình đào tạo
Để phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy và một vài yếu tố văn hóa, địa lý vùng miền khác, Bộ Giáo dục - Đào tạo chia ra hai dạng CTĐT: chương trình khung (do Bộ GD - ĐT quy định) và chương trình chi tiết (do các cơ
sở trực tiếp đào tạo xây dựng dựa trên chương trình khung)
là “nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu bằng mã ngành” Trong luận văn này, chương trình đào tạo xem xét ở đây được hiểu theo nghĩa thứ nhất.
Trang 25- Quy trình đào tạo: Là các bước cơ bản cần phải thực hiện trong quá trình
đào tạo Có rất nhiều cách hiểu về quy trình đào tạo Theo thời gian thì quy trình đào tạo là kế hoạch phải thực hiện trong năm 1,2,3,4 Điều này thể hiện rõ số đơn vị học phần hoặc tín chỉ cần tích lũy của người học trong chương trình đào tạo của từng năm, học kỳ Ví dụ đối với chương trình đào tạo báo chí bậc đại học hệ chính quy Chất lươ ̣ng cao của Trường ĐH KHXH & NV TP Hồ Chí Minh có 4 năm 8 học kỳ tương ứng với 149 tín chỉ cần tích lũy Xét theo nội dung thực hiện quy trình đào tạo, ở Việt Nam có các bước sau: tuyển sinh, tổ chức đào tạo, tổng kết và đánh giá quy trình đào tạo Cách thực hiện này khác với quy trình đào tạo của một số nước
trên thế giới: Xác định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch đào tạo, xác định hình thức
đào tạo, tổ chức đào tạo, tổ chức tổng kết và đánh giá quy trình đào tạo Mới đây,
trong chương trình đào tạo, dựa vào chuẩn đầu ra nhằm đổi mới nội dung, phương pháp và công nghệ đào tạo Quy trình trên được cụ thể hóa 4 bước:
- Hình thành mục tiêu, điều tra nhu cầu và xây dựng chuẩn đầu ra
- Thiết kế chương trình đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra
- Thực hiện đào tạo thí điểm, điều chỉnh chương trình đào tạo
- Triển khai đào tạo đại trà
- Công nghệ đào tạo: Trong thực tế, hầu hết ở các nơi trên thế giới đều tồn tại
những mâu thuẫn khách quan giữa yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ cao với một bên là sự trì trệ, bế tắc về phương thức giáo dục, đào tạo Bởi lẽ, giáo dục - đào tạo thường kém linh hoạt và năng động hơn nhiều so với sự phát triển của sản xuất, sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật [32, 149] Để giải quyết mâu thuẫn trên, cần có một quá trình đổi mới
về mục tiêu và phương thức đào tạo, cần có những cải cách về nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo theo hướng cá biệt hóa, tích cực hóa quá trình đào tạo, đáp ứng những yêu cầu mà thực tiễn đã đề ra Do đó, trong lý luận dạy học hiện đại
đã xuất hiện thuật ngữ công nghệ đào tạo (viết tắt CNĐT)
Trang 26Theo đó , các nhà khoa học giáo dục đã nêu lên 2 nhóm khái niệm Theo nghĩa hẹp, CNĐT về bản chất đó là quá trình sử dụng vào giáo dục và đào tạo các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ nhau nhằm nâng cao chất lượng học tập CNĐT theo nghĩa rộng là một khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của hoạt động đào tạo và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo với sự tiết kiệm được sức lực và thời gian của thầy, trò [32,150] Như vậy, khái niệm CNĐT theo nghĩa rộng bao hàm một phạm vi rất rộng bao gồm các phương diện liên quan đến mục đích, nhiệm vụ đào tạo, nội dung, chương trình cũng như các phương pháp, phương tiện,…
- Chất lượng đào tạo: Quan điểm về chất lượng giáo dục - đào tạo cũng đồng
thời là quan điểm về mục tiêu về giáo dục - đào tạo, là nội hàm về kiến thức, năng lực, phẩm chất mà một nền giáo dục nói chung, hay một cấp học, một bậc học, một ngành học cụ thể nào đó phải cung cấp, bồi dưỡng cho người học “Đánh giá chất lượng của một nền giáo dục là đánh giá xem nền giáo dục đó thực hiện được đến đâu mục tiêu giáo dục của nó”[75, tr.10] Có rất nhiều căn cứ để “định danh” chất lượng đào tạo như đầu vào, đầu ra, giá trị gia tăng, giá trị học thuật, văn hóa tổ chức riêng, kiểm toán,…4nhưng có thể thấy khái niệm chất lượng có sự phụ thuộc chặt chẽ vào đối tượng sử dụng hay nói cách khác là người hưởng lợi ở từng thời điểm
khác nhau với những mục đích, mục tiêu khác nhau
