1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015

26 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
Tác giả Nguyễn Mạnh Thắng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 186,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu sản phẩm da giày hàng đầu trên thị trường quốc tế với tốc độ tăng trưởng ngành cũng như tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt trung bình trên 10%/năm.

Trang 1

Mục lục

Lời mở đầu ……… 2

Chương I: Giới thiệu ngành công nghiệp phụ trợ ……… 4

1.1 Vài nét về công nghiệp phụ trợ ……… 4

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ ……… 4

1.1.2 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ ……… 5

1.2 Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ tới ngành công nghiệp sản xuất chính ……… 6

1.3 Một số nhân tố tác động tới sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ ……… 7

Chương II: Thực trạng phát triển ngành CNPT da giày ở Việt Nam ……… 10

2.1 Ngành da giày Việt Nam ……… 10

2.1.1 Sự hình thành ngành da giày Việt Nam ……… 10

2.1.2 Tiềm năng phát triển ngành da giày Việt Nam ……… 11

2.2 Công nghiệp phụ trợ ngành da giày Việt Nam ……… 13

2.2.1 Đánh giá chung công nghiệp phụ trợ Việt Nam ……… 13

2.2.2 Thực trạng công nghiệp phụ trợ da giày Việt Nam ……… 17

Chương III: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày … 21

3.1 Về phía Nhà nước, Chính phủ ……… 21

3.1.1 Tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh ……… 21

3.1.2 Nâng cao hạ tầng cơ sở ……… 22

3.1.3 Giải pháp về tài chính ……… 22

3.2 Về phía các doanh nghiệp ……… 23

3.2.1 Giải pháp công nghệ ……… 23

3.2.2 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực ……… 23

3.2.3 Giải pháp về liên kết doanh nghiệp ……… ….24

Trang 2

Lời mở đầu

Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu sản phẩm da giày hàng đầu trên thịtrường quốc tế với tốc độ tăng trưởng ngành cũng như tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu đạt trung bình trên 10%/năm Tuy nhiên theo nhận xét của giới kinh doanh dagiày, trên thị trường thế giới sản phẩm da giày mang nhãn hiệu Việt Nam chưa tạođược chỗ đứng cho mình Một trong những nguyên nhân cơ bản, theo các doanhnghiệp là do ngành da giày Việt Nam hiện chỉ làm hàng gia công xuất khẩu chứchưa trực tiếp xuất dưới thương hiệu của mình

Chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế rằng năng lực xuất khẩu của ngành dagiày Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới còn yếu do thiếu khả năng tự thiết

kế mẫu mã, tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong nước, quy mô sản xuất chưa đủ lớn,điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của Việt Nam còn nhiều hạn chế, giá thành chiphí sản xuất cao, ưu thế về nhân công lao động tuy vẫn là nhân tố cạnh tranh, nhưngkhông còn thuận lợi như trước đây Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì

dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi nhuận thu về từ ngành này chỉ đạtmức 25% giá trị gia tăng, vì ngành này chủ yếu vẫn “bán” sức lao động là chính

Để ngành da giày phát triển bền vững, khẳng định thế đứng là một ngànhxuất khẩu chủ lực phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày là một vấn đềthen chốt Muốn thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ đòi hỏichính phủ và chính quyền các cấp phải có khuôn khổ chính sách phù hợp bên cạnh

đó là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp trong cũng như ngoài ngành Đây là hướng

đi khả thi nhất nhằm bảo đảm cho ngành da giày xuất khẩu tiếp tục tăng trưởngtrong tương lai Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, khôngchủ động được mẫu mã thiết kế đang làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, sứccạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp Phát triển công nghiệp phụ trợ sẽ gópphần nâng cao sự tự chủ của các doanh nghiệp trong sản xuất, đồng thời nâng caogiá trị thặng dư mà ngành da giày thu về với kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD mỗinăm

Từ thực tiễn đó, em lựa chọn đề án “Phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015” để tìm hiểu thực trạng, cơ hội

cùng một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ da giày

Em xin chân thành cảm ơn cô Lương Thu Hà đã hướng dẫn, giúp đỡ emhoàn thành đề án này

Trang 3

Kết cấu đề án: Gồm 3 nội dung chính

Chương I : Giới thiệu ngành công nghiệp phụ trợ

Chương II : Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ da giày Việt Nam

