TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA SINH – KTNN ------ BÙI VĂN CHUẨN NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC BỘ ORIBATIDA ACARI TRÊN ĐẤT TRỒNG NGÔ TẠI LÀNG LẬP TRÍ,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN - -
BÙI VĂN CHUẨN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC BỘ ORIBATIDA (ACARI) TRÊN ĐẤT TRỒNG NGÔ
TẠI LÀNG LẬP TRÍ, XÃ MINH TRÍ,
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN - -
BÙI VĂN CHUẨN
NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG THÀNH PHẦN LOÀI VE GIÁP THUỘC BỘ ORIBATIDA (ACARI) TRÊN ĐẤT TRỒNG NGÔ
TẠI LÀNG LẬP TRÍ, XÃ MINH TRÍ,
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Thị Thu Anh
TS Đào Duy Trinh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành nhất tới:
Các thầy cô trong khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã nhiệt tình giảng dạy
Sự hỗ trợ khoa học và tạo diều kiện làm việc của các cán bộ của bộ môn Động vật học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Anh; TS Đào Duy Trinh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt
thời gian thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
BÙI VĂN CHUẨN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận là
kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thị Thu Anh, TS Đào Duy Trinh
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
BÙI VĂN CHUẨN
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây ngô 7 Bảng 3.1 Thành phần loài và phân bố của Oribatida trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 13 Bảng 3.2 Thành phần phân loại học Ve giáp trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 16 Bảng 3.3: Danh sách họ, giống, loài Ve giáp phân bố theo độ sâu trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 18 Bảng 3.4 Một số chỉ số định lượng của Oribatida ở các giai đoạn phát triển của cây ngô khu vực nghiên cứu ……… 21 Bảng 3.5 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida theo tầng đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 26 Bảng 3.6 Các loài Oribatida ưu thế ở tầng đất A1 ở ruộng ngô làng Lập Trí,
xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 28 Bảng 3.7 Các loài Oribatida ưu thế ở tầng đất A2ở ruộng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 29
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Các loài Oribatida ưu thế của tầng đất A1………… 30 Hình 3.1 Các loài Oribatida ưu thế của tầng đất A2………… 31
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.Tình hình nghiên cứu ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM,THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.2 Địa điểm nghiên cứu 7
2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015 7
2.4 Dụng cụ nghiên cứu 8
2.5 Phương pháp nghiên cứu 8
2.5.1 Ngoài thực địa 8
2.5.2 Trong phòng thí nghiệm 8
2.6 Xử lí số liệu 10
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 13
3.1 Thành phần loài Oribatida trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 13
3.1.1.Danh sách thành phần họ, giống, loài Oribatida trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 13
3.1.2 Thành phần phân loại học của Ve giáp ở đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội .16
3.2 Đặc điểm phân bố của quần xã Oribatida trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 18
3.2.1 Phân bố theo độ sâu tầng đất 18
3.2.2.Đặc điểm phân bố theo các giai đoạn phát triển của cây ngô 21
3.3 Một số chỉ số định lượng của Oribatida trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 25
Trang 83.3.1 Số lượng cá thể 25
3.3.2 Số lượng loài 25
3.3.3 Chỉ số đa dạng loài H’ 26
3.3.4 Chỉ số đồng đều J’ 26
3.4 Những loài Oribatida ưu thế trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ LỤC