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập với thế giới Hệ thống giáo dục của chúng ta cũng đang trong quá trình hội nhập Trong quá trình đó, giáo dục đại học/ đào tạo đại học không thể đứng ngoài những chuẩn mực về quy trình, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học đã được các nước tiên tiến thừa nhận từ lâu Trong giáo dục hội nhập, đó là tăng cường trao đổi tri thức, hợp tác nghiên cứu về khoa học và công nghệ Nhưng để có thể làm được việc này thì cần phải nâng cao
chất lượng giáo dục đại học [75]
(CAMEEQ) thuộc Hiệp hội các trường ĐH &CĐ ngoài công lập (VIPUA)
Trang 27Có rất nhiều cách hiểu về chất lượng đào tạo như: Chất lượng đào tạo là chuẩn mực cao (hight standard); chất lượng đào tạo đề cập đến sự nhất quán và không sai sót trong việc thực thi một công tác giáo dục và đào tạo; chất lượng là hoàn tất những mục tiêu đề ra của trường,…Với những cách hiểu trên về chất lượng trong đào tạo thì thật là khó để đo lường được Cần có một tiêu chuẩn nghiêm chỉnh để đánh giá một trường đại học Theo Nguyễn Văn Tuấn, chất lượng giáo dục đại học
là tập hợp một số yếu tố liên quan đến đầu vào, quy trình đào tạo và đầu ra [75, tr.28] Trong đó, đầu vào là những tiêu chuẩn liên quan đến sinh viên được nhận vào học tại trường đại học Quy trình ở đây bao gồm các tiêu chuẩn liên quan đến người thầy, việc giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, nghiên cứu khoa học và cơ
sở hạ tầng cũng như dịch vụ dành cho giảng dạy và nghiên cứu khoa học Chất lươ ̣ng đầu ra (outcome - base) là những tiêu chuẩn phản ánh tình trạng của sinh viên sau khi tốt nghiệp, chất lượng sinh viên tốt nghiệp Cụ thể là: tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, có việc làm, sự hài lòng của doanh nghiệp hay cơ quan tuyển dụng,…
- Sản phẩm đào tạo: Sản phẩm đào tạo chính là con người với kiến thức
chuyên môn cao Hay nói cách khác , sản phẩm đào tạo chính là kết quả đào tạo trong mô ̣t khoảng thời gian nhất đi ̣nh Ở các nước phương Tây, người ta chia ra 4
tiêu chí để xác định chất lượng sản phẩm đào tạo: kiến thức chuyên môn, kiến thức
tổng quát, kỹ năng đặt và giải quyết vấn đề, và nhân cách [75, tr.32]
Sản phẩm đào tạo báo chí trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện là nhà báo đa năng (multimedia journalism ) có kiến thức bài bản , thành thạo kỹ năng nghiê ̣p vu ̣, có đủ hiểu biết về pháp lý và đạo đức hành nghề để sẵn sàng thích nghi
và làm việc một cách chuyên nghiệp , sáng tạo và hiệu quả
1.2 Đặc điểm của các phương pháp trong đào tạo báo chí
Để có thể xác định được những đặc điểm cơ bản của phương pháp đào tạo báo chí trong hoạt động giáo dục, cần căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, đặc điểm của Nhà trường đại học; căn cứ vào bản chất của quá trình đào tạo đại học và chức năng của phương pháp đào tạo đại học Trên cơ sở đó, có thể nêu lên một số đặc điểm chính sau của phương pháp đào tạo báo chí:
Trang 28- Phương pháp đào tạo thường mang dấu ấn cá nhân của người giảng dạy Cùng một nội dung giảng dạy nhưng phương pháp, phong cách giảng dạy khác nhau ở mỗi người sẽ cho ra những kết quả khác nhau Theo Th.S Phan Thanh Hằng5(giảng viên thỉnh giảng báo chí, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng) cho biết: “Đối với sinh viên báo chí chính quy, bản thân họ chưa hình dung ra công việc trên thực tế nên dấu ấn của người thầy là quan trọng khi gợi mở, hướng dẫn thực tế” Và dấu ấn của người giảng viên về phương pháp phải phù hợp với đối tượng lên lớp Ví như với học viên hệ tại chức (hệ vừa học vừa làm), họ là những người qua thực tế báo chí, tự học nghề là chủ yếu nên thường mang tâm lý chủ quan, bảo thủ Nếu giảng viên tỏ ra lạc hậu, thiếu thực tế thì rất dễ bị coi thường
- Phương pháp đào tạo báo chí cần có s ự thống nhất về mục tiêu, nội dung và hình thức đào tạo Nếu không có sự thống nhất hoặc thiếu sự đồng bộ tương thích giữa mục tiêu, chương trình đào tạo, đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo thì sẽ không có một phương pháp đào tạo nhất quán và khoa học