Chương III: Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ngành da giày

Trang 4

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

1.1 Vài nét về công nghiệp phụ trợ

1.1.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ

“Công nghiệp phụ trợ - Supporting Industries“ thực ra là một khái niệm

mới xuất hiện ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp (chủ yếu là hoạt độnglắp ráp – assembly plants) của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt là Thailand,Malaysia và Indonesia) giữa thập kỷ 80, và chỉ được dùng phổ biến (ở Đông Á) từđầu thập kỷ 90

Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng, không có định nghĩa chính xác tuyệt đối

về ngành Công nghiệp phụ trợ Một chiếc xe ô tô cấu thành từ 2 vạn linh kiện, cònmáy điện thoại di động cao cấp cấu thành bởi 1.500 linh kiện khác nhau Ngoài ra,cần phải có nhiều nguyên vật liệu khác như sắt, thép, sản phẩm hóa học… và khôngthể thiếu nhóm các công ty kỹ thuật cơ bản như khuôn, đúc, nhiệt luyện, hàn… đểsản xuất linh kiện

Ngắn ngọn hơn, các chuyên gia Hàn Quốc khái niệm, Công nghiệp phụ trợ làngành công nghiệp vật liệu và phụ tùng “Đây là khái niệm rộng và chính xác”,nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển tán thành Song ông nóithêm: “Chính xác hơn, đây là ngành công nghiệp sản xuất chi tiết, bộ phận để lắpráp một sản phẩm trong một ngành công nghiệp chế tạo”

Theo cách tổng quát Định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp phụtrợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra vào vào

năm 1993: Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử) Cũng theo cách này, Phòng Năng lượng Hoa Kỳ

trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Các ngành công nghiệp phụ trợ: công nghiệp

của tương lai”, đã định nghĩa công nghiệp phụ trợ là những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng (end-use indutries) Tuy khái niệm của Phòng Năng lượng Hoa Kỳ đưa ra rất tổng quát

Trang 5

nhưng cơ quan này, trong phạm vi chức năng của mình, tập trung chủ yếu vào mụctiêu tiết kiệm năng lượng Do đó, công nghiệp phụ trợ theo quan điểm của cơ quannày là những ngành tiêu tốn nhiều năng lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt,hàn, đúc…

Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp phụ trợ Thái Lan (Bureau

of Supporting Industries Development - BSID): Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng).

Như vậy Công nghiệp phụ trợ được hiểu là khái niệm chỉ toàn bộ những sảnphẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính Sảnphẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài hiệu quả tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút laođộng dư thừa, công nghiệp phụ trợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sứccạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóatheo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu Công nghiệp phụ trợ nếu không phát triển

sẽ khiến cho các ngành công nghiệp chính thiếu đi sức cạnh tranh và phạm vi cũnggiới hạn trong một số ít các ngành

1.1.2 Đặc điểm công nghiệp phụ trợ

Nếu hình dung cấu trúc toàn bộ qui trình sản xuất một sản phẩm như mộtquả núi (hay đơn giản là một hình tam giác), thì các ngành công nghiệp phụ trợđóng vai trò chân núi, còn công nghiệp lắp ráp đóng vai trò đỉnh núi Chân núi lànhững ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ bản (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt,khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì ) gia công các loại vậtliệu từ các loại kim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ và các loại vật liệu tổng hợpkhác, nhằm chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp

Công nghiệp phụ trợ ở đây được hiểu không bao hàm chế tạo vật liệu cơ bản(như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô) Quan hệ giữa các ngành sản xuất linhkiện bộ phận và các ngành lắp ráp có thể được mô tả như hình bên Cùng một phần

Trang 6

chân núi (sản xuất phụ tùng linh kiện) muốn sản xuất sản phẩm gì, chỉ cần thay đổiphần đỉnh (lắp ráp) Điều này cũng nói lên tầm quan trọng của CNPT: không cóchúng, công nghiệp lắp ráp sẽ không thể tồn tại.

