Mặc dù vậy, trong những năm qua hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP đã nảy sinh một số biểu hiện không lành m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NHƢ PHÁT
Trang 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Xuân Ph-ơng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN VÀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6
1.1 KHÁI NIỆM NỢ QUÁ HẠN 6
1.1.1 Nợ quá hạn theo tiêu chuẩn quốc tế 6
1.1.2 Nợ quá hạn theo quan điểm của Việt Nam 7
1.2 NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ QUÁ HẠN 9
1.2.1 Nguyên nhân 10
1.2.2 Tác động của nợ quá hạn trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần tới nền kinh tế 12
1.3 PHƯƠNG THỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XỬ LÝ CÁC KHOẢN NỢ QUÁ HẠN PHÁT SINH 15
1.4 MÔ HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU Ở CÁC NƯỚC 17
1.4.1 Một số mô hình xử lý nợ quá hạn trên thế giới 17
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23
Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 25
Trang 52.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM 25
2.1.1 Căn cứ xác định nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 25
2.1.2 Quản lý và hạn chế nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 28
2.1.3 Biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần 30
2.1.4 Trình tự, thủ tục xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần 32
2.1.5 Mua nợ quá hạn của ngân hàng thương mại cổ phần bởi công ty mua bán nợ 40
2.2 PHÁP LUẬT HOA KỲ 50
2.2.1 Căn cứ phân loại nợ tại Hoa Kỳ 50
2.2.2 Các biện pháp xử lý nợ quá hạn chủ yếu tại Hoa Kỳ 52
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 66
3.1 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 66
3.1.1 Xây dựng quy trình xử lý nợ quá hạn 66
3.1.2 Đa dạng hóa các biện pháp xử lý nợ quá hạn 67
3.1.3 Tăng cường hiệu quả của công tác thu nợ trực tiếp 68
3.1.4 Ngân hàng thương mại cổ phần linh hoạt hơn trong các giao dịch mua bán nợ 69
3.1.5 Chứng khoán hóa các khoản nợ 71
3.1.6 Trích lập và sử dụng quĩ dự phòng rủi ro hiệu quả 74
3.1.7 Tăng cường hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản 75
Trang 63.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ 77
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện cơ sở pháp lý 77
3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 86
3.2.3 Kiến nghị khác 88
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMC Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản
DATC Debt and Assets Trading Company - Công ty mua bán
nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp - Bộ tài chính DNNN Doanh nghiệp nhà nước
HĐKD Hoạt động kinh doanh
NHTM Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN Ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD Tổ chức tín dụng
TSBĐ Tài sản bảo đảm
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường tài chính nói riêng đã và đang phát triển một cách mạnh mẽ, điều này được phản ánh khá rõ ràng ở tốc độ tăng trưởng về số lượng và chất lượng của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đã đóng góp một lượng vốn tín dụng đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Mặc dù vậy, trong những năm qua hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, mang đến những rủi ro cho nền kinh tế - thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại cổ phần ngày càng chồng chất Điều này có thể gọi là hoạt động tín dụng của các NHTMCP tuy có tăng về "lượng" nhưng lại giảm về ‘chất"
Nợ quá hạn phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân cơ bản là sự bất ổn định của nền kinh tế trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Nhiều vấn đề chưa được thử nghiệm, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và đồng
bộ, các cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ chưa được xây dựng chặt chẽ
và hoàn chỉnh, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng còn non yếu, đạo đức nghề nghiệp chưa được coi trọng
Thêm vào đó, không chỉ những nước đang phát triển mà còn cả những cường quốc như Hoa Kỳ hay liên minh EU cũng lâm vào tình hình tương tự Theo báo cáo của IMF, từ năm 1980 đã có 52 nước đang phát triển xảy ra thất thoát gần hết số vốn của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần nước đó Hơn 10 nước đang phát triển phải sử dụng tới 10% GDP hàng năm để khắc
Trang 10phục các vụ bê bối từ ngân hàng thương mại cổ phần Trong suốt một thập kỷ qua, công việc "cứu" các ngân hàng thương mại cổ phần bị đổ bể tại các nước đang phát triển đã tiêu tốn gần 250 tỷ USD của các chính phủ
Từ thực tế đáng báo động trên, ta có thể thấy rằng nợ quá hạn - một hình thức biểu hiện cụ thể của rủi ro tín dụng là nguyên nhân gây thất thoát vốn, đẩy các ngân hàng thương mại cổ phần đến thua lỗ nặng nề và phá sản, nó không chỉ ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần mà kéo theo đó
là cả nền kinh tế Như vậy, nếu công tác phòng ngừa và xử lý nợ quá hạn được thực hiện có hiểu quả thì rủi ro khác của ngân hàng thương mại cổ phần sẽ được giảm nhẹ, ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có khả năng phát triển bền vững Đối với cả hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế nợ quá hạn cũng như xử lý nợ quá hạn là một nhiệm vụ cấp bách của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và các NHTMCP nói riêng nhằm lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần và góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá các phương pháp xử lý nợ quá hạn mà các nước đang sử dụng và so sánh với tình hình áp dụng các biện pháp
xử lý nợ quá hạn tại các NHTMCP ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp đưa ra được những nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh lĩnh vực này Nghiên cứu về vấn đề này sẽ giúp tìm ra một phần nào đó phải pháp xử lý nợ quá hạn và những bài học từ nước ngoài cho các NHTMCP ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay ngoài một số bài báo cũng như những công trình nghiên cứu của một số tác giả về một số khía cạnh của vấn đề xử lý nợ quá hạn của các NHTMCP ở Việt Nam hiện nay, nhưng hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ về pháp luật quốc tế trong lĩnh vực
Trang 11xử lý nợ quá hạn và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật quốc tế
về vấn đề này Trong xu thế hội nhập như hiện nay, việc nghiên cứu một cách đúng đắn, có hệ thống và việc áp dụng những kinh nghiệm từ các nước trên thế giới mang một ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ,phù hợp với pháp luật quốc tế và là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp giải quyết vấn
đề nợ quá hạn ở Việt Nam hiện nay Những kiến nghị của đề tài này hy vọng
sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa giúp cho các NHTMCP ở Việt Nam có thể giải quyết được vấn đề bức bối về vốn hiện nay, lại vừa đảm bảo việc phù hợp với thông lệ quốc tế Tác giả hy vọng với sự chuẩn bị chu đáo cho luận văn, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của vấn đề xử lý nợ quá hạn, pháp luật của một số quốc gia điển hình và pháp luật của Việt Nam Trong luận văn này, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn xử lý nợ quá hạn tại một số NHTMCP ở Việt Nam hiện nay cũng như những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam rút ra từ kinh nghiệm từ nước ngoài Qua đó, tác giả có thể nêu lên được những kiến nghị từ bản thân có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế thích hợp cho việc áp dụng chúng một cách phù hợp với pháp luật quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài của tác giả là các quy định pháp luật hiện hành và các văn bản dưới luật điều chỉnh lý thuyết chung về nợ quá hạn cũng như các biện pháp xử lý nợ quá hạn của Việt Nam cũng như của quốc tế
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào những vấn đề pháp lý và
Trang 12thực tiễn về xử lý nợ quá hạn ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm từ pháp luật nước ngoài
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích, so sánh các quy định pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, trong đó có một số quốc gia điển hình, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong việc sử dụng các biện pháp xử lý nợ quá hạn, từ đó rút ra những ưu điểm trong quy định của pháp luật quốc tế; xem xét tính phù hợp với điều kiện của Việt Nam để hướng tới việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam trong phạm vi vấn đề
mà luận văn đã nêu
6 Những đóng góp mới của luận văn
Ở Việt Nam hiện nay ngoài một số bài báo cũng như những công trình nghiên cứu của một số tác giả về một số khía cạnh của vấn đề xử lý nợ quá hạn của các NHTMCP ở Việt Nam hiện nay, nhưng hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ về pháp luật quốc tế trong lĩnh vực
xử lý nợ quá hạn và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật quốc tế
về vấn đề này Trong xu thế hội nhập như hiện nay, việc nghiên cứu một cách đúng đắn, có hệ thống và việc áp dụng những kinh nghiệm từ các nước trên thế giới mang một ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ,phù hợp với pháp luật quốc tế và là cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp giải quyết vấn
đề nợ quá hạn ở Việt Nam hiện nay Những kiến nghị của đề tài này hy vọng
sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa giúp cho các NHTMCP ở Việt Nam có thể giải quyết được vấn đề bức bối về vốn hiện nay, lại vừa đảm bảo việc phù hợp với thông lệ quốc tế Tác giả hy vọng với sự chuẩn bị chu đáo cho luận văn, kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị
Trang 137 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nợ quá hạn và hoạt động xử lý nợ quá hạn
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2: Pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ về xử lý nợ quá hạn trong
hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ quá hạn trong
hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NỢ QUÁ HẠN VÀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ NỢ
QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 KHÁI NIỆM NỢ QUÁ HẠN
1.1.1 Nợ quá hạn theo tiêu chuẩn quốc tế
Ở các nước trên thế giới, khái niệm về nợ quá hạn (Non-Performing Loan) là các khoản nợ mà Ngân hàng thương mại cổ phần không thu hồi được khi đến hạn Nợ quá hạn (Bad Debt) là các khoản nợ mà hầu như không có khả năng thanh toán, nợ tồn đọng dây dưa khó có thể thu hồi Theo tiêu chuẩn quốc tế, nợ quá hạn là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được
và không được tái cơ cấu
Các ngân hàng thương mại cổ phần lớn trên thế giới hiện nay phân loại
nợ quá hạn gắn với nguyên nhân xảy ra để xác định mức độ rủi ro tương ứng Theo một số tiêu chí của ngân hàng thương mại cổ phần Trung ương Liên minh Châu Âu, có thể xác định nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM) như sau:
+ Những khoản nợ không thể thu hồi được:
(i) Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ đòi bồi thường; (ii) Người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ;
(iii) Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ nhưng vẫn còn lại không thể đền bù, hoặc những khoản nợ được thanh toán bằng cách bán tài sản thế chấp nhưng vẫn chưa trang trải toàn bộ nợ;
(iv) Những khoản nợ mà người mắc nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh (HĐKD) hoặc thanh lý tài sản
Trang 15(v) Hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
+ Những khoản nợ có thể không thanh toán toàn bộ cho NH:
(i) Những khoản nợ mà ngân hàng thương mại cổ phần không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ;
(ii) Những khoản nợ mà người trả nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu sắp xếp lại lịch trả nợ nhưng không đền bù được nợ trong thời gian thỏa thuận;
(iii) Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ và hoàn trả khi đến hạn, hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng thương mại cổ phần không hợp pháp và HĐKD của người mắc nợ bị thua lỗ trong một vài năm, hoặc việc kinh doanh bị chấm dứt, hoặc đang trong quá trình thanh lý tài sản và điều đó cho thấy khách hàng không thể trả nợ cho ngân hàng thương mại cổ phần đầy đủ;
(iv) Những khoản nợ đến hạn thanh toán và hoàn cảnh cho thấy sự can thiệp của Tòa án phải được thực hiện đến cùng hoặc Tòa án can thiệp buộc việc trả nợ phải được thực hiện;
(v) Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ bị phá sản và ngân hàng thương mại cổ phần đã yêu cầu trả nợ và cho rằng phần bồi hoàn
(i) Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng thương mại cổ phần khi các cam kết này đến hạn;
Trang 16(ii) Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến việc Ngân hàng thương mại cổ phần có thể không thu hồi được cả vốn lẫn lãi;
(iii) Tài sản bảo đảm (TSBĐ) (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi;
(iv) Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước (NHNN) ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) (sau đây gọi tắt là Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN) và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 bổ sung một số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ quá hạn và nợ quá hạn được hiểu như sau:
(i) Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn
(ii) Nợ quá hạn (Non-Performing Loan - NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm:
• Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3): là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến
180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả năng tổn thất một phần
nợ gốc và lãi;
• Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4): gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao;
• Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5): gồm các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu
Trang 17lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Ngoài ra, trong trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với TCTD mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì TCTD bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro; trường hợp các khoản
nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà TCTD có
đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì TCTD chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro
1.1.2.2 Bản chất nợ quá hạn
Nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng là hiện tượng khi đến thời hạn thanh toán các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng mà người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng theo hợp đồng