- Phương pháp đào tạo gắn liền với đặc trưng nghề nghiệp báo chí Ở mỗi ngành nghề đào tạo thì gắn với một phương pháp đào tạo đặc thù bởi mỗi ngành nghề, xã hội đều có những yêu cầu, nhu cầu khác nhau Trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, sự chuyển giao công nghệ đào tạo ở mỗi ngành nghề đã tạo ra một động lực lớn để các cơ sở đào tạo phải thay đổi chính mình theo hướng chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện điều này, không gì khác hơn là mỗi phương pháp đào tạo phải gắn liền với thực tiễn xã hội, sự phát triển của khoa học công nghệ và nắm bắt được, dự báo được những xu thế đào tạo trong tương lai
- Phương pháp đào tạo rất đa dạng, phụ thuộc vào đặc điểm của bộ môn, điều kiện, phương tiện dạy học
Mỗi phương pháp đào tạo có những ưu, nhược điểm riêng Phương pháp đào tạo khác nhau sẽ cho ra sản phẩm đào tạo khác nhau Ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp đào tạo không hẳn là ở chính mỗi phương pháp đào tạo mà do thời
Trang 29
điểm lịch sử, bối cảnh xã hội qui định Do đó phương pháp đào tạo sau thường tiến
bộ hơn phương pháp đào tạo trước đó, giữa các phương pháp có tính kế thừa nhau
Do đó khi đề xuất một phương pháp đào tạo mới không có nghĩa là xóa bỏ, phủ định các phương pháp đào tạo trước đó mà kế thừa, cải tiến một số nội dung hoặc hình thức hoă ̣c cả hai của phương pháp đào tạo đó mà thôi
Phương pháp đào tạo có thể “đóng gói” thành “công nghệ đào tạo” để chuyển giao cho các cơ sở đào tạo Nếu mô ̣t phương pháp đào ta ̣o được thực hiê ̣n thí điểm
và đánh giá thành công thì việc triển khai giữa các vùng mi ền, giữa các quốc gia trở thành một xu thế tất yếu và phổ biến hơn bao giờ hết khi mà giáo dục trở thành một dịch vụ hàng hóa, có cung và có cầu; xã hội, người học ngày càng đòi hỏi cao ở các nhà đào tạo Tất nhiên, việc triển khai, áp dụng các phương pháp đào tạo ở mỗi cơ
sở đào tạo phụ thuộc rất lớn về cơ sở vật chất, đội ngũ (số lượng, trình độ), đối tượng áp dụng,…
1.3 Các phương pháp trong đào tạo báo chí
1.3.1 Các nhóm phương pháp chung
Các phương pháp giảng dạy ở bậc Đại học khá đa dạng và phong phú Trong
lý luận dạy học Đại học, người ta chia ra phương pháp dạy truyền thống (lấy thầy giáo làm trung tâm) và phương pháp dạy hiện đại (lấy người học làm trung tâm) Các phương pháp giảng dạy hiện đại ở bậc đại học hiện nay, có thể nói, đang được thực hiện theo các xu hướng: phát huy tính tích cực của quá trình nhận thức; cụ thể hóa và công nghệ hóa các phương pháp giảng dạy Các phương pháp này không chỉ đòi hỏi giảng viên truyền đạt tri thức cho sinh viên mà còn giảng dạy cho sinh viên biết cách sáng tạo, tự tìm ra tri thức mới Nhưng trong bối cảnh, điều kiện về chất lượng đội ngũ, cơ sở vật chất, số lượng người học, các nhà đào tạo báo chí vẫn phải
sử dụng tất cả các phương pháp truyền thống, phương pháp hiện đại và phương pháp đặc thù để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học và xã hội Có thể liệt
kê một số phương pháp giảng dạy sau:
(1) Nhóm phương pháp thuyết giảng tích cực - nêu vấn đề: Thuyết giảng (lecture) là
phương pháp chủ lực của lối giảng dạy truyền thống, nhưng thuyết giảng không
Trang 30phải là thứ bỏ đi trong phương pháp giảng dạy tích cực Nếu chủ yếu thuyết giảng một chiều, nghĩa là đơn thuần truyền đạt kiến thức từ người dạy sang người học, thì
đó là phương pháp giảng dạy thụ động Nhưng nếu thuyết giảng theo lối tương tác, đặt vấn đề cho người học suy nghĩ và lôi cuốn người học cùng giải quyết vấn đề với giảng viên thì đó lại là phương pháp giảng dạy tích cực Như vậy, nếu biết cách thuyết giảng thì vẫn đảm bảo tính tích cực và vẫn mang lại kết quả tốt cho người học
(2) Nhóm phương pháp giảng dạy nêu vấn đề - Nhóm - Thảo luận: Phương pháp
này nhằm hướng dẫn người học chủ động làm việc trên vấn đề được đặt ra Giảng viên đóng vai trò là người gợi mở vấn đề, giám sát quá trình làm việc, và hỗ trợ người học đúc kết vấn đề Phương pháp này sẽ hiệu quả hơn nếu tổ chức cho người học làm việc theo nhóm Một vấn đề đặt ra được xem là tốt nếu: phù hợp với mục tiêu của học phần; gắn với thực tế; thuộc dạng vấn đề “có vấn đề”; phát sinh nhiều giả thiết; cần sự nỗ lực của một nhóm người (nghĩa là cá nhân giải quyết sẽ gặp khó khăn); được xây dựng trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có; thúc đẩy sự phát triển khả năng nhận thức bậc cao: phân tích, tổng hợp, đánh giá Lợi ích của phương pháp là giúp người học nâng cao kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, tính chủ động trong việc tìm kiếm và xử lý thông tin
