1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp chỉ số,phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

32 709 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Chỉ Số, Phân Tích Hiệu Quả Hoạt Động Của Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 545 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi Việt Nam gia nhập vào WTO, cùng với sự phát triển của các ngành khác thì doanh nghiệp kinh doanh cũng thay đổi một cách mạnh mẽ.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

NỘI DUNG 4

I Cơ sở lí luận của phương pháp chỉ số 4

1 Phương pháp chỉ số 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Đặc điểm của phương pháp chỉ số 4

1.3 Tác dụng của phương pháp chỉ số 5

1.4 Phân loại 6

2 Các loại chỉ số 6

2.1 Chỉ số phát triển 6

2.2 Chỉ số không gian 10

2.3 Chỉ số kế hoạch 11

3 Hệ thống chỉ số 13

3.1 Khái niệm 13

3.2 Tác dụng của hệ thống chỉ số 14

3.3 Hệ thống chỉ số 14

II Vận dụng phương pháp chỉ số,phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 19

1 Bảng chỉ tiêu kết quả phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 19

2 Các mô hình phân tích doanh thu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 20

3 Các mô hình phân tích lợi nhuận sau thuế của ngân hàng đầu tư và phát triển 24

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Từ khi Việt Nam gia nhập vào WTO, cùng với sự phát triển của cácngành khác thì doanh nghiệp kinh doanh cũng thay đổi một cách mạnh mẽ.Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bước vào hoạt động kinh doanh đều vìmục tiêu lợi nhuận.Nó không những là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanhcuối cùng của doanh nghiệp mà nó còn phản ánh khả năng tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp.Ngân hàng nói chung và ngân hàng đầu tư và pháttriển nói riêng cũng được coi như là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nênvấn đề lợi nhuận cũng được đặt lên hàng đầu.Bất cứ với doanh nghiệp kinhdoanh nào thì vấn đề lợi nhuận và rủi ro luôn luôn đi đôi với nhau.Lợi nhuậncàng cao thỉ rủi ro càng lớn,và ngược lại.Bất cứ mỗi sự biến động nền kinh tế

xã hội thế giới đều có tác động tới nền kinh tế của Việt Nam và từ đó ảnhhưởng tới các ngân hàng nói chung và ngân hàng đầu tư và phát triển nóiriêng.Hiện nay ở Việt Nam, thống kê đã và đang thể hiện rõ tầm quan trọngcủa mình.Thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quantrọng,có vai trò cung cấp các thông tin trung thực,chính xác, khách quan,đầy

đủ và kịp thời cho các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá,dự báo tìnhhình,hoạch định chiến lược,chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-

xã hội ngắn hạn và dài hạn.Môn học lý thuyết thống kê đã trở thnahf môn họchết sức quan trọng, cung cấp cho sinh viên những phương pháp để phân tíchbiến động của các hiện tượng kinh tế-xã hội như: phương pháp điều tra thống

kê, tổng hợp thống kê,kiểm định,hồi quy tương quan,chỉ số…Trong tất cả cácphương pháp đó,phương pháp chỉ số đóng một vai trò hết sức quan trọngtrong việc phân tích biến động của hiện tượng kinh tế xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của thống kê thì việc xem xét phân tích

và đánh giá,từ đó rút ra các kết luận liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của ngân hàng là một việc làm hết sức cần thiết.Trong khuôn khổ của

Trang 4

đề án môn học em lựa chọn phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngânhàng để các nhà lãnh đạo của ngân hàng có cơ sở để đưa ra các biện pháp tănglợi nhuận kinh doanh,giảm chi phí,nâng cao kết quả của hoạt động kinh

doanh.Vi thế đề tài của em có tên: "Vận dụng phương pháp chỉ số phân tích

kết quả hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.”

Trang 5

Trong thực tế đối tượng nghiên cứu là hiện tượng phức tạp bao gồmnhiều đơn vị,nhiều phần tử có tính chất khác nhau.