Như vậy, nợ quá hạn chính là kết quả mối quan hệ tín dụng không thành công, nó vi phạm những điểm đặc trưng cơ bản của hoạt động tín dụng đầu tiên là thời hạn, sau đó là tính hoàn trả đầy đủ gây nên sự đổ vỡ lòng tin của bên cấp tín dụng là các ngân hàng thương mại cổ phần Một khoản tín dụng được cấp luôn được ác định bởi hai yếu tố là: thời hạn hoàn trả vả lượng giá trị được hoàn trả Nợ quá hạn phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo hợp đồng, người đi vay không có khả năng trả nợ một phần hoặc toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng
1.2 NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NỢ QUÁ HẠN
Tùy vào đặc điểm của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ở từng quốc gia mà nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn có những tính chất đặc thù riêng Ở đây tác giả chỉ xem xét những nguyên nhân chung nhất và cung cấp
Trang 18cho người đọc một lối tư duy tiếp cận để có thể tự vận dụng xem xét vấn đề này trong từng hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần hoặc một ngân hàng thương mại cổ phần cụ thể
1.2.1 Nguyên nhân
1.2.1.1 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng thương mại cổ phần
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần, cũng giống như mọi giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần khác luôn chịu tác động bởi vấn
đề thông tin không cân xứng Thông tin không cân xứng được hiểu là sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên trong giao dịch có được Nó sẽ gây
ra rủi ro cho ngân hàng thương mại cổ phần ở hai mặt: lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch Lựa chọn đối nghịch xảy ra khi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn (tức là những rủi ro không trả được nợ) lại là những người tích cực tìm vay nhất và
do vậy là người có nhiều khả năng được lựa chọn nhất Rủi ro đạo đức là vấn
đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức xảy ra khi người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, bởi vì những hoạt động này làm cho món vay ít có khả năng được thanh toán đầy đủ và đúng hạn
Xuất phát từ đặc điểm này trong hoạt động cho vay mà ngân hàng thương mại cổ phần phải xây dựng cho mình một quy trình tín dụng chặt chẽ,
hệ thống thẩm định dự án xin vay và hệ thống đánh giá, kiểm soát mức độ rủi
ro tín dụng của các khoản cho vay Khi một trong hai nghiệp vụ lựa chọn khoản vay và giám sát khoản vay của ngân hàng thương mại cổ phần không được thực hiện tốt, tất yếu sẽ làm phát sinh các khoản nợ quá hạn
Tựu chung, có ba nguyên nhân chính từ phía ngân hàng thương mại cổ phần dẫn đến nợ quá hạn:
Trang 19- Sự thiếu chặt chẽ, hợp lý trong quy chế hoạt động hoặc quy trình nghiệp vụ của ngân hàng thương mại cổ phần: Hoạt động ngân hàng thương mại
cổ phần luôn luôn thay đổi và phát triển nên yêu cầu về cải tiến, bổ sung và chỉnh lý quy định và quy trình hoạt động là nhu cầu cần thiết Ngân hàng thương mại cổ phần thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, phù hợp với đặc điểm và thực trạng nền kinh tế có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng về nợ quá hạn
- Trình độ yếu kém của cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần: Việc phân tích đánh giá khả năng trả nợ cũng như tình hình tài chính của khách hàng là một nghệ thuật đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng nhạy bén của cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần Cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém cũng dẫn đến việc ngân hàng thương mại cổ phần không kịp thời đề ra được các giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường khả năng trả nợ của khách hàng khi món vay xuất hiện những dấu hiệu yếu kém
- Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần: Như đã nói ở trên, các quyết định cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần phụ thuộc một phần vào chủ quan của cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần Do đó cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần tham nhũng tất yếu dẫn đến nguy cơ các khoản nợ quá hạn tăng cao
1.2.1.2 Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài
Nguồn: Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước Việt Nam
Sơ đồ 1.1: Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài của nợ quá hạn
chính khác
Thông tin và cạnh tranh
Chính sách
Chính sách
Trang 20- Từ phía Chính phủ: Chính phủ, với chức năng điều hành nền kinh tế
vĩ mô và thiết lập môi trường pháp lý, sẽ có tác động không chỉ trực tiếp đến
hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần mà còn tác động gián tiếp thông qua các thực thể kinh tế khác là khách hàng của ngân hàng thương mại cổ phần Khi những chính sách kinh tế vĩ mô có những thay đổi bất thường, không đồng bộ, tạo ra một môi trường pháp lý và môi trường hoạt động bất ổn, không thể dự đoán trước đối với các ngân hàng thương mại cổ phần với tư cách là người cho vay và với doanh nghiệp với tư cách là người đi vay thì cả hai đối tượng này sẽ gặp phải những rủi ro tất yếu dẫn đến tình trạng nợ quá
hạn tăng cao
- Từ phía khách hàng: Khách hàng đôi khi gặp phải những khó khăn không thể lường trước và nằm ngoài ý muốn chủ quan như sự thay đổi của môi trường vĩ mô, sự biến động về kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, sự cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường, biến động chung của nền kinh tế thế giới, chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn
- Từ phía các tổ chức tài chính khác: Các tổ chức tài chính khác tác động đến ngân hàng thương mại cổ phần trên hai phương diện: thông tin và sự cạnh tranh Hệ thống thông tin giữa các TCTD là một trong những nhân tố quan trọng nhằm đảm bảo cho hệ thống tài chính của một quốc gia vận hành
ổn định và bền vững Thông tin được chia sẻ giúp cho ngân hàng thương mại
cổ phần hạn chế được vấn đề thông tin không cân xứng và đánh giá đúng hơn tình trạng tài chính và khả năng chi trả của khách hàng, do đó là giảm tỷ lệ nợ quá hạn Ngược lại, nếu không dựa trên cơ sở đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại cổ phần với nhau và với các TCTD khác có thể dẫn tới nguy cơ nợ quá hạn tăng cao
1.2.2 Tác động của nợ quá hạn trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần tới nền kinh tế
Nợ quá hạn hình thành do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách
Trang 21quan mà không một ngân hàng thương mại cổ phần nào có thể hoàn toàn kiềm chế được Bởi vậy mà tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ ở một mức độ nhất định (dưới 5%) là được chấp nhận và không gây ra vấn đề lớn cho ngân hàng thương mại cổ phần và nền kinh tế Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ quá hạn vượt mức tiêu chuẩn sẽ đe dọa đến sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần và toàn bộ nền kinh tế
1.2.2.1 Tác động của nợ quá hạn trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần tới bản thân ngân hàng thương mại cổ phần
- Nợ quá hạn ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và kế hoạch kinh
doanh của ngân hàng thương mại cổ phần: Thứ nhất, nợ quá hạn buộc ngân
