Trong tác phẩm văn học, tác giả một mặt sử dụng ngôn ngữ của mình để miêu tả trực tiếp những đặc điểm từ ngoại hình đến tính cách của các nhân vật, mặt khác còn trực tiếp thể hiện ngôn n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ NỤ
THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học:
ThS HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Hoàng Thị Thanh Huyền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình em làm khóa luận Em cũng gửi tới các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn và phòng Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận đúng thời hạn Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã cộng tác giúp đỡ để tôi có được kết quả ngày hôm nay
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Nụ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận tốt nghiệp này là kết quả quá trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS Hoàng Thị Thanh Huyền Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Nụ
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của khóa luận 5
7 Bố cục khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết hội thoại 7
1.1.1.Vai giao tiếp và quan hệ giao tiếp 7
1.1.2 Hành vi ngôn ngữ và phân loại các hành vi ngôn ngữ 8
1.1.2.1 Hành vi ngôn ngữ 8
1.1.2.2 Phân loại các hành vi ngôn ngữ 9
1.1.3 Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi 11
1.1.4 Các vận động hội thoại 12
1.1.4.1 Sự trao lời 12
1.1.4.2 Sự trao đáp 13
1.1.4.3 Sự tương tác 14
1.1.5 Các đơn vi hội thoại 15
1.1.5.1 Các đơn vị lưỡng thoại 15
1.1.5.2 Các đơn vị đơn thoại 17
Trang 51.1.6 Vấn đề lượt lời 18
1.1.7 Đích của hội thoại 19
1.2 Lí thuyết về thoại dẫn 20
1.2.1 Khái niệm 20
1.2.2 Đặc điểm của thoại dẫn trực tiếp 20
1.2.3 Các thành phần của thoại dẫn trực tiếp 21
1.2.3.1 Lời dẫn 21
1.2.3.2 Lời được dẫn 22
1.2.3.3 Vấn đề điểm nhìn 23
1.3 Tiểu kết 24
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 2.1 Cách thức dẫn của thoại dẫn trực tiếp 25
2.1.1 Thoại dẫn trực tiếp có lời dẫn 25
2.1.1.1 Lời dẫn và lời được dẫn ngăn cách bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép 26
2.1.1.2 Lời dẫn và lời được dẫn ngăn cách bằng dấu gạch ngang 27
2.1.2 Thoại dẫn trực tiếp không có lời dẫn 28
2.2 Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp 29
2.2.1 Vị trí của lời dẫn 29
2.2.1.1 Lời dẫn trước lời được dẫn 30
2.2.1.2 Lời dẫn sau lời được dẫn 31
2.2.1.3 Lời dẫn xen giữa lời được dẫn 32
2.2.2 Các thành phần cú pháp và ngữ nghĩa trong lời dẫn 33
2.2.2.1 Cấu trúc cú pháp 33
2.2.2.2 Ngữ nghĩa của các thành phần cú pháp trong lời dẫn 37
Trang 62.3.1 Các đơn vị hội thoại được dẫn 45
2.3.1.1 Một lượt lời 45
2.3.1.2 Cặp thoại 45
2.3.1.3 Đoạn thoại 46
2.3.1.4 Cuộc thoại 46
2.3.2 Các hành vi ngôn ngữ được dẫn trong lời được dẫn trực tiếp 48
2.3.2.1 Tiêu chí phân loại 48
2.3.2.2 Các loại hành vi ngôn ngữ được dẫn 49
2.3.3 Các thành phần cú pháp 51
2.3.3.1 Câu đơn 51
2.3.3.2 Câu ghép 51
2.3.3.3 Câu tỉnh lược 52
2.3.3.4 Câu tách biệt 52
2.3.3.5 Câu cắt dán 52
2.4 Vấn đề điểm nhìn 53
2.4.1 Điểm nhìn của người kể ở lời dẫn 54
2.4.2 Điểm nhìn cảu nhân vật ở lời được dẫn 56
2.5 Tiểu kết 58
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hội thoại là hoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biến nhất của con người Ngay từ thập kỉ 70, hội thoại đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính thức của phân ngành ngôn ngữ học Mỹ Trong khi đó, ở Việt Nam, hội thoại xuất hiện chưa lâu Tuy nhiên, nó là lĩnh vực được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm, chú ý Có thể kể đến một số chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam nghiên cứu về hội thoại: [2], [6], [7]
Hội thoại diễn ra thường xuyên trong cuộc sống Khi đưa vào tác phẩm, hội thoại được gọi là thoại dẫn
Trong tác phẩm văn học, tác giả một mặt sử dụng ngôn ngữ của mình
để miêu tả trực tiếp những đặc điểm từ ngoại hình đến tính cách của các nhân vật, mặt khác còn trực tiếp thể hiện ngôn ngữ của các nhân vật thông qua cách giao tiếp, tức qua hội thoại của nhân vật với nhân vật, từ đó nhân vật có thể bộc lộ tâm lí, tính cách một cách rõ ràng nhất Trong một tác phẩm truyện, không thể thiếu đối thoại của các nhân vật với nhau, bởi khi giao tiếp ngừng hoạt động thì sẽ không tồn tại “truyện”, tác phẩm sẽ chuyển sang thể kí, thời
sự, tin tức…