1.2 Đặc điểm của phương pháp chỉ số

Vận dụng tính toán trong thực tế đối với các chỉ số đơn (chẳng hạn nhưchỉ số giá của từng mặt hàng,chỉ số khối lượng hàng tiêu thụ của từng loạihàng hóa trên thị trường…) sau khi đã tổng hợp được nguồn dữ liệu,có thể dễdàng thiết lập mối quan hệ so sánh để phân tích cho từng đơn vị của phần tửtrong tổng thể.Tuy nhiên, các chỉ số thống kê phổ biến trong kinh tế và kinhdoanh lại là những chỉ số tổng hợp phản ánh cho các hiện tượng phức tạp nhưchỉ số giá tiêu dùng CPI,chỉ số giá nhập khẩu,…Khi tính các chỉ số này cầntổng hợp theo chỉ tiêu nghiên cứu cho một nhóm đơn vị được lựa chọn hoặctoàn bộ tổng thể và trên cơ sở đó thiết lập mối quan hệ so sánh.Trong các chỉ

số nêu trên giá và khối lượng sản phẩm của các mặt hàng khác nhau là các đạilượng không thể tổng hợp một cách có ý nghĩa bằng phép cộng đơn giản.Nhưvậy, có thể thấy rằng chỉ số là phương pháp phân tích thống kê, nghiên cứu sự

Trang 6

biến động của những hiện tượng kinh tế phức tạp,bao gồm nhiều phần tử màcác đại lượng biểu hiện không thể cộng trực tiếp được với nhau.

Xuất phát từ yêu cầu so sánh các mức độ của hiện tượng phức tạp khithiết lập chỉ số, phương pháp chỉ số có hai đặc điểm cơ bản sau:

+Xây dựng chỉ số đối với hiện tượng kinh tế phức tạp thì biểu hiện vềlượng của các phần tử được chuyển về dạng chung để có thể trực tiếp cộngđược với nhau, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa nhân tố nghiên cứu với nhân

tố khác.Như vậy phải chuyển các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhauthành dạng giông nhau để có thể so sánh được

+Khi có nhiều nhân tố cùng tham gia vào tính chỉ số, phải giả định cómột nhân tố thay đổi còn các nhân tố khác không thay đổi.Việc giả định này

để loại trừ khả năng ảnh hưởng của nhân tố không nghiên cứu đối với kết quả

-Dùng chỉ số để phân tích ảnh hưởng biến động của các nhân tố đối với

sự biến động của hiện tượng nghiên cứu

Phân tích vai trò và ảnh hưởng của từng nhân tố đối với sự biến động củahiện tượng kinh tế phức tạp được cấu thành từ nhiều nhân tố.Thực chất đâycũng là phân tích mối liên hệ, nhằm nêu lên các nguyên nhân quyết định sự

Trang 7

biến động của hiện tượng phức tạp và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng củamỗi nguyên nhân này.

Qua các tác dụng nói trên cho thấy chỉ số là phương pháp không những

có khả năng nêu lên sự biến động tổng hợp của hiện tượng phức tạp, mà còn

có thể phân tích sự biến động này

1.4 Phân loại

Trong nghiên cứu chỉ số người ta căn cứ vào nội dung, phạm vi tính toán

và tính chất của chỉ tiêu để phân chia thành các loại chỉ số cơ bản:

*Theo nội dung chỉ số bao gồm:

Trang 8

0

1

p p

Chỉ số đơn về giá phản ánh biến động giá bán của từng mặt hàng ở kìnghiên cứu so với kì gốc

*Chỉ số đơn về lượng hàng tiêu thụ

i=

0

1

q q

Chỉ số đơn về lượng hàng tiêu thụ phản ánh biến động khối lượng tiêuthụ của từng mặt hàng ở kì nghiên cứu so với kì gốc

Trong đó p: Giá hàng hóa

q: lượng hàng hóa tiêu thụ

Như đã nói ở trên khi xây dựng chỉ số tổng hợp giá không thể tổng hợpđơn thuần, nghĩa là cộng giá đơn vị các mặt hàng ở kì nghiên cứu và kìgốc.Bản thân việc cộng giá các đơn vị là không có ý nghĩa và đồng thời bỏqua tình hình tiêu thụ thực tế của mỗi mặt hàng có tầm quan trọng khácnhau.Để đưa về đại lượng có thể tổng hợp được khi xây dựng chỉ số tổng hợpgiá phải nhân giá mỗi mặt hàng với lượng tiêu thụ tương ứng trên cơ sở đó

