1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng về giá cước,chất lượng dịch vụ của các mạng di động hiện nay

25 402 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về giá cước, chất lượng dịch vụ của các mạng di động hiện nay
Tác giả Trần Thị Ngọc Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 203,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điện thoại di động đang tác động sâu sắc đến cuộc sống.Qua câu chuyên tới đây chúng ta có thể hiểu điện thoại di động đang thay đổi cuộc sống của chúng ta hiện nay.

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu 2

Nội dung chính 4

Chương 1:Lý thuyết về hành vi mua của người tiêu dùng 4

1.Khái niệm hành vi mua của người tiêu dùng 4

2.Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng 4

a.Các nhân tố kích thích 5

b.Hộp đen ý thức người tiêu dùng 5

c.Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng 5

3.Quá trình thông qua quyết định mua 6

a.Các bước của quá trình quyết định mua 6

b.Nhận biết nhu cầu 6

c.Tìm kiếm thông tin 7

d.Đánh giá các khả năng (phương án) thay thế 7

e.Quyết định mua 7

f.Đánh giá sau khi mua 7

Chương 2:Thực trạng về các mạng di động hiện nay 8

1.Hành vi lựa chọn của người tiêu dùng 8

2.Thị phần của các mạng di động 10

a.Thị trường điện thoại di động với cấu hình cơ bản 10

b.Thị trường điện thoại di động với cấu hình trung bình và cao 12

3.Kết luận 14

Chương 3:Giải pháp của các mạng di động 18

1.Những ưu điểm của các doanh nghiệp 18

2.Những nhược điểm của các doanh nghiệp 19

3.Giải pháp của các mạng di động 21

Phần kết luận 23

Tài liệu tham khảo 24

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Điện thoại di động đang tác động sâu sắc đến cuộc sống.Qua câu chuyên tới đây chúng ta có thể hiểu điện thoại di động đang thay đổi cuộc sống của chúng ta hiện nay.Câu chuyện là:”Khoảnh khắc tôi nhận ra tầm quan trọng của điện thoại di động xảy ra vào mùa xuân năm 2009,khi tôi mới chuyển tới Oakland,California.Tôi đang trên xe bus.Ngồi đối diện với một người đàn ông đã cao tuổi,trông dáng vẻ như là một người vô gia cư.Có tiếng chuông điện thoại reo và ông thò tay vào túi chiếc áo jacket đã sờn và lôi ra một chiếc điện thoại nhỏ.”Xin chào? Vâng,tôi đây ạ.Cảm ơn vì đã gọi lại cho tôi”,ông bắt đầu câu

chuyện,và xin lỗi vì những tiếng ồn trên xe bus.”Vâng,vâng,tôi chỉ muốn hỏi xem liệu cuộc hẹn của tôi đã được khẳng định trong hệ thống của chị hay chưa.Tôi đã nhận được tinnhắn vào hôm qua và sau đó nhắn lại,nhưng tôi chỉ muốn kiểm tra lại xem liệu chị đã nhận được tin nhắn và tên tôi đã nằm trong danh sách các cuộc hẹn của chị chưa?

Ok,tốt,tốt.Vâng,tôi sẽ tới vào ngày mai.Bởi vì tôi thực sự bị đẩy ra đường ở thời điểm này”.Trong khi tôi lắng tai nghe cuộc trò chuyện kể trên,thì tôi đã dùng chiếc iPhone của mình và đăng nhập vào mạng xã hội Twitter.Điều này nghe có vẻ như chẳng ăn nhập gì nhưng trên màn hình của tôi khi đó là hai thông tin rất đáng chú ý : một thông báo về những thành tựu phát triển đáng chú ý về một chính sách năng lượng là chủ đề tôi rất thích (nhưng chủ đề này không quá phổ biến trên phương tiện truyền thông) và một tin cập nhật từ một người bạn mà tôi không gặp trong nhiều năm,thông báo rằng lần truyền hóa chất thứ ba của chị để chống lại căn bệnh ung thư vú đã trải qua nhẹ nhàng hơn hai lần

trước.Chỉ sau vài giây,tôi đã chia sẻ những thông tin cập nhật của chính sách này tới hơn 5.000 người kết nối với tôi trên Twitter,sau đó tôi gửi một tin nhắn trực tiếp tới bạn tôi để động viên chị ấy.Sau đó tôi cất chiếc iPhone vào túi và dừng lại để quan sát người đàn ông trên xe bus ở trên.Tôi không nói gì với ông ấy,nhưng tôi chỉ nhìn vào bộ quần áo sờn cũ mà ông ấy đang mặc,với một chiếc túi thể thao cũ mềm đựng những thứ đồ đạc linh tinh,vàông mang gương mặt nhăn nheo cùng với bề ngoài rất mệt mỏi.Đó là cách mà điện thoại diđộng đã thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào.”