Hội thoại trong tác phẩm văn học luôn được các tác giả thể hiện bằng những dấu hiệu hình thức khác nhau để thể hiện phong cách độc đáo của mình Nguyễn Huy Thiệp – nhà văn tiêu biểu trong cao trào đổi mới văn xuôi nghệ thuật cuối những năm 80 ở Việt Nam đã thể hiện cá tính sáng tạo qua các truyện ngắn của mình Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta thấy một đặc điểm gây ấn tượng mạnh là cách sử dụng ngôn ngữ độc thoại, lời thoại ngắn, có khi là những mẩu nhỏ, nhiều khi khước từ quy tắc lí thuyết tương tác trong hội thoại
Trang 8Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp ở nhều lĩnh vực khác nhau như: Lí luận văn học, phê bình văn học, ngôn ngữ học…; tuy nhiên, xét về lĩnh vực ngôn ngữ, chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”
2 Lịch sử vấn đề
Hội thoại là một biện pháp nghệ thuật để xây dựng nên tác phẩm văn học, trong đó có truyện ngắn Một trong những hình thức dẫn lời thoại của nhân vật là dẫn trực tiếp, khái niệm này đã được nói tới khá nhiều trong
chương trình giáo khoa phổ thông: [3], [5] Mặc dù được diễn đạt bằng những
cách khác nhau song đều nhấn mạnh đến tính nguyên vẹn, không sửa đổi lời hay ý của người nói ra, nghĩ ra chúng Khi lời được dẫn trực tiếp thì sử dụng dấu hai chấm để ngăn cách phần được dẫn và có thể kèm theo dấu ngoặc kép
Vấn đề này còn được nhắc lại thêm một phần nữa trong [12], tác giả
Nguyễn Xuân Khoa đã đưa ra khái niệm “lời nói trực tiếp”, so sánh lời nói
trực tiếp với lời nói gián tiếp để làm nổi bật đặc điểm của mỗi loại; đồng thời tác giả cũng trình bày khá cụ thể về các trường hợp dùng dấu bên cạnh lời nói trực tiếp
Trong [10], [14], các tác giả xem xét “lời trực tiếp” ở phương diện
chức năng của chúng
Trong [5], tác giả đã trình bày khá cụ thể những vấn đề về hội thoại trong tác phẩm văn học, đặc biệt là vai trò của nó trong cấu trúc kĩ thuật của tác phẩm Ở phương diện này, tác giả đã nêu ra hai kiểu hội thoại chính trong tác phẩm là: hội thoại ngầm (hội thoại nội tâm) và hội thoại hiện (hội thoại có nhân vật hội thoại xuất hiện) Theo GS Đỗ Hữu Châu thì hội thoại ngầm lại được chia thành: độc thoại nội tâm (là những lời nói bên trong của nhân vật
Trang 9nói về mình hoặc người, về việc khác, trong đó người nói và người nghe chỉ
là một - nhân vật độc thoại nội tâm) và đối thoại nội tâm (là một cuộc đối thoại giữa nhân vật với ai đó - ngôi thứ hai, song ngôi thứ hai này chỉ xuất hiện trong tâm tưởng của chủ thể đối thoại nội tâm) Còn hội thoại hiện sẽ được chia thành ba loại theo những hình thức khác nhau là: hội thoại trực tiếp, hội thoại gián tiếp và hội thoại nửa trực tiếp
Như vậy, vấn đề “lời nói trực tiếp” được dẫn lại trong tác phẩm văn
học được nhắc tới khá nhiều trong sách giáo khoa ở phổ thông , giáo trình đại học, sách nghiên cứu Điều đó cho thấy tầm quan trọng của hội thoại trong tác phẩm văn học
Nghiên cứu hội thoại trong tác phẩm văn học là nghiên cứu những cách thức mà tác giả đưa lời nói của nhân vật vào trong tác phẩm của
mình, Nó còn được biết dưới tên gọi là “Thoại dẫn” và được nhiều tác
giả quan tâm, nghiên cứu
Trong [11], tác giả đã đề cập đến thoại dẫn song tác giả chỉ dừng lại ở cách dẫn thoại (Dẫn lời của người khác vào diễn ngôn của mình) chứ chưa nghiên cứu ở phương diện thoại dẫn (Lời của người khác được đưa vào diễn ngôn của mình)
Trong [18], tác giả trình bày khá chi tiết và đầy đủ lí thuyết về thoại dẫn, phát hiện miêu tả cấu trúc của các hình thức thoại dẫn cùng với các hành vi ngôn ngữ được dẫn trong truyện ngắn Nam Cao song các hình thức được thể hiện bằng những dấu hiệu cụ thể, có sự tách biệt giữa lời dẫn và lời được dẫn
Từ những gợi mở của các nhà ngôn ngữ học trong sách giáo khoa, giáo trình, công trình nghiên cứu về thoại dẫn, chúng tôi muốn đưa ra một quan điểm, một cách nhìn về thoại dẫn trong tác phẩm văn học, đó là vấn đề thoại dẫn trực tiếp thông qua truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng những cơ sở lí thuyết đã xây dựng để nhận diện những đặc điểm của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đồng thời thể hiện được phong cách riêng của tác giả
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận là chỉ ra các hình thức biểu hiện của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ở các phương diện: cách thức dẫn thoại, lời dẫn, lời được dẫn
Nghiên cứu, phát hiện, miêu tả những biểu hiện cụ thể của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát 42
truyện ngắn trong “Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” do Nguyễn Hồng Hạnh tuyển chọn, hiệu đính
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
Trang 115.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Với phương pháp này, chúng tôi đi vào tìm hiểu cách dùng từ loại trong lời dẫn và lời được dẫn để thấy được cách nhìn của tác giả đối với sự việc và những hành động, cử chỉ, tính cách, thái độ của từng nhân vật trong truyện