Trang 9Loài chiếm ưu thế về số lượng trong hệ thống động vật đất phải kể đến nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) Hai đại diện chính của nhóm này là Oribatida (Acari) và Bọ nhảy (collembola) Bộ Oribatida (Acari: Oribatida) bao gồm những nhóm Oribatida đa dạng và phong phú nhất Ngoài tự nhiên, chúng sống chủ yếu trong môi trường đất và các môi trường sống liên quan với hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng và xác vụn thực vật, trên thân hay dưới
vỏ cây gỗ, lớp thảm rêu bám trên thân cây, đất treo trên cành cây, trong tán lá cây xanh Oribatida tham gia tích cực trong sự phân hủy vật chất hữu cơ, trong chu trình nito và trong quá trình tạo đất (Vũ Quang Mạnh, 2007) [5] Oribatida là những chân khớp có kìm (Arthropoda: Chelicerata), thuộc lớp hình nhện (Arachnida), có kích thước cơ thể khoảng 0,1 - 0,2mm đến 1,0
- 2,0mm, nên được xếp vào nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) cùng với nhóm Collembola của quần xã sinh vật đất
Do thành phần loài đa dạng, mật độ cá thể lớn trong 1m2 đất (có thể lên tới vài trăm nghìn cá thể), nên việc nghiên cứu và phát hiện đầy đủ nhóm động vật này giúp ta có thể đánh giá đa dạng sinh học, đặc điểm, tính chất của địa động vật Một số nhóm Oribatida còn là đối tượng gây hại trực tiếp cho cây trồng, lây chuyền một số mầm bệnh và giun sán kí sinh cây trồng, vật nuôi và con người, tuy nhiên việc nghiên cứu về loài Oribatida trên đất nông nghiệp vẫn còn chưa nhiều, đặc biệt là trên đất trồng ngô
Trang 102
Ngô, bắp hay bẹ ( Zea mays L.) là một loại cây lương thực được phát
hiện tại khu vực Trung Mỹ và sau đó phát tán ra khắp châu Mỹ Ngô phát tán
ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu
Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 [15]
Ngô là một trong những loại cây lương thực quan trọng của nước ta và thế giới Nhờ giá trị dinh dưỡng cao, có nơi ngô đã thay thế gạo trong bữa ăn hàng ngày của người dân Tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã có truyền thống trồng ngô do có đặc điểm thời tiết khí hậu thuận lợi [16]
Với những lí do như trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sự biến động về thành phần loài ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Oribatida, đồng thời nghiên cứu đặc điểm phân bố của chúng trên đất trồng ngô tại xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Việc nghiên cứu Oribatida ở Miền Bắc Việt Nam bước đầu đánh giá về tác động của Oribatida đến đất trồng nông nghiệp tại xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
3 Nội dung nghiên cứu
Đa dạng thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) ở đất trồng ngô Đặc điểm phân bố, biến động số lượng của Oribatida theo độ sâu tầng đất trồng ngô
Phân tích chỉ số định lượng của Ve giáp, sự tương đồng thành phần loài
Ve giáp ở đất trồng ngô
Xác định các loài Ve giáp ưu thế trên đất trồng ngô
Trang 113
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) trên thế giới
Trên thế giới, các nhóm động vật không xương sống nói chung và Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm Ở Đức, với công trình của Hermann J.F năm 1804; ở Ý là công trình của Canestrini G & Fanzago F năm 1876, 1877,… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm
1881 đến 1923, ông đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Micoarthropoda, Scorpione Trong đó ông đã mô
tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên, tất cả những loài do Berlese mô tả (hầu hết là loài mới cho khoa học) đều viết bằng tiếng la tinh rất ngắn gọn, chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng Vì thế sau này, các loài do Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, sắp xếp lại dựa trên hệ thống phân loại của Grandjean (1954) và công bố trong công trình „„Berlese‟s primitive Oribatida mites” (Hammen L Van Der, 2009) (Zipende Zoo.com)
Ở Canada, khu hệ ve giáp là một trong những khu hệ được nghiên cứu
khá kỹ Theo Behan – Pelletier et al,, 2000, mặc dù các dẫn liệu về sinh thái,
phân bố của chúng có nhiều, nhưng về khu hệ, số loài được biết chỉ chiếm 1/4
số loài có trong thực tế [10]