Điện thoại di động có thể làm chúng ta mất tập trung,bị làm phiền,trở nên tầm thường hay bực dọc.Chúng thường cung cấp cho chúng ta những cuộc đàm thoại với chất lượng kém.Nhưng điện thoại di động ngày nay cung cấp cho ta những dịch vụ quan trọng và những kết nối con người với con người.Chúng kết nối những người đang có những nhu cầukhẩn thiết với những dịch vụ mà có thể thay đổi cuộc sống của họ và mang tới cho họ những niềm hy vọng,cho dù chỉ là thông qua một tin nhắn văn bản đơn giản được gửi đi rộng rãi

Ngày nay,ở Việt Nam cũng như rất nhiều nước trên thế giới việc sử dụng điện thoại di động rất phổ biến đối với mọi lứa tuổi.Ngày càng nhiều người sử dụng,không những một máy mà hai,ba máy để liên lạc vì thế mạng di động là vấn đề quan tâm của rất nhiều

Trang 3

người.Họ quan tâm về giá cước,chất lượng dịch vụ của các mạng và họ so sánh chung với nhau để quyết định việc sử dụng mạng nào là phù hợp với nhu cầu và công việc của mình Trên thị trường mạng di động tại Việt nam hiện nay có 4 mạng cơ bản Người tiêu dùngcoi rằng Mobi và Vina là các mạng có đẳng cấp cao nhất về chất lượng Tiếp đến là

Viettel, và cuối cùng là S-fone Sự phân cấp như vậy chủ yếu là do sự khác biệt về chất lượng sóng.Mobi và Vina, thuộc VNPT, có chất lượng sóng cao nhất, nhờ vào việc kiểm soát quyền sở hữu hạ tầng mạng của chính phủ Viettel bị hạn chế hơn về hạ tầng mạng Và đặc biệt là S-fone, cho tới gần đây, vùng phủ sóng chỉ có ở Hà nội và TP HCM Do vậy, cả hai mạng này phải dựa chủ yếu vào giá cước thấp và khuyến mãi để thu hút thuê bao

Mục đích nghiên cứu chính ở đây là phân tích hành vi lựa chọn mạng của người tiêu dùng,dựa trên những cân nhắc về chất lượng dịch vụ và giá cước thuê bao Bài viết cũng đánh giá chiến lược cạnh tranh của từng nhà cung cấp dịch vụ mạng và khả năng mở rộng thị phần của họ

2.Mục tiêu của đề tài.

Mục đích chính của đề tài này là so sánh về giá cước và chất lượng dịch vụ của các mạng

di động ở Việt Nam hiện nay để từ đó khách hàng có thể đưa ra quyết định về việc sử dụngmạng di động nào phù hợp với nhu cầu của mình

3.Nội dung của đề tài.

Ngoài phần mục lục, phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài bao gồm:

Chương một : Lý thuyết hành vi mua của người tiêu dùng

Chương hai : Thực trạng về giá cước,chất lượng dịch vụ của các mạng di động hiện nay Chương ba : Giải pháp của các mạng di động

Trang 4

Chương 1: Lý thuyết hành vi mua của người tiêu dùng.

1.Khái niệm hành vi mua của người tiêu dùng.

Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ratrong quá trình điều tra,mua sắm,sử dụng,đánh giá cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏamãn nhu cầu của họ

2.Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng.

Các nhân tố

Luật pháp Cạnh tranh

Phản ứng đáp lại

Lựa chọn hàng hóaLựa chọn nhãn hiệuLựa chọn nhà cung ứngLựa chọn thời gian và địa điểm mua

Lựa chọn khối lượng mua

“Hộp đen ý

thức” của người tiêu dùng

Các đặc tính của người tiêu dùng

Quá trình quyết định mua

Trang 5

Sơ đồ 1:Mô hình hành vi người tiêu dùng

a.Các nhân tố kích thích

.

