Vả lại, số lượng sa nhân mọc hoang trên núi chưa phải là nhiều, các loài sa nhân chưa được nghiên cứu về tên khoa học cũng như hàm lượng và thành phần tinh dầu.. Xuất phát từ thực tế trê
Trang 1HUYỆN NIN H SƠN, TỈNH NINH THUẬN.
( KỉĩOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược ỖĨ DẠI HỌC KỈIOÁ 1998 - 2003 )
Người hướng dẫn ĩ PGS.TS NGUYÊN THỊ TẨM
DS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
Nơi thực hiện • : • Bộ môn Dược liệu■ ■ ■
Thơi gian thực hiện: 2/2003-5/2003
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
ĐẶT VẤN Đ Ể 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN .3
1.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm thực vật và phân b ố - 3
1.2 Kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học -5
1.3 Công dụng trong y học — 10
PHẨN 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u — 12 2.1 Nguyên liệu 12
2.1 Phương pháp nghiên cứu 12
PHẨN 3 THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ THựC NGHIỆM - 14
3.1 Nghiên cứu về thực v ật 14
3.1.1 Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM1 14
3.1.2 Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM2 18
3.1.3 Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM3 - 20
3.2 Nghiên cứu về hoá h ọ c 23
3.2.1 Định tính các nhóm chất hoá học có trong vỏ quả sa n h â n - 23
3.2.2 Xác định hàm lượng tinh dầu hạt các loài sa n h â n - 31
3.2.3 Phân tích thành phần hoá học tinh dầu hạt các loài sa n h â n - 32
3.3 Bàn lu ậ n -33
3.3.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu thực vật các loài sa nhân - 33
3.3.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu hoá học các loài sa nhân - 34
PHẨN 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 36 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3<5m x in chân, th à n h eú ttt tín ta t cả e/tí' thầụI, ofi (Ịtáo, cúc cô
3C£J(ỉ)t eáe p h ồ n g ban teữtiíỊ toàn truồng i t ủ tậ n tìn h ílạụ háo DÙ giúp,
ĩtỡ em teottíỊ tu ố t nhữnq n á tn lỉtU‘ tạ i irư òtiíỊ
ỈUn xỉn gửi lồi eấtn ổn tồi s ẻ 3C7ô@.Qlr JU& tỉnh Olùth TỈltưãn , Tôâi QẠ- họe teu tịền Qĩlnh ỶĨhnậti đ ã tụ o đ iều Uìèn th u ậ n lo i ohú etn ỉrotttỊ qu ái tr ìn h tlu i th ậ p m ẫ u nụhiễết eứu t ạ i thực đĩa
Qlhán difL nil ụ (4if) phép, em itíìỢ(‘ hà Ị/ tả lòng biỀÍ rít! làu iắe tồi
gia đ in h , bạn bề đ ã gìíip đẽ' im độtitỊ lĩìêti em rảỉ nhiều trữHíị iíiỏt qu á
trìn h ỉtọ e tậ p tại tra'ò'níj.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2003
Sinh viên:
Trương Viết Thành
Trang 5ĐẬT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật phong phú, tài nguyên về cây thuốc đa dạng
Sa nhân là một vị thuốc quí được nhân dân ta và nhân dân trên thế giới
sử dụng từ lâu điều trị một số chứng bệnh như đầy hơi, ăn không tiêu, tả lỵ, động thai [2,6,8,18,38] Ngày nay, tinh dầu sa nhân được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp dược phẩm, bào chế các loại cao xoa, dầu xoa, trong công nghiệp thực phẩm điều chế các loại rượu mùi [20] Cây sa nhân là cây thuốc quí có giá trị lớn về kinh tế Hiện nay, cây sa nhân đã được đưa vào danh mục các cây thuốc cần được bảo tồn, phát triển, khai thác [1]
Tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng Nam Trung bộ, có nhiều đồi núi, khí hậu thổ nhưỡng thích hợp cho nhiều loài cây phát triển Xã Phước Bình, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận là một vùng đất diện tích phần lớn còn bị che phủ bởi rừng, dân cư thưa thớt, nghèo đói, lạc hậu, cuộc sống còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên rừng Dưới tán lá cây hay ven các con suối, cây sa nhân mọc hoang phát triển rất mạnh Dân cư thường lên rừng hái quả sa nhân mọc hoang (vào tháng 7-8) mang về bán cho tư thương dạng quả tươi hoặc phơi khô Đây cũng là một nguồn thu nhập nhỏ góp phần cải thiện cuộc sống thiếu thốn vật chất của họ Tuy nhiên, việc làm này của họ còn mang tính tự phát, chưa có sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn Vả lại, số lượng sa nhân mọc hoang trên núi chưa phải là nhiều, các loài sa nhân chưa được nghiên cứu
về tên khoa học cũng như hàm lượng và thành phần tinh dầu Nếu họ hiểu được giá trị lớn về kinh tế, có ý thức và được hướng dẫn về bảo tồn, phát triển, khai thác nguồn tài nguyên này thì cuộc sống hàng ngày của họ sẽ được cải thiện nhiều hơn
Trang 6Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi kết hợp với Hội Y học cổ truyền Ninh Thuận tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành
phần hoá học một số loài sa nhân mọc hoang tại xã Phước Bình, huyện
N inh Sơn, tỉnh N inh T huận ” nằm trong khuôn khổ đề tài cấp tỉnh: “Nghiên
cứu trồng thử nghiệm sa nhân mọc hoang từ vùng núi cao xuống vùng thấp tại xã Phước Thành, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận ” do Hội Y học
Cổ truyền Ninh Thuận chủ trì, với các mục đích :
- Nghiên cứu đặc điểm thực vật, xác định tên khoa học một s ố loài sa
Trang 7PHẦN 1
TỔNG QUAN
Sa nhân là tên gọi một số loài thuộc chi Amomum Roxb., họ
Zingiberaceae Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về sự
phân bố, đặc điểm hình thái thực vật, xác định thành phần hoá học cũng như tác dụng chữa bệnh của các loài thuộc chi này
1.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm thực vật và phân bố:
Họ Gừng (Zingiberaceae) thuộc bộ Gừng (Zingiberales), lớp Hành (Liliopsida), cây một lá mầm (Monocotyledones) Theo Giáo sư Vũ Văn Chuyên [9], họ Gừng ở Việt Nam có 13 chi với 164 loài
Chi Amomum Roxb là một chi lớn Theo cuốn Index kewensis
supplement I-XIX, số loài thuộc chi này trên thế giới lên tới 250 loài Theo Nguyễn Tiến Bân [1], ở Việt Nam có 15-20 loài
Nhiều công trình nghiên cứu về sự phân bố và đặc điểm thực vật các
loài thuộc chi Amomum Roxb cho thấy các loài thuộc chi này ưa sống ở vùng
khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, đặc biệt vùng rừng núi dưới ánh sáng tán xạ hay
ven các bờ suối Phạm vi phân bố địa lí của chi Amomum Roxb kéo dài từ các
nước Nam Mỹ tới Australia, Ân Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam [20]
Theo các tài liệu [39,40], khu vực Châu Á có hơn 80 loài thuộc chi
Amomum Roxb phân bô khăp các vùng rừng núi thuộc các nước: An Độ,
Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia 19 loài được mô tả trong đó 7 loài có mặt ở Việt Nam đã được ghi rõ địa điểm phân bố:
1 Amomum harmandii Gagnep Châu Đốc
2 Amomum echinosphaera K.Schum Ba Vì, Thanh Hoá, Phú Yên
Trang 83 Amomum repens Sonner.
4 Amomum trilobum Gagnep.
5 Amomum vespertilio Gagnep.
6 Amomum unifolium Gagnep.
7 Amomum thyrsoideum Gagnep.
Lào Cai
Đà Nang, Phước Tân Núi Ba Vì
Bắc Bộ hoặc Nam Bộ Ninh Bình
Trong cuốn Flora of British India, Hooker có thống kê 48 loài thuộc chi
Amomum Roxb phân bố ở Ấn Độ [36].