5.2 Phương pháp phân tích cú pháp
Phân tích lời dẫn (lời của tác giả) và lời được dẫn (lời của nhân vật) ở phương diện cấu trúc cú pháp: kiểu câu được sử dụng, hệ thống dấu câu để thấy được những đặc điểm của chúng và sự chi phối của chúng trong nội dung của từng văn bản
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với thoại dẫn trực tiếp trong một số truyện ngắn của tác giả khác để làm nổi bật đặc điểm của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và thấy được phong cách riêng của tác giả
5.4 Phương pháp tổng hợp, hệ thống
Dựa trên việc miêu tả, phân tích; chúng tôi tổng hợp lại những đặc điểm cơ bản của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cùng cách tiếp cận, nghiên cứu thoại dẫn trực tiếp
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại nguồn ngữ liệu Đó là các tham thoại, đoạn thoại trong tập truyện ngắn
được thể hiện dưới hình thức thoại dẫn trực tiếp, sau đó phân loại theo các đặc điểm riêng để phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận
6 Ý nghĩa của khóa luận
6.1 Ý nghĩa khoa học
Tập hợp những quan điểm đã có, bước đầu xây dựng một hệ thống lí luận về thoại dẫn trực tiếp trên cơ sở lí thuyết hội thoại để giải quyết những
Trang 12Hình thành nên một phương pháp nghiên cứu thoại dẫn, trong đó hình thành nên một hệ thống những vấn đề và các bước cụ thể nghiên cứu thoại dẫn trực tiếp
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; khóa luận có cấu trúc gồm hai chương:
Chương một: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Chương hai: ĐẶC ĐIỂM CỦA THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Lí thuyết hội thoại
1.1.1 Vai giao tiếp và quan hệ giao tiếp
Giao tiếp là một hoạt động trong đó phương tiện được sử dụng là ngôn ngữ Trong giao tiếp, ngoài các nhân tố: hoàn cảnh giao tiếp, hiện thực được nói tới, hệ thống tín hiệu được sử dụng làm công cụ còn có nhân vật tham gia giao tiếp, mối quan hệ giữa các nhân vật luôn chi phối đến nội dung và hình thức của giao tiếp Đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân Trong đó, quan hệ liên cá nhân được xét theo hai trục: trục ngang và trục dọc
- Quan hệ dọc hay quan hệ vị thế: là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành vị thế trên dưới xếp thành từng bậc trong một trục dọc Trục này đặc trưng bởi tính bình đẳng hay bất bình đẳng giữa các nhân vật giao tiếp
Quan hệ vị thế được biểu hiện qua: tuổi tác, địa vị xã hội, cử chỉ, điệu
bộ, cách xưng hô, từ tình thái, tư thế, không gian giao tiếp…
- Quan hệ ngang hay quan hệ thân cận: Được đặc trưng bằng yếu tố
“khoảng cách”, một ẩn dụ không gian biểu trưng cho sự gần gũi hay xa cách trong quan hệ Giữa cực thân tình và xa cách có nhiều mức độ khác nhau và
có thể thay đổi theo hướng: hoặc khoảng cách cùng xa ra, hoặc khoảng cách cùng hẹp lại
Quan hệ ngang được thể hiện ở dấu hiệu bằng lời (cách xưng hô, đại từ nhân xưng…), dấu hiệu phi lời (cử chỉ, điệu bộ…), dấu hiệu kèm lời (cường
độ nói, tốc độ nói…)
Trong một cuộc giao tiếp bằng lời, giữa các nhân vật có sự phân vai giao tiếp: vai nói và vai nghe (vai phát và vai nhận) và luôn có sự thay đổi
Trang 14nhân vật liên tục nói, một nhân vật liên tục nghe như trong một bài giảng, bài thuyết trình, …
Trong giao tiếp, mỗi vai đều xây dựng cho mình một hình ảnh tinh thần
về người tiếp nhận mình; căn cứ vào hình ảnh tinh thần đó mà xây dựng chiến lược giao tiếp Hình ảnh tinh thần luôn thay đổi trong cuộc giao tiếp, khi kết thúc cuộc giao tiếp sẽ có hình ảnh cố định về người mình vừa giao tiếp
1.1.2 Hành vi ngôn ngữ và sự phân loại hành vi ngôn ngữ
1.1.2.1 Hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ là một hoạt động của con người sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Nhà triết học Anh Austin là người đầu tiên phát hiện ra bản chất hành động của ngôn ngữ, đây là hành vi được thực hiện khi chúng ta nói hoặc viết, đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và đích của hành động Austin cho rằng có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời
- Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm,
từ, kết hợp từ thành câu để tạo ra một phát ngôn hoàn chỉnh về hình thức và nội dung [4, tr.88]
- Hành vi mượn lời là hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ hay mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói [4, tr.88] Hiệu quả và điều kiện của hành
vi mượn lời không nằm ở trong lời mà ở ngoài lời
Ví dụ: Khi nghe phát ngôn của Sp1: “Đóng cửa lại!” thì Sp2 có thể