Là tất cả các tác nhân,lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng.Chúng được chia làm hai nhóm chính.Nhóm một:Các tác nhânkích thích của marketing:sản phẩm,giá bán,cách thức phân phối và các hoạt động xúc tiến.Các tác nhân này nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.Nhóm hai:các tác nhân kích thích không thuộc quyền kiểm soát tuyệt đối của doanh nghiệp,bao gồm: môi trường kinh tế,cạnh tranh,chính trị,văn hóa,xã hội

b.”Hộp đen” ý thức của người tiêu dùng.

Là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt động của nó trong việc tiếp nhận,xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở lại các kích thích.”Hộp đen” ý thức được chia làm hai phần.Phần thứ nhất:đặc tính của người tiêu dùng.Nó có ảnh hưởng cơ bản đến việc người tiêu dùng sẽ tiếp nhận các kích thích và phản ứng đáp lại các nhân tố đó như thế nào? Phần thứ hai:quá trình quyết định mua của người tiêu dùng.Là toàn bộ lộ trính người tiêu dùng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự quyết định của ước

muốn,tìm kiếm thông tin,mua sắm,tiêu dùng và những cảm nhận họ có được khi tiêu dùng sản phẩm.Kết quả mua sắm sản phẩm của người tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào các bước của lộ trình này có được thực hiện trôi chảy hay không

c.Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng.

Là những phản ứng người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được.Chẳng hạn,hành vi tìm kiếm thông tin về hàng hóa,dịch vụ;lựa chọn hàng hóa,nhãn hiệu nhà cung ứng.lưạ chọn thời gian,địa điểm,khối lượng mua sắm

Trang 6

3.Quá trình thông qua quyết định mua.

a.Các bước của quá trình ra quyết định mua

.

Để có một giao dịch,người mua phải trải qua một tiến trình bao gồm năm giai đoạn:nhận biết nhu cầu,tìm kiếm thông tin,đánh giá các phương án,quyết định mua và hành vi sau khi mua

Nhận biết nhu cầu 

Sơ đồ 2:Quá trình quyết định mua.

Mua là một quá trình,trong mỗi bước người tiêu dùng phải có những quyết định cụ thể được xem như là những bậc thang về nhận thức mà hành động mua hàng chỉ là bậc cuối cùng

Tìm kiếm thông tin

Đánh giá sau khi mua

Trang 7

b.Nhận biết nhu cầu.

Bước khởi đầu của tiến trình mua là sự nhận biết về một nhu cầu muốn được thỏa mãn của người tiêu dùng.Nhận biết nhu cầu là cảm giác của người tiêu dùng về một sự khác biệt giữa trạng thái hiện có và trạng thái họ mong muốn

Nhu cầu có thể phát sinh do các kích thích bên trong (tác động của các quy luật sinh học,tâm lý) hoặc bên ngoài (kích thích của marketing) hoặc cả hai.Khi nhu cầu trở nên bứcxúc,người tiêu dùng sẽ hành động để thỏa mãn Nhiệm vụ của các nhà marketing tương ứng với giai đoạn này:nghiên cứu người

tiêudùng,phát hiện những loại nhu cầu nào đang phát sinh? Cái gì tạo ra chúng? Và

ngườitiêu dùng muốn thỏa mãn chúng bằng những sản phẩm,dịch vụ cụ thể như thế nào? Trả lời được những câu hỏi này,chúng ta có cơ sở triển khai các hoạt động marketing,tao sự quan tâm và thúc đẩy nhu cầu của người tiêu dùng

c.Tìm kiếm thông tin.

Khi sự thôi thúc của nhu cầu đủ mạnh,người tiêu dùng thường tìm kiếm thông tin liên quan đến sản phẩm,dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của mình.Cường độ của việc tim kiếm thông tin cao hay thấp tùy thuộc vào sức mạnh của sự thôi thúc;khối lượng thông tin mà người tiêu dùng đã có;tình trạng của việc cung cấp thông tin bổ sung

Khi tìm kiếm thông tin liên quan đến sản phẩm,dịch vụ,người tiêu dùng có thể sử dụng những nguồn cơ bản sau:

Thứ nhất : Nguồn thông tin cá nhân:gia đình,bạn bè,người quen

Thứ hai : Nguôn thông tin thương mại:quảng cáo,người bán hàng,hội chợ,triển lãm,bao bì,thương hiệu

Thứ ba : Nguồn thông tin đại chúng:các phương tiện truyền thông,dư luận

Thứ tư : Kinh nghiệm:khảo sát trực tiếp,dùng thử,qua tiêu dùng

Mức độ ảnh hưởng của những nguồn thông tin nói trên thay đổi tùy theo loại sản phẩm và đặc tính của khách hàng.Kết quả của việc thu thập thông tin,người tiêu dùng có thể biết được các loại sản phẩm hoặc thương hiệu hiện có trên thị trường

d.Đánh giá các khả năng (phương án) thay thế.