Holttum nghiên cứu và thống kê được 18 loài phân bố ở Malaysia [35].Theo tài liệu [41], các tác giả đã thống kê và mô tả được 24 loài có mặt
ở Trung Quốc
Số loài thuộc chi Amomum Roxb được tổng kết đầy đủ nhất trong cuốn
Index kewensis Suplement I-XIX với hơn 250 loài tổng kết các nghiên cứu từ năm 1886-1990 [37]
Ở Việt Nam, GS Phạm Hoàng Hộ [14] đã thống kê và mô tả 14 loài sa nhân phân bố từ các tỉnh phía Bắc như: Ba Vì, Hà Nam Ninh (cũ) tới các tỉnh thuộc Nam Bộ như Phú Quốc
Trong cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam [8], GS Võ Văn Chi đã mô tả đặc điểm thực vật và phân bố của 3 loài sa nhân :
Dương xuân sa
GS Đỗ Tất Lợi [18] đã mô tả đặc điểm thực vật, sự phân bố, thành phần hoá học, công dụng chữa bệnh của 2 loài sa nhân:
1 Amomum viỉỉosum Lour.
2 Amomum xanthioides Wall.
1 Amomum villosum Lour.var.xanthioides Sa nhân vỏ xanh(Wall.ex Bak) T.L Wu et Senjen Chen Sa nhân gai
2 Amomum longiligulare T.L Wu Sa nhân lưỡi dài
3 Amomum echinosphaera K.Schum
Mè tré bà
Sa nhân
Trang 9Nguyễn Tiến Bân thống kê được 15-20 loài sa nhân thuộc chi Amomum
Roxb có mặt ở Việt Nam đang cần được bảo tồn [1]
Các tác giả Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương [2]; Đỗ Tất Lợi [18], Vũ Văn Chuyên [9] cũng có nhiều nghiên cứu về đặc điểm thực vật, sự phân bố, tên khoa học của một số loài sa nhân
^ Đặc điểm hình thái thực vật của chi Amomum Roxb được Gagnepain
[40] mô tả như sau: Cây thân thảo, sống lâu năm, thân rễ mọc ngang mang nhiều vảy và rễ phụ, bẹ lá xếp sít nhau tạo thành thân giả khí sinh Lá có lưỡi nhỏ, phiến lá thuôn tròn phía gốc lá, nhọn ở phần ngọn lá Lá mọc cách xa cụm hoa mọc lên từ thân rễ Cụm hoa hình bông thường dày đặc hoa, đôi khi hoa thưa Lá bắc lớn hơn lá bắc con Hoa thường không cuống Đài hoa hình ống có 3 răng Tràng hoa hình ống có 3 thùy Cánh môi nguyên, lõm hay chia
3 thùy, hình trái xoan Bao phấn có mào hình dạng thay đổi theo loài, đôi khi không có mào Chỉ nhị ngắn Vòi nhụy hình chỉ, đầu nhụy hình phễu Bầu có
3 ô, đính noãn lối trung trụ Quả nang hình cầu, hình trứng hay hình nón, chứa khối hạt gồm nhiều hạt nhỏ
1.2 Kết quả nghiên cứu về thành phần hoá học:
Tinh dầu cất được từ các loài thuộc chi Amomum Roxb đã được nhiều
nhà khoa học trên thế giới và trong nước chú ý nghiên cứu từ lâu
Từ năm 1930, một số nhà khoa học đã nghiên cứu thành phần hoá học
tinh dầu quả loài Amomum xanthioides Wall, xác định được các thành phần
chính là: D-camphor, d-bomeol và borayl acetat [23]
Hazarika Ajitk, Nath Subhanc (1995) xác định được thành phần chính
của tinh dầu thân rễ loài Amomum linguiforme Benth mọc ở M ỹ là methyl chavicol [31]
Năm 1997, trong một nghiên cứu khác [24], các nhà khoa học thuộc Viện Y học Phương Đông Hyogo- Nhật Bản đã dùng kỹ thuật GC-MS phân
Trang 10tích thành phần hoá học tinh dầu hạt loài Amomum cardamomum xác định
được 15 thành phần trong đó có các Sesquiterpenoid:
Caryophyllen
Y-cadinen
(3-bisabolenNgoài ra còn có một số thành phần khác:
a-pinen 1,8-cineol Linalol NerolidolChen Jiahua, Lin Zuming, Jin Sheng (1990) [25] khi nghiên cứu thành