Kenichi Ohno - Giáo sư Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản(2005) đưa ra mô hình chia sẻ của các ngành công nghiệp phụ trợ Theo Ohno, thuậtngữ các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan nhiều hơn đến sản xuất theo kiểu lắpráp, theo đó các quy trình, các sản phẩm có thể chia sẻ các đầu vào chung Cácngành dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm đòi hỏi những loại nguyên liệu đặcthù cho từng ngành, do đó không nhấn mạnh nhiều đến phát triển công nghiệp phụtrợ trong các chiến lược đầu tư vào thượng nguồn

Đặt trong khung phân tích chuỗi giá trị, với mục tiêu xây dựng một chiếnlược quốc gia về phát triển công nghiệp, Kenichi Ohno tổng quát hóa thành cácnhóm ngành công nghiệp phụ trợ sẽ đóng vai trò đảm bảo quá trình công nghiệp hóa

“lành mạnh và trôi chảy”:

- Các ngành cứng như sản xuất nguyên vật liệu và linh kiện…

- Các ngành mềm như thiết kế sản phẩm, mua sắm, marketing quốc tế, viễnthông, vận tải, năng lượng, cấp nước…

- Các ngành phục vụ nhu cầu nội địa như thép, hóa chất, giấy, ximăng…Những ngành này, theo Ohno, cần phải đánh giá về chi phí và khả năng cạnh tranhtrước khi đi theo chiến lược tập trung nội lực phát triển các ngành công nghiệp chủđạo

1.2 Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ (CNPT) tới ngành công nghiệp sản xuất chính

Thứ nhất, CNPT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranhcủa sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theohướng vừa mở rộng vừa thâm sâu CNPT không phát triển sẽ làm cho các công tylắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộcnhiều vào nhập khẩu Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ởnước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làmtăng phí tổn đầu vào Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng

Trang 7

nhập khẩu Vì lý do này, CNPT không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽthiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.

Thứ hai, CNPT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vàolĩnh vực công nghiệp, đồng thời, kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừatrong nước Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, CNPT phải đi trướcmột bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho cácngành công nghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về lắp ráphiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sảnphẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy Điều này đặcbiệt đúng trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang pháttriển mạnh tại Đông Á và là những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh động Cácmặt hàng này thường có hàng trăm hoặc hàng ngàn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầnglớp, từ những loại thông thường đơn giản đến những loại có công nghệ rất cao Đốivới các công ty nước ngoài đầu tư vào ngành sản xuất này, tỷ lệ nội địa hoá càngcao càng có lợi Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trunggian trong những sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80%giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5-10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chấtquyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, tỷ lệ của chiphí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế vềlao động nhưng CNPT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn.Không thu hút được vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất chính

Thứ ba, CNPT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụngcác kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các công tyCNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giáthành cạnh tranh được với hàng nhập

1.3 Một số nhân tố tác động tới sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ

Trang 8

thường là hạt nhân sự phát triển và các doanh nghiệp phụ trợ đóng vai trò là các vệtinh phụ cận Cần xác định cụ thể các nghành công nghiệp mũi nhọn trước khi xâydựng công nghiệp phụ trợ Trên cơ sở chiến lược công nghiệp mũi nhọn, sẽ hìnhthành mạng lưới các hoạt động của công nghiệp phụ trợ

Sự phát triển các ngành công nghiệp chiến lược sẽ tạo cơ sở cho sự phát triểncác ngành công nghiệp phụ trợ liên quan Đồng thời phát tiển công nghiệp phụ trợcũng sẽ là lợi thế thu hút được các ngành công nghiệp sản xuất chính

1.3.2 Chính sách của chính phủ

Phát triển công nghiệp phụ trợ trước hết phải được thúc đẩy từ Chính phủ.Chính phủ cần xây dựng, hình thành các chính sách về công nghiệp phụ trợ, phảiđảm bảo khi áp dụng nó không được can thiệp qua sâu vào thị trường hay tạo sự bấtbỉnh đẳng trong cạnh tranh, đặc biệt là giữa khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhânhay với khối đầu tư nước ngoài Đồng thời phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệpvừa và nhỏ Đây sẽ là nguồn bổ sung và thay thế quan trọng trong thị trường, đồngthời tăng cường cạnh tranh, tạo ra hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phụ trợ

Hoàn thiện các dịch vụ tài chính dành cho công nghiệp hỗ trợ Lúc này, vaitrò thực hiện cho vay vốn đầu tư trang thiết bị máy móc với lãi suất thấp của các tổchức tín dụng (ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển Việt Nam) là rất quantrọng, đảm bảo nguồn vốn cho vay, phát triển các sản phẩm tài chính, và cung cấpcác dịch vụ đa dạng phục vụ công nghiệp hỗ trợ Tích cực thực hiện giải pháp pháttriển và chính sách ưu đãi về thuế, hải quan, … Hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn địađiểm hoạt động và biện pháp giảm bớt chi phí nguyên vật liệu