Giai đoạn tiếp theo của quá trình quyết định mua,người tiêu dùng sẽ xử lý các thông tin để đánh giá các thương hiệu có khả năng thay thế nhau,nhằm tìm kiếm được thương hiệu theo họ là hấp dẫn nhất

e.Quyết định mua.

Kết thúc giai đoạn đánh giá các phương án,người tiêu dùng có một bộ nhãn hiệu lựa chọn

được sắp xếp theo thứ tự trong ý định mua.Những sản phẩm,thương hiệu được người tiêu dùng ưa chuộng nhất chắc chắn có cơ hội tiêu thụ cao nhât

f.Đánh giá sau khi mua.

Trang 8

Sự hài lòng và không hài lòng sau khi mua và sử dụng sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến hành

vi mua tiếp theo của người tiêu dùng.Sự hài lòng hoặc bất mãn của người tiêu dùng là nguyên nhân quan trọng nhất hình thành thái độvà hành vi mua của hojkhi nhu cầu tái xuất hiện và khi họ truyền bá thông tin về sản phẩm cho người khác

Trang 9

Chương 2:Thực trạng của các mạng di động hiện nay.

1.Hành vi lựa chọn của người tiêu dùng.

Ngày nay, sự gia tăng của các tiện ích mạng; cộng với tính đa dạng của các mẫu điện thoại di động (ĐTDĐ) khiến cho sự lựa chọn của người tiêu dùng trở nên rất phức tạp Bêncạnh đó,vô số những chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi, khiến cho khó ai mà có thể mô tả được hết những cân nhắc thiệt hơn trong đầu người tiêu dùng khi họ lựa chọn mạng hay máy ĐTDĐ.Điều đó dường như gợi ý rằng, việc phân tích và dự đoán hành vi của người tiêu dùng trở nên một nhiệm vụ “bất khả thi” Tuy nhiên, cho dù mẫu mã, các tiện ích, và những chính sách khuyến mãi có đa dạng đến thế nào chăng nữa, thì việc người tiêu dùng có lựa chọn một mạng thuê bao nào đó hay không cũng chỉ phụ thuộc vào việc họ đánh giáthế nào về những yếu tố đó Chúng có thỏa mãn cao nhất đòi hỏi của họ về chất lượng, tínhkinh tế, hay giá trị về đẳng cấp hay không Tức là, chúng có thỏa mãn tốt nhất ý thích của người tiêu dùng khi sử dụng một mạng di động hay không Tương tự như vậy, cho dù mẫu mã ĐTDĐ có đa dạng đến thế nào, thì trong suy nghĩ của người tiêu dùng, chúng cũng chỉ được phân vào một trong ba nhóm: cơ bản, trung bình, và cấu hình cao Tùy theo đòi hỏi của công việc, nhu cầu giải trí,cũng như sự ràng buộc về túi tiền, người tiên dùng sẽ tự lựa chọn cho mình cấu hình phù hợp nhất

Bởi vì mọi cân nhắc khi chọn lựa mạng đều phụ thuộc vào sự đánh giá tính phù hợp của các dịch vụ mạng hay các dòng máy so với sở thích cá nhân; nên sự lựa chọn này phụ thuộc vào nhận thức của người tiêu dùng về các dịch vụ hay sản phẩm đó Do vậy, quảng cáo, khuyến mãi, ý kiến bạn bè người thân, hay bất kỳ thông tin nào tác động tới nhận thứccủa người tiêu dùng, đều ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ Họ càng đánh giá caothông tin từ quảng cáo hay khuyến mãi, thì càng chứng tỏ những thông tin đó là bổ ích cho việc ra quyết định của người tiêu dùng Ngược lại, nếu họ đánh giá ý kiến bạn bè là quan trọng hơn, thì việc học hỏi nhận thức của người thân qua việc đã sử dụng sản phẩm là điều người tiêu dùng quan tâm hơn cả trước khi lựa chọn mạng Tùy thuộc vào những đánh giá này, chúng ta có thể nhận biết được giá trị thương hiệu của từng nhà cung cấp dịch vụ mạng Và có thể đánh giá được ảnh hưởng của những nhận thức đó tới quyết định thuê baocủa họ