đứng dậy đóng cửa, hoặc tỏ vẻ khó chịu… Những biểu hiện đó đều thuộc hành vi mượn lời Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ hiệu quả mượn lời của phát ngôn
- Hành vi ở lời là hành vi được thực hiện ngay khi nói năng, chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [4,tr.89]
Trang 15Chẳng hạn, hành vi ở lời “hỏi” có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều mà người nói chưa rõ và người nghe phải trả lời; hành vi ở lời “hứa” lại
có đích là người nói tự ràng buộc vào mình vào một hành động sẽ thực hiện trong tương lai, người nghe có quyền lợi hưởng kết quả của lời hứa của lời hứa đó
Ba loại hành vi này được thực hiện đồng thời khi tạo ra một diễn ngôn, nên khi phát ngôn cần nắm được các từ, biết đặt câu đúng ngữ pháp, sử dụng đúng quy tắc mà hành vi ở lời đặt ra
1.1.2.2 Phân loại các hành vi ngôn ngữ
Việc phân loại các hành vi ngôn ngữ là vấn đề không đơn giản Các nhà ngôn ngữ học đều có những quan điểm riêng, đưa ra những cách phân loại khác nhau như: Austin chia thành 5 phạm trù: Phán xử, hành sử, cam kết, trình bày, ứng xử; Searle lại chia thành 5 loại: Tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố Song, với đề tài này, chúng tôi nhận thấy cách phân loại của Anna Wierzbicka là phù hợp nhất Theo tác giả, các động từ nói năng biểu thị các hành vi ngôn ngữ có thể được chia thành 37 nhóm:
Trang 171.1.3 Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi
Trong [6], tác giả đã đồng nhất các phát ngôn ngữ vi với các biểu thức
ngữ vi và cho rằng: “Các phát ngôn ngữ vi cũng có thể gọi là các biểu thức
ngữ vi”
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản
phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực… Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành
vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lỗi đó được gọi là biểu thức ngữ vi”.[4,tr.91]
Ví dụ: Trong phát ngôn ngữ vi: “Xin bà con yên tâm, tôi sẽ không bao
che khuyết điểm cho ai” ứng với hành vi cam kết bao gồm biểu thức ngữ vi:
“Tôi sẽ không bao che khuyết điểm cho ai” và thành phần mở rộng: “Xin bà con yên tâm”
Phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi; thông thường, phát ngôn ngữ vi có hai phần là biểu thức ngữ vi và phần mở rộng Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành vi ở lời,
là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các hành vi ở lời; nhờ biểu thức ngữ vi
mà chúng ta nhận biết được các hành vi ở lời
Mỗi biểu thức ngữ vi được đánh dấu bằng những dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ những dấu hiệu này mà các biểu thức ngữ vi phân biệt với nhau Những dấu hiệu này là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời, bao gồm:
- Các kiểu kết cấu: Không đơn thuần là các kiểu câu xét theo mục đích nói mà còn bao gồm cả những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ngôn ngữ
Ví dụ: Hành động “cảm thán” thường có những từ đi kèm như: lắm, quá, cực kì, tuyệt vời…
- Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi để tổ chức các kết cấu và là dấu hiệu để chúng ta biết được hành vi nào đang được thực hiện
Trang 18Chẳng hạn: Hành vi “hứa” có động từ ngữ vi là “hứa”, hành vi xin lỗi có động
từ ngữ vi là “xin lỗi”…
- Ngữ điệu: Cùng một tổ chức từ vựng cụ thể, ngữ pháp cụ thể, nếu được phát âm với những ngữ điệu khác nhau sẽ cho những biểu thức ngữ vi khác nhau với những hành vi ở lời khác nhau
Ví dụ: Tùy theo ngữ điệu mà biểu thức “Mai tôi sẽ đến” được hiểu là
biểu thức ngữ vi hứa hẹn hay biểu thức ngữ vi đe dọa
- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể: Quan hệ này tạo nên nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân
tố của ngữ cảnh Các đặc tính ngữ nghĩa như tự nguyện hay cưỡng bức,tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại…của hành động đối với người tạo ra hành
vi và với người nhận hành vi cũng có giá trị như những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời
Ví dụ: Anh không nên làm như vậy
Nếu “làm như vậy” là một việc đã xảy ra trong quá khứ thì tổ hợp này là biểu
thức ngữ vi của hành vi trách móc, còn đó là việc chưa xảy ra thì đó là biểu thức ngữ vi của hành vi khuyên nhủ
đó Thông thường Sp1 và Sp2 là hai người hoàn toàn khác nhau từ trường hợp
Trang 19độc thoại Tuy vậy, ngay cả khi độc thoại thì người nói cũng có sự phân đôi nhân cách, tức người nói là một nhưng có nhân cách nghe và nhân cách nói
Trong trao lời, tất yếu phải có Sp1, điều này được thể hiện ở yếu tố bằng lời và yếu tố phi lời:
