1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về mạng INTERNET mô hình OSI và bộ giao thức TCPIP

26 669 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 225,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về mạng INTERNET mô hình OSI và bộ giao thức TCPIP

Trang 1

Tiểu luận môn học

DỊCH VỤ MẠNG

Đề tài:

TỔNG QUAN VỀ MẠNG INTERNET

MÔ HÌNH OSI VÀ BỘ GIAO THỨC TCP/IP

GVHD: Thầy Bùi Công Trường

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG INTERNET

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VÀ TỔNG QUAN

I/ Sự Thúc Đẩy Mạng Internet Và Ảnh Hưởng Của Mạng Internet

Việc truyền thông dựa vào internet trở thành 1 phần ko thể thiếu trong cuộc sống Việc

sử dụng các hệ thống mạng xã hội cho phép con người có thể kết nối các nhóm bạn cũng như chia sẽ các thông tin với nhau Trên hệ thống các website chia sẽ rất nhiều thông tin về nhiều lĩnh vực: chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học, giới trẻ…Những thành viên trong gia đình sống xa nhau

có thể liên lạc, chia sẽ hình ảnh với nhau thông qua các ứng dụng VoIP hoặc live videos chat Người sử dụng có thể sử dụng internet để chi trả các khoản nợ, vay ở ngân hàng thông qua internet banking Và cloud computing ra đời giúp các công ty, người dùng có thể chia sẽ, lưu trữ

dữ liệu online trên mạng

Mặc dù nó xuất hiện để hoạt động như một mạng lưới thống nhất , mạng Internet không thiết kế từ một công nghệ mạng đơn vì không có công nghệ đủ để đáp ứng cho tất cả các mục đích sử dụng Thay vào đó, phần cứng mạng được thiết kế cho các tình huống và ngân sách cụ thể Một số hệ thống trong cùng một tòa nhà thì cần một kết nối có tốc độ cao để quản lí, chia sẽ với nhau, do vậy nó được dùng các thiêt kế có dây để đảm bảo về tốc độ của việc truyền tải Nhưng khi phạm vi hoạt động xa hơn, họ cần những kết nối không dây để có thể truy xuất và xữ

lí dử liệu từ xa

Trong những năm 1970 , một công nghệ được tạo ra, cho phép kết nối nhiều mạng cá nhân khác nhau và khiến chúng hoạt động như một đơn vị tập hợp Nó được biêt là

Trang 3

internetworking- một công nghệ làm nền tảng cho internet bằng cách tương thích các mô hình phần cứng, cung cấp các giải pháp để kết nối các hệ thống mạng nhỏ, đặt ra các tập qui ước cho việc truyền thông Các công nghệ internet giấu các chi tiết của phần cứng mạng , và cho phép máy tính giao tiếp độc lập với các kết nối mạng vật lý của chúng.

Công nghệ Internet là một ví dụ cho sự kết nối hệ thống mở Nó được gọi là mở bởi vì, không giống như các hệ thống truyền thông độc quyền có sẵn từ một nhà cung cấp cụ thể, các đặc điểm kỹ thuật được công khai Vì vậy, bất kỳ cá nhân hoặc công ty đều có thể xây dựng phần cứng và phần mềm cần thiết để giao tiếp qua mạng Internet Hơn nữa, công nghệ này được thiết

kế để thúc đẩy kế nối giữa các máy tính có cấu trúc phần cứng đa dạng, phù hợp với các phần cứng sử dụng công nghệ chuyển gói, phù hợp cho sự đa dạng của các ứng dụng ngày nay, và phù hợp với các hệ điều hành

II/ Mạng Internet Sử Dụng Giao Thức TCP/IP Và Lịch Sử Của Mạng Internet2.1 Mạng Internet Sử Dụng Giao Thức TCP/IP