Một cách khái quát, giá trị thương hiệu của mỗi mạng di động phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng sóng và các tiện ích mạng Mạng càng có uy tín cao, thì càng có thể đòi hỏi mức giá cước cao hơn Ngược lại, những mạng chưa tạo được giá trị thương hiệu thì buộc phải đưa ra mức giá cước thấp để thu hút lớp người tiêu dùng, mà tính kinh tế là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định thuê bao của họ Dựa vào thông tin quảng cáo, khuyến mãi, và ý kiến bạn bè,mỗi người tiêu dùng có cảm nhận riêng về độ phù hợp của từng mạng so với đòi hỏi của cá nhân Về nguyên tắc, họ có thể lựa chọn ra một mạng mà nó phù hợp nhất với sở thích và ràng buộc về túi tiền của mình Tức là, họ phải tự quyết định họ thuộc “đẳng cấp” nào trong thị trường thuê bao

Dĩ nhiên là không ai có thể đọc được sự cảm nhận về chất lượng, hay những phân tích thiệt hơn trong đầu của người tiêu dùng trước khi đi đến quyết định thuê bao.Nhưng hiển

Trang 10

nhiên là chúng ta có thể quan sát được quyết định đó khi nó đã được thực hiện.Quan trọng hơn, các quyết định này bộc lộ nhận thức tiềm ẩn trong suy nghĩ người tiêu dùng Rằng mạng di động nào là phù hợp nhất với nhu cầu của họ Dựa vào quan hệ như vậy,chúng ta có thể đánh giá được khả năng người tiêu dùng sẽ chọn mạng cụ thể để thuê bao, tùy theo sở thích hay ràng buộc tài chính của họ; mà ta có thể biết được thông qua điều tra thị trường.

Như đã nêu, mỗi người tiêu dùng thấy nên chọn mạng di động nào, là tùy thuộc vào cảm nhận của họ về mức độ quan trọng về chất lượng dịch vụ và tính kinh tế Câu hỏi điều tra yêu cầu người được phỏng vấn nêu cảm nhận của họ về tầm quan trọng của từng nhân tố đó, được xếp hạng từ rất quan trọng, xuống tương đối, ít quan trọng, và cuối cùng là không quan trọng Các mức độ quan trọng đó được mã hóa từ 4 xuống 3, 2, và cuối cùng là

1 Người được hỏi sẽ chọn thứ bậc mà nó gần nhất với cảm nhận của họ về từng yếu tố để trả lời phỏng vấn Họ cũng cho biết sự lựa chọn mạng của họ là gì

Thông tin cho nhận thức:

• Quảng cáo

• Khuyến mãi

• Tư vấn của cửa hàng

• Ý kiến bạn bè & người thân

Yêu cầu cá nhân về mạng Lựa chọn đẳng cấp

• Chất lượng sóng

• Giá cước • VinaPhone

• Tiện ích mạng • Viettel

• S-fone Yêu cầu về ĐTDĐ cho công việc & giải trí •MobiFone

• Tính thời trang

• Đơn giản, hợp túi tiền

• Tính năng hỗ trợ công việc (wireless, excel)

Độ tuổi (liên quan tới thu nhập & nhận thức)

Sơ đồ 1: Bảng hỏi được tóm tắt

Về tầm quan trọng của thông tin giúp cho sự nhận thức: dữ liệu điều tra cho thấy không có sự khác biệt nhiều về nhận thức giữa hai lớp đối tượng điều tra, thu nhập thấp (TNT), vàthu nhập trung bình và cao (TNC).Đối tượng thứ nhất là học sinh sinh viên,công nhân,và những người buôn bán nhỏ,hành nghề tự do;đó là đối tượng có thu nhập thấp.Còn đối tượng có thu nhập cao là nhân viên văn phòng,kỹ sư,bác sĩ,dược sĩ,giảng viên,doanh nhân và các đối tượng khác Cả hai lớp đối tượng này đều cho rằng, quảng cáo là ít quan trọng Trong khi đó, khuyến mãi là tương đối quan trọng khi đi chọn mạng