(3) Phương pháp dạy theo ví dụ minh họa: Đây là phương pháp giảng dạy dựa vào
các sự kiện, sự việc, tình huống đã hoặc đang diễn ra trong thực tế Theo Donham
và Lawrence, “tình huống tốt” - ví dụ tốt là phương tiện chuyển tải một mảng thực
tế vào phòng học để cả sinh viên và giảng viên cùng học Ví dụ minh họa có thể được trình bày dưới dạng viết, một đoạn phim, một mẩu kịch ngắn, nhưng thông dụng nhất là dạng viết Một ví dụ tốt phải cho phép có nhiều phương án lựa chọn khả dĩ Kỹ thuật làm việc nhóm thường được sử dụng để giải quyết tình huống, ví
dụ đưa ra Giảng viên đóng vai trò giám sát, đúc kết
Lợi ích của phương pháp là giúp người học làm quen với việc tiếp cận thực tiễn, phát triển khả năng tư duy độc lập và nhận thức bậc cao, rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, tác động mạnh đến việc hình thành ý thức tập thể, tham gia và trao đổi
Trang 31(4) Nhóm phương pháp dạy qua bài tập thực hành – thực địa: Là nhóm phương
pháp được dùng cho các môn học sáng tạo tác phẩm báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, báo ảnh) trong quá trình học và đánh giá kết quả môn học Để tạo ra những tác phẩm đầy tính sáng tạo, tư duy, người học phải đi thực địa (hiện trường nơi xảy ra sự kiện, vấn đề) để thu thập thông tin, tư liệu để viết bài Hoặc có thể thực hiện thao tác thực hành ngay tại lớp (tập nhận xét tác phẩm, chọn góc độ, rút tít,…) hoặc tại studio (phỏng vấn tại studio, biên tập âm thanh, đọc, pha nhạc,…) Với nhóm phương pháp này, bước đầu nó đã đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn đời sống báo chí vốn năng động và không ngừng biến động
(5) Nhóm phương pháp tổ chức diễn đàn – Dạy trên mạng: Đây là phương pháp ít
sử dụng cho những lớp học tập trung như đào tạo Cử nhân báo chí chính quy Thông qua mạng Internet, người dạy và người học có thể tương tác với nhau trên môi trường trực tuyến để nộp bài hoặc nhận xét bài tập cá nhân hoặc nhóm cá nhân
Ưu điểm lớn nhất của nhóm phương pháp này là tính tiện ích và dân chủ Người học không cần phải đến lớp để học và trả bài Họ có thể đánh giá, nhận xét, tranh luận một cách dân chủ, thoải mái trên diễn đàn đó mà không phải dè dặt, e ngại với ai Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của phương pháp này là tính kiểm soát và tính định hướng không cao, dẫn đến nhiều cách hiểu, nhiều sai lệch trong nhận thức
Ngoài ra, một số giảng viên còn sử dụng các phương pháp khác như: phương
pháp giảng dạy qua hình ảnh, phương pháp giảng dạy qua kể chuyện, phương pháp giảng dạy qua tình huống, phương pháp giảng dạy qua trải nghiệm,…
1.3.2 Các phương pháp đặc thù
Những phương pháp cho đào tạo báo chí đặc thù ở Việt Nam đã được gợi mở qua việc triển khai các khóa đào tạo báo chí của Viện Đào tạo báo chí nâng cao Thụy Điển (FOJO) ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 1998, giai đoạn 2000 - 2003 Theo nghiên cứu của PGS.TS Vũ Quang Hào “một điều dễ nhận thấy nhất và cũng có thể coi là đặc thù trong phương pháp đào tạo báo chí của FOJO là: FOJO chủ trương cung cấp thao tác và kỹ năng cho nhà báo (học viên) là chính” [27, 134] Chủ
Trang 32trương chính của các nhà đào tạo là lối truyền nghề trực tiếp Điều này thể hiện 4 phương pháp dạy:
- Phương pháp dạy phi giáo án: Là cách dạy không mang theo những giáo
án hay những tập giáo trình lý thuyết lên lớp [27,135] Trong tay giảng viên là những bài tập thực hành, những ví dụ minh họa sinh động cho bài giảng Vậy nên,
