1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

236 769 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh ghiệp trong ngành khi đối mặt với những khó khăn nêu trên vẫn còn bộc lộ những hạn chế về như môi trường kiểm soát còn chưa hỗ trợ đầy

Trang 1



NGUYỄN THANH TRANG

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ

KỸ THUẬT DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu trong Luận án là trung thực Những kết quả trong Luận án chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả của Luận án

Nguyễn Thanh Trang

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN ÁN v

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 9

1.1 Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới 9

1.1.1 Giai đoạn 1 – Những nghiên cứu trước năm 1992 9

1.1.2 Giai đoạn 2 – Những nghiên cứu sau năm 1992 11

1.2 Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Việt Nam 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 24

2.1 Khái quát về kiểm soát trong doanh nghiệp 24

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm soát trong doanh nghiệp 24

2.1.2 Phân loại kiểm soát 27

2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 31

2.2.1 Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 31

2.2.2 Bản chất và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 37

2.2.3 Các thành phần trong HTKSNB của doanh nghiệp 42

2.2.4 Hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ 58

2.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí 59

2.3.1 Đặc điểm của doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí 59

2.3.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí 63

2.4 Kinh nghiệm xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp ngành năng lượng và dầu khí các nước trên thế giới 66

2.4.1 Hệ thống KSNB tại các công ty thuộc ngành dầu khí tại Canada 66

2.4 2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp ngành năng lượng tại Mỹ 67

Trang 4

2.4.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong Tập đoàn BP – Vương quốc Anh 68

2.4.4 Hệ thống kiểm soát nội bộ của Petronas – Malaysia 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 73

3.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 73

3.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam 73

3.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay có ảnh hưởng tới hệ thống kiểm soát nội bộ 75

3.2 Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam hiện nay 86

3.2.1 Môi trường kiểm soát 86

3.2.2 Quy trình đánh giá rủi ro 105

3.2.3 Hệ thống thông tin và truyền thông 106

3.2.4 Chính sách và thủ tục kiểm soát 116

3.2.5 Giám sát kiểm soát 132

3.3 Đánh giá HTKSNB trong doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam hiện nay 134

3.3.1 Ưu điểm 134

3.3.2 Tồn tại cần khắc phục 140

3.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế đã nêu 144

Kết luận Chương 3 146

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ KỸ THUẬT DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 147

4.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 147

4.1.1 Chiến lược phát triển ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí định hướng đến năm 2025 147

Trang 5

4.1.2 Thuận lợi của các doanh nghiệp DVKTDK tại Việt Nam hiện nay 148

4.1.3 Khó khăn của các doanh nghiệp DVKTDK Việt Nam hiện nay 149

4.1.4 Tác động tới việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 150

4.2 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 151

4.2.1 Yêu cầu hoàn thiện 151

4.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện 152

4.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 153

4.3.1 Hoàn thiện đặc thù quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch và vai trò của con người trong môi trường kiểm soát 154

4.3.2 Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro và nhận diện các rủi ro trọng tâm với ngành DVKTDK hiện nay 162

4.3.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin và truyền thông 164

4.3.4 Hoàn thiện kiểm soát tổng quát toàn bộ hoạt động của đơn vị và kiểm soát trực tiếp với các hoạt động trọng tâm 167

4.3.5 Hoàn thiện giám sát kiểm soát 173

4.4 Kiến nghị về hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay 174

4.4.1 Về phía các cơ quan Nhà nước và Bộ Công thương 174

4.4.2 Về phía Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam 176

4.4.3 Về phía các Doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí 176

Kết luận chương 4 177

PHẦN KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG

BỐ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG LUẬN ÁN

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN ÁN

STT KÝ HIỆU GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

1 AAA American Anthropological Association Hiệp hội kế toán Hoa kỳ

2 AICPA American Institute of Certified Public Accountants - Hiệp hội kế

toán viên công chứng Hoa Kỳ

8 CICA Canadian Institute of Chartered Accountants

Viện kế toán viên công chứng Canada

9

CoBIT

“Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” ( CoBIT)

10 COCO Ủy ban về tiêu chí của kiểm soát

11 COSO Committee of Sponsoring Organizations

Hiệp hội các Tổ chức tài trợ

12 CPA Certified Public Accountant

Kế toán viên công chứng

13 DVKTDK Dịch vụ kỹ thuật dầu khí

14 ERM hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp ( ERM)

15 ERP Enterprise resource planning

Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp

16 FCPA Foreign Corrupt Practices Act

Đạo luật Chống hối lộ ở nước ngoài

17 FEI Financial Executives Institution

Hiệp hội Quản trị viên tài chính

18 HSE Sức khỏe-An toàn – Môi trường (Health, Safety and

Environment – HSE)

19 HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 7

20 IAASB The International Auditing and Assurance Standards Board

Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và Chứng chỉ quốc tế

21 IAS International auditing standard - Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

22 IFAC International Federation of Accountants

Liên Đoàn kế toán quốc tế

23 IIA The Institute of Internal Auditors

Viện Kiểm toán viên nội bộ

24 IMA The Institute of Management Accountants

Hiệp hội Kế toán viên quản trị

25 ITGI The IT Governance Institute

26

ISACA

Information Systems Audit and Control Association Hiệp hội kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin

27 ISACA – Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin

28 ISO International Organization for Standardization

Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế

30 NIST Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia (NIST)

31 Petronas Tập đoàn dầu khí quốc gia Malaysia Petroliam Nasional Berhad

32 PTSC Tổng công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí

33 PVD Tổng công ty khoan và dịch vụ khoan dầu khí

34 PVN Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam

38 SOA404 Điều khoản 404 của đạo luật Sarbanes – Oxley

40 VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Bảng số 3.1 :Báo cáo Doanh thu dịch vụ của Tập đoàn ( PVN) 76

Bảng số 3.2: Giá trị dịch vụ năm 2012 76

Bảng số 3.3: Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh 78

Bảng số 3.4: Số doanh nghiệp phân theo quy mô lao động 78

Bảng số 3.5: Doanh thu và Lợi nhuận năm 2011, 2012 của một số công ty dịch vụ 80

Bảng số 3.6: Các chỉ tiêu kế hoạch tổng quát chủ yếu PTSC năm 2012 94

Bảng số 3.7: Các chỉ tiêu kế hoạch tổng quát chủ yếu Công ty mẹ PTSC năm 2012: 95

Bảng số 3.8: Lập kế hoạch cụ thể tại PTSC 96

Bảng số 3.9: Đánh giá kết quả toàn Tổng Công ty PTSC năm 2012 97

Bảng số 3.2 Nội dung cơ bản của quá trình đấu thầu tại PVD 122

Bảng số 3.3 Đánh giá mức độ rủi ro thực hiện dịch vụ (Nguồn PV ship yard) 126

Hình 2.1: Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO [104] 43

Hình 2.2: Vòng đời của kiểm soát nội bộ 56

Hình 3.1: Mô hình tổ chức của kiểm toán nội bộ của PVD 101

Hình 4.1: Mô hình hướng dẫn xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 159

Hình 4.2 : Mối quan hệ giữa các bên trong đánh giá rủi ro 163

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí là một ngành dịch vụ còn khá mới tại Việt Nam hiện nay nhưng lại đang cung cấp những dịch vụ cơ bản hàng đầu cho hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) nói riêng (Theo Đề án tái cấu trúc chung toàn Tập đoàn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 46/QĐ-TTg ngày 05/01/2013) và các công ty thuộc lĩnh vực dầu khí hoạt động tại Việt Nam nói chung Rất nhiều công ty lớn của ngành dầu khí có doanh thu

từ dịch vụ kỹ thuật từ trong nước và doanh thu từ dịch vụ kỹ thuật ra nước ngoài tại các thị trường Đông Nam Á, Liên bang Nga, Algeria…Năm 2013, xét riêng các công ty thuộc PVN cho thấy Doanh thu của dịch vụ dầu khí đạt 236.338 tỷ, chiếm 30% tổng doanh thu của toàn Tập đoàn, trong đó doanh thu của dịch vụ kỹ thuật dầu khí đạt 41.000 tỷ Ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí cũng là ngành đóng góp giá trị lớn cho Ngân sách, nhiều Công ty ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí nằm trong Danh sách 1000 doanh nghiệp nộp Thuế cao nhất vào Ngân sách Nhà nước năm

2012 Bên cạnh những kết quả đạt được, các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Cụ thể, tình hình khó khăn chung của kinh tế thế giới và trong nước đã tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí như: giá cả đầu vào biến động không ổn định, khó dự đoán; xu hướng giảm giá dầu mạnh gần đây gây áp lực lớn đến chi phí cho hoạt động và chất lượng công việc; khối lượng công việc bị thu hẹp do nguồn lực cạn kiệt; cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp cùng ngành gia tăng cao; yêu cầu ngày càng chặt chẽ về kỹ thuật và công nghệ do xu hướng tiến ra vùng biển xa; các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng, giải quyết về chồng lấn trong khai thác… Tiếp theo đó, quá trình thực hiện dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố như điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cấu trúc địa tầng phức tạp, kế hoạch chưa hợp lý, áp lực

về thời gian, áp lực về kỹ thuật nên không tránh khỏi rủi ro và chậm trễ, không đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện Những khó khăn nêu trên đã gây ra ảnh

Trang 10

hưởng như chất lượng của một số dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, giá chào cao so với mặt bằng thị trường, chi phí cao do phải qua nhiều bước trung gian, tiến

độ chậm… Đặc biệt, ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam còn phải đối mặt với

sự cạnh tranh gay gắt từ các công ty nước ngoài như các công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Anh, Ấn Độ, Pháp, Malaysia, Indonesia… có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, quy trình thực hiện khoa học, quản lý chặt chẽ Ngoài ra, quá trình cung cấp dịch vụ kỹ thuật ra ngước ngoài của các công ty trong nước cũng gặp các rào cản về bảo hộ mậu dịch, thương mại, thuế quan của các nước sở tại

Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các quy định, quy trình,chính sách, thủ tục kiểm soát do doanh nghiệp xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm: tuân thủ pháp luật và các quy định; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; lập báo cáo tài chính trung thực, hợp lý; bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp; với thành phần bao gồm: môi trường kiểm soát; quy trình đánh giá rủi ro; hệ thống thông tin và truyền thông; các chính sách và thủ tục kiểm soát; giám sát kiểm soát Hệ thống này có ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý, cũng như tạo niềm tin cho những người quan tâm tới hoạt động của doanh nghiệp Dịch vụ kỹ thuật dầu khí là loại hình dịch vụ phức tạp,

có nhiều yêu cầu cao trong thực hiện và quản lý, gặp nhiều rủi ro trong hoạt động nên các doanh nghiệp của ngành đã ban hành và thực hiện rất nhiều chính sách và thủ tục kiểm soát trong nội bộ so với các ngành khác Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh ghiệp trong ngành khi đối mặt với những khó khăn nêu trên vẫn còn bộc lộ những hạn chế về như môi trường kiểm soát còn chưa hỗ trợ đầy đủ cho việc phát huy thủ tục kiểm soát, chính sách và thủ tục kiểm soát còn thiếu hụt hoặc chưa cụ thể, chi phí cho kiểm soát còn chưa tương thích với chất lượng, các nhân tố trong hệ thống chưa được vận hành nhất quán, xây dựng chưa dựa trên đánh giá đầy đủ về rủi ro của ngành, thiếu nhân lực về kiểm soát, công tác giám sát kiểm soát ít được thực hiện, xu hướng tiết kiệm chi phí do giá dầu giảm ảnh hưởng tới việc duy trì đầy đủ các thủ tục kiểm soát, tiêu chuẩn về dịch vụ kỹ thuật chưa được ban hành và phổ biến để hướng dẫn thực hiện Điều này đòi hỏi cần phải khắc

Trang 11

phục và hoàn thiện để củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp trong ngành nói riêng và giúp gia tăng giá trị của ngành nói chung, tạo lợi thế về kiểm soát trong cạnh tranh khi cung cấp dịch vụ ra bên ngoài, cũng như góp phần đạt hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí hợp lý Từ những nội dung trên, hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ được coi là một vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại

Việt Nam hiện nay Vì vậy, Tác giả đã lựa chọn Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống

kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam” cho Luận án Tiến sỹ của mình

2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của Luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của Luận án

Luận án hướng tới mục đích sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài của luận án

- Hệ thống hóa lý luận hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

- Hệ thống hóa một số bài học kinh nghiệm từ tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp các nước trong lĩnh vực dầu khí, năng lượng

- Khảo sát và phân tích đặc điểm của ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay có ảnh hưởng tới hệ thống kiểm soát nội bộ và thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ hiện nay tại các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam với 5 thành phần trong hệ thống

- Nghiên cứu và đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

Đặc biệt luận án hướng tới các vấn đề cụ thể sau:

- Tăng cường nhận thức của nhà quản trị về mục tiêu của HTKSNB

- Tăng cường trách nhiệm của nhà quản trị về hệ thống kiểm soát nội bộ

- Nhận diện các vấn đề cần thực hiện trong quá trình vận hành HTKSNB

- Đánh giá rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

- Đưa ra một số giải pháp để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay

Trang 12

2.2 Ý nghĩa nghiên cứu của Luận án

Ý nghĩa khi thực hiện Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong

các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam” đó là:

Về mặt lý luận, trình bày một cách khái quát và hệ thống các lý luận về kiểm soát nội bộ, đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dịch vụ

kỹ thuật dầu khí, kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Về mặt thực tiễn, khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống kiếm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận án

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là hệ thống kiểm soát nội bộ Cụ thể,

nghiên cứu lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp thông qua tìm hiểu về các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ Qua đó, tác giả sẽ đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hiện nay tại các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu của Luận án

Phạm vi nghiên cứu của Luận án là các doanh nghiệp có cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam (với đặc điểm là dịch vụ kỹ thuật dầu khí phải là lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp) trong điều kiện có sử dụng hệ thống máy tính kết hợp với thủ công Tuy nhiên, Tác giả không tiến hành khảo sát về hệ thống kiểm soát nội bộ trong môi trường tin học do chỉ có duy nhất một doanh nghiệp thuộc ngành hiện nay có hệ thống ERP, hơn nữa các doanh nghiệp đều thực hiện đa dịch vụ không quá tập trung vào một dịch vụ chuyên sâu nên rất khó để có thể ứng dụng ERP Do đặc trưng của ngành nên các doanh nghiệp có địa bàn hoạt động chủ yếu tại khu vực miền Nam Việt Nam như Vũng Tàu, Sài Gòn…và phần lớn là các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN)

Trang 13

3.3 Lựa chọn doanh nghiệp khảo sát

Về tiêu chí lựa chọn: những doanh nghiệp có liên quan tới PVN gồm các

Tổng công ty của PVN (PTSC, PVD…), công ty thành viên của các Tổng công ty của PVN (PV EIC, PVC-MS…) – Sau đây gọi chung là các công ty thuộc PVN thường có quy mô lớn Các công ty khác không thuộc PVN thì thường có quy mô vừa và nhỏ là chính nhưng các công ty này lại có khách hàng sử dụng dịch vụ chính

là các công ty thuộc PVN – sau đây gọi chung là các công ty ngoài PVN Vì vậy,

Tác giả sẽ có 2 nhóm đơn vị khảo sát là các công ty thuộc PVN và các công ty ngoài PVN nhưng tác giả chủ yếu lựa chọn các doanh nghiệp thuộc PVN để khảo sát nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo những yêu cầu về đổi mới ngành dầu khí và của PVN Đồng thời, xuất phát từ đặc thù của ngành dịch vụ

kỹ thuật dầu khí mong muốn thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào cung cấp dịch vụ kỹ thuật và nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ kỹ thuật và sự cần thiết nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đa số các công ty trong ngành nên tác giả cũng sẽ khảo sát thêm một số doanh nghiệp ngoài PVN nhưng cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí đặc trưng như cơ khí, kiểm định, khảo sát, ngành khá nhỏ và cung cấp dịch vụ cho PVN là chủ yếu nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không nhiều, quy mô thường nhỏ nên tác giả không phân

nhóm riêng với nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Một số doanh

nghiệp thuộc PVN là doanh nghiệp Liên doanh hoặc liên kết với đối tác ngước ngoài và đặt cơ sở tại nước ngoài, chịu sự ảnh hưởng và chi phối của bên tham gia

là đối tác nước ngoài và các doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ được loại trừ khi nghiên cứu

và khảo sát Căn cứ lựa chọn doanh nghiệp theo quy mô sẽ được xác định theo Tiêu

chuẩn xác định doanh nghiệp trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP (ban hành ngày 30/6/2009) gồm quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm và căn cứ Theo quyết định 14/2011/QĐ-TTg

Về tiêu chí đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội

bộ thông qua kết quả điều tra là dựa vào các tiêu thức sau: Sự hiện diện đầy đủ của

Trang 14

các thành phần trong HTKSNB; tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ; tính liên tục của các thủ tục kiểm soát, giám sát kiểm soát Đích cuối cùng mà việc khảo sát mong muốn hướng tới đó là tìm hiểu xem HTKSNB có giúp đảm bảo các mục tiêu kiểm soát ban đầu là thông tin, hoạt động và mục tiêu tuân thủ và chỉ

ra được những điểm hạn chế để khắc phục và điểm hữu ích để phát huy

4 Phương pháp nghiên cứu của Luận án

Về phương pháp luận: Luận án xuất phát từ phương pháp luận duy vật biện

chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong nghiên cứu xã hội học làm gốc

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án cũng sử dụng các phương pháp kỹ

thuật cụ thể như quan sát, phỏng vấn, điều tra để thu thập thông tin trực tiếp từ các đơn vị, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa

thông tin và xác định xu hướng Cụ thể như sau: thông tin sơ cấp sẽ được thu thập

thông qua phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn gồm lập các phiếu điều tra (Nội dung cụ thể như sau: Thông tin chung về doanh nghiệp, Môi trường kiểm soát, Quy trình đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin và truyền thông, các chính sách và thủ tục kiểm soát, giám sát kiểm soát) Các câu hỏi được thiết kế dựa trên nội dung lý thuyết đã tìm hiểu ở chương 2 và đặc điểm ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay, riêng quy trình đánh giá rủi ro sẽ tập trung vào quy trình thực hiện đánh giá rủi ro; về các chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ tập trung vào vấn đề kiểm soát dự án đầu tư, kiểm soát mua sắm, kiểm soát tiền lương, kiểm soát về sử dụng tài sản cố định, kiểm soát chi phí thực hiện hoạt động dịch vụ Phiếu khảo sát cũng tập trung vào việc tìm hiểu vai trò và nhận thức của nhà quản trị cấp cao như CEO, CFO, trưởng các bộ phận Thiết kế của các câu hỏi trong Phiếu điều tra gồm 2 loại câu hỏi là câu hỏi mở và đóng Câu hỏi mở nhằm thu thập thông tin cụ thể và đặc thù của đơn vị được phỏng vấn như về tiêu chuẩn chất lượng mà đơn vị được kiểm soát áp dụng Câu hỏi đóng đưa ra các phương án lựa chọn xác định cho người được phỏng vấn gồm có thể hỏi về có/không, hỏi về mức độ của các hoạt động, phạm vi Chủ thể trả lời phiếu điều tra: do nội dung của phiếu điều tra rất rộng liên quan tới nhiều bộ phận như Ban giám đốc, Ban kiểm soát, bộ phận nhân sự, bộ phận

Trang 15

kế toán, bộ phận kỹ thuật, marketing, mua sắm nên nhiều cá nhân sẽ tham gia vào trả lời câu hỏi trên phiếu gồm kế toán viên, thành viên ban kiểm soát, nhân viên phòng tổ chức, nhân sự, giám đốc, nhân viên phụ trách mua sắm Các bên tham gia trả lời trong bảng câu hỏi sẽ lấy bộ phận kế toán – tài chính làm đầu mối để thu thập, hỗ trợ cung cấp và trả lời cho phần về môi trường kiểm soát là bộ phận tổ chức hành chính, dự án, kỹ thuật, kế hoạch; phần về quy trình đánh giá rủi ro là phòng kế toán, kế hoạch, dự án; Hệ thống thông tin và truyền thông sẽ do bộ phận

kế toán, marketing, truyền thông, kế hoạch trả lời; Thủ tục kiểm soát sẽ do bộ phận

kế toán, kế hoạch, kiểm toán nội bộ, tổ chức hành chính, kỹ thuật trả lời; giám sát kiểm soát chủ yếu là do bộ phận kế toán, kiểm toán nội bộ, ban giám đốc trả lời Kết quả của bảng câu hỏi được tác giả thu thập và thống kê theo từng phiếu trả lời thực

tế do số lượng mẫu không lớn nên thủ tục thống kê tiến hành kết hợp với việc xin xác nhận lại với một số đơn vị tiêu biểu để khẳng định cho kết quả; phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý cấp trung, cán bộ, nhân viên các đơn vị tiêu biểu như PTSC, Alpha-ECC, PVD và quan sát trực tiếp một số hoạt động kiểm soát Tác giả đã gửi phiếu điều tra cho các doanh nghiệp có dịch vụ kỹ thuật dầu khí thuộc PVN và doanh nghiệp ngoài PVN Tác giả cũng đã phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý cấp cao, nhân viên tại các doanh nghiệp tiêu biểu Ngoài ra, Tác giả đã tiến hành phỏng vấn các Trưởng Ban, Phó Ban của một số Ban thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) nhằm làm rõ hơn các thông tin thu thập được Tác giả cũng lựa chọn một số doanh nghiệp điều tra để quan sát trực tiếp như Công ty CP Dịch vụ đóng mới giàn khoan (PV Shipyard), Công ty CP Kim loại kết cấu và lắp máy dầu khí