Qua điều tra cũng cho thấy,nhóm có độ tuổi dưới 25,hoặc từ 25 đến 35 quan tâm nhất tớithông tin khuyến mại.Có thể vì họ năng động hơn hay có thu nhập thấp hơn nên nhu cầu nắm bắt tin tức đó là cao hơn.Điều đó gợi ý rằng,độ tuổi có ảnh hưởng tới hiệu ứng của khuyến mại tới số lượng thuê bao

Trang 11

Đối với lớp trẻ,hiệu ứng đó là mạnh;đối với lớp cao tuổi hiệu ứng của khuyến mại là ít có ý nghĩa phần vì họ không thạo tin phần vì họ có ít nhu cầu

Đối với yêu cầu về dịch vụ mạng: Cả hai lớp TNT và TNC đều đòi hỏi rất cao về chất lượng sóng và giá cước hợp lý

Tuy nhiên, cũng cần phải nói ngay rằng, đối với lớp thu nhập cao, đòi hỏi về chất lượng sóng tốt là điều đương nhiên Vì vậy, ta dự đoán rằng, yếu tố này sẽ ít có ý nghĩa trong việcgiải thích hành vi lựa chọn mạng của họ Họ sẽ chọn MobiFone, VinaPhone, hay Viettel, tùy theo giá cước có đủ thấp để bù đắp cho sự giảm xuống về chất lượng sóng hay không Nhưng chất lượng sóng vẫn phải ở mức chấp nhận được Ngược lại, đối với lớp thu nhập thấp, yêu cầu chất lượng sóng có thể phải bị hy sinh đáng kể, để nhường chỗ cho đòi hỏi vềtính kinh tế, tức là mức giá cước thấp Vì vậy, S-fone khá thành công trên thị trường cấu hình cơ bản, giành cho những người tiêu dùng có thu nhập thấp nhất; bất kể vùng phủ sóngbị hạn chế.Điều này tạo ra một sự khác biệt cơ bản trong yêu cầu về dịch vụ mạng và máy giữa hai nhóm TNT và TNC Đối với lớp TNT, nhận thức về dịch vụ của mạng, đặc biệt là chất lượng sóng và các chính sách khuyến mãi, trở nên rất nhạy cảm trong quyết định thuê bao của họ Chất lượng sóng càng bị đánh giá ở mức thấp, thì giá cước và khuyến mãi phảiđược đánh giá ở mức đủ cao để có thể thu hút sự quan tâm của họ Điều đó đúng cho Viettel,và càng đúng đối với S-fone

Thêm vào đó, trên thị trường ĐTDĐ, lớp TNT là những người tiêu dùng thuộc phân khúc cấu hình cơ bản Do vậy, tiện ích mạng, cũng như những đòi hỏi tính năng hỗ trợ công việc, tính thời trang của ĐTDĐ nếu có được đánh giá cao, thì phần nhiều cũng chỉ là sự ao ước Một cách thực tiễn, ta nên kỳ vọng rằng những yếu tố đó sẽ ít có ý nghĩa thựcsự để giải thích cho hành vi chọn mạng của người có thu nhập thấp.Tình hình hoàn toàn khác đối với lớp người tiêu dùng thu nhập trung bình và cao.Đối với lớp TNC, yêu cầu về tính năng hỗ công việc của ĐTDĐ là tương đối quan trọng.Và vì vậy, yêu cầu về mạng có cung cấp những giá trị gia tăng tương ứng là đòi hỏi tất yếu Nói khác đi, yêu cầu về tính năng hỗ trợ công việc của máy có ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ % người tiêu dùng chọn thuê bao các mạng đẳng cấp cao trên phân khúc này

Đối lại với đòi hỏi về tiện ích là những cân nhắc kinh tế Máy càng có nhiều tính năng, như kết nối Internet wireless, xem truyền hình trực tiếp, bluetooth, thì giá máy càng cao và phí trả cho dịch vụ kết nối càng đắt Vì vậy, sự quan tâm về tính đơn giản, hợp túi tiền cũng trở nên có ý nghĩa trong việc giải thích hành vi chọn máy và mạng di động của người tiêu dùng Càng nhấn mạnh hơn đến tính kinh tế so với đòi hỏi về tiện ích, thì người tiêu dùng càng có xu hướng chọn đẳng cấp mạng thấp hơn Vì vậy, họ cũng cần tham khảo ý kiến bạn bè nhiều hơn để đảm bảo cho mình sự thỏa mãn nhất định về chất lượng Tính đơn giản, hợp túi tiền, và nhu cầu tham khảo ý kiến bạn bè, vì vậy, có thể đồng thời tác động tới tỷ lệ % người tiêu dùng chọn các mạng rẻ, như Viettel hay S-Fone trên phân khúc này