Trang 9

thiết lập mối quan hệ so sánh.Bằng cách thiết lập như vậy, chỉ số giá tổng hợpđược biểu hiện qua công thức:

I=

0 0

1 1

q p

q p

Trong chỉ số 1 cả hai nhân tố là giá và lượng đều biến động.Do đó, đểnghiên cứu sự biến động của giá cả thì phải cố định lượng hàng hóa tiêu thụ ởmột kì nhất định và việc cố định đó được gọi là quyền số của chỉ số tổng hợpgiá cả.Do việc cố định thời kì quyền số mà ta có các công thức tính chỉ sốtổng hợp giá cả như sau:

+Nếu chọn quyền số là lượng hàng hóa tiêu thụ ở kì gốc (q0) ta có chỉ

số tổng hợp giá cả của Laspeyres:

0 1

q p

q p

1 1

q p

q p

(3)

Kết quả tính chỉ số tổng hợp giá theo công thức (2), (3) thuờng có sựchênh lệch.Nguyên nhân cơ bản là do sự khác biệt về thời kỳ quyền số.Hơnnữa, bản chất chỉ số Laspeyres và Passche đều có thể xác định từ các chỉ sốđơn giá nhưng theo công thức bình quân khác nhau.Mặt khác, chỉ số tổng hợpLaspeyres và Paache có bất lợi là không có tính nghịch đảo và tính liên hoànnên ta có chỉ số tổng hợp của Fisher

+Nếu chọn quyền số là lượng hàng tiêu thụ ở kỳ gốc (q0) và lượng hàngtiêu thụ ở kỳ nghiên cứu (q1) ta có chỉ số tổng hợp Fisher:

1 1 0

0

0 1

q p

q p x q p

q p

(4)

Trang 10

*Chỉ số tổng hợp về lượng hàng hóa tiêu thụ

Chỉ số tổng hợp lượng hàng tiêu thụ biểu hiện quan hệ so sánh giữa khốilượng tiêu thụ của nhóm hay toàn bộ mặt hàng thuộc phạm vi nghiên cứu giữahai thời gian hoặc qua đó phản ánh biến động chung về khối lượng tiêu thụcủa các mặt hàng

Cần phải cố định giá cả tại một thời kì nhất định được gọi là quyền sốcủa chỉ số tổng hợp về lượng hàng hóa tiệu thụ

+Nếu chọn quyền số là giá cả hàng hóa kì gốc (p0),ta chọn chỉ số tổnghợp Laspeyres:

0 1

p q

p q

1 1

p q

p q

1 1 0

0

0 1

p q

p q x p q

p q

(7)

c Quyền số của chỉ số phát triển

Quyền số của chỉ số là những đại lượng được giữ cố định trong côngthức chỉ số tổng hợp.Nó có tác dụng:

-Làm cho các phân tử với đại lượng biểu hiện không thể cộng trực tiếpđược với nhau được chuyển về cùng một đại lượng đồng nhất và có thể tổnghợp được

Trang 11

-Biểu hiện vai trò và tầm quan trọng của mỗi phần tử hay bộ phận trongtoàn bộ tổng thể

2.2 Chỉ số không gian

a Chỉ số đơn

* Chỉ số đơn về giá: phản ánh sự biến động về giá cả của từng mặt hàng

ở thị trường này so với thị trường kia

*Chỉ số tổng hợp về lượng hàng tiêu thụ (Quyền số là giá cả)

Trang 12

Quyền số của chỉ số tổng hợp lượng tiêu thụ so sánh giữa hai thị trường

có thể là giá cố định do Nhà Nước ban hành hoặc giá trung bình của từng mặthàng ở hai thị trường

+Nếu sử dụng quyền số là giá cố định, công thức tính chỉ số tổng hợplượng tiêu thụ so sánh giữa hai thị trường thể hiện như sau:

Iq(A/B)=

n B

n

p q

Iq(A/B)=

p q

p q

B A

Trong đó: Giá trung bình của từng mặt hàng đựoc tính theo công thứctrung bình cộng gia quyền với quyền số là lượng hàng tiêu thụ ở mỗi thịtrường:

p=

B A

B B A A

q q

q p q p

Trang 13

Trường hợp phân tích kế hoạch giá thành các sản phẩm của một doanhnghiệp, quyền số có thể là sản lượng thực tế hoặc sản lượng kế hoạch

+Nếu căn cứ vào dữ liệu về sản lượng thực tế của doanh nghiệp ở các

kỳ, có thể thiết lập các chỉ số sau

Trang 14

Trường hợp phân tích kế hoạch giá thành các sản phẩm của một doanhnghiệp, quyền số có thể là sản lượng thực tế hoặc sản lượng kế hoạch.