- Yếu tố bằng lời: Người nói nói ra một vấn đề nào đó bao giờ cũng phải ở vị trí ngôi thứ nhất Ngoài ra sự có mặt của Sp1 còn thể hiện ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, quan điểm của người nói trong nội dung của lượt lời trao
- Yếu tố phi lời: Trong quá trình trao lời, Sp1 có thể dùng những yếu tố phi lời (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt…) để làm dấu hiệu bổ sung cho lời nói, đánh dấu sự có mặt của mình trong lượt lời đang nói ra
Trong trao lời, Sp2 có thể có mặt trong lượt lời của Sp1, ngay trước khi Sp2 đáp lời thì người nghe đã được đưa vào lượt lời, cùng tồn tại với ngôi thứ nhất thường xuyên kiểm tra và điều hành sự trao lời của Sp1 Trong hội thoại,
dù là những cuộc đối thoại tùy ý, nhưng Sp1 không phải hoàn toàn tự do mà Sp2 luôn theo dõi và có phản ứng nếu lượt lời của Sp1 chưa phù hợp Vì vậy, Sp1 phải lấn trước vào Sp2, phải dự kiến tâm lí, tình cảm, hiểu biết… của Sp2, đồng thời phải dự đoán hiệu quả lượt lời của mình, dự đoán cách đáp của Sp2 để có thể áp đặt điều mình muốn nói vào Sp2 Đặc biệt, trong cuộc trò chuyện với người mới gặp lần đầu, trước khi đi vào nội dung chính, chúng ta thường có những lời đưa đẩy để thăm dò, xây dựng bức tranh tâm lí, sinh lí, vật lí…ban đầu về người đối thoại với mình
1.1.4.2 Sự trao đáp
Cuộc hội thoại được hình thành khi Sp2 đáp lại lượt lời của Sp1 Vận động trao đáp diễn ra liên tục, lúc nhanh lúc chậm với sự thay đổi vai nói vai nghe
Trang 20Cũng như sự trao lời, sự trao đáp cũng có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời; thông thường thì hai yếu tố này đồng hành nhau
Chúng ta đã biết phát ngôn là sản phẩm của các hành động ở lời Tất
cả các hành động ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể được thực hiện bằng các hành vi ngôn ngữ tương thích với hành vi dẫn nhập: hỏi / trả lời, chào / chào, xin lỗi / đáp lời…
Ví dụ: hành động xin lỗi / đáp lời của hai nhân vật sau:
- Tớ xin lỗi vì làm mất cây bút của cậu
- Không có gì, chuyện nhỏ ấy mà
Trong thực tế, ngay cả những hành vi tự thân của chúng không đòi hỏi sự hồi đáp như hành vi cảm thán hay khảo nghiệm vẫn cần đòi hỏi sự hồi đáp Tuy nhiên có những diễn ngôn mà người nghe không thể hồi đáp được như những diễn ngôn viết hoặc những diễn ngôn trong những cuộc hội thoại mà người nghe không đương diện, những cuộc hội thoại miệng trong đó người nghe không có quyền hồi đáp Tuy nhiên, đây là sự loại trừ hồi đáp trực tiếp, tức thời; trong chiều sâu, những diễn ngôn này vẫn cần đến sự hồi đáp nào đó có thể có của người tiếp nhận Hay nói khác đi, khi nói ra những diễn ngôn này, người nói vẫn phải dự tính đến sự hồi đáp của người tiếp nhận để có thể phản bác lại
1.1.4.3 Sự tương tác
Các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác dộng đến cách ứng
xử của từng người trong quá trình hội thoại Do có sự tương tác với nhau
mà trong hội thoại và qua hội thoại, những khoảng cách về sự khác nhau giữa các nhân vật giao tiếp được thu hẹp lại hoặc mở rộng ra Một cuộc thoại thành công là cuộc hội thoại mà sau đó những sự khác biệt trên bị mất
đi và ngược lại
Trang 21Trong hội thoại, các nhân vật hội thoại tác động lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học thì quan trọng nhất là tác động đến lời nói của nhau, trước hết là tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2 Lượt lời vừa là cái chịu tác động vừa là phương tiện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói, qua lời nói mà tác động đến tâm lí, sinh lí, vật lí của nhau Lượt lời giữa Sp1 và Sp2 phải hài hòa, cuộc hội thoại từ đó mà diễn ra nhịp nhàng, thuận tiện; ngược lại sẽ rơi vào tình trạng hỗn độn hoặc vướng mắc Trong cuộc hội thoại, mỗi nhân vật phải tự điều chỉnh hành động, thái
độ, lượt lời của mình theo diễn biến hội thoại sao cho phù hợp với những biến đổi của đối tác và tình huống hội thoại đang diễn ra
Như vậy, ba vận động trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc hội thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác
1.1.5 Các đơn vị hội thoại
Các đơn vị hội thoại bao gồm các đơn vị lưỡng thoại (hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại) và cá đơn vị đơn thoại ( do một người nói ra)
1.1.5.1 Các đơn vị lưỡng thoại
a Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất tính từ khi các nhân vật giao tiếp gặp nhau từ đầu cho đến khi kết thúc Chúng có thể xoay quanh một đề tài, một mục đích hay có thể gồm nhiều đề tài, nhiều mục đích khác nhau với sự có mặt của các nhân vật hội thoại Một cuộc thoại thường có cấu trúc là: Mở thoại, thân thoại và kết thoại
Ví dụ:
Thầy hỏi trò:
Trang 22- Bẩm Thánh ạ
Thầy gật gù khen hay quá Rồi tiếp:
- Thế chữ Nông, anh Dần?