hàng thương mại cổ phần phải trích lập dự phòng rủi ro, do đó làm giảm khả
năng cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Thứ hai, các khoản nợ vay
của khách hàng không được thanh toán đúng hạn gây ra sự thiếu hụt về lượng tiền so với dự tính của ngân hàng thương mại cổ phần, do đó tác động tới kế hoạch kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Chẳng hạn ngân hàng thương mại cổ phần sẽ không thể có các món cho vay mới, thực hiện thanh toán lại đúng hạn cho các quỹ cho vay hoặc đáp ứng yêu cầu rút tiền tiết kiệm của khách hàng trên cơ sở lượng tiền lẽ ra thu được
- Nợ quá hạn làm tăng chi phí của ngân hàng thương mại cổ phần: như chi phí thời gian, chi phí dự phòng, chi phí cho các biện pháp để tăng cường khả năng thu hồi vốn, chi phí để phân tích rộng hơn các danh mục vốn đầu tư,
chi phí pháp luật để tiến hành quyền truy đòi
- Nợ quá hạn làm giảm khả năng thu lợi nhuận của ngân hàng thương mại cổ phần: Lợi nhuận của ngân hàng thương mại cổ phần được hình thành
từ các khoản thu, trong đó thu lãi cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất Nợ quá hạn không những làm giảm doanh thu dự kiến của ngân hàng thương mại cổ phần mà còn làm tăng chi phí, do đó lợi nhuận của ngân hàng thương mại cổ
Trang 22phần càng giảm Nợ quá hạn làm giảm tổng dư nợ và lợi nhuận trong giai đoạn này tiếp tục sẽ kéo theo làm giảm doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn sau
- Tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ làm giảm uy tín của các NHTM, do đó giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Việc huy động vốn của ngân hàng thương mại cổ phần gặp khó khăn do người gửi tiền không tin tưởng vào hiệu quả hoạt động và tính thanh khoản của ngân hàng thương mại
- Nếu tỷ lệ nợ quá hạn quá cao (mức độ rủi ro cao), hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần sẽ nhạy cảm với các biến động trên thị trường đặc biệt là các biến động bất ngờ của thị trường tài chính quốc tế do tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần thấp
- Khi những dấu hiệu không lành mạnh của ngân hàng thương mại cổ phần trở nên rõ ràng, có thể có một phản ứng dây chuyền nguy hiểm khi người gửi tiền đồng loạt rút tiền khỏi hệ thống, gây sụp đổ hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 231.2.2.3 Tác động của nợ quá hạn trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần tới tăng trưởng kinh tế
- Như đã phân tích, tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng thương mại cổ phần và do đó cũng làm tăng chi phí của món vay Tới lượt nó, chí phí đi vay tăng phản ánh giá cả của đầu tư tăng dẫn đến việc hạn chế đầu tư trong nền kinh tế
- Nợ quá hạn phản ảnh tính không hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần trong việc phân bổ nguồn vốn đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi Hậu quả là lợi ích kinh tế của cả ngân hàng thương mại cổ phần, người gửi tiền và người muốn đi vay đều không được tối đa hóa, nền kinh tế ở vào điểm chưa hiệu quả
- Tỷ lệ nợ quá hạn cao dẫn đến sự thiếu tin tưởng của công chúng vào
hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, làm cho khả năng huy động nguồn tài chính trong dân cư kém, tỷ lệ tích lũy nội bộ thấp Đây lại là nguyên nhân hạn chế tăng trưởng dài hạn và làm cho tăng trưởng có khuynh hướng lệ thuộc vào bên ngoài
1.3 PHƯƠNG THỨC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XỬ
LÝ CÁC KHOẢN NỢ QUÁ HẠN PHÁT SINH
Trong xử lý các khoản nợ vay quá hạn các NHTM thường có hai lựa
chọn tổng quát - đầu tư, khai thác hoặc phát mại, thanh lý - và trong mỗi sự lựa chọn có những cách làm khác nhau:
(i) Đầu tư, khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công
cụ pháp lý để yêu cầu khách hàng trả nợ
(ii) Phát mại, thanh lý là buộc người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả biện pháp pháp lý để đạt mục tiêu thu hồi nợ
Trang 24Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà Ngân hàng thương mại
cổ phần sẽ theo đuổi để xử lý các khoản nợ vay này nổi bật nhất là khó khăn trong việc thu hồi nợ và tổn thất có thể xảy ra đối với khoản cho vay Trong trường hợp này, Ngân hàng thương mại cổ phần phải áp dụng hình thức thu đòi bắt buộc theo luật Bên cạnh đó, Ngân hàng thương mại cổ phần cũng sẽ xem xét đến các yếu tố khác như thái độ hợp tác, thiện chí của người vay đối với các khoản nợ để chọn phương pháp thích hợp Trong việc xử lý ngoài phạm vi của Tòa án, sự sắp xếp các việc phải làm cần được những người liên quan chấp nhận
Có thể nói, việc xử lý những khoản cho vay xấu là một nghệ thuật và khó nói được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của ngân hàng thương mại
cổ phần đến mức nào trong việc xử lý các khoản nợ vay này Cụ thể:
Trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần lựa chọn phương pháp đầu
tư, khai thác: người vay được phép tự khắc phục các khó khăn tài chính và
hoàn trả các khoản nợ cho ngân hàng thương mại cổ phần càng nhanh càng tốt Phương pháp này được mô tả như một chương trình phục hồi áp đặt lên người vay, với sự thỏa thuận và cộng tác của họ Theo đó, ngân hàng thương mại cổ phần sẽ áp dụng các biện pháp trong phù hợp các tình huống đặc biệt như: (i) Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có lời khuyên nhằm tác động đến khả năng tạo ra và thu lợi tức của người vay; (ii) gia hạn hoặc điều chỉnh hợp đồng cho vay để giảm bớt quy mô hoàn trả; (iii) cấp phát thêm vốn nhằm tạo cho người vay có được vị thế tài chính mạnh hơn, (iv) ngân hàng thương mại
cổ phần nắm phần chủ động trong HĐKD hay thậm chí đảm nhận việc kinh doanh và điều hành doanh nghiệp cho đến khi đảm bảo rằng khoản nợ vay đã được hoàn trả
Trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần lựa chọn phương pháp phát mại, thanh lý: nếu ngân hàng thương mại cổ phần thấy rõ là việc tổ chức
Trang 25đầu tư, khai thác không tiện lợi, sự thanh lý dưới một vài hình thức được coi
là biện pháp tối ưu để xử lý các khoản nợ vay này Thường thì các NHTM không muốn chọn phương pháp này vì đây là cách cuối cùng và đôi khi thủ tục pháp lý rắc rối, mất nhiều thời gian [12] Nếu khoản nợ vay được bảo đảm, có thể trong một giai đoạn nào đó vật thế chấp sẽ mất giá đáng kể do người vay sử dụng sai mục đích vay vốn hoặc TSBĐ không được bảo quản tốt Tuy nhiên, trong trường hợp khối lượng nhận được từ việc bán vật thế chấp không đủ thanh toán nợ, Ngân hàng thương mại cổ phần có thể nhận phán quyết của Tòa án về khoản chênh lệch Với phán quyết đó, cho phép Ngân hàng thương mại cổ phần có quyền thu thêm, nếu người vay còn các tài sản khác có thể bán thu hồi nợ cho ngân hàng thương mại cổ phần
1.4 MÔ HÌNH XỬ LÝ NỢ XẤU Ở CÁC NƯỚC
1.4.1 Một số mô hình xử lý nợ quá hạn trên thế giới
Như đã nói ở trên, tỷ lệ nợ quá hạn cao chứa đựng khả năng khủng hoảng hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, làm tăng chi phí hoạt động, giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đối với nền kinh tế Tuy được giải quyết trong những thời điểm khác nhau, theo những phương thức khác nhau, thu được những kết quả khác nhau, nhưng các mô hình xử lý nợ trên thế giới đều là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình xử lý nợ quá hạn hiện nay, tiến tới xây dựng một hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động lành mạnh, an toàn và hiệu quả