Còn ở Thụy Sĩ, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng với kết quả nghiên cứu của riêng mình Schatz, 2002 đã công bố và tổng hợp bản mục lục các loài ve giáp đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh mục
Trang 124
này gồm 543 loài ve giáp thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng ve giáp
đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác thuộc Trung Mĩ như Cuba (225 loài), Jamaica (28 loài)… Hiện tại 498 loài ve giáp đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng sp.) (Schatz, 2002) [11]
Ở Nga, nghiên cứu về Ve giáp phát triển mạnh từ những năm 50 của thế kỷ 20 Cho đến nay đã ghi nhận được 300 loài Ve giáp ở tất cả các hệ sinh thái, riêng khu hệ Oribatida song trên cây cũng được đặc biệt đến nghiên cứu
từ mấy chục năm (Ermilov S.G., et al., 2007) [1],[2]
Năm 2004, Karasawa đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida ở đất treo và các nhân tố hữu sinh, vô sinh gây nên sự đa dạng của chúng Theo tác giả, Oribatida là một trong những nhóm Chân khớp chiếm ưu thế về số lượng trong đất treo Từ sinh cảnh này thu được không ít hơn 50 loài Độ đa dạng loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng (Karasawa, 2004) [12]
Nghiên cứu về sinh học và sinh thái học của Oribatida trên thế giới hiện nghiên cứu về: vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng, về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida, nghiên cứu về môi trường sống, về sự đa dạng và phân bố của Oribatida trên toàn cầu…
Cũng như các động vật đất khác, nhóm Chân khớp bé (Microarthropoda) với đại diện chủ yếu là Acari đã được biết đến cách đây hàng trăm năm Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về chúng vẫn còn ít và chỉ phát triển mạnh trong vài chục năm gần đây Khu hệ Oribatida trên thế giới hiện đã được mô tả khoảng 10.000 loài và số loài Oribatida thực tế có thể vào khoảng 50.000 loài Như vậy, số lượng Oribatida hiện được biết đến chỉ vào khoảng 20% tổng số loài thực tế đang tồn tại
Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa có một cách sắp xếp thống nhất vị trí của nhóm Oribatida nói chung trong hệ thống phân loại
Trang 13để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, tiến hóa của Oribatida ở mức độ loài
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về Oribatida diễn ra mạnh
mẽ tại nhiều vùng ở các nước trên khắp các châu lục và đã thu được nhiều kết quả to lớn Trong thời gian này, theo Balogh, số lượng giống Oribatida được phát hiện trên thế giới đã tăng từ 700 lên đến hơn 1.000 giống [9]
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế
giới, được nghiên cứu mô ̣t cách hê ̣ thống về cả khu hê ̣ , sinh ho ̣c, sinh thái và vai trò chỉ thi ̣
1.2 Tình hình nghiên cứu Ve giáp thuộc bộ Oribatida (Acari) ở Việt Nam
Từ năm 1975, nhóm Chân khớp bé và các nhóm động vật không xương sống khác ở đất mới bắt đầu được các tác giả Việt Nam tiến hành khá đồng
bộ Các nghiên cứu hầu như tập trung tìm hiểu thành phần loài và được tiến hành trên nhiều khu vực của đất nước
Một số công trình khoa học như: Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987)
đã giới thiệu đặc điểm phân bố và danh pháp phân loại học của 11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam và 1 loài mới cho khoa học [7]
Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang Mạnh (2010), “Dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vật khu hệ Oribatida ở vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ”, Tạp chí khoa học, ĐHQG HN, 26(01), tr.49-56 [6]
Mai Thị Hạnh, Bùi Thị Quế, Lâm Thị Thu Hiền, Ngô Thùy Chi, Hà Trọng
Hiến, Đào Duy Trinh (2012), “Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở đai cao rừng kim giao Vườn Quốc gia Cát Bà – Huyện Cát
Trang 146
Hải”, Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các trường ĐHSP toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Giao thông vận tải, tr.502 – 509 [7]
Triệu Thị Hường, Nguyễn Văn Đạt, Hoàng Văn Hưng, Vũ Văn Trường,