phần hoá học tinh dầu hạt loài Amomum aurantiacum xác định được thành
Trang 11Trong một nghiên cứu khác [33], từ tinh dầu quả loài Amomum villosum
Lour, và bằng kỹ thuật GC-MS, nhóm nghiên cứu đã phân lập được 38 thành phần trong đó xác định được 34 thành phần gồm các nhóm:
MonoterpenSesquiterpenTerpen oxid của trans-linalol oxidCaryophyllen
Hợp chất thơm
Ở Việt Nam, Nguyễn Xuân Dũng, Đào Lan Phương, Leclercq (1990) [28] sử dụng phương pháp GC-MS đã xác định được thành phần chính của
tinh dầu lá, thân, rễ loài sa nhân Amomum schmidtii Gagnep là: Trans-p-(l-
butenyl) anisol chiếm 90-95%
Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Thị Tâm, Đào Lan Phương, Leclercq (1993) dùng phương pháp Sắc ký khí mao quản và GC- MS tách được 20 thành phần, nhận dạng được 14 chất từ tinh dầu quả một số mẫu sa nhân ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam [11]
Theo Lê Tùng Châu [7], thành phần hoá học chính tinh dầu quả sa nhân
Amomum xanthioides Wall, gồm:
D-camphor 33%
D-Bomeol 19%
Camphen 7%
Limonen 7%
Trang 12- Amomum ovoideum Pierre: Hàm lượng tinh dầu 1%
Thành phần hoá học tinh dầu: Gồm 18 thành phần trong đó có:
Camphor 47,14%
Bomyl acetat 39,12%
Limonen 4,47%
Bomeol 2,48%
- Amomum tsao-ko Cre.et Lemar.: Hàm lượng tinh dầu : 1,2 %
Thành phần hoá học tinh dầu: Gồm 45 thành phần trong đó có :
Trang 13Nguyễn Thị Tâm và cộng sự (2001) [22] khi nghiên cứu thành phần hoá học tinh dầu quả và lá 2 loài sa nhân mọc hoang ở Phước Thành- Ninh Thuận
đã đạt được một số kết quả sau:
Bảng 1: Thành phần hoá học chính trong tinh dầu lá và quả 2 loài sa
Trong một nghiên cứu khác [17], Nguyễn Thị Tâm và cộng sự xác định
được thành phần hoá học tinh dầu toàn cây loài sa nhân một lá Amomum
unifolium Gagn mọc ở Tam Đảo gồm:
Citral 36,7- 39,4%
Geraniol 28,5-29,9%
Linalol 7,7-8,5%
Theo Đào Lan Phương (1995) [21], thành phần chính tinh dầu hạt một
số loài sa nhân mọc ở miền Bắc Việt Nam như sau:
Trang 14Bảng 2: Thành phần chính tinh dầu hạt một số loài sa nhân
miền Bắc Việt Nam
Amomum Ovoideum Pierre
Camphor Bomyl acetat Limonen
47,1%
39,1%
4,5%
Amomum Longiligulare T.L.Wu
Camphor Bomyl acetat Camphen
37,4%
36,1%
7,4%
Amomum aurantiacum Nerolidol 78,4%
H.T.Tsao & S.W.Zhao Linalol 14,0% /
/
A.viỉỉosum.var. Camphor 50,8% 1
Xanthioides (Wall.) T.L. Bomyl acetat 33,7%
Dược điển Việt Nam III [6] quy định hàm lượng tinh dầu trong hạt sa nhân ít nhất là 1,5%
Ngoài tinh dầu, theo một số tài liệu, các loài thuộc chi Amomum Roxb
còn chứa một số nhóm chất hoá học khác: saponin, hợp chất peroxid, curcuminoid [27,30]
1.3 Công dụng trong y học:
Trong y học cổ truyền, quả sa nhân thường được sử dụng làm thuốc chữa bệnh về tiêu hoá
Theo tài liệu [38], y học dân tộc Thái Lan sử dụng một số bộ phận cây
Amomum krervanh Pierre làm thuốc chữa bệnh: Rễ, lá chữa bệnh nha chu;
Trang 15thân rễ chữa các bệnh về da, diệt ký sinh trùng trên da; lá chữa sốt và đau đầu, bệnh đầy hơi, làm thuốc long đờm; hạt chữa bệnh đau dạ dày, bệnh kiết lỵ.