Hiện nay trên thế giới có hai mô hình xử lý nợ quá hạn chủ yếu: mô hình xử lý nợ tập trung (centralize model) và mô hình xử lý nợ phi tập trung (decentralize model)
1.4.1.1 Mô hình xử lý nợ tập trung
a Ưu và nhược điểm của mô hình
Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò là đầu tàu trong việc xử lý
Trang 26nợ Các khoản nợ quá hạn chuyển giao từ các TCTD được tập trung xử lý tại một cơ quan duy nhất do Nhà nước lập ra, đó là công ty xử lý nợ quốc gia
Ưu điểm quan trọng nhất của mô hình này đó là cơ quan xử lý nợ quốc
gia này sẽ có nguồn vốn lớn do ngân sách nhà nước cấp Nguồn vốn dồi dào này cho phép các công ty mua các khoản nợ trực tiếp từ ngân hàng thương mại cổ phần, làm sạch bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại cổ
phần, giúp các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn để tiếp tục HĐKD Thứ
hai, việc xử lý nợ tập trung sẽ mang lại lợi ích kinh tế theo qui mô Công ty
xử lý nợ quốc gia nắm giữ những khoản nợ lớn, đặc biệt khi các công ty lớn là con nợ khó đòi của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trong nền kinh tế
Do vậy, công ty này có thể gây áp lực lên các con nợ nhằm xử lý nợ hiệu quả hơn Lợi thế theo qui mô cũng giúp công ty quản lý nợ quốc gia dễ dàng hơn
trong việc quản lý nợ, chứng khoán hóa các khoản nợ Thứ ba, công ty quản
lý nợ quốc gia có quyền lực mạnh hơn trong nền kinh tế so với công ty AMC của ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt trong việc áp dụng các chuẩn
mực, ban hành các chính sách đặc biệt để thu hồi nợ khó đòi Cuối cùng, việc
nắm giữ các khoản nợ khó đòi của AMC quốc gia đã phá vỡ những quan hệ truyền thống giữa ngân hàng thương mại cổ phần và doanh nghiệp có nợ tồn đọng, do đó nâng cao hiệu quả xử lý nợ
Bên cạnh những lợi thế đó, mô hình xử lý nợ tập trung cũng có những điểm bất lợi như: Công ty quản lý nợ quốc gia phải chịu các áp lực chính trị, không được độc lập trong việc quyết định Ngoài ra công ty quản lý nợ quốc gia sẽ không thể có đầy đủ thông tin về một khoản nợ cũng như các cán bộ xử
lý nợ nhiều kinh nghiệm như ở hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần cơ sở Một bộ máy tổ chức cồng kềnh, đa cấp cũng hạn chế sự năng động trong các
tổ chức này [10]
b Kinh nghiệm các quốc gia
Một điển hình trong việc xử lý nợ theo mô hình tập trung là công ty xử
Trang 27lý tài sản quốc gia của Hoa Kỳ (the Resolution Trust Company in the United States) Kết quả xử lý nợ của công ty này rất khả quan Tổng số tài sản được
xử lý là 465 tỉ USD, bằng 8.5% tổng tài sản trong khu vực tài chính, tương đương 8,5 % GDP của Hoa Kỳ năm 1989 [36]
Nguyên nhân thành công của mô hình này, theo nhiều chuyên gia kinh
tế, đó là do chất lượng tài sản đảm bảo cao, dễ dàng chuyển nhượng, chứng khoán hóa và bán trên thị trường tài chính lớn mạnh nhất thế giới Nguyên nhân thứ hai là do nguồn nhân lực của công ty này chủ yếu lấy từ quĩ dự trữ liên bang, nơi các nhân viên rất có kinh nghiệm trọng việc xử lý các tổ chức tài chính khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản Nguyên nhân thứ ba, đó là mô hình
tổ chức của công ty này dựa nhiều vào các nhà thầu tư nhân trong việc định giá, quản lý, bán tài sản, do đó nâng cao được giá trị các khoản nợ bán ra
Tuy vậy, điểm tồn tại trong mô hình này, đó là chi phí xử lý nợ quá hạn quá cao (bằng 20% giá trị tài sản được chuyển nhượng) Nguyên nhân chủ yếu là do công ty xử lý nợ quốc gia đặt ra quá nhiều mục tiêu không nhất quán để thực hiện trong thời gian ngắn và những khoản tài trợ của chính phủ được cung cấp một cách không thường xuyên
Các con rồng châu Á cũng sử dụng mô hình công ty AMC quốc gia trong thời kì hậu khủng hoảng 1997 Cuộc khủng hoảng tài chính đã làm cho một loạt các ngân hàng thương mại cổ phần và tổ chức tài chính bị phá sản hoặc rơi vào tình trạng báo động Tỉ lệ nợ quá hạn tăng lên ở mức rất cao Để giải quyết tình trạng này, dù sớm hay muộn các nước Châu Á đều thành lập các công ty xử lý
nợ quốc gia như Indonesia Bank Restructuring Agency (IBRA), Korea Asset Management Company (KAMCO), Thai Asset Management Company (TAMC), DANAHARTA của Malaysia Kết quả là chỉ sau 7 năm, các công ty này đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ IBRA đã ngừng hoạt động, TAMC và DANAHARTA dự kiến ngừng hoạt động vào năm 2005 và KAMCO đã tham gia xử lý nợ quá hạn từ 125 tỉ USD xuống còn 15 tỉ USD [10]
Trang 28Đặc điểm chung của các khoản nợ trên là chúng đều có tính chất tạm thời do cuộc khủng hoảng xảy ra quá đột ngột, các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán tiền cho ngân hàng thương mại cổ phần làm nợ quá hạn tăng quá mức Chính vì tính thời điểm đó, nên sau khi cuộc khủng hoảng đi qua, các con nợ lại có thể tiếp tục hoạt động và có nỗ lực trả nợ Đây là nguyên nhân chính giúp cho công ty xử lý nợ ở các quốc gia trên có thể xử lý nợ quá hạn một cách nhanh chóng
Một nền kinh tế chuyển đổi khác cũng sử dụng mô hình tập trung trong việc xử lý nợ quá hạn đó là Cộng hòa Séc Tất cả các khoản nợ quá hạn của
hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần được chuyển về một cơ quan xử lý
nợ trung ương (Centralize Hospital Bank) Nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại cổ phần với mục tiêu xây dựng bốn ngân hàng thương mại
cổ phần quốc doanh trụ cột cho nền kinh tế Tuy vậy, mô hình này đã không đạt được những kết quả như mong muốn Nguyên nhân thất bại được kể đến đầu tiên là các ngân hàng thương mại cổ phần và các doanh nghiệp có quan
hệ quá sâu, các ngân hàng thương mại cổ phần nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp, do đó ngân hàng thương mại cổ phần vừa là chủ nợ vừa là con nợ Điều này làm cho khối lượng nợ quá hạn tiếp tục gia tăng và hạn chế nỗ lực đòi nợ của ngân hàng thương mại cổ phần Thứ hai, hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần của Cộng hòa Séc không có được sự độc lập trong hoạt động, thiếu tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Ngay cả sau khi cổ phần hóa, vốn của Nhà Nước vẫn chiếm hơn 50% trong cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại cổ phần
1.4.1.2 Mô hình xử lý nợ phi tập trung
a Ưu và nhược điểm của mô hình
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại cổ phần tự lập ra bộ phận
xử lý nợ hay công ty AMC là một công ty con trong ngân hàng thương mại cổ
Trang 29phần mẹ AMC được các ngân hàng thương mại cổ phần trực tiếp cấp vốn, phân bổ nguồn nhân sự, và hoạt động nhằm mục đích xóa nợ cho ngân hàng thương mại cổ phần mẹ
Có rất nhiều ưu thế trong việc xử lý nợ bằng mô hình AMC của
NHTM Trước hết, do AMC trực thuộc ngân hàng thương mại cổ phần nên
việc thu thập thông tin về khoản vay khó đòi dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho
việc xử lý nợ Thứ hai, việc các ngân hàng thương mại cổ phần tự xử lý khoản
vay khó đòi sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần nói chung Ngân hàng thương mại cổ phần sẽ tìm mọi cách để tối đa hóa
tỉ lệ phục hồi tài sản, hạn chế phát sinh các khoản nợ quá hạn bằng cách kiểm
soát lại qui trình cho vay, quản lý và giám sát khoản vay Thứ ba, ngân hàng