(PVC – MS), Công ty CP Xây lắp dầu khí miền Nam (Alpha-ECC)… để các

thông tin điều tra được khách quan Về kết quả khảo sát: tác giả đã gửi phiếu điều

tra cho 30 doanh nghiệp gồm cả tổng công ty thuộc PVN và công ty thành viên của các tổng công ty có cung cấp dịch vụ kỹ thuật và 13 phiếu điều tra đến các công ty ngoài PVN có cung cấp dịch vụ kỹ thuật tập trung tại Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả là đã nhận được 42 phiếu trả lời/43 phiếu phát ra, chiếm

tỷ lệ 85,7 %, một phiếu không có phản hồi là do quy định của doanh nghiệp trong

Trang 16

bảo mật thông tin nội bộ Từ kết quả kiểm tra trên mẫu, kết luận sẽ suy rộng ra cho toàn bộ tổng thể các doanh nghiệp của ngành Bảng thống kê các doanh nghiệp nhận phiếu điều tra và phản hồi; cũng như kết quả điều tra được thể hiện ở Phụ lục

3.2 đi kèm luận án Thông tin thứ cấp: Các thông tin tổng hợp được thu thập từ Báo

cáo tổng kết của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, số liệu thống kê từ Tổng cục thống kê, số liệu trên trang web của Tổng cục Thuế, website của doanh nghiệp Sử dụng phương pháp phân tích thông tin và suy luận để đưa ra kết luận

5 Những đóng góp của Luận án

Về mặt lý luận: Khái quát và hệ thống các lý luận về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ, trình bày đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí, nêu một số bài học kinh nghiệm của các nước và các doanh nghiệp lớn trên thế giới trong tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ như Anh, Canada, Malaysia, Mỹ…

Về mặt thực tiễn: Luận án khảo sát các yếu tố của HTKSNB trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ và đề xuất các giải pháp khả thi và điều kiện cần thiết nhằm hoàn thiện HTKSNB trong các doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam

6 Bố cục và kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án được trình bày theo 4 chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài;

Chương 2: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp; Chương 3: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay;

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay;

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trên thế giới

Trong những năm từ đầu thế kỷ XX tới đầu thế kỷ XXI, hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) đã được đề cập trong rất nhiều tài liệu nghiên cứu tại các quốc gia và do nhiều tác giả tiến hành Theo quá trình phát triển của các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ, tạm thời có thể chia ra hai giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn 1

là những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trước năm 1992, trước khi có Báo cáo 1992 của COSO (Hiệp hội các tổ chức tài trợ của Ủy ban quốc gia về chống gian lận trong Báo cáo tài chính của Mỹ) và giai đoạn 2: những nghiên cứu sau khi có Báo cáo 1992 của COSO

1.1.1 Giai đoạn 1 – Những nghiên cứu trước năm 1992

Đầu tiên là nghiên cứu trong cuốn “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” (Auditing – Theory and Practice) của tác giả Robert H Montgomery [99, tr.83-84] Tác giả đã dành ra khoảng 2 trang để đưa ra ý kiến của mình về nội dung của hệ thống kiểm tra nội bộ (System of internal check) mà sau này đã phát triển lên thành kiểm soát nội bộ, cụ thể trong Chương V – Nhiệm vụ của Kiểm toán viên Tại đây, tác giả có đưa ra nội dung của kiểm tra nội bộ chủ yếu là kiểm tra về kế toán Khẳng định hệ thống kiểm tra nội bộ là một hệ thống bao gồm các ghi chép kế toán, phương pháp ghi chép và kiểm tra để nhằm mục đích bảo vệ tài sản như tiền mặt, hàng hóa… và đặc biệt là kiểm tra các giao dịch có liên quan tới tiền mặt, hoạt động bán hàng, mua hàng, lập báo cáo và sổ sách kế toán Quan điểm này đưa ra chủ yếu

để giúp cho kiểm toán viên trong việc nhận diện tác động của kiểm soát nội bộ tới công việc của kiểm toán nên còn tương đối đơn giản và mang tính sơ khai Tiếp theo, HTKSNB cũng được đề cập trong quyển “Kiểm toán nội bộ hiện đại – Đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát” của Tác giả Victor Z Brink và Herbert Witt (viết năm 1982) [8] Trong Chương 4 – Nguyên tắc cơ bản của kiểm soát và Chương 6 – Phương thức hoạt động của kiểm toán viên nội bộ đã đưa ra những

Trang 18

nhận định tương đối đầy đủ về kiểm soát nội bộ Victor Z Brink và Herbert Witt cho rằng “kiểm soát nội bộ được dùng để mô tả những phương pháp thực hành nội

bộ có liên quan đến việc nhằm đạt tốt hơn các mục tiêu của tổ chức thực hiện” [8, tr.17] Kiểm soát nội bộ bao gồm kiểm soát nội bộ tiến hành với cả hoạt động kế toán và các hoạt động khác Quan điểm của tác giả cũng cho rằng nên tập trung vào kiểm soát nội bộ về kế toán trong đó tập trung trực tiếp vào việc đảm bảo lập báo cáo tài chính đáng tin cậy và tuân thủ luật pháp Đến thời điểm này, nghiên cứu của tài liệu đã mở rộng phạm vi của hệ thống kiểm soát nội bộ hơn nhưng các tác giả cũng chưa đưa ra các thành phần đầy đủ của hệ thống kiểm soát nội bộ và vẫn tiếp cận về kiểm soát nội bộ từ vị trí của kiểm toán viên nội bộ Theo Alvin A Arens và James K Loebbecke trong cuốn “Kiểm toán” – Auditing [8, tr.17], Chương 9 – Nghiên cứu về cơ cấu kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát, các tác giả đã đưa ra lý do để các công ty xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ và nội dung trọng tâm của hệ thống kiểm soát nội bộ được khẳng định là các quá trình kiểm

soát Cụ thể, các tác giả đã viết như sau “Lý do để công ty xây dựng một hệ thống

kiểm soát là nhằm giúp công ty thỏa mãn các mục tiêu của mình Hệ thống bao gồm rất nhiều chế độ và thể thức đặc thù được thiết kế để cung cấp cho Ban quản trị sự đảm bảo hợp lý là các mục tiêu và mục đích quan trọng với công ty sẽ được thỏa mãn Những chế độ và thể thức này thường được gọi là các quá trình kiểm soát, và kết hợp lại thì chúng hình thành cơ cấu kiểm soát nội bộ của tổ chức” [8, tr.195]

Nghiên cứu của các tác giả đã giúp khẳng định về đích mà kiểm soát hướng tới và căn cứ để xây dựng các thủ tục kiểm soát Tuy nhiên, thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ trong nghiên cứu này chỉ bao gồm là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thể thức kiểm soát (chính sách và thủ tục kiểm soát) Năm 1984, tại Canada, tác giả Lois D Etherington và Irene M Gordon đã đưa ra các nghiên cứu

về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp tại Canada trong cuốn

“Internal controls in Canadian corporations” [82], nghiên cứu này được thực hiện thông qua một cuộc điều tra về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các công ty của Canada tiến hành vào thập niên 80 thế kỷ 20 do CICA thực hiện (áp dụng với 608

Trang 19

công ty tiêu biểu của Canada gồm các ngành khai thác than, bán lẻ, đường ống dẫn dầu và gaz, dầu khí…) Trong tài liệu, các tác giả đưa ra nhận định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ không được định nghĩa bởi các nhà quản trị mà thường được định nghĩa trên quan điểm của kiểm toán viên, tuy nhiên hệ thống này chịu ảnh hưởng rất nhiều từ quan điểm và nhận thức của các nhà quản trị cấp cao Các tác giả đã quan tâm việc thể hiện của kiểm soát nội bộ trên các khía cạnh kiểm soát quản lý, kiểm soát hoạt động và kiểm soát kế toán cũng như bày tỏ sự quan tâm về mối quan hệ giữa chi phí kiểm soát với lợi ích mà kiểm soát mang lại Nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu nêu trên cho thấy các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ có sự liên quan đặc biệt với lĩnh vực kiểm toán Các nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa rõ về phạm vi của kiểm tra nội bộ (internal check) và kiểm soát nội bộ (internal controls) Nội dung của kiểm soát nội

bộ chủ yếu mới chỉ được đề cập trong lĩnh vực kế toán là chủ yếu nhưng cũng đã quan niệm kiểm soát nội bộ có ý nghĩa như là một hệ thống mà các yếu tố có quan hệ qua lại với 3 yếu tố (thành phần) Riêng với HTKSNB của các doanh nghiệp dịch vụ

kỹ thuật dầu khí, giai đoạn này chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể

1.1.2 Giai đoạn 2 - Những nghiên cứu sau năm 1992

Năm 1992, COSO có đưa ra báo cáo Báo cáo COSO đánh dấu một giai đoạn mới trong nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ Các nghiên cứu trong giai đoạn này đã lấy Báo cáo COSO 1992 làm nền tảng cho các nghiên cứu về HTKSNB Báo cáo này là một hướng dẫn khá phổ biến trên thế giới mà nhiều công ty căn cứ vào

đó để xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO, hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5 yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi

ro, Hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát COSO xác định rằng môi trường kiểm soát sẽ làm nền tảng cho các thành phần còn lại Môi trường kiểm soát có 7 yếu tố là tính trung thực và giá trị đạo đức; cam kết về năng lực và sự phát triển của thành viên; triết lý quản trị và phong cách điều hành; cơ cấu tổ chức; phân công nghĩa vụ và trách nhiệm; chính sách và thủ tục về nhân sự; sự tham gia của Ban quản trị Đánh giá rủi ro: thành phần này liên quan tới việc nhận diện và phân