Đào Duy Trinh (2012), “Nghiên cứu sự biến động thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) tại Khu công nghiệp Bình Xuyên và phụ cận thuộc huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc”, Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học các trường ĐHSP toàn quốc lần thứ VI, Nxb Giao thông vận tải, tr.538 – 543 [8]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học về Chân khớp bé đã và đang được thực hiê ̣n Tuy đã đa ̣t được những kết quả đáng chú ý , nhưng đây mới chỉ là những kết quả bước đầu mang tính chất thăm dò đi ̣nh hướng, vẫn còn nhiều ha ̣n chế và nhiều điều chưa biết đến Vì
vâ ̣y, cần thực sự hiểu rõ vai trò quan tro ̣ng của Chân khớp bé , từ đó ứng du ̣ng
vào thực tiễn, phục vụ cho con người thì cần phải nghiên cứu nhiều hơn
Trang 157
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Oribatida (Acari) thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện (Arachnida), phân lớp Ve giáp (Acari)
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại đất trồng ngô làng Lập Trí, xã Minh Trí , huyện Sóc Sơn, thành phố
Hà Nội
2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
Bảng 2.1 trình bày số liệu về số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây ngô
Bảng 2.1 Số lượng mẫu đất thu theo các giai đoạn phát triển của cây ngô ở
khu vực nghiên cứu
STT Giai đoạn phát triển của cây Tầng đất
1 20 ngày sau gieo, cây có khoảng 8-10 lá 5 5
2 35 ngày sau gieo, cây chuẩn bị trổ cở 5 5
50 Ghi chú: A1: tầng đất có độ sâu từ 0 - 10(cm); A2: tầng đất có độ sâu từ 10 - 20(cm)
Trang 168
2.4 Dụng cụ nghiên cứu
- Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật, túi nilon đựng mẫu, dây chun, giấy ghi nhãn, bút bi, sổ ghi chép, thùng đựng mẫu, máy ảnh…
- Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:
+ Dụng cụ thu và tách Oribatida: rây lọc, phễu thủy tinh cứng, bóng bay, ống nghiệm, bông, dây chun, lọ thủy tinh…
+ Dụng cụ tách và phân tích mẫu: đĩa petri, lam kính, lamel, ống pipet, giấy lọc, bông, kính lúp, kính hiển vi,…
- Hóa chất: formol 4%, glixerol,…
2.5 Phương pháp nghiên cứu
đủ các thông số: tầng đất, ngày tháng, địa điểm… lấy mẫu
2.5.2 Trong phòng thí nghiệm
Sử dụng phương pháp phễu lọc Berlese – Tullgren do phương pháp này phổ biến, đơn giản, tiện lợi và đạt hiệu quả khá cao, có thể thu được 73 - 98% tổng số lượng Microarthropoda từ mẫu đất (Edward, 1991) Nguyên lí chung
Trang 179
của phương pháp là dựa theo tập tính hướng sáng âm và chui sâu xuống đất của các nhóm động vật đất khi các lớp trên bị khô dần [1] Các thao tác trong phòng thí nghiệm bao gồm:
Đặt mẫu: Trước khi đặt mẫu phải đảm bảo giá gỗ và phễu lọc sạch Các mẫu đất được đặt lên rây lọc để trên phễu Bộ phễu được đặt trên giá gỗ, vòi phễu gắn với ống thu chứa dung dịch định hình formol 4% để hứng động vật nhỏ có trong mẫu Sử dụng phễu Berlese - Tullgren, phễu bằng thủy tinh,
có chiều cao 30 cm, đường kính miệng 25cm, đường kính vòi 1,5cm Giá gỗ gồm 3 tầng, mỗi tầng đặt mẫu của một sinh cảnh, mỗi tầng chia làm 2 hàng, mỗi hàng đặt 5 mẫu, lưu ý đặt 5 mẫu ở tầng (0 – 10)cm ở 1 hàng, 5 mẫu ở tầng (10 – 20)cm ở 1 hàng để quá trình thu và phân tích mẫu thuận tiện, nhanh chóng và tránh sai sót hơn Ống thu là một ống nghiệm bằng thủy tinh,
có chứa dung dịch formol 4%, nhãn ghi đầy đủ ngày, tháng, địa điểm lấy mẫu cho vào trong ống Mẫu đất cần được bẻ nhỏ Đặt mẫu ở chỗ thoáng gió, tận dụng được ánh sáng mặt trời, tránh bị động chạm, tránh mưa gió mạnh và chuột bọ trèo vào [1]
Thu mẫu: Các mẫu đất bị khô dần từ lớp mặt và Oribatida chui dần xuống lớp sâu hơn, chui qua lưới lọc, rơi vào phễu và trượt theo thành phễu, rồi xuống ống thu Sau khi đặt mẫu 7 ngày đêm liên tục, cần nhẹ nhàng nhấc rây lọc ra Để nguyên phễu một thời gian cho thành trong của phễu khô hết, rồi lắc nhẹ phễu để một số mẫu vật dính vào thành rơi vào ống thu Tiến hành thu các ống thu, nút bông, dùng dây chun bó 5 ống thu ở cùng tầng đất trong cùng sinh cảnh vào một bó, rồi cho vào bình miệng rộng có chứa formol 4%
để bảo quản khi chưa phân tích [1]