Đồng thời để sử dụng một cách tối đa các nguồn nhân lực và tài chính, Chínhphủ cần phải xác định một cách rõ ràng số lượng tương đối nhỏ những trụ cột cần

ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ

Chính phủ tăng thuế nhập khẩu linh kiện một số ngành nhằm thúc đẩy quátrình nội dịa hóa Tuy nhiên, với một số ngành việc đơn phương ép buộc các công

ty lắp ráp phải sử dụng linh kiện trong nước có thể tác động tiêu cực việc thúc đẩytăng trưởng của những ngành đó Ngược lại, nếu thị trường nội địa tăng trưởng và

Trang 9

quy mô sản xuất vượt qua một ngưỡng nào đó thì các công ty lắp ráp sẽ tự động xácđịnh việc mua sắm tối tưu linh kiện nội địa nhằm giảm chi phí Nếu điều này xảy ra,khi chính phủ có những chính sách thúc đẩy hiệu qủa thì số lượng các nhà sản xuấtlinh phụ kiện trong nền sản xuất tăng lên, các ngành công phụ trợ sẽ nhanh chóngđược hình thành.

Chúng ta đã bàn quá nhiều về công nghiệp hỗ trợ, bàn đã chín, chính sách

hỗ trợ cũng đã có và giờ đây quan trọng là bàn chương trình hành động mới, cụ thểhơn, với những bước đi chắc chắn hơn Đó mới chính là cơ hội dể phát triển côngnghiệp phụ trợ cho Việt Nam

1.3.3 Điều kiện cung – cầu, công nghệ, nhân lực

Thúc đẩy công nghiệp phụ trợ phải cân nhắc đầy đủ bốn vấn đề của côngnghiệp phụ trợ: các điều kiện đầu vào (vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, cộng đồngkinh doanh ); các điều kiện đầu ra (thị trường, sức mua, hệ thống hỗ trợ…); các thểchế hỗ trợ và giám sát cạnh tranh; các ngành công nghiệp liên quan; các doanhnghiệp, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo,…

Xác định rõ được yếu tố cầu cung, sẽ giúp cho các doanh nghiệp hình thànhđược phương hướng phát triển Đầu tư đổi mới thiết bị nâng cao cao nâng suất; chấtlượng, hay mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tăng cao, …

Phối hợp vớ các trung tâm nghiên cứu và đạo tạo, tạo điều kiện cho doanhnghiệp tiếp cận được với những công nghệ mới có thể đưa vào thực tiễn sản xuất,đồng thời phát triển chuẩn bị sẵn nguồn nhân lực kế cận cho doanh nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DA GIÀY

VIỆT NAM

2.1 Ngành gia dày Việt Nam

2.1.1 Sự hình thành ngành da giày Việt Nam

Năm 2010 ngành da giày Việt Nam tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập Thựcchất việc sản xuất và kinh doanh giày dép tại Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng phầnlớn là sản xuất bằng phương pháp thủ công với những cơ xưởng vài mươi nhâncông

Việc thành lập ngành da giày Việt Nam cách đây 20 năm là mốc đánh dấu sự

ra đời của ngành công nghiệp da giày sản xuất theo phương thức hiện đại trên dâychuyền công nghiệp, từ đó hình thành những nhà máy có quy mô từ vài trăm đếnhàng chục ngàn lao động và tham gia vào việc xuất khẩu giày dép ra thế giới

Ngành công nghiệp da giày Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem làmột trong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển Dagiày là một trong 3 ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất hiện nay sau dầuthô và dệt may, và Việt Nam đã đứng trong Top 5 các nước xuất khẩu giày dép lớnnhất thế giới Cho đến nay, toàn ngành đã có 812 DN, gồm 516 DN sản xuất giàydép, 263 DN sản xuất cặp - túi xách, 33 DN thuộc da, thu hút hơn 600.000 lao động

Trước khi mở cửa nền kinh tế vào những năm 1990, ngành da giày Việt Namchủ yếu may mũi giày để xuất sang Liên bang Xô Viết nhưng chất lượng không cao

và chủng loại ít Khi đó ngành da giày Việt Nam phải đối mặt với cuộc khủnghoảng gay gắt do không có nhà nhập khẩu