Trang 20

tích rủi ro ảnh hưởng tới việc đạt mục tiêu của đơn vị gồm xác định mục tiêu tổng thể, mục tiêu cụ thể của các hoạt động, phân tích rủi ro và cơ chế thay đổi Các hoạt động kiểm soát được cho là diễn ra trong toàn bộ đơn vị, ở mọi cấp và mọi chức năng bao gồm: Phê duyệt, ủy quyền, xác minh, đối chiếu, rà soát hoạt động, bảo vệ tài sản, phân chia nhiệm vụ Thông tin và truyền thông: là thành phần tạo mối liên

hệ giữa các thành phần khác trong hệ thống bao gồm hệ thống kế toán, cách chính sách định kỳ, báo cáo quản trị, cập nhật kế toán, cập nhật công nghệ, hội nghị, đào tạo…Giám sát nội bộ nhằm đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ gồm giám sát thường xuyên, giám sát định kỳ và báo cáo về những khiếm khuyết [104] Ngoài ra, mô hình của COSO cũng có những quy định riêng khi áp dụng tại doanh nghiệp trong điều kiện sử dụng công nghệ thông tin Mô hình này sẽ được bổ sung thêm các nội dung trong từng thành phần thông qua kết hợp với khuôn mẫu của COBiT CoBiT là một chuẩn quốc tế về quản lý công nghệ thông tin gồm những khuôn mẫu (framework) liên quan tới cách thực hành tốt nhất về quản lý công nghệ thông tin do ISACA và ITGI xây dựng năm 1996 CoBiT cung cấp cho các nhà quản lý, những người kiểm tra và những người sử dụng công nghệ thông tin một loạt các cách đo lường, dụng cụ đo, các quy trình và các hướng dẫn thực hành tốt nhất để giúp tăng tối đa lợi nhuận thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin; giúp quản lý và kiểm soát công nghệ thông trong tổ chức, doanh nghiệp Mục đích của COBIT là “nghiên cứu, phát triển, quảng bá và xúc tiến các mục tiêu của kiểm soát công nghệ thông tin dành cho các nhà quản lý doanh nghiệp và những người kiểm tra áp dụng vào trong các hoạt động” Khi kết hợp với COBIT, những yếu kém

trong quy trình đánh giá rủi ro có thể được hỗ trợ tốt hơn (Phụ lục 1.2)

Tại Vương Quốc Anh, các công ty cũng thực hiện xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ theo một hướng dẫn từ Quy tắc thực hành tốt nhất (Code of Best Practice) Quy tắc này ban hành năm 1992 được áp dụng cho các công ty hoạt động trên thị trường chứng khoán Luân Đôn - Ủy Ban Cadbury ban hành (một dạng giống với Ủy ban Treadway của Mỹ) Một trong những nội dung của bản quy tắc là yêu cầu các giám đốc phải báo cáo về sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Năm 1994, một

Trang 21

nhóm thành viên trong ủy ban đã đưa ra một hướng dẫn cụ thể hơn về việc báo cáo nói trên Trong hướng dẫn này chỉ ra các nội dung sau:Giám đốc công ty phải nhận thức được trách nhiệm của họ với hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội

bộ chỉ giúp đem lại một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải là đảm bảo hoàn toàn trước các sai phạm và tổn thất trọng yếu Mô tả các thủ tục cần được thiết kế để cung cấp thủ tục kiểm soát tài chính hiệu quả Khẳng định rằng giám đốc phải đánh giá hiệu quả của kiểm soát tài chính Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ tại Anh theo hướng dẫn như trên sẽ tập trung chủ yếu vào vấn đề kiểm soát tài chính [107]

Tại Canada, hệ thống kiểm soát nội bộ được thể hiện trong hướng dẫn ban hành bởi Viện kế toán viên công chứng Canada (CICA) và COCO ( Ủy ban về tiêu chí của kiểm soát) có tên gọi là “ Hướng dẫn về kiểm soát” năm 1995, văn bản này được ban hành xuất phát từ đề đạt của Hội đồng Mac Donald ( một dạng tương tự

Ủy ban Treadway) COCO gọi kiểm soát nội bộ bằng thuật ngữ “kiểm soát”, tạo ra một số điểm khác biệt so với mô hình theo báo cáo COSO Xét về thành phần của

hệ thống kiểm soát nội bộ, theo hướng dẫn của COCO sẽ rộng hơn, bổ sung thêm các hoạt động quản trị (thiết lập mục tiêu, lập kế hoạch, đánh giá rủi ro, hoạt động khắc phục) Đồng thời, COCO cũng thiết lập 20 tiêu chí để đánh giá việc đạt các mục tiêu của kiểm soát nội bộ chia thành 4 nhóm: Mục đích (cung cấp nhận thức về định hướng của doanh nghiệp), cam kết (nhận thức về giá trị và bản sắc), khả năng (liên quan tới thẩm quyền), Giám sát và học hỏi Tóm lại, COCO có nội dung về kiểm soát nội bộ mở rộng hơn so với Báo cáo COSO Quan trọng hơn là theo quan điểm của COCO thì hệ thống kiểm soát sẽ đến gần hơn với hoạt động của nhà quản trị doanh nghiệp trong thực tế và được coi như là bộ phận của doanh nghiệp [104]

Năm 1987, Chính phủ Mỹ đã thiết lập giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige thuộc sự quản lý của Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia (NIST) có đưa ra tiêu chí về kiếm soát nội bộ còn gọi tắt là Tiêu chí Baldrige, công

bố năm 1997 gồm : Nhà lãnh đạo ( hệ thống lãnh đạo, trách nhiệm của công ty và công dân); lập kế hoạch; các vấn đề về khách hàng và thị trường; thông tin và phân tích; quản trị và phát triển nhân lực; quản trị quá trình thực hiện; kết quả kinh

Trang 22

doanh Như vậy, so với mô hình COSO, mô hình theo tiêu chí Baldrige có đề cập thêm về yếu tố liên quan tới kế hoạch [104] Năm 1998, Tác giả Steven J Root trong cuốn “Beyond COSO - Internal Control to Enhance Corporate Governance” [105, tr.118] đã đưa ra khẳng định về kiểm soát nội bộ là một quá trình giúp đảm bảo các mục tiêu của hoạt động, lập báo cáo tài chính, tuân thủ pháp luật và quy định Đồng thời cũng khẳng định vị trí của kiểm soát nội bộ trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, tiếp cận kiểm soát nội bộ từ vị trí của nhà quản lý Tác giả dựa vào quan điểm của Báo cáo COSO (Hiệp hội các tổ chức tài trợ của Ủy ban quốc gia về chống gian lận trong Báo cáo tài chính của Mỹ) để nhận định về khái niệm kiểm

soát nội bộ như sau: “là một quá trình chịu sự tác động của của Hội đồng quản trị,

Ban giám đốc và các nhân viên khác trong đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: Đảm bảo hiệu quả và hiệu năng của hoạt động;Đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính; Đảm bảo tuân thủ pháp luật và các quy định” [105, tr.118] Đồng thời, nghiên cứu của tác giả cũng

khẳng định các yếu tố cấu thành nên HTKSNB gồm 5 yếu tố là Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro; Hệ thống thông tin và truyền thông; Các hoạt động kiểm soát; và Giám sát các kiểm soát Tuy nhiên, trong quan điểm của tác giả đưa ra không có nội dung về công tác kế hoạch trong yếu tố môi trường kiểm soát Năm

2001, Tác giả Dimitris N Chorafas đưa ra nghiên cứu trong quyển “Implementing and auditing the internal control system” về quan điểm kiểm soát nội bộ là một hệ thống và tác dụng của một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt Trong tài liệu, tác giả nhận định rằng “một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt thì đồng nghĩa với việc sẽ đạt được tầm nhìn xa hơn về việc làm thế nào để lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát trong quản trị doanh nghiệp” [79, tr.34] Nghiên cứu của tác giả là sự khẳng định lại quan điểm về 5 yếu tố của kiểm soát nội bộ và nhận định về mối quan hệ giữa các yếu tố đã tạo nên một hệ thống đầy đủ nhưng vẫn xuất phát từ khía cạnh kiểm toán

để nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và có đề cập tới công tác kế hoạch trong hệ thống kiểm soát nội bộ Năm 2007, tác giả Martin Grimwood có đưa ra quyển “ Sổ tay kiểm toán nội bộ” (Internal Audit Manual) [25] nghiên cứu về hệ thống kiểm soát

Trang 23

nội bộ ở một phần trong Chương 3 – Các kỹ thuật kiểm toán chung Nghiên cứu của tác giả chỉ ra nhận diện quan trọng về kiểm soát với một tổ chức trong lĩnh vực công là quan điểm quản trị, hệ thống quản lý dựa trên kết quả (thông tin, kế toán, rủi ro), hệ thống kiểm soát nội bộ và các quá trình kiểm soát dựa trên các giao dịch Trong đó nhận định về hệ thống kiểm soát nội bộ có điểm mới là đề cập về các chính sách và thủ tục kiểm soát trong môi trường tin học và các kiểm soát dựa trên máy tính Quan điểm nêu trên tương đối phù hợp và đầy đủ trong điều kiện hiện nay khi công nghệ thông tin có sức ảnh hưởng lớn tới HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội

bộ qua hướng dẫn của IIA ( Sarbanes –Oxley section 404: A guide for Management by Internal Controls Practitioners, 2008) Năm 2008, IIA - Viện kiểm toán nội bộ Mỹ đã ban hành bản hướng dẫn nhà quản trị trong trong thực hiện kiểm soát nội bộ trên cơ

sở yêu cầu của SOA 404 năm 2008 Trên tài liệu đó đã khẳng định rõ về 5 thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ và mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ theo giống như COSO đưa ra Đồng thời, tài liệu nây cũng đưa ra chỉ dẫn về nghĩa vụ của nhà quản trị trong đánh giá về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong điều kiện sử dụng công nghệ thông tin Khẳng định trách nhiệm của giám đốc điều hành (CEO) và giám đốc tài chính (CFO), trưởng các bộ phận trong đánh giá

và báo cáo về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đem lại một sự đảm bảo hợp lý cho các mục tiêu của đơn vị Nhà quản trị phải tiến hành đánh giá

về HTKSNB ngay khi kết thúc năm tài chính trên các nội dung sau: đánh giá tổng thể từ trên xuống dưới và xác định rủi ro tổng thể nhằm giới hạn phạm vi kiểm tra, phân bổ mức rủi ro, xác định mức trọng yếu,nhận diện các khoản mục trọng yếu, xem xét các cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính, xác định quá trình kinh doanh, nghiệp vụ trọng yếu, kiểm tra các kiểm soát chủ yếu, đánh giá rủi ro xảy ra gian lận, tài liệu hóa các quy trình và kiểm soát [93] Năm 2008, tác giả Laura F.Spira và Catherine Gowthorpe trong cuốn “Reporting on internal control in the UK and US” (Báo cáo về kiểm soát nội bộ tại Anh và Mỹ) đã nhận định về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Anh là được thiết kế trên cơ sở quản trị rủi ro hay nói một cách khác giữa HTKSNB và quản trị rủi ro có mối liên hệ với nhau Cụ thể, trong đánh giá về hệ