Cũng theo tài liệu này, ngoài cây Amomum krervanh Pierre, các bộ phận của cây Amomum xanthioides Wall, được sử dụng chữa một số bệnh:
Thân rễ chữa ho, viêm phế quản, hen phế quản, nôn mửa; lá chữa bệnh viêm đường niệu; hoa chữa bệnh vảy nến; quả chữa chứng bụng đầy hơi, hen phế quản, ho, trĩ, nôn mửa, sốt; hạt chữa nôn mửa, làm tăng tiết sữa
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, quả sa nhân là vị thuốc có vị cay, tính ấm, quy kinh tỳ, thận, vị, dùng chữa chứng đau bụng lạnh, tả lỵ, ăn không tiêu, bụng đầy hơi [42]
Một số tác giả khi nghiên cứu thành phần hoá học loài Amomum
krervanh Pierre đã chiết xuất và phân lập được các chất mang cấu trúc peroxid
có hoạt tính diệt ký sinh trùng sốt rét [30]
Trong một nghiên cứu khác, các tác giả cho thấy dịch chiết nước các
loài thuộc chi Amomum có tác dụng chữa bệnh dị ứng [29].
Ở Việt Nam, theo một số tài liệu, quả sa nhân có vị cay, tính ấm, quy vào các kinh tỳ, vị, thận, có tác dụng hành khí, điều trung, hoà vị, làm cho tiêu hoá được dễ dàng Dùng trong các trường hợp đầy bụng, ăn không tiêu, tả lỵ [2,6,8,18]
Theo Nguyễn Hữu Đảng, ngoài tác dụng chữa bệnh đường tiêu hoá, quả sa nhân phối hợp với các vị thuốc khác có tác dụng an thai, khai thông tiểu tiện [13]
Trong y dược hiện đại, tinh dầu sa nhân được dùng để sản xuất một số thuốc cao xoa, dầu xoa [20]
Trang 16PHẦN 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Nguyên liệu:
* Đối tượng nghiên cứu: Một số loài sa nhân mọc hoang tại vùng núi
thuộc xã Phước Bình, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận được kí hiệu: SM1,
SM2, SM3
* Thời gian lấy mẫu: Tháng 7/2002
* Xử lý và bảo quản mẫu:
Các mẫu cây sa nhân được xử lý ép tiêu bản tại thực địa, kí hiệu: SM1,
SM2, SM3
Hoa được bảo quản trong cồn 25°
Quả sa nhân lấy về được xử lý phơi khô ngay và bảo quản trong túi ni
lông kín, kí hiệu: M l, M2, M3, M4, M5
Tất cả các mẫu được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh côn trùng
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nghiên cứu về thực vật:
2.2.1.1 Mô tả đặc điểm hình thái và xác định tên khoa học:
- Mô tả đặc điểm hình thái theo phương pháp quan sát, mô tả, chụp ảnh,
làm tiêu bản
- Xác định tên khoa học dựa trên phương pháp so sánh hình thái
2.2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm vi học:
- Vi phẫu: Cắt vi phẫu gân giữa lá, bảo quản bằng cách ngâm trong cồn
25°, tẩy, nhuộm kép, cố định, quan sát qua kính hiển vi theo tài liệu [3,16]
- Soi bột: Dược liệu được sấy khô, tán nhỏ thành bột mịn, soi, chụp ảnh hiển vi
Trang 172.2.2 Định tính các nhóm chất hoá học có trong vỏ quả sa nhân:
Tiến hành định tính các nhóm chất hoá học có trong vỏ quả sa nhân theo các tài liệu [4,12]
2.2.3 Xác định hàm lượng tinh dầu và phân tích thành phần hoá học tinh dầu hạt các mẫu sa nhân:
2.2.3.1 Xắc định hàm lượng tinh dầu hạt:
- Phương pháp: Phương pháp cất kéo hơi nước