Vì vậy, vào giữa những năm 1990, các doanh nghiệp ngành da giày ViệtNam phải tự tìm kiếm thị trường và chuyển dần xuất khẩu sang các nước Tây Âu.Nhờ chính sách cải cách của chính phủ Việt Nam, nhiều liên doanh với các đối tácnước ngoài được thành lập và ngành da giày bắt đầu tìm được chỗ đứng trên thịtrường quốc tế Đến cuối năm 2000, số liệu xuất khẩu cho thấy cả ngành da giày lúcbấy giờ đã đạt mức 1.471 triệu đô la Mỹ

Từ đầu những năm 2000 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiềuchính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước giúp cho các doanh nghiệp dagiày trong nước cơ hội phát triển, cộng với đầu tư của nhiều doanh nghiệp sản xuất

Trang 11

da giày từ Hàn Quốc, Đài Loan góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt của ngành

da giày Việt Nam

2.1.2 Tiềm năng phát triển ngành da giày Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam là một trong 10 nước xuất khẩu sản phẩm da giày hàngđầu trên thị trường quốc tế với tốc độ tăng trưởng ngành cũng như tăng trưởng kimngạch xuất khẩu đạt trung bình trên 10%/năm Tuy nhiên ngành này đang gặp phảinhiều khó khăn không dễ giải quyết

Năm 2008, kim ngạch XK đạt 4,767 tỉ USD; năm 2009 đạt 5.57 tỷ USD.Trong 9 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu giày dép của cả nước ước đạt 3,6 tỷ USD,tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2009; đưa ngành da giày Việt Nam trở thành nhàcung ứng lớn thứ 4 trên thế giới Và theo dự báo của Hiệp hội Da giày Việt Nam,đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm ngành da giày Việt Nam sẽ đạt5,3 tỉ USD Nhưng để đạt được con số này là hoản toàn không đơn giản

Theo các chuyên gia, ngành da giày thế giới tiếp tục có xu hướng chuyểndịch sản xuất sang các nước đang phát triển, đặc biệt hướng vào các nước có môitrường đầu tư thuận lợi, tình hình chính trị ổn định và an toàn, trong đó có ViệtNam Đặc biệt, sau khi nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới(WTO), hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ với nhiều ưu đãi giúp cho việc giao lưuhàng hoá thông suốt, ít cản trở, tạo điều kiện cho ngành hàng da giày thâm nhập vàothị trường khu vực và thế giới

Có thể khẳng định, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho ngành

da giày phát triển mà trước hết phải kể đến sự gia tăng các luồng chuyển giao vốn,công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đội ngũ nhân công được đào tạo…

Cùng với đó là các chính sách thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu của Chính phủnên trong những năm gần đây đã giúp ngành da giày có những bước tiến nhanh vàmạnh mẽ Trong đó, công tác đầu tư được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu Tínhđến hết năm 2008, toàn ngành đã đầu tư 22 nghìn tỉ đồng, trong đó, 5 nghìn tỉ đồngđầu tư xây dựng và cải tạo nhà xưởng; 17 nghìn tỉ đầu tư mua sắm thiết bị, máymóc Đến thời điểm này, toàn ngành đã đầu tư trên 900 dây chuyền đồng bộ để sản

Trang 12

xuất giày với máy móc thiết bị được nhập khẩu từ các nước có nên khoa học kỹthuật, nhất là ngành công nghiệp da giày rất phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan

Song song đó, công tác xúc tiến thương mại cũng đã được chú trọng Toànngành đã có những hoạt động tích cực nhằm tăng cường tuyên truyền và quảng báhình ảnh của ngành da giày Việt Nam như một quốc gia sản xuất và xuất khẩu dagiày tiềm năng, nâng cao năng lực hiểu biết về kiến thức pháp luật, thị trường,phòng ngừa các vụ kiện bán phá giá và vận dụng luật để đấu tranh trong các vụtranh chấp thương mại Phương thức bán hàng tại các DN đã có nhiều đổi mới, hìnhthành nhiều mạng lưới bán buôn, bán lẻ, tham gia vào các kênh phân phối của cáctập đoàn xuyên quốc gia, phát triển hình thức thương mại điện tử…