Trang 24

thống kiểm soát nội bộ tại Anh, các tác giả có nói như sau “ hệ thống kiểm soát nội

bộ của một công ty có một vai trò chủ yếu trong quản trị rủi ro nên rất quan trọng với việc đạt các mục tiêu kinh doanh của công ty”, đã nhận định kiểm soát nội bộ

là một hệ thống và có đề cập tới mối liên hệ với quản trị rủi ro [107, tr.14] Theo nghiên cứu của IAASB cơ quan soạn thảo và ban hành chuẩn mực kiểm toán quốc

tế, hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành đã chỉ rõ về kiểm soát nội bộ là một hệ thống và bao gồm các thành phần: Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị; Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm các quy trình kinh doanh có liên quan và trao đổi thông tin; Các hoạt động kiểm soát; và Giám sát các kiểm soát (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA

số 210 - Thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng kiểm toán) Đồng thời cũng đưa

ra chỉ dẫn rõ hơn về kiểm soát nội bộ trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số

315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị - “ Kiểm soát nội bộ: Là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” [59, tr.241] Nhận định của ISA đã tương đồng với quan điểm của Báo cáo COSO và một lần nữa làm rõ về các thành phần của kiểm soát nội bộ gồm 5 thành phần Năm 2012, Tập đoàn Ernst & Young tại Anh có đưa ra nghiên cứu sau “Risk and compliance for today 's global oil and gas companies”, trong đó có đề cập tới một khía cạnh nhỏ của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp dầu khí toàn cầu hiện nay đó là về rủi ro và đánh giá

về rủi ro chung của các doanh nghiệp Những nghiên cứu của Tập đoàn này mới chỉ

ra được loại rủi ro mà các công ty phải đối mặt nhằm phục vụ cho công tác kiểm toán [84] Theo ghi chép trong cuốn “Internal Controls handbook” của tác giả Marc Lamoureux về lĩnh vực năng lượng tại Mỹ (liên quan tới ngành điện), đã có những hướng dẫn và đánh giá về việc phát triển, thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến ngành năng lượng Quá trình đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ ra

Trang 25

các nhận định sau: Hệ thống kiểm soát nội bộ phải được tổ chức trên cơ sở tuân thủ các tiêu chuẩn NERC (North Ammerican Electric Reliability Corporation) là một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ chịu trách nhiệm điều chỉnh các vấn đề trong ngành điện liên quan đến hoạt động, chủ doanh nghiệp, khách hàng thông qua việc ban hành và lựa chọn các tiêu chuẩn đánh giá về tính đầy đủ, hiệu lực và hiệu quả trong thực hiện (còn gọi là tiêu chuẩn tin cậy) và các tiêu chuẩn khác liên quan đến ngành công nghiệp Lợi ích từ việc phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ theo NERC là nhanh chóng phát hiện các kiểm soát không hiệu quả, giám sát nhiều hơn hành vi tuân thủ, tập trung vào kiểm tra các kiểm soát thay cho kiểm tra tuân thủ, tin tưởng hơn vào hành vi tuân thủ trong đơn vị, giảm khối lượng công việc kiểm toán tuân thủ, vi phạm; củng cố độ tin cậy vào hoạt động của đơn vị Tác giả cũng khẳng định hệ thống kiểm soát nội bộ phải tích hợp với tiêu chuẩn của OSHA (Occupational Safety anh Health Administration – Quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp), đây

là tiêu chuẩn yêu cầu chủ lao động phải tiến hành các biện pháp để bảo vệ cho người lao động khỏi các rủi ro về sức khỏe và an toàn lao động Doanh nghiệp phải chỉ ra rủi ro trọng yếu ảnh hưởng tới người lao động và biện pháp phòng tránh: giới hạn số lao động có liên quan tới hoạt đông có rủi ro cao, sử dụng trang thiết bị an toàn chắc chắn, giám sát các mối nguy hiểm tại nơi làm việc…Như vậy, công việc kiểm soát sẽ lồng ghép với tiêu chuẩn trên để thực hiện kiểm soát các hoạt động của ngành Nội dung hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành gồm 8 thành phần: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện rủi ro, đánh giá rủi ro, biện pháp đối phó với rủi ro, hoạt động kiểm soát (kiểm soát ngăn chặn, phát hiện, sửa chữa), thông tin và truyền thông, giám sát [97]

Tóm lại, nghiên cứu của các tác giả và tổ chức trên thế giới sau năm 1992 cho thấy các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ có sự quan tâm từ nhiều phía không chỉ phía kiểm toán viên nội bộ cả các nhà quản trị Hệ thống kiểm soát nội bộ còn được đặt trong mối liên hệ với rủi ro, nhận thức của nhà quản trị cấp cao, tác động của môi trường tin học Các nghiên cứu đã đưa ra khái niệm đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ và khẳng định các yếu tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ là mở

Trang 26

rộng hơn so với các nghiên cứu trước năm 1992 Riêng các nghiên cứu HTKSNB trong doanh nghiệp ngành DVKTDK chưa có do là ngành nhỏ trong ngành dầu khí

1.2 Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi khá nhiều tác giả và liên quan tới nhiều lĩnh vực, ngành nghề Trước hết, trong giáo trình “Lý thuyết kiểm toán” của Học viện tài chính – Đồng chủ biên Ths Đậu Ngọc Châu và TS Nguyễn Viết Lợi, đã có đề cập tới nội dung của hệ thống kiểm soát nội

bộ trong Chương 6 Tác giả đã nhận định về khái niệm của hệ thống kiểm soát nội

bộ, mục đích của hệ thống kiểm soát nội bộ, các hạn chế cố hữu của hệ thống và cơ cấu của hệ thống kiểm soát nội bộ gồm có 3 thành phần là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các chính sách và thủ tục kiểm soát Nghiên cứu của tác giả là khá đầy đủ khi đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể về hệ thống kiểm soát nội

bộ, cũng như những hiểu biết nhất định về thủ tục kiểm soát trực tiếp và tổng quát Tác giả cũng bổ xung thêm về công tác kế hoạch trong môi trường kiểm soát Phạm

vi của hệ thống kiểm soát nội bộ theo nhận định của tác giả là rộng bao gồm cả hoạt động tài chính và hoạt động phi tài chính, tuy nhiên cách tiếp cận của tác giả về kiểm soát nội bộ cũng chủ yếu từ giác độ kiểm toán [36]

Tiếp theo, PGS.TS Nguyễn Đình Hựu trong cuốn “Kiểm toán căn bản” cũng

có những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trên góc độ nghiên cứu chung về kiểm toán Tác giả đã coi hệ thống kiểm soát nội bộ là một khái niệm cơ bản thuộc kiểm toán theo nội dung trình bày trong Chương hai của tài liệu (Các khái niệm cơ bản của kiểm toán) [31] Tác giả cũng đưa ra nhận định khá ngắn gọn về hệ thống kiểm soát nội bộ, mục đích của xây dựng hệ thống, các yếu tố cấu thành hệ thống này gồm môi trường kiểm soát chung, hệ thống kế toán, các loại kiểm soát và các thủ tục kiểm soát Nghiêu cứu của tác giả khá tương đồng với TS Nguyễn Viết Lợi trong việc coi công tác kế hoạch và kiểm toán nội bộ là một phần của môi trường kiểm soát nhưng còn chưa hợp lý trong mô tả về thành phần thứ ba của hệ thống kiểm soát nội bộ do không làm rõ trong tên gọi thành phần về các chính sách kiểm soát Tiếp theo, nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ cũng nằm trong giáo trình

Trang 27

“Kiểm toán tài chính” – Trường Đại học Kinh tế quốc dân – Chủ biên GS.TS Nguyễn Quang Quynh và TS Ngô Trí Tuệ trong nội dung Chương thứ tư – Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ trên cơ sở quan điểm của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) theo đó đưa

ra nhận định về hệ thống kiểm soát nội bộ và khẳng định kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên trong các đơn vị, tổ chức và hệ thống được xây dựng trên

cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra [51] Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra hệ thống kiểm soát nội bộ có 4 yếu tố là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ Đây là điểm khác biệt so với các nghiên cứu của các tác giả trong nước Tuy nhiên, có một số bất cập là kiểm toán nội bộ thực chất có chức năng là một bộ phận đánh giá độc lập được thiết kế trong một tổ chức để kiểm tra và đánh giá hoạt động của tổ chức và là một hoạt động phục vụ cho tổ chức

Tiếp theo nữa là cuốn “Kiểm soát nội bộ” của Trường đại học KTQD thành phố Hồ Chí Minh do PGS TS Trần Thị Giang Tân làm chủ biên Đây là tài liệu nghiên cứu thực sự đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu của Báo cáo COSO tại Việt Nam Các tác giả đã khẳng định kiểm soát nội bộ là một quá trình được thiết kế và vận hành bởi con người trong một đơn vị, hệ thống này nhằm đem lại một sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt mục tiêu về hoạt động, mục tiêu tài chính, mục tiêu tuân thủ Các tác giả cũng chỉ ra HTKSNB gồm

có 5 yếu tố là Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro; Hệ thống thông tin

và truyền thông; Các hoạt động kiểm soát; và Giám sát các kiểm soát [54]

Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát trong cuốn “Kiểm soát quản lý” của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa Tuy không tiến hành nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng tác giả đã đưa ra trong chương I – Bản chất của Hệ thống kiểm soát quản lý nhận định của mình về thế nào là một hệ thống kiểm soát và các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát Nghiên cứu này của tác giả làm căn cứ để xây dựng hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ [28]

Tiếp theo là nghiên cứu của các tác giả về hệ thống kiểm soát nội bộ ở một

số đơn vị và ngành cụ thể: Đề tài cấp bộ”Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với

Trang 28

việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty bưu chính viễn thông”( PGS.TS.Ngô Trí Tuệ và tập thể tác giả)(2004) Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty bưu chính viễn thông trên góc độ tiếp cận để phục vụ công tác quản lý tài chính [58] Đề tài của Tác giả Trần Thị Minh Thư “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong các Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam” (Luận văn Thạc sỹ năm 2001) Nghiên cứu này có đề cập tới hoàn thiện kiểm soát nội bộ nhưng áp dụng chung cho các Tổng công ty Nhà nước Nghiên cứu của Tác giả Bùi Duy Hùng (2007) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các khách sạn liên doanh do ACCOR quản lý trên địa bàn hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” Nội dung của nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của lĩnh vực dịch vụ khách sạn [33] Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Bính Ngọ (2011) về

“Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng” Đề cập tới hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc

Bộ quốc phòng [37] Luận án tiến sĩ của Tác giả Nguyễn Thu Hoài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công

ty công nghiệp xi măng Việt Nam” (2011) Tác giả này đã chỉ ra được khái niệm về

hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng và đặc biệt là đề cập tới việc kiểm soát trong điều kiện ứng dụng tin học và áp dụng hệ thống quản trị ERP, các thành phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ mà tác giả này đưa ra gồm Môi trường kiểm soát, Hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát gắn liền với đặc điểm của doanh nghiệp ngành xi măng và trong điều kiện vận dụng tin học và mối quan

hệ với quy trình đánh giá rủi ro Tác giả đã tiếp cận về hệ thống kiểm soát trên quan điểm coi hệ thống kiểm soát gắn liền với môi trường tin học Tuy nhiên, phạm vi khảo sát còn hẹp và các yếu tố về hệ thống kiểm soát nội bộ mà tác giả đưa ra còn chưa đầy đủ, chưa đề cập tới yếu tố về truyền thông và chưa tiếp cận đầy đủ về đánh giá rủi ro để hoàn thiện hệ thống kiểm soát (mặc dù tác giả này có trình bày về mối quan hệ với rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ) [26] Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Minh Hải ““Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam” (2011) Tác giả này cũng trình bày nghiên cứu về hệ thống

Trang 29

kiểm soát nội bộ gắn với ngành dệt may với phạm vi khảo sát rộng, tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn và đề cập tới các thành phần kiểm soát ở là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát trên khía cạnh tiếp cận từ quan điểm về quản trị doanh nghiệp Đặc biệt, tác giả đã đề cập mở rộng hơn yếu tố hệ thống kế toán thành hệ thống thông tin so với các nghiên cứu trước và gắn hệ thống kiểm soát nội bộ với trách nhiệm xã hội [29] Luận văn Thạc sỹ “Nghiên cứu một số

biện pháp giảm thiểu rủi ro nhà máy sản xuất ống thép hàn thẳng tại Khu công nghiệp dịch vụ Dầu khí Soài Rạp - Tiền Giang” – Lê Nguyễn Lâm Hương(2013)

Trong nghiên cứu của tác giả Lê Nguyễn Lâm Hương, các rủi ro liên quan tới hoạt động của một dự án thuộc ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí được đề cập như rủi ro về

tỷ giá, rủi ro về lãi suất…và các biện pháp phân tích và đánh giá rủi ro cần thiết phải tiến hành Tác giả này đã đưa được nghiên cứu đầy đủ về rủi ro liên quan tới đơn vị khảo sát và đánh giá rủi ro tại đơn vị nhưng phạm vi khảo sát còn hẹp nên chưa có tính ứng dụng phổ biến Vì vậy, cần thiết phải có nghiên cứu đầy đủ hơn về đánh giá rủi ro chung cho các doanh nghiệp trong ngành và rủi ro trong mối quan hệ với hệ thống kiểm soát nội bộ [30] Nghiên cứu về công tác kế toán như đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam”, Nguyễn Hải Long (2011) Tác giả này cũng mới đề cập tới thực trạng bộ máy kế toán, thực trạng về hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán và các giải pháp hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán đối với các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến một nội dung trong thành phần hệ thống thông tin của hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp thuộc PVN nên vẫn cần phải hoàn thiện thêm khi đặt trong mối quan hệ với các thành phần khác của hệ thống kiểm soát nội bộ và công tác quản trị doanh nghiệp [35]

Như vậy, đến trước khi có Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban

hành năm 2012 thì trong nhiều tài liệu đều tiến hành nghiên cứu về HTKSNB theo

cơ cấu là có 3 yếu tố gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát, mặc dù có một số nghiên cứu cũng đề cập mở rộng hơn về các yếu tố của

hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng chưa đầy đủ.… Trong các nghiên cứu nêu trên, thì

Trang 30

nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thu Hoài và Bùi Thi Minh Hải là có nội dung khá đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ của từng ngành đặc thù trên hai khía cạnh tiếp cận khác nhau Tuy nhiên hiện nay, theo Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam ban hành năm 2012, quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ đã có sự thống

nhất với COSO về 5 thành phần của hệ thống gồm: Môi trường kiểm soát; Quy

trình đánh giá rủi ro của đơn vị; Hệ thống thông tin và truyền thông; Các hoạt động kiểm soát; Giám sát các kiểm soát Điều này đòi hỏi cần phải có nghiên cứu

đầy đủ hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ theo quan điểm có 5 thành phần Về các nghiên cứu liên quan tới hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam, vì đây là ngành khá mới và lại có nhiều đặc thù riêng biệt nên các tài liệu nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ không có nhiều chỉ tập trung vào một nội dung riêng biệt trong hệ thống kiểm soát nội bộ như nghiên cứu về rủi

ro trong hoạt động, nghiên cứu về công tác kế toán, đánh giá hiệu quả hoạt động nên rất cần có nghiên cứu về tổng thể hệ thống kiểm soát nội bộ cho ngành dầu khí

nói chung và dịch vụ kỹ thuật dầu khí nói riêng Tổng hợp lại, cần thiết phải thực

hiện một nghiên cứu toàn diện về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay với 5 thành phần để bổ sung lý luận về hệ thống kiểm soát nội

bộ trong doanh nghiệp nói chung và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam nói riêng Quan điểm hoàn thiện và khảo sát sẽ dựa trên cơ sở nhận diện đầy đủ rủi ro của các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí để hoàn thiện hệ thống kiểm soát và nâng cao nhận thức của nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp của ngành về hệ thống KSNB Riêng về việc khảo sát HTKSNB trong môi trường tin học sẽ không thực hiện do đặc trưng của các doanh nghiệp ngành DVKT dầu khí tại Việt Nam hiện nay phần lớn không sử dụng ERP trong quản trị doanh nghiệp và việc ứng dụng ERP là khó thực hiện do các doanh nghiệp của ngành thực hiện đa dịch vụ là chủ yếu, không đi vào dịch vụ chuyên sâu

Trang 31

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu đề cập tới các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ gồm ba yếu tố, một số ít đề cập đến hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5 yếu tố nhưng chưa đầy đủ cần củng cố và hòa thiện thêm

Tổng quan nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ là căn cứ xác định định hướng nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam hiện nay Hướng nghiên cứu gồm hoàn thiện, củng cố lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 5 thành phần; xây dựng đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp DVKTDK; hoàn thiện HTKSNB của ngành gắn liền với đánh giá rủi ro trên cơ sở khảo sát biểu hiện HTKSNB trong các doanh nghiệp ngành DVKTDK tại Việt Nam hiện nay

Trang 32

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

2.1 Khái quát về kiểm soát trong doanh nghiệp

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm kiểm soát trong doanh nghiệp

* Quản trị doanh nghiệp: trong nền kinh tế hiện đại, doanh nghiệp có

tương đối nhiều điểm giống với một thực thể tự nhiên, đó là trải qua đầy đủ các quá trình phát tiển có tính chu kỳ: ra đời, phát triển nhanh chóng, phát triển chậm lại, ổn định, suy thoái, diệt vong Nhiều doanh nghiệp đã thích nghi nhanh chóng với điều kiện thực tiễn và duy trì giai đoạn ổn định để tồn tại và phát triển Chìa khóa tạo nên sự tồn tại và phát triển? Đó chính là quản trị doanh nghiệp Theo Stoner và Robbins “Quản trị là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu của đơn vị đó” [113] Hoặc “Quản trị là quá trình làm việc cùng

và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi và trọng tâm của quản trị là việc sử dụng có hiệu quả và hiệu lực các nguồn lực giới hạn” (Stonner và Freeman) [113], [20,tr.17] Theo từ điển Oxford thì “Quản trị (management) có ý nghĩa là quản trị, quản lý nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa

là quản trị Đây là quá trình xử lý hoặc kiểm soát với các sự việc hoặc con người” [119] Theo ghi nhận hiện có ba quan điểm khác nhau về “quản trị” và “quản lý”: Quan điểm thứ nhất cho rằng quản lý có phạm vi rộng hơn so với quản trị như Oliver Shelton, Milward, Lansberg… Quan điểm thứ hai cho rằng quản lý là một phần của quản trị theo E.F.L Breech có liên quan đến việc thiết lập và duy trì, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp Quan điểm thứ ba cho rằng quản lý và quản trị có ý nghĩa như nhau, quản trị thường dùng cho hoạt động của doanh nghiệp, còn quản lý dùng cho tầm vĩ mô như quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội Như vậy, xét trên mục tiêu duy trì sự ổn định và phát triển bền vững doanh nghiệp trong nền kinh

tế hiện đại, quản trị là thuật ngữ thích hợp hơn và có thể khái quát khái niệm về

Trang 33

quản trị như sau “quản trị là một quá trình mà chủ thể quản trị thực hiện các tác

động và kiểm soát với đối tượng của quản trị để nhằm đạt mục tiêu của đơn vị trên

cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực ” Xét về chức năng, quản trị có năm chức

năng sau: Lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm soát (Quan điểm của Henri Fayol) hoặc quan điểm mở rộng hơn là quản trị gồm có 8 chức năng là: Lập

kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, nhân sự, truyền thông, động viên, lãnh đạo và

kiểm soát [20,tr.17]

Như vậy, kiểm soát là chức năng quan trọng với quản trị doanh nghiệp, và phải được thực hiện trong mọi khâu của quản trị doanh nghiệp giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu mong muốn

* Kiểm soát : Từ tìm hiểu về quản trị, quản lý cho thấy mọi doanh nghiệp đều

cần có quá trình quản trị thích hợp và các chức năng của quản trị cũng phải được nhận thức đầy đủ và xây dựng thích hợp với đặc điểm của doanh nghiệp, đặc biệt là với chức năng kiểm soát Nhà quản trị doanh nghiệp khi không nhận định đầy đủ về kiểm soát

có thể phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thực hiện hoạt động Vì vậy,

trước hết cần nhận định lại thật chính xác xem kiểm soát là gì? Quan điểm về kiểm

soát được trình bày trong rất nhiều tài liệu Cụ thể theo trang web Wikipedia liệt kê cho thấy các quan điểm như sau: Đầu tiên là quan điểm của Henry Fayol năm 1916

có chỉ ra “kiểm soát là việc kiểm tra nhằm khẳng định mọi việc thực tế có được thực hiện theo kế hoạch thiết lập, theo các mệnh lệnh đã được ban hành và các nguyên tắc đã được trình bày Mục tiêu của kiểm soát là là phát hiện các sai phạm