để có những tiết học “phi giáo án” như thế này đòi hỏi giảng viên, trợ giảng phải chuẩn bị khá tỉ mỉ, chu đáo Chúng được chọn lọc, minh họa “có ý đồ” cho bài giảng Trong đó, ưu tiên những tư liệu trực quan đó là những tác phẩm của giảng viên, trợ giảng để thuyết phục người học hơn Thực chất sử dụng sản phẩm của chính bản thân mình sẽ có ba lợi thế Thứ nhất là không ai nắm được bản chất và kiến thức về sản phẩm của mình hơn bản thân mình nên chọn sản phẩm của mình khi phân tích sẽ sâu sắc và thực tế hơn Thứ hai, với sản phẩm của chính mình, giảng viên có thể kết hợp vào bài giảng những câu chuyện, trải nghiệm, kinh nghiệm thực tế của bản thân để chia sẻ với người học Điều này sẽ giúp bài giảng trở nên sinh động và cuốn hút hơn Thứ ba, việc đưa chính sản phẩm của bản thân vào bài giảng sẽ giúp người học trực tiếp kiểm định, đánh giá được năng lực của giảng viên, trợ giảng Với phương pháp giảng dạy này, “người học rất ít phải ghi chép mà với mỗi vấn đề, học viên chỉ nghe - xem giảng viên giới thiệu, chỉ dẫn, yêu cầu…để rồi tự mình hoặc cùng nhóm làm ngay tác phẩm báo chí theo chủ đề, thể loại, cách thức vừa được tiếp thu”[27, 136]
Đặc biệt, người học được cấp các tài liệu (hand - out – tờ rơi) khoảng 1- 2 trang, trong đó tổng kết nhưng điểm căn bản nhất hay những thao tác, kỹ năng quan trọng nhất Dù là những lời khuyên, nguyên tắc hay thao tác thì cũng nên viết rất ngắn, rõ ràng, cụ thể, chi tiết theo một lối chỉ dẫn để người học có thể làm theo Hạn chế việc ghi chép
- Phương pháp giảng dạy theo đuổi những yêu cầu của người học: Mặc dù
giảng viên đã sắp đặt tất cả chương trình chi tiết cho khóa học, từng buổi học, giờ
học nhưng ở mỗi khóa học, giảng viên cần phải đưa ra mục Những Hy vọng và lo
âu Tất cả những chia sẻ này được ghi lên giấy và được treo ở một tấm bảng suốt
khóa học Sau đó, giảng viên nghiên cứu và rút ra những vấn đề chung từ những hy
Trang 33vọng và lo lắng để giải quyết vấn đề, giảng dạy theo những yêu cầu chính đáng đó của người học “Đến cuối khóa học, giảng viên sẽ dành một buổi để người học nhìn
lại những Hy vọng và lo âu của mình: điều gì họ đã thỏa mãn, điều gì còn vướng
mắc, điều gì sẽ được giải quyết ở khóa học sau,…”[27, 137] hoặc các giảng viên
phải duy trì giờ văn phòng (có mặt ở văn phòng khoảng 3 - 5 giờ trong một tuần để
sinh viên có thể gặp nếu họ muốn)
Theo những giảng viên FOJO, khi có mục Những Hy vọng và lo âu sẽ giúp
chúng ta hiểu được: sự căng thẳng của người học; có những dự tính để tránh những mặt tiêu cực; có được các chủ đề mở rộng mà bạn cần bổ sung cho khóa học,… “Cố
nhiên, những Hy vọng và lo âu ở mỗi khóa học là khác nhau và thật là khó để thỏa
mãn hết nhưng đó cũng là những gì mà giảng viên cần phải đạt được bằng phương pháp truyền nghề, vốn kiến thức quảng bác, uyên thâm và kinh nghiệm phong phú” [27, 138]
- Phương pháp giảng dạy bán giảng đường: Là cách dạy một nửa thời gian
trên lớp và một nửa thời gian thực địa Nếu giờ học lý thuyết quá kéo dài ở trên giảng đường thì hiệu quả học tập chắc chắn sẽ không cao vì nó sẽ mang một hiệu ứng nhàm chán Và cũng thật là lãng phí nếu chúng ta không tận dụng một “môi trường xã hội” bên ngoài rộng lớn đang chờ đón các bạn sinh viên báo chí Có thể
đó là sự bỡ ngỡ, va vấp, cám dỗ và những “tai nạn” đáng tiếc Và đó có thể là thách thức khá khắc nghiệt cho những sinh viên báo chí đúng nghĩa Nhưng chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác Chính những trải nghiệm ban đầu đó sẽ giúp người học kiểm chứng lại những kiến thức ở trên giảng đường, hình thành cho mỗi một cá nhân người học khả năng nhìn nhận, đánh giá cũng như khả năng “phản xạ” trước thực tiễn nghề nghiệp Dần dần, ở họ có một “con người của nghề nghiệp” đang phát triển và trưởng thành hơn Để có được điều này, các nhà đào tạo phải biết khai thác tối đa trí tuệ và kinh nghiệm của đồng nghiệp để truyền thụ, tận dụng tối
đa thiết bị, phương tiện máy móc ở studio Nhà trường hoặc ở các cơ quan báo chí
để tiến hành thực hành, tác nghiệp
Đặc biệt , với đặc thù học để làm nghề nên sinh viên sớm tiếp cận với môi trường tác nghiệp là điều cần thiết Bởi vậy, trong chương trình giảng dạy, 2/3 thời
Trang 34lượng chương trình ưu tiên cho thực hành, bước đầu hình thành những thao tác, kỹ năng cơ bản cho người học Tại Đại học Lille (Pháp), phương pháp chủ yếu của họ