- Dụng cụ: Sử dụng bộ dụng cụ cất tinh dầu cải tiến của Bộ môn Dược liệu- Trường Đại học Dược Hà Nội
- Thời gian tiến hành cất định lượng: 4h/ mẫu cất tính từ lúc sôi
- Khối lượng mẫu cất: 15-30 g
- Xác định hàm ẩm dược liệu theo Phương pháp cất với dung môi của Dược điển Việt Nam III
- Hàm lượng tinh dầu được tính theo tỷ lệ % của thể tích tinh dầu cất được trên trọng lượng mẫu dược liệu khô tuyệt đối
2.2.3.2 Phân tích thành phần hoá học tinh dầu hạt:
* Phương pháp: Phương pháp GC-MS, thực hiện tại Viện dinh dưỡng Hà
Trang 18PHẦN 3 THựC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ3.1 Nghiên cứu về thực vật:
Quá trình nghiên cứu tại thực địa, chúng tôi đã thu thập được mẫu 3 loài
sa nhân mọc hoang, kí hiệu: SMI, SM2, SM3 Sau đây là kết quả nghiên cứu từng loài
3.1.1 Nghiên cứu về thực vật loài sa nhân SM1:
3.1.1.1 Hình thái thực vật:
Cây thân cỏ, sống lâu năm, bẹ lá
xếp sít nhau tạo thành thân giả khí sinh
cm, hai mặt nhẵn Lưỡi lá nhỏ, nguyên,
nhẩn hoặc có ít lông dài 2-3 mm Cuống
lá dài 3-4 mm
Cụm hoa hình trái xoan hoặc hình
cầu mọc lên từ thân rễ Có 5-10 hoa trên
cùng một cụm, hoa màu trắng, cuống Anh 1: Cây sa nhân SM1
ngắn Lá bắc hình mo, bên ngoài có lông dài 15 mm Đài hoa hình ống, cao hơn lá bắc một chút Tràng hoa dạng ống mảnh cao hơn đài 3-4 mm Cánh môi gần tròn, lõm, dài 1 lmm, rộng 9 mm Bộ nhị có chỉ nhị dài 5 mm, nhẵn Bao phấn dài 4mm, hai ô song song, nhẩn Mào vuông chia 3 thùy, thùy giữa cuộn tròn ra phía sau Trung đới có mào dài 1,5 cm, rộng 2 mm Vòi nhụy mảnh, dài 2,5 cm Đầu nhụy gần tròn, nhẩn Bầu hình trái xoan, dài 20 mm,
Trang 19rộng 15 mm Hạt đính noãn theo lối trung trục Nang chia 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 9-24 hạt nhỏ hình khối đa giác, có mùi thơm tinh dầu, vị cay.
Cụm quả chứa 3-7 quả màu tím Quả hình cầu hay bầu dục, đường kính1-1,5 cm Bề mặt phủ gai cong
Cây thường mọc ở nơi ẩm ướt, dưới bóng râm, ra hoa vào tháng 4-5, quả chín có thể thu hoạch vào tháng 7-8
Qua quan sát, mô tả đặc điểm hình thái thực vật, có đối chiếu với các tài liệu liên quan được thực hiện với sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Văn Chuyên, chúng tôi đã xác định tên khoa học loài sa nhân trên là :
Amomum ovoideum Pierre, họ Gừng- Zingiberaceae.
3.1.1.2 Đặc điểm vi học:
* Đặc điểm vi phẫu gân lá: (Ảnh 2)
Cắt ngang phần gân giữa lá, tẩy, nhuộm kép, cố định, Quan sát qua kính hiển vi thấy các đặc điểm:
Gân lá lồi ở phần dưới, lõm ở phần trên Nhìn từ ngoài vào trong, biểu
bì trên và biểu bì dưới cấu tạo bởi một lớp các tế bào hình chữ nhật, kích thước đều nhau, xếp sít nhau Mô mềm gồm các tế bào hình đa giác, màng mỏng, xếp cạnh nhau Bó libe- gỗ gồm 3 hàng: hàng 1 gồm các bó libe- gỗ lớn, nằm sát biểu bì dưới; hàng 2 gồm các bó libe- gỗ nhỏ hơn, nằm phía trên và xen kẽ với các bó libe- gỗ lớn trong phần mô mềm; hàng 3 gồm các bó libe- gỗ nhỏ nằm sát biểu bì trên Hình dạng bó libe- gỗ giống như một tam giác có đỉnh quay vào trong, gỗ nằm phía ngoài, libe nằm rải rác phía trong, có mạch gỗ ở giữa, ngoài cùng là vòng mô cứng hình móng ngựa