để sửa chữa và ngăn ngừa chúng tái diễn” Tiếp theo, EPL Breach cũng đề cập tới khái niệm về kiểm soát “kiểm soát là việc kiểm tra các công việc hiện tại có đảm bảo các tiêu chuẩn đã đưa ra trong kế hoạch nhằm đảm bảo các công việc thực hiện đúng tiến trình và đầy đủ Còn theo quan điểm hiện đại, kiểm soát không chỉ được coi là một chức năng của quản trị trong ngăn ngừa các sai phạm, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc, mệnh lệnh và kế hoạch đã ban hành mà còn được coi là một hoạt động dự báo [117] Theo Ellen J Langer “kiểm soát là một nhân tố rất quan trọng

Trang 34

trong cuộc sống và hoạt động thậm chí cả trong trường hợp với các hoạt động chứa

đựng nhiều yếu tố may mắn, để nhằm đem lại hiệu quả mong muốn“[98,tr.7]

Tại Việt Nam, quan điểm về kiểm soát được thể hiện khác nhau tùy lĩnh vực như sau: Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích như sau “kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” hoặc “đặt trong phạm vi, quyền hành của đối tượng nào đó” [38] Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết” đã định nghĩa về kiểm soát “là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động của doanh nghiệp” Theo GS.TS Nguyễn Quang Quynh “kiểm soát được hiểu là tổng hợp các phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý” [53,tr.9] Theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa thì kiểm soát “

đó là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu và kế hoạch của tổ chức được thực hiện một cách có hiệu quả”[28]

Như vậy, xét về mặt bản chất, kiểm soát dù trong lĩnh vực nào đều nhằm đánh giá, so sánh được quá trình thực hiện thực tế so với các quy định và tiêu chuẩn đưa ra, để nhằm tìm kiếm những điểm hạn chế, sai phạm có thể xảy ra và tiến hành điều chỉnh nếu cần thiết Kiểm soát giúp hoạt động của các đơn vị đúng với kế hoạch, mục tiêu, định hướng đã đề ra; cũng như có thể dự báo, dự kiến các tình huống có thể xảy ra; về mặt tâm lý của người chịu tác động kiểm soát, kiểm soát giúp khuyến khích họ tích cực hơn trong công việc, tăng tính tập trung vào thực hiện hoạt động; ngược lại, về phía người sử dụng thông tin được kiểm soát thì sẽ gia

tăng niềm tin Tổng hợp lại, trên góc độ quản trị doanh nghiệp, kiểm soát có thể

hiểu là quá trình thực hiện các hoạt động xem xét, đánh giá, ngăn ngừa hoặc điều chỉnh đối với các đối tượng cần phải kiểm soát trong đơn vị, dự báo những rủi ro

có thể xảy ra, để đảm bảo mục tiêu và kế hoạch của đơn vị đạt được thực hiện một cách hiệu quả và hiệu lực

Các phương pháp thường được kiểm soát áp dụng bao gồm: kiểm soát tổ chức, kiểm soát nhân sự, kiểm soát hoạt động, rà soát định kỳ, đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị Kiểm soát tổ chức (organizational controls) là phương pháp

Trang 35

được thiết lập để định hướng các hoạt động trong đơn vị, bao gồm các nội dung xác định mục tiêu, trách nhiệm, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền ra quyết định, mô tả công việc, phân chia công việc Kiểm soát hoạt động (activities control) là phương pháp được tiến hành để hướng dẫn quá trình thực hiện hoạt động nhằm ngăn ngừa các sai phạm thông qua việc sử dụng : kế hoạch, dự toán, hệ thống thông tin, tài liệu hướng dẫn, ủy quyền, chính sách và thủ tục, mệnh lệnh Kiểm soát nhân sự (personel control) là phương pháp giúp khuyến khích, động viên các cá nhân trong đơn vị thông qua việc tuyển dụng nhân sự thích hợp, hướng dẫn, đào tạo, phát triển nhân

sự, giám sát Rà soát định kỳ (Periodic Review) là phương pháp được thực hiện để đánh giá các cá nhân, hoạt động trong đơn vị thông qua rà soát nhân sự, rà soát hoạt động, ngoại kiểm Đánh giá cơ sở vật chất và trang thiết bị (Facilities and equipment), đây là phương pháp mà thông qua việc đánh giá về tính thích hợp của

cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động xuất phát từ nhận định rằng với một cơ sở vật chất phù hợp thì hoạt động sẽ đảm bảo hiệu lực và hiệu quả, cũng như giúp bảo vệ tài sản của đơn vị [86]

Từ bản chất và phương pháp tiến hành của kiểm soát đã chỉ rõ vai trò trọng tâm của kiểm soát chính là việc giúp đơn vị đạt được mục tiêu trong bối cảnh có nhiều trở ngại và khó khăn về môi trường hoạt động, tổ chức thực hiện Bản chất và vai trò của kiểm soát chỉ rõ tầm quan trọng với nhà quản trị, người thành công trong kiểm soát sẽ là người phát hiện hoặc dự kiến, sửa chữa được những sai phạm

2.1.2 Phân loại kiểm soát

Theo nhận định về bản chất và vai trò của kiểm soát đã cho thấy kiểm soát hiện diện ở mọi hoạt động, lĩnh vực, là đối tượng quan tâm của cả nhà quản trị, người thực hiện công việc trong đơn vị, người sử dụng thông tin Xét trên các khía cạnh khác nhau sẽ tồn tại nhiều loại hình kiểm soát tùy theo lĩnh vực hoạt động, loại hình hoạt động, phân cấp quản lý, cơ chế kinh tế, điều kiện xã hội… Quan điểm của GS.TS Nguyễn Quang Quynh và PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa đưa ra về kiểm soát cũng đã đề cập tới vấn đề về loại hình kiểm soát đó là kiểm soát phải phù hợp với các cấp quản lý khác nhau, loại hình hoạt động, phạm vi, thời điểm thực hiện,

Trang 36

mục tiêu Ngoài ra, hình thức sở hữu, truyền thống văn hóa và điều kiện xã hội cũng

có ảnh hưởng tới kiểm soát về mặt tiến trình và duy trì trong đơn vị [53,tr.9,10,11]

Hệ thống các quan điểm và lý thuyết về kiểm soát, việc phân chia các loại hình kiểm soát trong doanh nghiệp được thực hiện như sau trên cơ sở các tiêu thức

là mức độ ảnh hưởng của chủ thể kiểm soát với các đối tượng kiểm soát, phạm vi, nội dung, đối tượng, mục đích, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm soát:

Phân loại theo mối quan hệ của chủ thể kiểm soát với khách thể kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát từ các chủ thể bên ngoài đơn vị và kiểm soát nội

bộ (kiểm soát từ các chủ thể bên trong đơn vị) Kiểm soát từ các chủ thể bên ngoài đơn vị (ngoại kiểm ): là loại kiểm soát được thực hiện bởi các chủ thể bên

ngoài đơn vị như kiểm soát của đơn vị cấp trên, kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà

nước… Kiểm soát nội bộ (kiểm soát từ các chủ thể bên trong đơn vị): là loại kiểm

soát được thực hiện bởi các chủ thể bên trong đơn vị, tiến hành kiểm soát lẫn nhau

theo nhiều chiều nhằm mục đích quản trị nội bộ

Phân loại theo mức độ ảnh hưởng của chủ thể kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng quát Kiểm soát trực tiếp: được xây

dựng trên cơ sở đánh giá từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành trong đơn vị mà cần phải được kiểm soát Kiểm soát trực tiếp bao gồm kiểm soát hoạt động, kiểm soát xử

lý, kiểm soát bảo vệ tài sản Kiểm soát hoạt động là việc kiểm soát từng hoạt động riêng lẻ do nhân viên độc lập với người thực hiện tiến hành Kiểm soát xử lý là việc kiểm soát nhằm xem xét việc thu thập, xử lý, ghi chép, cung cấp thông tin về các giao dịch, hoạt động để tìm hiểu về các giao dịch, hoạt động xem chúng có hợp pháp, hợp

lệ không, có được công nhận không Kiểm soát bảo vệ tài sản là việc ban hành các

quy chế, thủ tục để nhằm bảo vệ tài sản và thông tin trong đơn vị Kiểm soát gián

tiếp: là việc kiểm soát tổng thể với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau

Phân loại theo thời điểm kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát dự kiến trước (Feedforward Control), kiểm soát trong quá trình thực hiện (kiểm soát đồng thời–Concurrent Control), kiểm soát sau quá trình thực hiện (kiểm soát phản hồi–Feedback Control) Kiểm soát trước (Kiểm soát dự kiến trước-

Trang 37

Feedforward Control): là quá trình kiểm soát trước khi thực hiện hoạt động nhằm

mục tiêu ngăn ngừa sai phạm có thể xảy ra để giúp các kế hoạch có thể đạt được thành công, ví dụ phê duyệt lập dự phòng bảo hành được coi là một kiểm soát dự kiến trước Kiểm soát này thường được coi là khó với nhà quản trị vì đòi hỏi tư duy

và tầm nhìn chiến lược Kiểm soát trong quá trình thực hiện (kiểm soát đồng thời

- Concurrent Control): đây là loại kiểm soát gắn liền với thực tế thực hiện công

việc hiện tại bao gồm các công việc như giám sát, điều chỉnh các hoạt động một các thường xuyên, liên tục để nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn đã

thiết lập Kiểm soát sau quá trình thực hiện (kiểm soát phản hồi - Feedback

Control): Là việc thu thập và đánh giá thông tin về một hoạt động đã hoàn thành so

với mục tiêu đề ra, đồng thời đưa ra biện pháp để cải thiện hoạt động trong tương lai, giúp tránh lặp lại sai lầm trong quá khứ [20,tr.259]

Phân loại theo nội dung của kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát tổ chức và kiểm soát kế toán Kiểm soát tổ chức: là loại kiểm soát được thiết lập nhằm

đảm bảo sự tuân thủ của tổ chức đối với các quy định của pháp luật và quy định của đơn vị, hiệu lực, hiệu quả của tổ chức trong quá trình thực hiện hoạt động nhằm đảm

bảo hoạt động đúng mục tiêu, sử dụng nguồn lực kinh tế và hiệu quả Kiểm soát tổ

chức nhằm hướng tới các hoạt động về nhân sự, cơ cấu tổ chức, công nghệ, kế hoạch,

chất lượng, nghiên cứu, triển khai Kiểm soát kế toán: là loại kiểm soát tập trung vào

việc kiểm tra các thông tin cung cấp cho việc ra quyết định nhằm đảm bảo tính trung thực, hợp lý của thông tin, bảo vệ tài sản trong đơn vị [28,tr.15-20]

Phân loại theo đối tượng của kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát đầu ra và kiểm soát hành vi Kiểm soát đầu ra: là loại kiểm soát được áp dụng ở

mọi cấp độ trong doanh nghiệp thông qua việc nhà quản trị chọn tiêu chuẩn đánh giá đầu ra thích hợp với mục tiêu của từng cấp quản lý và sau đó đo lường kết quả