- Bẩm đối với chữ Sâu ạ
Thầy lại tặc lưỡi khen hay
- Mày mua về, phải đưa cho tao
Cô Kim xua tay:
Trang 23Ví dụ:
Cô hàng ôm khư khư lấy mẹt vào lòng, xua lấy xua để:
- Chưa bán mở hàng đấy! Khỉ ạ!
Nó lại lê dịch sang kề nồi bún riêu:
- Lạy bà, con ăn mày bà một bát
Ví dụ:
Cụ Hường nghĩ ngợi một lát, rồi nói:
- Vâng, cái đó tùy các con tôi
[9, tr.295]
Ở ví dụ trên, lời nói của cụ Hường là một tham thoại
b Hành vi ngôn ngữ
Trang 24Đây là đơn vị nhỏ nhất của “ngữ pháp hội thoại” Các hành động ngôn ngữ tạo nên tham thoại có vai trò khác nhau trong một tham thoại bao gồm:
Hành động chủ hướng quyết định đích của tham thoại, cùng với hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại lập thành một cặp kế cận
Hành động phụ thuộc làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng, có thể đứng trước hoặc sau hành động chủ hướng
1.1.6 Vấn đề lượt lời
Trong [4], tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “lượt lời không phải là đơn
vị hội thoại Một lượt lời có thể bằng, lớn hơn, nhỏ hơn một tham thoại” Tuy
nhiên, trong [6], tác giả Nguyễn Đức Dân lại cho rằng lượt lời là đơn vị cơ bản của hội thoại
Lượt lời được quan niệm là một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt người tiếp theo nói Nếu trong cùng một lúc mà nhiều nhân vật cùng nói thì sẽ không trở thành lượt lời
Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó; vậy là
có sự điều hành luân phiên lượt lời trong hội thoại; đây chính là một trong những quy tắc của hội thoại
Quy tắc điều hành sư luân phiên lượt lời gồm một hệ thống những
“điều khoản” mà Sacks đã phát biểu như sau:
Thứ nhất: vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc hội thoại Thứ hai: mỗi lần chỉ một người nói
Thứ ba: lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có
những biện pháp để nhận biết khi nào thì một lượt lời chấm dứt
Thứ tư: nhiều người có thể nói một lúc nhưng thời điểm đó không kéo
dài
Thứ năm: thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác
kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, cũng không bị dẫm đạp lên nhau
Trang 25Thứ sáu: trật tự nói của những người tham gia hội thoại không cố định
mà luôn luôn thay đổi
Tuy nhiên, việc điều hành, phân phối lượt lời không đặt ra đối với những cuộc song thoại mà chỉ đặt ra đối với những cuộc đa thoại không có người điều khiển
Trong thực tế, những cuộc hội thoại có sự điều hành luân phiên lượt lời thì cuộc hội thoại đó thành công
1.1.7 Đích của hội thoại
Trong một cuộc hội thoại, bất cứ một lời nói nào của một nhân vật giao tiếp đều phải đề cập đến một vấn đề nào đấy có liên quan đến nội dung của cuộc thoại Đây cũng là một trong những nguyên tắc của hội thoại mà Grice
đã nêu ra năm 1967: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội
thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia vào”
[2, tr 229]
Song, không phải lời nói của một nhân vật nào cũng được người đối thoại hưởng ứng, khi đó, nó chỉ dừng lại ở mức “đề tài của lời” Còn trong trường hợp các nhân vật hội thoại cùng tham gia hưởng ứng, cộng tác, trao đổi xoay quanh một vấn đề nào đấy để cuộc hội thoại tiến đến đích thì nó trở thành “đề tài diễn ngôn”
Trong cuộc hội thoại có các nhân vật cùng thỏa thuận, cộng tác để có một tiếng nói chung thì cuộc hội thoại đó thành công, đạt được đích của hội thoại; còn những cuộc hội thoại nào mà sau đó mỗi người giữ riêng một lập trường, quan điểm, chính kiến của mình thì cuộc hội thoại đó không đi đến đích của nó
Trang 26Như vậy, đích của hội thoại luôn là một căn cứ quan trọng để chúng ta xác định các hành vi ngôn ngữ được dẫn trong thoại dẫn
Đây là một thoại dẫn, trong đó có lời dẫn của người nói: “Bắc lật ra
xem mặt con” và lời thoại thực sự của nhân vật: “Cậu đây, nín đi!” Có thể
nói,thoại dẫn là thành phần cơ bản, quan trọng của văn bản truyện, một đặc trưng cấu trúc nghệ thuật của thể loại truyện, một đơn vị trong lời nói của người kể chuyện Vì thế, nghiên cứu thoại dẫn thông qua một tác phẩm sẽ phát hiện được cách dùng độc đáo của nhà văn trong nghệ thuật kể chuyện
1.2.2 Đặc điểm của thoại dẫn trực tiếp
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, thoại dẫn trực tiếp là hình thức mà lời được dẫn tách riêng khỏi lời dẫn bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép Đồng thời, lời được dẫn tái hiện gần như đầy đủ các từ, ngữ điệu trong lời nói, lời thoại trong thực tế
Trang 27Ví dụ:
Thầy quản quắc hai con mắt, dọa báng súng vào ngực nó:
- Mày có giơ tay hay không thì mày bảo?