thương mại cổ phần cũng thuận lợi hơn trong việc cung cấp các khoản tài trợ, tăng thêm mà nó thấy cần thiết trong quá trình cơ cấu lại nợ quá hạn Mặt khác, bộ máy tổ chức của AMC của NHTM gọn nhẹ, hạch toán độc lập nên năng động hơn trong việc xử lý các khoản nợ và định giá tài sản
Tuy nhiên, AMC của NHTM lại không thể có những ưu thế to lớn của như AMC quốc gia như chúng ta đã trình bày ở trên Hơn nữa, AMC của các NHTM chỉ hoạt động hiệu quả khi có ít mối liên hệ ràng buộc giữa ngân hàng thương mại cổ phần và doanh nghiệp Nếu ngân hàng thương mại cổ phần nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp, thì ngân hàng thương mại cổ phần sẽ vừa là con nợ, vừa là chủ nợ, do đó sẽ hạn chế nỗ lực xử lý
nợ quá hạn Điểm cuối cùng, việc các ngân hàng thương mại cổ phần tự thành lập AMC cho mình sẽ có thể gây ra vấn đề "rủi ro đạo đức", nghĩa là các ngân hàng thương mại cổ phần sẽ chuyển các khoản nợ quá hạn theo giá trị sổ sách (cao hơn nhiều so với giá thị trường) cho AMC, do đó ngân hàng thương mại cổ phần sẽ có một bản tổng kết tài sản đẹp, nhưng không
có ý nghĩa gì trong việc xử lý nợ
Trang 30b Kinh nghiệm các quốc gia
Các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu đã sử dụng mô hình AMC này trong việc giải quyết các khoản nợ quá hạn Hai nước đã áp dụng khá thành công mô hình, đó là Hungary và Ba Lan Sau đây cũng là một số đúc rút đã được nghiên cứu về nguyên nhân thành công ở hai nước
Tại Hungary, chính phủ nước này đã thực hiện hai đợt tái cấp vốn lớn cho hệ thống NHTM quốc doanh Mục tiêu của chính phủ là cổ phần hóa các NHTM Trong khi tái cấp vốn, danh mục nợ của ngân hàng thương mại cổ phần được chia ra thành nợ tốt và nợ không tốt Các khoản nợ không tốt sẽ được chuyển giao sang công ty xử lý nợ quá hạn AMC Phương pháp này đã thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài, tăng vốn cho ngân hàng thương mại
cổ phần, đưa hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Hungary trở thành hệ thống mạnh trong các nền kinh tế chuyển đổi
Kinh nghiệm của Hungary cho thấy tầm quan trọng của việc vận hành độc lập hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần, giảm thiểu tác động của Chính phủ và các khách hàng lớn Tái cấp vốn và cổ phần hóa với sự tham gia chủ yếu của các nhà đầu tư nước ngoài là hai công cụ chính hiệu quả nhất trong mô hình này
Tại Ba Lan, công cụ chính được sử dụng để giải quyết nợ quá hạn là tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp thông qua việc chuyển nợ thành vốn chủ sở hữu hoặc giải quyết thủ tục phá sản Tuy vậy, mô hình này không đạt được hiệu quả do sự ràng buộc chặt chẽ giữa ngân hàng thương mại cổ phần và các khách hàng lớn kém hiệu quả Những khoản tín dụng mới của ngân hàng thương mại cổ phần dành cho ba khách hàng lớn nhất đã vượt quá tổng khối lượng tái cấp vốn của ngân hàng thương mại cổ phần
Mô hình của Trung Quốc Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt trong việc lựa chọn mô hình xử lý nợ quá hạn Hệ thống ngân hàng thương mại cổ
Trang 31phần Trung Quốc có qui mô lớn, tổng mức dư nợ gấp 1,5 lần GDP Nhà nước
đã bỏ vốn thành lập bốn công ty AMC, nhưng các công ty này không phải là AMC quốc gia, mà chỉ chịu trách nhiệm giải quyết nợ tồn đọng cho các NHTM quốc doanh lớn nhất Các AMC của NHTM quốc doanh này do Bộ Tài chính
và Ngân hàng thương mại cổ phần Trung ương Trung Hoa trực tiếp quản lý và điều hành, nhưng đồng thời cũng có mối liên hệ mật thiết với ngân hàng thương mại cổ phần "mẹ" Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng được phép
tự xử lý những khoản nợ tồn đọng của mình mà không thông qua AMC
Kết quả xử lý nợ quá hạn của Trung Quốc không khả quan như mong đợi Trong tổng số 170 tỉ USD được chuyển giao cho AMC, chỉ có 17 tỉ USD
là được thu hồi, và 45 tỉ USD khác được chuyển đổi thành vốn cổ phần Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng chỉ tự xử lý được 13 tỉ USD trong tổng
số 245 tỉ USD nợ quá hạn Kết quả khiêm tốn này có thể giải thích ở nhiều góc độ, nhưng theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do các ngân hàng thương mại cổ phần Trung Quốc gặp khó khăn trong việc xác định
con nợ thực sự và tạo cho con nợ nỗ lực trả nợ [41]
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua việc nghiên cứu các mô hình trên, chúng ta có thể thấy một số điểm chung trong nguyên nhân thành công của mô hình xử lý nợ quá hạn ở các nước:
- Chất lượng TSBĐ: tài sản đảm bảo có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường tài chính là yếu tố quan trọng quyết định giá trị
và thời gian thanh lý khoản nợ quá hạn được bảo đảm bằng tài sản đó Do vậy, để ngăn ngừa và xử lý nhanh các khoản nợ quá hạn, ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cần có các quy định cụ thể và chặt chẽ về TSBĐ, năng cao hiệu quả của công tác định giá TSBĐ Đồng thời, Việt Nam cũng cần phát triển mạnh thị trường mua bán nợ; sự tham gia của các công ty định mức tín nhiệm, công ty bảo lãnh, các nhà tư vấn tài chính vào thị trường sẽ giảm
Trang 32bớt vấn đề thông tin bất đối xứng, làm cho khoản nợ đáng tin cậy hơn với nhà đầu tư và nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường
- Tiềm lực và nỗ lực trả nợ của con nợ: Nếu như trong mô hình các nước NICs, các con nợ phục hồi sau cuộc khủng hoảng và trả nợ thì trong mô hình Trung Quốc, do con nợ chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động kém hiệu quả nên rất khó khăn trong việc xử lý nợ quá hạn Vì vậy, con đường nâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam về lâu dài vẫn là cổ phần hóa các DNNN
- Sự độc lập và tự chủ của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Sự phụ thuộc của ngân hàng thương mại cổ phần vào chính phủ sẽ làm giảm tính năng động của ngân hàng thương mại cổ phần, giảm khả năng cạnh tranh và sức chống đỡ đối với những rủi ro kinh tế vĩ mô
- Trình độ chuyên môn của cán bộ trong công tác xử lý nợ quá hạn: Xử
lý nợ là một qui trình phức tạp, liên quan đến nhiều kiến thức đa dạng như định giá tài sản, bán, quản lý và khai thác tài sản… Ta có thể thấy, một trong những yếu tố tiên quyết trong thành công của Công ty xử lý nợ quốc gia Hoa
Kỳ là do họ có đội ngũ cán bộ chủ chốt với trình độ và kinh nghiệm rất cao được thuyên chuyển từ Cục dự trữ liên bang
- Sự hỗ trợ của các yếu tố nước ngoài: Sự hỗ trợ ở đây được đề cập đến trên hai khía cạnh vốn và kinh nghiệm Điều này lại càng có ý nghĩa hơn đối với Việt Nam khi mà yếu tố nội lực và trình độ ngân hàng thương mại cổ phần còn nhiều hạn chế, và hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đang trong giai đoạn cải tổ một cách toàn diện
- Hệ thống pháp lý đồng bộ, trao những quyền hạn đặc biệt cho AMC trong những khoảng thời gian nhất định để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ quá hạn: Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Thụy Điển thành công trong vấn đề xử lý nợ quá hạn một phần cũng do hệ thống luật AMC, luật phá sản và phát mại tài sản ở nước này rất minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xử lý nợ
Trang 33Chương 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ
VỀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