Trang 20Ảnh 2: Vi phẫu gân lá cây sa nhân SM11- Biểu bì
2- Bó libe- gỗ3- Mô khuyết4- Mô mềm
* Đặc điểm bột vỏ quả: (Ảnh 3)
Bột màu tím nâu, mùi thơm, vị cay Quan sát dưới kính hiển vi thấy các đặc điểm: Mạch xoắn hình lò xo gồm nhiều sợi chập lại với nhau (1,7) Tế bào tiết tinh dầu hình đa giác màu vàng nằm trong các mảnh mô mềm (2) Bó sợi gồm nhiều sợi vách mỏng, thuôn hai đầu (3) Mảnh mang màu nằm trong mảnh mô mềm, màu vàng đậm (4) Lông che chở đơn bào, dài (5) Mảnh mô mềm cấu tạo bởi các tế bào hình đa giác, màng mỏng (6) Mảnh biểu bì vỏ quả cấu tạo bởi nhiều tế bào hình đa giác (8)
Trang 21Ảnh 3: Một số đặc điểm bột vỏ quả cây sa nhân SM1
* Đặc điểm bột hạt: (Ảnh 4)
Bột màu nâu nhạt, mùi thơm, vị cay Quan sát qua kính hiển vi thấy các đặc điểm: Mảnh hạ bì cấu tạo bởi nhiều tế bào hình chữ nhật (1) Mảnh mang màu kích thước lớn, màu vàng đậm (2) Mảnh ngoại nhũ chứa các tế bào hình chữ nhật đều nhau, bên trong chứa các hạt tinh bột tròn nhỏ (3) Mảnh vỏ ngoài hạt cấu tạo bởi nhiều tế bào hình đa giác hay gần tròn (4) Bó sợi gồm nhiều sợi vách dày, khoang hẹp, thuôn hai đầu (5) Mảnh mô mềm cấu tạo bởi các tế bào màng mỏng xếp gần nhau (6) Hạt tinh bột kích thước nhỏ, hình tròn, đứng riêng lẻ hay chụm thành đám (7)
Trang 22Ảnh 4: Một số đặc điểm bột hạt cây sa nhân SM1
3.1.2 Nghiên cứu về thực yật loài sa nhân SM2:
3.1.2.1 Hình thái thực vật:
Cây thân thảo lớn, sống lâu năm, cao 2-3,5 m, bẹ lá xếp sít thành thân giả khí sinh
Thân rễ to, bò ngang, nhiều vảy và rễ phụ
Lá có phiến hình bầu dục, dài 50-60 cm, rộng 14-16 cm, thon dần ở gần cuống, đầu lá nhọn, lá có lông nhung ở phần mặt dưới gân lá và mép lá Bẹ lá
có sọc dài 1-1,2 cm, rộng 0,5-0,8 cm, cuống lá dài 2 cm
Cụm hoa mọc từ thân rễ Hoa không cuống hoặc nằm trên cọng, có vảy, dài 10 cm, hình cầu hoặc hình trứng, nhiều màu sắc Đài hoa hình ống có lông
ở gốc, dài 3 mm, chia 3 răng hình tam giác Tràng hình ống, nhẵn, dài 1 cm Cánh môi gần như hình tròn, đường kính 18-20 mm, gốc co hẹp lại Nhị có chỉ
Trang 23nhị ngắn, bao phấn hai ô, hình dải dẹp, song song với nhau, dài 1,1 cm Mào hình tam giác có đỉnh quay về phía bao phấn, đáy uốn lượn hoặc rách mép rộng 9-10 mm Vòi nhụy có lông ở đỉnh Đầu nhụy hình phễu Nang hình thoi dài 23-25 mm, rộng 10-13 mm, chia thành 3 ngăn được bao phủ bởi áo hạt, chia thành 2-3 đường khía sâu, mỗi ngăn chứa 12-25 hạt nhỏ hình khối đa diện.
Cụm quả chứa 2-8 quả Quả hình cầu hay bầu dục
Cây ưa sống nơi ẩm ướt, có bóng râm, ven suối, ra hoa vào tháng 4-5, quả có thể thu hoạch được vào tháng 7-8
Qua quan sát, mô tả hình thái thực vật, có đối chiếu với các tài liệu liên quan được thực hiện với sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Văn Chuyên, chúng tôi đã xác định tên khoa học loài sa nhân trên là:
A m om um vespertìlio Gagn., họ Gừng- Zingiberaceae.