[9, tr.50]
Sử dụng thoại dẫn trực tiếp, người nói (người viết) không chỉ truyền đạt nguyên vẹn nội dung lời của người khác mà cả hình thức ngôn ngữ biểu đạt của họ nữa Bởi vì đối thoại là một phương diện tồn tại của con người, nó cho thấy cả bộ mặt tự nhiên, sinh động của hiện thực Vì thế, thoại dẫn trực tiếp
“bảo đảm được cả bản chất tự nhiên của người phát ngôn và cả nội dung giá trị chân ngụy của người nói” Trong tác phẩm văn học, nhà văn sử dụng hình thức thoại dẫn trực tiếp chính là cách để thể hiện đời sống ngôn ngữ của cả một xã hội
Bởi vậy, TDTT mang sắc thái biểu cảm cao, nó có thể bao gồm các phương thức biểu cảm: thán từ, hô ngữ, từ tình thái hay trong những trường hợp nhất định nào đó, để đảm bảo tính chân thực của lời nói có nhiều tác giả còn cố gắng ghi lại cả những nét ngôn ngữ cá nhân của người nói “Diễn ngôn trực tiếp tái hiện lại những lời nói, chỉ lặp lại chúng một cách đơn giản và thuần túy”
1.2.3 Các thành phần của thoại dẫn trực tiếp
Trang 28- Lời dẫn đứng sau lời được dẫn:
- Được! Xin ông hãy giữ lấy lời! - Ông Pành trả lời như dao chém đá
[16, tr.233]
- Lời dẫn xen vào giữa lời được dẫn:
- Em tên là gì? - Ông hỏi - Ngày mai ta đến cầu hôn… Em có bằng lòng ta không?
[16, tr.232]
Trong lời dẫn thường có động từ nói năng: nói, bảo, hỏi, kể, khuyên… Trong trường hợp người dẫn dẫn lời nói của chính mình hoặc dẫn ý nghĩ của chính mình thì chủ ngữ ở các dạng động từ này là ngôi thứ nhất (tôi), còn nếu người dẫn dẫn lời nói của người khác hoặc ý nghĩ của người khác thì chủ ngữ của những động từ đó ở ngôi thứ ba (hắn, nó, cô ấy, họ…) Lời dẫn ở độc thoại nội tâm thương có những động từ cảm nghĩ như: nghĩ, tự nhủ, tự hỏi…
Xét về cấu trsúc ngữ pháp: lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp có thể là một kết cấu C-V đơn giản, trong đó vị ngữ là một động từ nói năng (tôi nói, tôi bảo,…); có khi vị ngữ là một động từ cảm nghĩ (tôi nghĩ, tôi tự nhủ…); cũng
có trường hợp vị ngữ là một cụm từ miêu tả hành động, cử chỉ, động tác, vẻ mặt mà chủ ngữ thường làm khi nói (hắn vênh mặt lên, đứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại…)
1.2.3.2 Lời được dẫn
Ở thoại dẫn trực tiếp, lời được dẫn thường được đặt ở sau dấu hai chấm
và trong dấu ngoặc kép
Ở độc thoại nội tâm trực tiếp, ý nghĩ thực sự được dẫn cũng có thể được đặt trong dấu ngoặc kép và sau dấu hai chấm; chủ thể của ý nghĩ luôn xuất hiện ở ngôi thứ nhất
Ở lời được dẫn trực tiếp, người nói luôn xuất hiện ở ngôi thứ nhất, nếu
có người nghe thì ở ngôi thứ hai
Trang 29Lời dẫn trực tiếp chứa đựng cả những yếu tố biểu cảm của người nói như: thán từ, từ xưng hô, lời than thở…tạo cảm giác trung thực cho những lời trích dẫn
Về chức năng của lời được dẫn trong tác phẩm văn học, trong [14], tác giả Phương Lựu cho rằng lời được dẫn có chức năng:
- Chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật
- Chức năng tự bộc lộ của nhân vật, cho thấy sự tồn tại của nó
- Chức năng như một hành động, một sự kiện đối với nhân vật khác
- Chức năng của thực tại lời nói bên ngoài ý thức tác giả, đối tượng suy
tư của tác giả
- Chức năng biểu hiện nội tâm, thế giới bên trong của nhân vật
1.2.3.3 Vấn đề điểm nhìn
Điểm nhìn là vấn đề phức tạp, khó nắm bắt Điểm nhìn được định nghĩa như sau:
“Điểm nhìn là vị trí mà từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật
trong tác phẩm… Điểm nhìn nghệ thuật có thể phân chia thành điểm nhìn không gian và thời gian (…), có điểm nhìn tâm lí khi người trần thuật nhìn theo tầm mắt của nhân vật có đặc điểm giới tính, lứa tuổi hoặc quan hệ thân sơ; bên trong hay bên ngoài Có điểm nhìn quang học hoàn toàn khách quan
Có điểm nhìn theo một mô hình văn hóa nào đó (…) Có điểm nhìn theo một
hệ tư tưởng nhất định với lập trường, quan niệm và tính chất giai cấp, xã hội
rõ rệt”
[8, tr.113]
Ở thoại dẫn trực tiếp và độc thoại nội tâm trực tiếp bao gồm:
- Tình huống lời nói được dẫn: trung tâm chỉ xuất là nhân vật
- Tình huống ý nghĩ của nhân vật: trung tâm chỉ xuất là người dẫn
Trang 30Từ đó ta thấy ở thoại dẫn trực tiếp hay độc thoại nội tâm trực tiếp thì đều có hai điểm nhìn phân biệt là điểm nhìn của người dẫn và điểm nhìn của người được dẫn