2.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1.1 Căn cứ xác định nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Để xác định một khoản tiền mà TCTD cho khách hàng vay đã quá hạn hay chưa thì căn cứ vào các văn bản pháp luật do nhà nước, Chính phủ, các
Bộ, Ban ngành ban hành Cụ thể, tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN đã quy định về phân loại nợ thành 5 nhóm theo phương pháp định lượng như sau:
• Nhóm 1: (Nợ đủ tiêu chuẩn)
• Nhóm 2: (Nợ chú ý) Nhóm có nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ
đã đượ cơ cấu lại
• Nhóm 2: (Nợ dưới tiêu chuẩn) Nhóm có nợ quá hạn dưới 90 ngày đến
180 ngày hoặc khoản nợ đã được cơ cấu lại nhưng nợ quá hạn vẫn dưới 90 ngày
• Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Các khoản nợ quá hạn trên 180 ngày đến 360
ngày hoặc các khoản nợ đã được cơ cấu lại nhưng vẫn quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại
• Nhóm 5: Nhóm có khả năng mất vốn
Mục tiêu của việc phân chia này để áp dụng các biện pháp cần thiết trích lập dự phòng (nợ nhóm 1: 0%; nợ nhóm 2: 5%; nợ nhóm 3: 20%; nợ nhóm 4:50%; nợ nhóm 5:100%)
Nếu xét ở góc độ an toàn tín dụng đơn thuần thì đây là biện pháp phòng
Trang 34ngừa và sẵn sang xử lý rủi ro Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ các TCTD thì cần cân nhắc quy định cho phù hợp Nếu sử dụng phương pháp xếp hạng khách hàng cứng nhắc thì sẽ dẫn đến tình trạng nợ nhóm 3 đến nhóm 5 của các TCTD sẽ có thể ở mức rất cao, làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn của toàn hệ thống Như vậy việc phân loại nợ quá hạn căn cứ vào thời gian quá hạn chưa phản ánh đúng tình hình nợ quá hạn của NHTM bởi trên thực tế có những khoản nợ tuy chưa đến thời hạn thanh toán nhưng khoản nợ đó có nguy cơ bị mất do khách hàng vay gặp rủi ro thì theo cách phân loại trên sẽ bị bỏ sót
Theo phương pháp định tính tại Điều 7 Quyết định số NHNN thì việc phân loại nợ được quy định như sau:
493/2005/QĐ-• Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh
giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
• Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá
là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
• Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản
nợ này được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
• Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được TCTD đánh giá
là khả năng tổn thất cao
• Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được
TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Việc phân loại nợ theo phương pháp định tính như trên đã tiến dẫn đến cách phân loại nợ của thế giới, đánh giá được đúng thực trạng nợ quá hạn, nợ quá hạn ở khối các NHTM Quyết định trên đặt ra yêu cầu quản lý nợ, kiểm soát rủi ro cao hơn đối với các TCTD và việc thi hành Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN sẽ đánh giá đúng bản chất và chất lượng tín dụng ở các
Trang 35TCTD Việc thi hành quyết định này đòi hỏi các ngân hàng thương mại cổ phần phải có nhiều thay đổi ví dụ như yêu cầu đủ vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn khác để trích lập dự phòng rủi ro cũng như thay đổi liên quan đến
cơ cấu tổ chức, nhân sự, hệ thống thông tin, dữ liệu để quản lý nợ quá hạn Mặt khác, các quy định mới cũng đặt ra yêu cầu đối với NHNN trong việc phát triển cơ cấu tổ chức và nhân sự để đáp ứng nhu cầu thực tế NHNN sẽ có thông tin chính xác hơn về các khoản nợ quá hạn, nợ quá hạn, chất lượng hoạt động tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống TCTD, đồng thời NHNN có thể chủ động và có tầm nhìn bao quát hơn trong đánh giá khả năng quản lý, kiểm soát nội bộ và khả năng chịu đựng rủi ro của các chủ thể này Không những thế, NHNN sẽ có khả năng quản lý và thanh tra giám sát các TCTD một cách hiệu quả hơn Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN còn là công cụ
hỗ trợ thực hiện đánh giá TCTD Sau một thời gian ban hành quy định ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần của các TCTD, vừa qua NHNN đã sửa đổi, bổ sung một số điều trong văn bản pháp luật này bằng Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN cụ thể, rõ rang và phù hợp với điều kiện thực tế của các TCTD là các tiêu chí mà NHNN hướng đến khi soạn thảo ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN đã quản lý rủi ro chặt chẽ hơn đối với các cam kết
Theo Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN thì các khoản bảo lãnh, chấp nhận thanh toán và cam kết cho vay không hủy ngang vô điều kiện và có thời điểm thể hiện cụ thể (gọi chung là cam kết ngoại bảng) phải được TCTD đánh giá phân loại theo 5 nhóm thay vì phân vào một nhóm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Điều này có nghĩa là các cam kết ngoại bảng có rủi ro tín dụng tương đương với các khoản nợ nội bảng được phân loại chặt chẽ hơn
và cũng phản ánh chính xác hơn rủi ro tín dụng của các TCTD
Trang 36Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN với đặc thù là các quy định mang tính nguyên tắc nên đồi hỏi khi triển khai thực hiện, TCTD cần căn cứ tính hình cụ thể thực tế và các quy định liên quan để đưa ra các hướng dẫn nội bộ chi tiết, phù hợp với đặc thù nội bộ của cơ quan, đảm bảo quản lý rủi ro tín dụng tốt
Tại cuộc tọa đàm về thực hiện các quy định an toàn và quản lý rủi ro tại TCTD Việt Nam do NHNN tổ chức vào cuối năm 2009, các chuyên gia khuyến cáo cần phải có lộ trình để các TCTD triển khai thống nhất cách phân loại nợ theo phương pháp định tính, theo Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN thay vì định lượng NHNN cho rằng việc các TCTD chủ yếu phân loại
nợ theo định lượng (theo kỳ hạn trả nợ đã được gia hạn nợ hoặc cơ cấu lại nợ) khiến tỷ lệ nợ quá hạn chưa phản ánh chất lượng tín dụng thực tế Đây là một trong những nguyên nhân làm TCTD chưa xác định được chính xác (ở mức
độ cho phép) mức độ rủi ro hiện có và rủi ro tiềm năng
Vấn đề đánh giá các khoản vay, chất lượng tài sản sẽ trở thành nhiệm
vụ thường xuyên của thanh tra NHNN Để làm được điều đó, NHNN sẽ phải xây dựng cơ chế kiểm tra và giám sát trong việc thực hiện nhiệm vụ đánh giá
đó và việc cho vay có đảm bảo để hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất cho các ngân hàng thương mại cổ phần và cho cả nền kinh tế
2.1.2 Quản lý và hạn chế nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch dân sự cũng như kinh tế trở nên đa dạng và phức tạp, do đó HĐKD không thể tránh khỏi rủi ro và hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần không nằm ngoài quy luật đó Các ngân hàng thương mại cổ phần thường không công bố một cách chính thức các khoản nợ của ngân hàng thương mại cổ phần mình, song đều e ngại về các khoản nợ quá hạn mà đặc biệt là nợ khó đòi Thực tế, trong những năm gần đây, tỷ lệ nợ quá hạn ở các NHTM luôn ở mức cao, giao động từ 13-14% so
Trang 37với mức cho phép là 5% Tình trạng nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại
cổ phần ngày càng có chiều hướng gia tăng Theo báo cáo của NHNN tỷ trọng
nợ quá hạn có xu hướng ngày càng gia tăng Theo báo cáo của NHNN tỷ trọng
nợ quá hạn cưa kể nợ quá hạn đã được khoanh năm 1996 của toàn hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần là 5,6% và đến năm 2002 dự nợ quá hạn tăng gấp hai lần so với năm 2000 là 8,7%; năm 2003 là 8,02% trong tổng dự nợ quá hạn không chỉ là khoản dư mới phát sinh mà còn nhiều món nợ từ năm trước