* Chỉ số giá thành tổng hợp sản phẩm

Trang 15

+Nếu căn cứ vào dữ liệu về sản lượng thực tế của doanh nghiệp ở các

q Z

KH 1

1 1

+Nếu căn cứ vào sản lượng kế hoạch của doanh nghiệp ở các kì, ta cóthể thiết lập chỉ số sau:

IZht=

Q Z

Q Z

KH KH

0

Trong các công thức tính chỉ số kế hoạch trên, mỗi loại quyền số đều cótác dụng nhất định.Chẳng hạn, việc dùng quyền số là sản lượng thực tế kỳnghiên cứu có thể phản ánh được đúng điều kiện sản xuất thực tế của doanhnghiệp trong kỳ nghiên cứu.Còn trường hợp sử dụng quyền số là sản lượng kếhoạch có thể cho phép phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành trongđiều kiện giả định doanh nghiệp thực hiện đúng kế hoạch về sản lượng

Trang 16

3 Hệ thống chỉ số

3.1 Khái niệm

Các chỉ số đơn, chỉ số tổng hợp chỉ có thể đánh giá những ảnh hưởngriêng lẻ của từng yếu tố lên hiện tượng kinh tế nghiên cứu.Nhiều nội dungnghiên cứu trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội và hoạt động kinh doanh đòi hỏiphải phân tích mối liên hệ tác động giữa các hiện tượng

Nên, cần phải có một phương pháp có thể nêu lên được ảnh hưởng củatừng nhân tố cũng như ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố tới hiện tượngkinh tế nghiên cứu.Đó là sử dụng hệ thống các chỉ số

Xác định vai trò và mức độ ảnh hưởng biến động của các nhân tố đối với

sự biến động của hiện tượng được cấu thành từ các nhân tố.Trong đó, ảnhhưởng của từng nhân tố được biểu hiện bằng số tương đối hoặc tuyệt đối.Căn

cứ vào so sánh ảnh hưởng của từng nhân tố có thể đánh giá được nhân tố nào

có ảnh hưởng chủ yếu đối với biến động chung nhằm phân tích mối liện hệgiữa các hiện tượng trong quá trình biến động và giải thích được nguyên nhân

cơ bản đối với sự biến động của một hiện tượng

3.3 Hệ thống chỉ số

3.3.1 Hệ thống chỉ số phát triển

a Hệ thống chỉ số đơn

Trang 17

=> Chỉ số doanh thu = chỉ số giá bán đơn vị x chỉ số lượng hàng tiêu thụ

IPQ=IP x IQ

Trang 18

b Hệ thống chỉ số tổng hợp

* Phương pháp liên hoàn

Dựa trên cơ sở cho rằng sự biến động của chỉ số toàn bộ là do ảnh hưởngbiến động của các chỉ số nhân tố.Các chỉ số nhân tố biến động trong nhữngđiều kiện khác nhau do đó quyền số của các chỉ số nhân tố được chọn ở thời

kì khác nhau

Thứ tự phân tích các nhân tố trong hệ thống chỉ số được xác định chủyếu thông qua việc phân biệt các nhân tố mang đặc tính chất lượng hay mangđặc tính số lượng

1 1

q p

q p

=

1 0

1 1

q p

q p

x

0 0

0 1

q p

p q

Đặc điểm: Quyền số của các chỉ số nhân tố ở các thời kì khác nhau.Do

đó, hệ thống chỉ số không phải là duy nhất

Việc thiết lập một hệ thống chỉ số theo phương pháp liên hoàn được thựchiện theo các bước sau :

-Phân tích chỉ tiêu nghiên cứu ra các nhân tố cấu thành, đồng thời sắpxếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần và tính số lượng tăngdần

-Viết chỉ số toàn bộ và chỉ số cho các nhân tố.Trong đó đói với chỉ sốnhân tố chất lượng thông thường sử dụng quyền số là nhân tố số lượng kìnghiên cứu, và với chỉ số số lượng thì sử dụng quyền số nhân tố chất lượng kìgốc