Điểm nhìn được chia thành hai dạng nhỏ:
- Điểm nhìn bên ngoài: là điểm nhìn không gian, nơi mà người kể quan sát, thuật lại câu chuyện (Tại bến sông, ở ngôi làng nọ…) và điểm nhìn thời gian – thời điểm người kể kể lại diễn biến câu chuyện (Hôm qua, một buổi sáng…)
- Điểm nhìn bên trong: là điểm nhìn thể hiện nội tâm nhân vật, chủ yếu
là lời độc thoại và đối thoại của nhân vật
Một truyện có nhiều điểm nhìn thì sẽ khách quan hơn, khắc phục hạn chế của ngôn ngữ Qua đó, người đọc sẽ lựa chọn điểm nhìn mà mình thấy hợp lí nhất trong những điểm nhìn của truyện
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
Ở chương 1, chúng tôi đã đưa ra một số nét khái quát về lí thuyết thoại dẫn cùng với một số ví dụ Trong chương này, chúng tôi sẽ nghiên cứu cụ thể các thoại dẫn trực tiếp trong tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Xét về dấu hiệu hình thức của các thoại dẫn, chúng tôi nhận thấy ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nét khác biệt cở bản: lối loanh quanh, rườm ra hầu như không có trong truyện ngắn của ông; lời thoại của nhân vật là những câu ngắn gọn, tỉnh lược các thành phần phụ, cộc lốc, trống không, ít xuống dòng Cách viết này đã tạo ra một phong cách riêng cho tác giả Nguyễn Huy Thiệp
Để tìm hiểu đặc điểm của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi sẽ đề cập đến những vấn đề sau:
- Cách thức dẫn của thoại dẫn trực tiếp
- Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp
- Lời được dẫn trực tiếp
- Vấn đề điểm nhìn
2.1 Cách thức dẫn của thoại dẫn trực tiếp
Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được dẫn theo hai cách: Thoại dẫn trực tiếp có lời dẫn và lời được dẫn; thoại dẫn trực tiếp không có lời dẫn
2.1.1 Thoại dẫn trực tiếp có lời dẫn
Dẫn trực tiếp là cách thức dẫn được sử dụng nhiều trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Với cách dẫn thoại này, tác giả thể hiện rõ vai trò của mình qua từng lời thoại Loại thoại dẫn này chúng tôi gọi là thoại dẫn trực tiếp
Trang 32Trong tác phẩm văn học, thường lệ, đối thoại được thuật lại trực tiếp do tác giả - người kể chuyện thực hiện Dấu hiệu hình thức để nhận ra đối thoại
là có người dẫn về tên người nói, đầu câu thoại có gạch đầu dòng và khi hết lời thì xuống dòng và chuyển sang lời người khác Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, bên cạnh dẫn thoại truyền thống, tác giả còn để lời thoại nhân vật nằm liền sau lời dẫn của mình, không xuống dòng mà dùng dấu hai chấm, dấu ngoặc kép hoặc dấu gạch ngang để tách biệt với lời được dẫn
2.1.1.1 Lời dẫn và lời được dẫn ngăn cách bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép
Đây là hình thức dẫn được phát hiện nhiều trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Ví dụ:
Cưới vợ cho con, ông Bổng nói với cha tôi:“Anh phải đứng ra chủ hôn,
bố cháu Kim Chi Vụ phó, anh là tướng, thế là “môn đăng hộ đối” Sau này các cháu nhờ phúc của ông, như tôi là thằng phu xe, báu gì!”
[16, tr.22]
Thoại dẫn này được dẫn theo cách trực tiếp, có lời dẫn: “Cưới vợ cho con,
ông Bổng nói với cha tôi” và lời được dẫn: “Anh phải đứng ra… báu gì!”
Trang 33lại làm nổi bật sự hiện diện của từng nhân vật trong hội thoại Tác giả luôn là người điều hành cuộc hội thoại, dẫn dắt nhân vật hành động Bằng cách này tác giả làm giảm đi tính liên tục của hội thoại Đặt trong hệ thống lời thoại của đoạn thoại, ta thấy các nhân vật không ai nói rõ ý định của mình, trừ nhân vật Đoài Lời thoại của Đoài phá vỡ trật tự vai vế trong hội thoại nhưng thiết lập một trật tự mới với sự thắng thế của tinh thần thực dụng Qua đó, ta thấy chất kịch trong cuộc hội thoại, ở đó các lời nói hỗn loạn mà lại có quy tắc nhờ vào
sự điều hành cuộc thoại bằng cách đi kèm với mỗi lời thoại của nhân vật là một lời dẫn
2.1.1.2 Lời dẫn và lời được dẫn ngăn cách bằng dấu gạch ngang
Đây là trường hợp lời dẫn và lời được dẫn được viết tách dòng với nhau bằng dấu hai chấm qua dòng và có dấu gạch ngang đằng trước; hoặc lời dẫn
và lời được dẫn viết cùng dòng nhưng ngăn cách bằng dấu gạch ngang