2.Thị phần của các mạng di động

a.Thị trường ĐTDĐ với cấu hình cơ bản

Trang 12

Việc phân tích dữ liệu nêu trên gợi ý rằng, đối với lớp đối tượng TNT, các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt nhất tới việc lựa chọn mạng sẽ là:

• Yêu cầu về chất lượng sóng (+)

• Chính sách khuyến mãi (-)

• Đòi hỏi về giá cước hợp lý (-)

• Đánh giá về chất lượng sóng của S-fone (-)

Ta dự đoán rằng, nếu người tiêu dùng càng đòi hỏi cao về chất lượng sóng, thì họ càng có xu hướng chọn đẳng cấp mạng cao hơn, như MobiFone hay VinaPhone Ta đánh dấu quan hệ thuận chiều

đó bởi dấu (+) Ngược lại, nếu người tiêu dùng càng yêu cầu cao hơn về khuyến mãi hay giá cước thấp, thì họ càng có xu hướng chọn đẳng cấp mạng thấp hơn, như Viettel, S-fone

Ta thể hiện quan hệ nghịch chiều đó bởi dấu (-) Những người này cũng sẽ nhạy cảm hơn với những điểm yếu của các mạng đẳng cấp thấp Chẳng hạn như chất lượng sóng của S-fone Như sẽ chỉ ra, điều đó cũng có nghĩa là, nếu đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sóng của S-fone tốt lên, thì thị phần của S-fone sẽ tăng Tức là càng có nhiều người chọn đẳng cấp thấp nhất trong trật tự hiện hành của thị trường mạng Ta ký hiệu mối quan hệ đó bởi dấu (-)

Một cách tổng quát, càng có nhiều người đòi hỏi cao về chất lượng sóng, thì mức trungbình về chỉ tiêu đó, cũng như số lượng người chọn các mạng đẳng cấp cao sẽ tăng lên Nói khác đi,nếu về trung bình, sự đòi hỏi về chất lượng sóng càng cao, thì tỷ trọng người chọn MobiFone và VinaPhone trong lớp đối tượng TNT càng lớn Tương tự như vậy, nếu yêu cầu về khuyến mãi và giá cước càng quan trọng trong việc chọn mạng, thì tỷ trọng hay thị phần của Viettel hoặc S-fone càng mở rộng Và vì vùng phủ sóng bị hạn chế; lượng thuê bao của S-fone còn phụ thuộc trực tiếp vào đánh giá trung bình của người tiêu dùng về chấtlượng sóng của nó

Từ bảng tóm tắt dữ liệu của việc điều tra 358 người thuộc đối tượng TNT, ta đã thấy vềtrung bình, nhóm đối tượng này đánh giá mức độ quan trọng về chất lượng sóng là 3,7 điểm; về giá cước là 3,2 điểm; và đánh giá độ tốt về chất lượng sóng của S-fone là 2,7 điểm

Các nghiên cứu viên thuộc CMAF đã phân các mạng di động thành 3 cấp: MobiFone - VinaPhone, Viettel, và cuối cùng là S-fone Những tính toán từ mô hình của họ đưa ra con số dự báo về thị phần của 3 đẳng cấp mạng nói trên là 0,691 cho MobiFone – VinaPhone gộp lại; 0,245 cho Viettel; và 0,063 cho S-fone Thị phần thực tế của các mạng, lần lượt là 67,6% cho MobiFone và VinaPhone cộng lại; 24,9% cho Viettel; và cuối cùng, 7,5% cho S-fone

Kết quả phân tích còn cho thấy, yêu cầu về chất lượng sóng tốt của người tiêu dùng là cản trở rõ rệt nhất tới sự gia tăng thuê bao của cả S-fone và Viettel Và đó cũng là yếu tố quan trọng nhất cho phép Mobi và Vina duy trì ưu thế tuyệt đối trên phân khúc cấu hình cơbản của ĐTDĐ Cụ thể là, nếu lớp đối tượng TNT yêu cầu về chất lượng sóng tăng thêm

Ngày đăng: 18/04/2013, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w