Theo số liệu mà NHNN công bố vào cuối năm 2005, tình hình nợ quá hạn của hầu hết NHTM đều ở mức rất thấp, chủ yếu dưới 2% ở khối cổ phần và bình quân 5,% ở khối quốc doanh mà cao nhất thuộc về Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển (BIDV) với khoảng 9%; kể đến là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương khi con số trong bản cáo bạch đưa ra là 2,8%
Tính đến thời điểm 6 tháng đầu năm 2011, tổng nợ quá hạn của ngành ngân hàng thương mại cổ phần vào khoảng 75000 tỷ đồng, tăng 50% so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ nợ quá hạn từ 2,16% cuối năm tăng lên 3,1% trong
đó nợ nhóm 5, nợ có khả năng mất vốn chiếm 7% Đáng chú ý là lĩnh vực bất động sản tỷ lệ vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần cho vay khu vực này tính đến tháng 3/2011 chiếm khoảng 10,8% tổng dư nợ, so với Thái Lan
có 6% và Malaysia là 7%
Nợ quá hạn của một số ngân hàng thương mại cổ phần ở khối DNNN tính đến tháng 6/2011: Ngân hàng thương mại cổ phần Nông nghiệp và phát triển Nông tong là 2,5% năm 2007 tăng lên 2,68% năm 2008, 2,6% năm 2009
và 6,67% năm 2011, cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn ở mức độ thấp, Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Vietcombank là 3,7%, trong đó
nợ có khả năng mất vốn là 3731 tỷ đồng Với thực trạng nợ quá hạn ở mức co như vậy cần phải có biện pháp để quản lý và hạn chế nợ quá hạn giúp các NHTM thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính
Trang 38Cụ thể, bên cạnh các biện pháp như: Đánh giá khoản vay, thực hiện đúng quy trình tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần, phân tán rủi ro thì các ngân hàng thương mại cổ phần phải căn cứ vào quy định của pháp luật
về điều kiện cho vay, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và trích lập quỹ dự phòng rủi ro Căn cứ vào quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN, Điều 7 thì TCTD xem xét và cho vay đối với khách hàng vay khi có đủ điều kiện như: có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; có khả năng tài chính, đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết; có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định pháp luật; thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN [17]
Không những thế, trong quá trình cho vay TCTD còn phải thường xuyên kiểm tra và giám sát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng theo quy định tại Điều 21 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN, cụ thể: TCTD có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; TCTD xây dựng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn và sử dụng vón vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt động của TCTD và tính chất của khoản vay, nhằm đảm bảo hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay; gửi quy trình kiểm tra giám sát vốn vay của khách hàng cho Thanh tra NHNN [18]
2.1.3 Biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần
Việc xử lý nợ quá hạn phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật Việc thu hồi nợ đã đến hạn thanh toán phải được thực hiện theo các nguyên tắc Trong trường hợp cho vay có TSBĐ thì các bên: Tuân thủ cam kết trong
Trang 39hợp đồng Khi đến hạn mà khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với TCTD thì TSBĐ được xử lý để thu hồi nợ TSBĐ phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp các bên không xử lý được theo các phương thức đã thỏa thuận thì ngân hàng thương mại cổ phần có các quyền hạn như chuyển nhượng tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ Các ngân hàng thương mại cổ phần cũng có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ và ủy quyền cho bên thứ ba xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ Trường hợp một TSBĐ cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý TSBĐ tiền vay để thực hiện một nghĩa
vụ trả nợ đến hạn, thì các nghĩa vụ trả nợ khác tuy chư đến hạn cũng được coi
là đến hạn và được xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ Nếu tài sản không xử
lý được do không thỏa thuận giá bán, thì ngân hàng thương mại cổ phần có quyền quyết định giá bán để thu hồi nợ Trên thực tế, mặc dù đã sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ nhưng ngân hàng thương mại cổ phần vẫn không thu hồi được khoản nợ do khách hàng vay sử dụng vốn sai mục đích, do vậy ngân hàng thương mại cổ phần buộc phải khởi kiện khách hàng vay ra tòa để đòi nợ Tại bản án sơ thẩm số 73/2011/KDTM-ST ngày 20/05/2011 về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là ngân hàng thương mại cổ phần BIDV và Bị đơn là Công ty cổ phần đầu tư sản xuất thương mại Nam Á Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa thì Công ty Nam Á không trả được vốn vay cho ngân hàng thương mại cổ phần BIDV khi hết hạn vay nên ngân hàng thương mại cổ phần đã làm đơn khởi kiện Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định: Buộc Công ty Nam Á phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần BIDV tổng nợ gốc và lãi 5,2
tỷ VND theo hợp đồng tín dụng Trong trường hợp không trả được nợ hoặc không trả đủ số nợ thì ngân hàng thương mại cổ phần có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội phát mại các TSBĐ để thu hồi nợ
Trang 40Tuân thủ nguyên tắc công khai, nhanh chóng, thuận tiện Việc xử lý TSBĐ phải tuân thủ nguyên tắc công khai, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên và tiết kiệm chi phí Trong trường hợp chủ sở hữu TSBĐ bị khởi tố về một hành vi phạm tội không liên quan đến việc vay vốn của ngân hàng thương mại cổ phần hoặc không liên quan đến nguồn gốc hình thành TSBĐ, thì TSBĐ của người đó không bị kê biên và được xử lý Khi ký kết hợp đồng bảo đảm, các bên thỏa thuận phương thức xử
lý tài sản khi bên bảo đảm không được trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã cam kết Trong trường hợp các bên không xử lý được TSBĐ theo phương thức đã thỏa thuận thì ngân hàng thương mại cổ phần có quyền chủ động áp dụng các phương thức xử lý TSBĐ Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hoặc thỏa thuận mới về việc xử lý TSBĐ và việc thỏa thuận này phải lập thành văn bản
Trên thực tế, cho vay không có TSBĐ ở các ngân hàng thương mại cổ phần không nhiều Đối với các trường hợp cho vay không có TSBĐ hoặc cho vay theo chỉ định của Chính phủ trong trường hợp khách hàng không trả được
nợ đúng hạn cũng như khoản nợ không được cơ cấu lại thì ngân hàng thương mại cổ phần báo cáo kịp thời với cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Nợ quá hạn là điều kể cả ngân hàng thương mại cổ phần cũng như khách hàng vay không ai mong muốn vậy các ngân hàng thương mại cổ phần phải giải quyết quyết liệt phối kết hợp các biện pháp để thu hồi được nợ gốc
và lãi cho khách hàng vay để đảm bảo lành mạnh hệ thống tín dụng
2.1.4 Trình tự, thủ tục xử lý nợ quá hạn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần
Trên thực tế, hầu hết mọi khoản cho vay của NHTM đều có tái sản bảo đảm TSBĐ bằng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh chính là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng thương mại cổ phần từ TSBĐ