3.1.2.2 Đặc điểm vi học:
* Đặc điểm vi phẫu gân lá: (Ảnh 5)
Cắt ngang phần gân giữa lá, tẩy, nhuộm kép, cố định, quan sát qua kính hiển vi thấy các đặc điểm:
Gân lá lồi ở phần dưới, lõm ở phần trên Nhìn từ ngoài vào trong, biểu
bì trên và biểu bì dưới cấu tạo bởi một lớp các tế bào hình chữ nhật, kích thước đều nhau, xếp sít nhau Có lông che chở nằm trên lớp biểu bì dưới Mô mềm gồm các tế bào hình đa giác, màng mỏng, xếp cạnh nhau Bó libe- gỗ gồm 4 hàng: Hàng 1 gồm các bó libe- gỗ lớn, nằm sát biểu bì dưới; hàng 2 gồm các
bó libe- gỗ nhỏ hơn, nằm phía trên và xen kẽ với các bó libe- gỗ lớn trong phần mô mềm; hàng 3 gồm các bó libe- gỗ nhỏ; hàng 4 gồm các bó libe- gỗ nhỏ hơn nằm sát biểu bì trên Bó libe- gỗ hình tam giác có đỉnh quay vào
trong, gỗ nằm phía ngoài, libe nằm rải rác phía trong, có mạch gỗ ở giữa,
ngoài cùng là vòng mô cứng hình móng ngựa
Trang 24* Đặc điểm bột vỏ và bột hạt: Chúng tôi không thu thập được mẫu quả nên không thể tiến hành nghiên cứu đặc điểm bột vỏ và bột hạt loài sa
nhân này
3.1.3 Nghiên cứu về loài sa nhân SM3:
3.1.3.1 Hình thái thực vật:
Cây thân cỏ, sống lâu năm, cao khoảng 30-40 cm
Thân rễ mảnh, mọc ngang, có vảy bao quanh, phân nhánh nhiều, đầu
mỗi nhánh mọc lên một thân khí sinh, cách nhau khoảng 10 cm
Trang 25Trên cây thường có một lá duy
nhất, hiếm khi có 2 lá, lá men thân thành
cuống dài 9-10 cm, mũi lá tù hoặc hơi
nhọn ở đỉnh Lá nhẵn, màu xanh nhạt,
hình trái xoan, dài 20-30 cm, rộng 7-9
cm, chia thành 2 nửa không đều nhau
Cụm hoa thường có 5 hoa Hoa
thường có màu hồng, dài 3 cm, mọc lên từ
thân rễ Lá bắc gồm 5-7 lá hình bầu dục
lợp lên nhau, dài 15-17 mm, ở dưới màu
trắng, ở trên màu hồng Đài hoa hình mo,
dài 3 cm, nhẵn, màu hồng, có một khe từ
trên xẻ xuống giữa đài, có 3 răng nhỏ
Tràng hoa hình ống dài 4 cm, nhẩn , chia
3 thùy đều nhau dài 18 mm, rộng 6 mm
Cánh môi dài 25 mm, rộng 20 mm Trên
lưng có một dải màu vàng đỏ, có lông mịn
phía trong Gốc cánh môi hẹp ở phía dưới, 6* Cây sa nhan SM3chiều dài 6 mm Bộ nhị có chỉ nhị nhẵn, hẹp hơn ở phía dưới Bao phấn có hai
ô song song, nhẵn ở phía dưới, có chút lông tơ ở đỉnh, chiều dài 4-5 mm tạothành bao phấn hình vuông Mào lõm ở phía dưới, dài gấp 2 lần ô phấn Númnhuỵ hơi nghiêng Noãn sào có một ít lông tơ Hạt đính lối trung trục Nang 3 ô,mỗi ô có 8-24 hạt nhỏ, mùi thơm , vị cay
Cụm quả có 3-6 quả hình cầu màu hồng tím có gai nhọn, 3-5 khía sâu.Cây ưa sống nơi bóng râm, ẩm ướt, ra hoa vào tháng 5-6, quả chín có thể thu hái vào tháng 7-8
Qua quan sát, mô tả đặc điểm hình thái thực vật, có đối chiếu với các tài liệu liên quan được thực hiện với sự giúp đỡ của Giáo sư Vũ Văn Chuyên, chúng tôi đã xác định tên khoa học của loài sa nhân trên là:
A m om um unifolium Gagn., họ Gừng- Zingiberaceae.
3.1.3.2 Đặc điểm vi học:
* Đặc điểm vi phẫu gân lá: (Ảnh 7)