là thực hành Sinh viên phải thực tập liên tục Hầu như họ được đưa đi cơ sở và hẹn giờ có sản phẩm Nếu giờ đó không có sản phẩm thì không được chấm điểm bài viết Đó là áp lực và kỷ luật của công việc làm báo mà người học phải làm quen từ rất sớm Cách thức này cũng được một số tòa soạn hiện nay áp dụng trong việc
tuyển chọn phóng viên Báo Hà Nội mới những năm gần đây đều đưa phóng viên
thử việc đến những cơ sở không được báo trước để tìm đề tài, khai thác thông tin và trở lại phòng thi để viết bài Đó là những dạng “bài tập” có thật trong thực tế Nếu không, nhà đào tạo cũng có hệ thống bài tập thực hành trực quan để hình thành khả năng phán đoán, tư duy và phản xạ trước thực tiễn nghề nghiệp
Thông qua hệ thống các bài tập thực hành trực quan, cụ thể, người dạy sẽ cho người học biết cách làm báo hiện đại chứ không dạy cho họ về báo và biết làm báo Do đó, hệ thống bài tập ở đây được chuẩn bị rất kỹ càng từ mục đích bài tập đến cách thức tổ chức bài tập và những phương thức phụ trợ (giấy, bút dạ, ghim,…) Đó có thể là những bài giúp sinh viên nhận ra cách làm cụ thể đối với một tin, bài cụ thể về một chủ đề/ đề tài cụ thể song cũng có thể những bài tập huấn luyện cho người học biết cách quan sát, phê phán, đánh giá,…lại có những bài tập
mà học viên thực hành chúng cũng đồng thời tăng bầu không khí thoải mái, thân thiện và dễ chịu…
Với những bài tập dạng này, trợ giảng sẽ tổ chức, điều hành và hướng dẫn người học Sau khi hoàn thành, sinh viên tự mình hoặc thay mặt nhóm trình bày kết quả Giảng viên và trợ giảng đều phải lắng nghe, ghi chép cẩn thận để tiến hành đánh giá, nhận xét Cần lưu ý, “những đánh giá, nhận xét của giảng viên hoặc trợ giảng thường nghiêng về phía khích lệ, gợi mở và kích thích sự sáng tạo” [27, 144], rút ra bài học cho mình qua những kết luận Tất nhiên, những kết luận đưa ra ở đây
là những kết luận tích cực, có được nhờ sự tham gia tích cực chứ không phải là những kết luận tĩnh nằm sẵn trong bài giảng Với cách làm việc như vậy sẽ giúp cho không khí buổi học không quá căng thẳng, nặng nề
Trang 35Với hàng loạt những bài tập từ dễ đến khó như vậy đã rèn luyện cho người học được kỹ năng trong từng công việc cụ thể như: lựa chọn sự kiện để viết tin, cách đánh giá sự kiện, cách thu thập thông tin, cách phỏng vấn, cách viết tin,…
Ở những lớp học báo chí, người dạy và người học nên đề cao mối quan hệ thầy - trò dân chủ, bình đẳng Giảng viên luôn tận tụy truyền đạt bằng lối dạy hấp dẫn, thuyết phục, nhẹ nhàng để người học tiếp thu dễ dàng theo cách của họ Ở đây không có sự áp đặt và sự buộc nhiên thừa nhận hay chấp nhận Những nhận xét, đánh giá của giảng viên sau phần trình bày bài tập hoặc thảo luận,…đều là những đánh giá dựa trên sự lắng nghe, ghi chép cẩn thận và sự quan sát tinh tế Đặc biệt, hầu hết những nhận xét của giảng viên đều phải mang tính gợi mở, khích lệ và kích thích sự sáng tạo của người học
Đối với những bài tập thực hành, giảng viên nên trực tiếp trao đổi, hướng dẫn hoặc gợi mở để họ tự tin hơn trong khi thực hiện Chờ đợi - khuyến khích - tạo
cơ hội - đó là phương châm để người dạy nhận sự phản hồi từ người học Đó là điều hết sức quý giá để chúng ta biết trong đầu người học có gì, nghĩ gì Biết đâu với cách nghĩ, cách lập luận của họ sẽ nảy sinh những đề tài thảo luận sôi nổi, thú vị cho cả lớp trong mươi phút Sẽ có nhiều sinh viên Việt Nam đã quen với cách dạy truyền thống thường đánh giá, nhận xét phương pháp dạy của giảng viên dạy theo kiểu này là đi hơi quá đà nhưng theo quan điểm của chúng tôi, với những người học báo chí, định hướng và chia sẻ quan điểm, tư tưởng trước một vấn đề, sự kiện là rất cần thiết và thú vị Tất nhiên, chúng ta sẽ chế định nó trong thời gian mươi phút để khỏi ảnh hưởng lộ trình chung của bài học
Luôn tạo bầu không khí vui vẻ, thoải mái của lớp luôn là ưu tiên, chú ý của người dạy Có thể là một chút quan tâm về tâm trạng, những lo lắng cho ngày hôm nay hay những quan tâm vào ngày hôm nay,…Đôi lúc, khuấy động những tính cách
“hài hước vốn có” của một ai đó trong lớp để tạo ra một tiếng cười, một sự chú ý cũng là cách giảm đi không khí trầm lắng hoặc căng thẳng “Bầu không khí sôi động nhất của lớp là lúc làm bài tập thực hành và thảo luận, tranh luận với việc