Nhờ những nỗ lực không ngừng đó, nên năng lực sản xuất của ngành đã đạttrên 90% mức năng lực được đầu tư, có mức tăng trưởng mạnh trong 5 năm liên tiếp(2005 - 2009) với mức tăng trung bình đạt trên 16%/năm với 2 loại sản phẩm chính

là giày dép và túi cặp các loại (Đến hết năm 2008, năng lực sản xuất của toàn ngànhđạt: 715 triệu đôi giày dép các loại; 88 triệu chiếc cặp túi xách các loại) Riêng sảnphẩm da thuộc đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 20%/năm (Hết năm 2008 đạt

130 triệu sqft da thuộc thành phẩm)

Thị trường xuất khẩu của da giày Việt Nam ngày càng được mở rộng và ổnđịnh Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng trưởngnhanh về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Hết năm 2008, EU là thị trường lớnnhất tiêu thụ giày dép của Việt Nam với doanh thu trên 2,484 tỉ USD, và chiếm52,32% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam Sau EU là thịtrường Mỹ, tại thị trường này, Việt Nam đã vượt qua Italia để trở thành nhà cungcấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia Trong năm 2008, xuất khẩu vào

Mỹ đạt trên 1,075 tỉ USD Ngoài ra, giày dép Việt Nam còn được XK sang nhiềuquốc gia trên thế giới

Tại thị trường các nước Đông Á - khu vực thị trường có thói quen tiêu dùngtương đối giống Việt Nam, cùng nằm ở khu vực châu Á - các sản phẩm chủ yếuxuất khẩu từ Việt Nam sang các thị trường này là giày thể thao, giày da nam nữ, dép

đi trong nhà Năm 2008, xuất khẩu vào Nhật Bản đạt trên 137 triệu USD, hay HồngKong đạt trên 50,2 triệu USD

Trang 13

Tại thị trường trong nước, với dân số trên 80 triệu dân, vốn được xem là thịtrường đầy tiềm năng, cũng đã được ngàng da giày quan tâm và coi đây là cơ hội đểngành phát triển theo hướng xuất khẩu trực tiếp ngay trên sân nhà.

Mặc dù ngành da giày Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng khích lệtrên tất cả các phương diện, song chúng ta vẫn phải nhìn nhận thực tế rằng năng lựcxuất khẩu của ngành da giày Việt Nam trên thị trường xuất khẩu thế giới còn yếu dothiếu khả năng tự thiết kế mẫu mã, tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong nước, quy

mô sản xuất chưa đủ lớn, điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của Việt Nam cònnhiều hạn chế, giá thành chi phí sản xuất cao, ưu thế về nhân công lao động tuy vẫn

là nhân tố cạnh tranh, nhưng không còn thuận lợi như trước đây Theo nhận địnhcủa các chuyên gia kinh tế thì dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi nhuậnthu về từ ngành chỉ đạt mức 25% giá trị gia tăng, vì ngành này chủ yếu vẫn “bán”sức lao động là chính

Một hạn chế không nhỏ của ngành da giày Việt Nam là vấn đề nguyên phụliệu và công nghiệp phụ trợ Trong khi nguyên phụ liệu chiếm tới 68-75% tổng chiphí giá thành sản phẩm song lại đang phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu Hiện nay,nguyên phụ liệu trong nước sản xuất chỉ mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầutrong khi các vật liệu, hóa chất, máy móc, thiết bị chủ yếu trông chờ vào nguồnnhập khẩu

2.2 Công nghiệp phụ trợ ngành da giày Việt Nam

2.2.1 Đánh giá chung công nghiệp phụ trợ Việt Nam

Cho đến nay, phải khẳng định rằng, ngành CNPT của Việt Nam còn cực kỳ

sơ khai, thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực này còn rấthạn chế Các doanh nghiệp này chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc sởhữu nhà nước, vẫn còn thói quen bao cấp nên rất thụ động trong việc tìm kiếmkhách hàng và "ngại" đổi mới

Thứ hai, chất lượng của các sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất trongngành CNPT rất thấp và kém ổn định Một mặt, các sản phẩm không đáp ứng yêucầu về chất lượng của nhà cung cấp Sản phẩm CNPT chủ yếu do doanh nghiệp nhànước (DNNN) hoặc do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất, chất lượng kém và giá

Ngày đăng: 18/04/2013, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w