Phân tích và định hình bước đầu Oribatida: Các ống thu trong đó có cả mẫu và dung dịch định hình được đổ ra giấy thấm tròn, lọc trên phễu lọc,
Trang 18Định loại Oribatida: Định loại Oribatida dưới kính hiển vi: Dùng kim mũi mác chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lam kính lõm để quan sát các tư thế khác nhau theo hướng lưng bụng và ngược lại Tất cả các mẫu phân tích sau khi được TS Đào Duy Trinh và TS Nguyễn Thị Thu Anh kiểm tra sẽ được đưa vào ống nghiệm có chứa formol 4%, thêm vài giọt glyxerin, bên trong có nhãn ghi thời gian lấy mẫu, địa điểm, sinh cảnh tầng đất rồi nút kín bằng bông, cho vào lọ thủy tinh lớn Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo tài liệu phân loại, khóa định loại của tác giả Vũ Quang Mạnh, 2007
2.6 Xử lí số liệu
- Độ ưu thế (D):
Trong đó: D : Độ ưu thế
na: Số lượng cá thể của loài a n: Tổng số cá thể của toàn bô ̣ mẫu theo sinh cảnh
Độ ưu thế được phân ra 4 mức sau:
+ Rất ưu thế: > 10% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
+ Ưu thế: 5,1 – 10% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Trang 1911
+ Ưu thế tiềm tàng: 2,0 – 5,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu + Không ưu thế: < 2,0% trong tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu [12]
Theo Ermilov và Chistyakov, 2007, loài ưu thế là loài có số lượng cá thể chiếm từ 5% tổng số cá thể của quần xã trở lên
- Độ đa dạng loài (H’):
Trong đó: s: Số lượng loài
ni:Số lượng cá thể của loài thứ i N: Tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
Giá trị H‟ dao động trong khoảng 0 đến ∞ Chỉ số đa dạng của quần xã phụ thuộc vào 2 yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phú của các loài trong quần xã Một khu vực có số lượng loài hoặc số cá thể nhiều chưa hẳn nơi đó có tính đa dạng cao Chỉ số đa dạng, ở một khía cạnh nào đó cho biết tính đa dạng của một quần xã và là một chỉ tiêu có thể đánh giá được tính
đa dạng về khu hệ động, thực vật của một khu vực [1]
- Chỉ số đồng đều (J’) – Chỉ số Pielou
Trong đó: H‟: Chỉ số đa dạng loài
S: Số loài có trong sinh cảnh
Trang 2012
Giá trị J‟ dao động trong khoảng từ 0 đến 1 [1]
- Chỉ số tương đồng thành phần loài J (Jaccard)
Trong đó: a: Số lượng loài ở dạng sinh cảnh 1
b: Số lượng loài ở dạng sinh cảnh 2
c: Số lượng loài chung cho dạng sinh cảnh 1 và dạng sinh cảnh 2
J: Chỉ số Jaccard, chỉ sự gần gũi thành phần loài giữa 2 quần
xã sinh vật ở hai sinh cảnh sống nghiên cứu
Trang 2113
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thành phần loài Oribatida trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
3.1.1.Danh sách thành phần loài Oribatida trên đất trồng ngô tại làng Lập Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Danh sách loài Oribatida thu thập được trên đất trồng ngô tại làng Lập
Trí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Trong danh sách này, thành phần loài Oribatida được xếp theo hệ thống phân loại của Balogh J.etal, 1992; Vũ Quang Mạnh, 2007 và các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov, 1975 [9]
Bảng 3.1 Thành phần loài Oribatida trên đất trồng ngô làng Lập Trí, xã
Minh Trí, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Trang 2214
5 Brasilobates maximus Mahunka, 1988 x x
Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967
6 Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967 x
Perxylobates Hammer, 1972
7 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 x x
8 Perxylobates vermiseta (Balogh et Mahunka, 1968) x
Xylobates Jacot, 1929
9 Xylobates lophotrichus (Brerlese, 1904) x
10 Xylobates monodactylus (Haller, 1804) x x
14 Scheloribates laevigatus (C L Koch, 1836) x
15 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) x
VII ORIPODIDAE JACOT, 1925
Oripoda Bank, 1904
16 Oripoda excavata Mahunka, 1988 x x
Truncopes Grandjean, 1956
17 Truncopes orientalis Mahunka, 1987 x
VIII CERATOZETIDAE JACOT, 1925
Allozetes Berlese, 1914
18 Allozetes pusillus Berlese, 191 x x