“đóng vai” các vị trí trong tòa soạn: Tổng biên tập, thư ký tòa soạn, biên tập viên,
phóng viên,…trước những lựa chọn bài vở, đưa ra ý tưởng, sáng tạo,…” [27, 147]
Trang 36Giữa các nhóm luôn có sự cạnh tranh để giành được những phần quà từ các nhóm khác hoặc từ phía giảng viên Với không khí của lớp học như vậy nên những sinh viên được coi như là rụt rè nhất, họ cũng đã hòa nhập và mạnh dạn hơn Có một điều mà chúng tôi quan sát, kiểm nghiệm là gần như tất cả những sinh viên đã ngồi
ở giảng đường, họ có sẵn những tố chất, năng lực tiềm năng nhất định nào đó mà những người thầy, người cô chúng ta cần khơi gợi cũng như uốn nắn để họ có sự tự tin trong việc hoàn thiện, phát triển và khẳng định bản thân Điều đó sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu chúng ta tạo được bầu không khí vui vẻ, thoải mái và hết sức bình đẳng như thế này Thay vì chỉ trích, tạo áp lực cho người học, chúng ta nên động viên, khuyến khích và luôn sẵn sàng hợp tác với người học Trước hết, chúng ta phải tạo ra được niềm tin ở bản thân người học và niềm tin của họ dành cho người dạy Sau đó, giảng viên từng bước đưa người học gần với những nấc thang kiến thức cần đạt của bài học với những kết quả hết sức bất ngờ
Theo PGS.TS Vũ Quang Hào, để có những điều trên, đòi hỏi những người đứng lớp phải có cách tổ chức dạy như sau:
- Cách dạy sáng tạo: Mỗi buổi lên lớp bắt đầu với một chiêu trò mới với những câu
hỏi, tình huống, thay đổi vấn đề, lật ngược vấn đề,…Với cách làm như thế, người học sẽ luôn chú ý và chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra Họ sẽ thấy thú vị nếu mình được cùng tham gia và trải nghiệm
- Cách dạy truyền nghề: Dùng truyền thông dạy truyền thông Tức là, lấy những sản
phẩm của truyền thông (tin, bài, ảnh hoặc đoạn audio, video,…) để làm phương tiện dạy và học Cho người học hiểu rõ chuyện “đằng trước, bên trong và đằng sau” tờ báo, chương trình phát sóng là cái gì? Như thế nào? Tại sao? Để làm gì? Và phải làm gì để có những sản phẩm như thế? Mặt khác, chúng ta dạy cho người học cách làm một tin, bài, ảnh, chương trình phát sóng mà qua đó, học viên tự rút ra những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mình Ở một trình độ cao hơn, chúng ta huấn luyện
họ có những khả năng phân tích, đánh giá tổng hợp; tư duy sáng tạo, năng động,…Điều đó thật là thú vị và bổ ích nếu chúng ta tiếp cận với lối dạy bán giảng đường, lối dạy phi giáo án, lối dạy theo đuổi những yêu cầu của người học; gắn với những kiến thức, câu chuyện, trải nghiệm làm nghề của chính giảng viên, trợ giảng
Trang 37và chính đời sống thực tiễn báo chí vô cùng phong phú và sinh động đang diễn ra bên ngoài
- Cách dạy mềm mại: Giảng viên, trợ giảng phải luôn định hướng, giúp đỡ người
học Chính họ là người trực tiếp cùng học viên sáng tạo ra những sản phẩm báo chí hoặc là có sự kết hợp linh động, bổ trợ cho nhau giữa các thành viên trong lớp, giữa các nhóm với nhau Đây cũng là cách dạy, cách học hỏi lẫn nhau để tăng cường sự đoàn kết giữa các thành viên trong lớp cũng như trau dồi khả năng làm việc nhóm, khả năng làm việc trong môi trường tập thể của từng cá nhân - điều rất quan trọng trong nghề báo vì sản phẩm báo chí là sản phẩm của tập thể Biết phát huy lợi thế của từng cá nhân trong lớp và chính cá nhân đó sẽ thay giảng viên, trợ giảng truyền đạt hoặc chia sẻ cũng là một điều mới lạ, tạo tâm lý ngưỡng mộ, phấn đấu, vươn lên của người học Qua đó, tạo môi trường cho người học khả năng tự lập, tự khẳng định chính mình trước những hoàn cảnh, tình thế mà họ chưa bao giờ nghĩ đến hoặc
sẽ đối mặt trong tương lai gần
1.4 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động đào tạo báo chí ở Việt Nam hiện nay
Thời đại chúng ta không còn là thời đại bùng nổ thông tin nữa mà là thời đại quốc tế hóa thông tin Càng ngày công chúng càng đòi hỏi cao ở các phương tiện truyền thông đại chúng Sự phát triển ồ a ̣t của khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t , mạng Internet đã làm thay đổi nhu cầu , phương thức tiếp câ ̣n thông tin của công chúng , đòi hỏi các nhà đào tạo phải cho ra lò những nguồn nhân lực mới, có chất lượng cao ; đòi hỏi người học cần trang bị một tư duy mới như TS Huỳnh Văn Thông6