Trang 19

*Phương pháp ảnh hưởng biến động riêng biệt

Dựa trên cơ sở cho rằng sự biến động của toàn bộ hiện tượng do ảnhhưởng biến động riêng biệt của từng nhân tố và tác động đồng thời của cácnhân tố.Quyền số của các nhân tố đều lấy từ kì gốc

I

L Q

L P

X phụ thuộc vào hai nhân tố: Lượng biến của tiêu thức xi

Kết cấu của tổng thể

->

0

X

Xi phụ thuộc vào sự biến động của xi,fi (i=1,n)

Theo cách xác định các nhân tố cấu thành chỉ tiêu bình quân như vậy thìmột hệ thống chỉ số phân tích biến động chỉ tiêu bình quân theo phương phápliên hoàn sẽ bao gồm một chỉ số toàn bộ phản ánh biến động của chỉ tiêu bìnhquân và hai chỉ số nhân tố phản ánh biến động của các nhân tố đối với chỉ tiêubình quân.Nếu sử dụng các kí hiệu:

X1, X0– Lượng biến của tiêu thức kỳ nghiên cứu và kì gốc

Trang 20

f1, f0 –Số đơn vị trong tổng thể kì nghiên cứu và kì gốc

Các chỉ số trong hệ thống chỉ số phân tích chỉ tiêu bình quân được biểuhiện như sau:

+Chỉ số cấu thành khả biến, biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức độ củachỉ tiêu bình quân ở kì nghiên cứu và kì gốc.Chỉ tiêu này được xác định theocông thức:

1 1

f

f x f

f x

Theo công thức, chỉ số này bao gồm biến động của cả hai nhân tố: tiêuthức nghiên cứu và kết cấu của tổng thể

+Chỉ số cấu thành cố định, phản ánh biến động của chỉ tiêu bình quân doảnh hưởng của tiêu thức nghiên cứu, trong điều kiện của kết cấu của tổng thểđược coi như cố định.Trường hợp phân tích hệ thống chỉ số theo phương phápliên hoàn thì kết cấu của tổng thể được giữ cố định ở kì nghiên cứu công thứcbiểu hiện như sau:

1 1

f

f x f

f x

=01

1

x x

+Chỉ số ảnh hưởng kết cấu, phản ánh biến động của chỉ tiêu bình quân

do ảnh hưởng biến động của riêng kết cấu tổng thể.Chỉ số này được thiết lậpvới giả định các lượng biến tiêu thức không thay đổi và được cố định ở kìgốc

Trang 21

1 0

f

f x f

f x

=0

01

x x

Các chỉ tiêu trên hợp thành hệ thống chỉ số phân tích các chỉ tiêu bìnhquân như sau:

1 1

f

f x f

f x

1 1

f

f x f

f x

1 0

f

f x f

f x

Trong phân tích kinh tế và kinh doanh, mô hình trên có thể được vậndụng để phân tích biến động của các chỉ tiêu bình quân như: năng suất laođộng bình quân, tiền lương bình quân, giá thành bình quân…

3.3.3 Hệ thống chỉ số của tổng lượng biến tiêu thức

Tổng lượng biến tiêu thức trong phân tích thống kê được biểu hiện ởnhiều chỉ tiêu khác nhau như: Tổng sản lượng, tổng chi phí sản xuất, tổng quỹlương…

XiFi

=0

Trang 22

II Vận dụng phương pháp chỉ số,phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

1 Bảng chi tiêu kết quả phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

TS )

tỷ đồng/tỷđồng

M/TTS 0,00387 0,00662

Doanh lợi trên 1 lao

động (RL)

tỷđồng/người

Mức TBTSCĐ trên 1 lao

động (ML)

tỷ đồng/người

(Trích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát

triển Việt Nam năm 2006-2007)

2 Các mô hình phân tích doanh thu của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

Mô hình 1: Biến động của doanh thu chịu ảnh hưởng của hai nhân tố:

Ngày đăng: 18/04/2013, 13:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1. Bảng chi tiêu kết quả phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - Vận dụng phương pháp chỉ số,phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
1. Bảng chi tiêu kết quả phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w