đạt được Kiểm soát hành vi: kiểm soát này được thiết kế để giám sát, hỗ trợ và

khích lệ nhân viên trong quá trình thực hiện hoạt động Kiểm soát hành vi bao gồm

có ba cơ chế là giám sát trực tiếp, quản lý theo mục tiêu, kiểm soát hành chính Giám sát trực tiếp là việc nhà quản trị tự giám sát cấp dưới Quản lý theo mục tiêu

Trang 38

là quá trình xác lập mục tiêu và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của cấp dưới,

cơ chế này được thực hiện ở mọi đơn vị Kiểm soát hành chính là việc kiểm soát bằng hệ thống những quy định và thủ tục kiểm soát [28,tr.15-20]

Phân loại theo mục tiêu kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát ngăn ngừa (Preventive Control), kiểm soát phát hiện (Detective Control), kiểm soát sửa chữa (Corrective Control) và kiểm soát bù trừ (Compensating Control) Kiểm soát ngăn ngừa (Preventive Control): được thiết kế để ngăn ngừa các sai phạm nhằm

đảm bảo quá trình thực hiện đạt mục tiêu của đơn vị và tuân thủ các quy định của

Pháp luật và quy định của đơn vị Kiểm soát phát hiện (Detective Control): được

thiết kế đề tìm kiếm gian lận và sai sót cũng như khuyến khích việc tuân thủ các

quy định Kiểm soát sửa chữa (Corrective Control): được thiết kế để đảm bảo sửa

chữa các sai phạm phát hiện được và đưa các hoạt động bị sai phạm về đúng với

quy định đã thiết lập Kiểm soát bù trừ (Compensating Control): để nhằm lập trình lại hệ thống kiểm soát, thêm các thủ tục để cải tiến hệ thống [97,tr.15-9,10]

Phân loại theo chu kỳ tiến hành kiểm soát thì kiểm soát bao gồm kiểm soát thường xuyên, kiểm soát định kỳ Kiểm soát thường xuyên: là loại kiểm soát được

tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày trong quá trình thực hiện các hoạt động

tại đơn vị Kiểm soát định kỳ: là loại kiểm soát được thực hiện định đỳ hoặc khi có tình huống bất thường tại đơn vị Phân loại theo phạm vi kiểm soát thì kiểm soát

bao gồm kiểm soát toàn diện, kiểm soát chọn điểm (điển hình) Kiểm soát toàn diện: là loại kiểm soát tiến hành với tất cả các hoạt động tại đơn vị gồm cả trước,

trong và sau quá trình thực hiện nhằm đảm bảo các mục tiêu của đơn vị được thực

hiện đầy đủ Kiểm soát chọn điểm: là loại kiểm soát được thực hiện khi có tình

huống bất thường tại đơn vị hoặc khi có những vấn đề cần thiết phải có sự tác động

để nắm bắt và điều hành kịp thời

Tóm lại, có rất nhiều tiêu thức đưa ra để phân loại kiểm soát, tuy nhiên trong quá trình thực hiện cần phải vận dụng cho phù hợp với thực tiễn và nên sử dụng theo cách thức kết hợp nhiều loại kiểm soát nhằm đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp Việc vận dụng này đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp có một quan điểm

Trang 39

toàn diện và tầm nhìn chiến lược trong kiểm soát Trong phạm vi của luận án, nội dung về kiểm soát nội bộ trong phân loại theo mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm soát sẽ được tập trung tìm hiểu và khảo sát theo một hệ thống Riêng các chính sách và thủ tục kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được xây dựng và hình thành dựa trên những hiểu biết về phân loại kiểm soát để tăng cường hiệu quả

2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

2.2.1 Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

* Lịch sử phát triển và bản chất của kiểm soát nội bộ: Như đã trình bày ở

phần 2.1, giữa kiểm soát và quản trị doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, kiểm soát không chỉ là một chức năng mà nó còn giúp đạt được mục tiêu và kế hoạch mà nhà quản trị đề ra, đồng thời dự báo về những rủi ro, sai phạm có thể có

Vì tầm quan trọng của kiểm soát với quản trị, đặc biệt là loại hình kiểm soát nội bộ

là loại hình kiểm soát quan trọng với doanh nghiệp hơn so với ngoại kiểm, cho nên kiểm soát nội bộ đã hình thành một hệ thống lý luận tương đối đầy đủ, được trình bày trong nhiều lĩnh vực như lĩnh vực kiểm toán, kế toán, quản lý Nhà nước

Theo lịch sử ghi chép, kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại Tại Ai Cập

cổ đại, trong bộ máy chính quyền đã tồn tại kiểm soát nội bộ thông qua việc thiết lập hai bộ phận trong bộ máy: một bộ phận là các quan chức chịu trách nhiệm về thu thuế, một bộ phận còn lại chịu trách nhiệm giám sát bộ phận thu thuế [117] Trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài, kiểm soát nội bộ ban đầu tồn tại với nội dung khá đơn giản, sơ sài Cuối thế kỷ 19, với sự ra đời của công ty kiểm toán đầu tiên tại nước Anh, khi thực hiện nhận xét về các báo cáo tài chính, kiểm toán viên đã sớm nhận thức tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ trong quá trình thực hiện kiểm toán Hình thức đầu tiên của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp Sau đó, do yêu cầu về quản lý vốn và kiểm tra thông tin về vốn ngày càng cao, thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu ra đời Năm 1905, Robert Montgomery đã đưa ra ý kiến chính thức liên quan tới một số vấn đề về kiểm soát

nội bộ trong quyển “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” [99] Tại Mỹ, Năm 1929,

thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” chính thức được đề cập trong Công bố của Cục dự trữ

Trang 40

Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) như sau “kiểm soát nội bộ là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu của kiểm toán viên” Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute

of Certified Public Accountants) với tên gọi cũ là Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AIA - American Institute of Accountants), cũng đưa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ “là biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo

vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách” Năm 1948, AICPA đã đưa ra những nghiên cứu ban đầu về kiểm soát nội bộ trong báo cáo sau “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”, định nghĩa về kiểm soát nội bộ được trình bày là các kế hoạch của tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện để bảo vệ tài sản, kiểm tra thông tin và tuân thủ , qua đó xác định phạm vi của kiểm soát nội bộ tương đối rộng Tiếp theo, năm

1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán CAP thuộc AICPA đã phân chia kiểm soát nội bộ thành kiểm soát nội bộ về kế toán (bảo vệ tài sản và kiểm tra thông tin kế toán) và kiểm soát nội bộ về quản lý (liên quan tới hiệu quả hoạt động và tuân thủ quy định) trong SAP 29 (Thủ tục kiểm toán số 29) thu hẹp và đổi lại tên về kiểm soát nội bộ Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33, năm 1972, CAP ban hành SAP 54 làm

rõ hơn về kiểm soát nội bộ Từ năm 1973, AICPA banh hành chuẩn mực kiểm toán SAS để thay thế cho các CAP, qua đó định nghĩa và nội dung của kiếm soát nội bộ được mở rộng hơn nữa nhưng vẫn tập trung vào thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép

kế toán hay nói cách khác là kiểm soát nội bộ kế toán Sau thời điểm này, các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ ngày càng được quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực kiểm toán, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm chưa rõ về phạm vi của kiểm tra nội bộ (internal check) và kiểm soát nội bộ (internal controls) Kiểm tra nội bộ thời kỳ này được coi là có phạm vi rộng hơn so với kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ chủ yếu mới chỉ được đề cập trong lĩnh vực ghi chép kế toán [54,tr.4-7] Trong các năm

từ 1970-1980, kinh tế Mỹ và nhiều quốc gia đã phát triển nhanh chóng, kèm theo sự

Ngày đăng: 07/10/2015, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO  [104] - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Hình 2.1 Mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO [104] (Trang 51)
Hình 2.2: Vòng đời của kiểm soát nội bộ - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Hình 2.2 Vòng đời của kiểm soát nội bộ (Trang 64)
Bảng số 3.5: Doanh thu và Lợi nhuận năm 2011, 2012 của một số công ty dịch vụ - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng s ố 3.5: Doanh thu và Lợi nhuận năm 2011, 2012 của một số công ty dịch vụ (Trang 88)
Bảng số 3.7: Các chỉ tiêu kế hoạch tổng quát chủ yếu Công ty mẹ PTSC năm 2012: - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng s ố 3.7: Các chỉ tiêu kế hoạch tổng quát chủ yếu Công ty mẹ PTSC năm 2012: (Trang 103)
Bảng số 3.9: Đánh giá kết quả toàn Tổng Công ty PTSC năm 2012 - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng s ố 3.9: Đánh giá kết quả toàn Tổng Công ty PTSC năm 2012 (Trang 105)
Hình 3.1: Mô hình tổ chức của kiểm toán nội bộ của PVD - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Hình 3.1 Mô hình tổ chức của kiểm toán nội bộ của PVD (Trang 109)
Bảng số 3.1 Báo cáo chi phí quản lý doanh nghiệp (nguồn PVD) - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng s ố 3.1 Báo cáo chi phí quản lý doanh nghiệp (nguồn PVD) (Trang 119)
Bảng số 3.3 Đánh giá mức độ rủi ro thực hiện dịch vụ (Nguồn PV ship yard) - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng s ố 3.3 Đánh giá mức độ rủi ro thực hiện dịch vụ (Nguồn PV ship yard) (Trang 134)
Hình 4.1: Mô hình hướng dẫn xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Hình 4.1 Mô hình hướng dẫn xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (Trang 167)
Hình 4.2 : Mối quan hệ giữa các bên trong đánh giá rủi ro - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Hình 4.2 Mối quan hệ giữa các bên trong đánh giá rủi ro (Trang 171)
Phụ lục 2.5: Sơ đồ bộ máy quản trị tập đoàn BP - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
h ụ lục 2.5: Sơ đồ bộ máy quản trị tập đoàn BP (Trang 200)
Phu luc 3.8: SƠ ĐỒ QUẢN LÝ, TỔ CHỨC CỦA PVN - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
hu luc 3.8: SƠ ĐỒ QUẢN LÝ, TỔ CHỨC CỦA PVN (Trang 219)
Phụ lục 3.17: Sơ đồ bộ máy kế toán của  Alpha - ECC - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
h ụ lục 3.17: Sơ đồ bộ máy kế toán của Alpha - ECC (Trang 227)
Phụ lục  3.18: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán- tài chính  của - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
h ụ lục 3.18: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán- tài chính của (Trang 228)
Bảng cân đối  phát sinh - Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dịch vụ kỹ thuật dầu khí tại Việt Nam
Bảng c ân đối phát sinh (Trang 233)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w