(Trưởng khoa Báo chí - Truyền thông Trường ĐHKHXH &NV-ĐHQG TP.Hồ Chí Minh) nhận định: “Internet phát triển đem lại những điều khó lường, đòi hỏi các sinh viên báo chí phải nắm bắt kịp thông tin” Điều này buô ̣c các nhà đào ta ̣o phải thay đổi phương pháp đào ta ̣o trên mô ̣t nền cơ sở mới, tiêu chuẩn mới
6 http://www.thanhnien.com.vn/giao-duc/bo-tien-ti-de-dao-tao-lai-nhan-luc-bao-chi-72880.html
Trang 38Bên cạnh đó, thế giới cũng đang diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt về khoa học
- công nghệ giữa các quốc gia Trong bối cảnh đó, quốc gia nào không phát triển được năng lực khoa học - công nghệ của mình thì quốc gia đó khó tránh khỏi sự tụt hậu, chậm phát triển Do vậy, một nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng đóng góp cho sự phát triển năng lực khoa học - công nghệ quốc gia, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững là cái đích mà tất cả các quốc gia đều nhắm tới Thế nên, tuy trải qua gần 30 năm đổi mới và hội nhập nhưng chưa bao giờ chất lượng nguồn nhân lực phóng viên, biên tập viên lại là một thách thức đối với các cơ sở đào tạo báo chí hiện nay Đó là, hoạt động đào tạo báo chí cần gắn
với sự tác động của nền kinh tế tri thức Theo Th.S Kim Ngọc Anh, Quyền Giám
đốc Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ Phát thanh, lao động báo chí trong
nền kinh tế tri thức cần đáp ứng những tiêu chuẩn sau: Trung thành với lợi ích quốc
gia và dân tộc; có đạo đức tốt, trung thực, thẳng thắn trong công việc và giao tiếp với xã hội; am hiểu và tuân thủ luật pháp (luật báo chí); hiểu biết sâu rộng về lịch
sử, văn hóa, dân tộc; có chuyên môn nghiệp vụ tốt; thạo một nghề, biết nhiều nghề;
có kiến thức về IT; sử dụng ngoại ngữ trong công việc; có khả năng làm việc nhóm;
có khả năng trình bày quan điểm, luận điểm, đề án của bản thân; có khả năng giao tiếp xã hội; nhanh nhạy và sáng tạo trong kỹ thuật nghiệp vụ; có sức khỏe tốt [33]
Trở lại vấn đề này, cách đây hơn 10 năm, nhà nghiên cứu Trần Thế Phiệt đã nhận định rằng: “So với 5 - 10 năm trước đây, đào tạo báo chí ở nước ta có những bước phát triển Nhưng trong nhịp đi của những ngày hôm nay không cho phép chúng ta vẫn giữ mãi nhịp độ như những năm tháng qua Có người nói: hãy cải tiến phương pháp dạy học, phải tiến hành một cuộc cách mạng về phương pháp dạy học, phương pháp đào tạo nhà báo làm việc ở thế kỷ XXI Có thể nói, những thay đổi nhanh chóng đến kinh ngạc làm rung chuyển xã hội ngày nay, thôi thúc các nhà giáo trong từng môn học không thể tránh một thực tế là tất cả các văn hóa cổ kim, đông tây đều đã lỗi thời hoặc nhanh chóng lỗi thời [54, tr.83]
Nghề báo là một ngành đòi hỏi cao, có sự khắt khe và đào thải lớn mà không phải ai học báo ra cũng làm tốt nghề này “Nghề báo yêu cầu những người có kiến thức xã hội sâu rộng, óc quan sát và phán đoán tốt, năng lực giao tiếp nhất định,
Trang 39chưa nói đến các kỹ năng làm việc khác”7
Như vậy, so với yêu cầu chung của xã
hô ̣i, thực tiễn đào tạo báo chí ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội
Đặc biệt, nhu cầu đào ta ̣o nguồn nhân lực có khả năng tác nghiê ̣p trong môi trường truyền thông quốc tế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Đó là đô ̣i ngũ phóng viên, nhà báo Việt Nam tác nghiệp ở nước ngoài ; đô ̣i ngũ phóng viên , nhà báo tiếp xúc với người nước ngoài ở Việt Nam Mỗi năm ngành truyền thông quốc tế và báo chí đối ngoại cần một lực lượng lớn những người có hiểu biết chuyên môn và năng lực làm nhiệm vụ về truyền thông quốc tế Tinh thần này đ úng như nhận định của
Bộ chính trị ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong kết luận số 16/KL/TW về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020:
“Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng ta; là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài”[53] Đây chính
là vấn đề quan tro ̣ng của truyền thông Việt Nam trong xu thế hội nhập với thế giới