Trong những năm 1970 và 1980, các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ nhận ra tầm quan trọng

và tiềm năng của công nghệ Internet , và nghiên cứu tài trợ, thực hiện tốt một mạng Internet toàn cầu Các nguyên tắc và ý tưởng trên được sáng lập nhờ vào cơ quan nghiên cứu các dự án

chuyên phòng thủ ( Defense Advanced Research Projects Agency ( DARPA ) Công nghệ

DARPA bao gồm một tập những tiêu chuẩn được miêu tả một cách chi tiết là làm thế nào các máy tính có thể giao tiếp được với nhau Nó được biết như là một tập hợp các qui ước cho các mạng lưới có kết nối và truyền tải lưu lượng Tên chính thức của nó là TCP/IP Protocol Suite và được gọi chung là TCP/IP (bao gồm 2 tiêu chuẩn chính là TCP và IP ), nó được sử dụng để giao tiếp với một nhóm các mạng lưới có kết nối Ví dụ, TCP / IP có thể được sử dụng để kết nối một tập hợp các mạng lưới trong một tòa nhà, trong một khuôn viên trường học , hoặc giữa các trường học với nhau

Ngoài ra, công nghệ TCP/IP còn rất thú vị bởi vì khả năng hoạt động của nó trên một phạm vi lớn Nó làm nền tảng công nghệ cho mạng internet toàn cầu cho phép kết nối hàng triệu người dùng tại nhà, tại trường, cơ quan, tổ chức, chính phủ ở khắp nơi trên thế giới Mạng

internet minh chứng cho sự hoạt động của công nghệ TCP/IP và cho thấy nó có thể thích nghi với sự đa dạng của các thiết bị phần cứng

Trang 5

2.2 Lịch Sử Của Mạng Internet

DARPA bắt đầu nghiên cứu tới internet vào giữa 1970s, DARPA là cơ quan được biết như là trung tâm nghiên cứu về mạng chuyển gói và đưa ra nhiều ý kiến về mạng chuyển gói được biết như là ARPANET ARPANET sử dụng kênh truyền riêng(lease line) point to point Sự phát triển về các công nghệ phần cứng mạng đã giúp cho DARPA phát triển hơn về hệ thống mà

họ đang nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu DARPA bắt đâù chú ý đến ý tưởng của 1 vài nhóm nghiên cứu, những người đã có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng mạng chuyển gói Những nhóm này được biết như là Internet Research Group Năm 1979, họ tạo và thiết kế ra các giao thức và cấu trúc của internet được gọi là internet control và configuration board (ICCB)

Mạng internet toàn cầu bắt đầu xuất hiện vào 1980 khi DARPA bắt đầu sử dụng hệ thống mạng mới với giao thức TCP/IP ARPANET trở thành nền tảng của internet sử dụng TCP/IP Sự truyền tải qua mạng được hoàn tất vào 1983 khi thư kí bộ quốc phòng được ủy quyền sử dụng các máy tính kết nối với mạng sử dụng TCP/IP Cơ quan truyền thông quốc phòng (DCA) chia ARPANET thành 2 mạng nhỏ: 1 để nghiên cứu tiếp và 1 để sử dụng cho truyền thông trong quân đội 1 phần giữ nguyên là ARPANET , phần kia phát triển lớn hơn và thành military network (MILNET)

Để khuyến khích cho các trường đại học sử dụng và nghiên cứu các giao thức mới, DARPA đã triển khai sử dụng với chi phí thấp cho các trường đại học Các phòng máy khoa học máy tính ở các trường đại học đều chạy hệ điều hành UNIX DARPA hầu như chiếm 90% các phòng máy ở các trường đại học sử dụng và nghiên cứu các giao thức cung cấp cho các ứng dụng Hơn thế nữa UNIX tạo ra 1 hệ điều hành mới được biết như là socket cho phép ứng dụng có thể truy cập qua mạng Và nhiều cơ chế, và giao thưc khác ra đời bên cạnh TCP/IP và nó trở thành các giao thức cơ bản cho hầu hết các hệ điều hành

Nhận thấy sự phát triển của các thế hệ mạng, National Science Foundation (NSF) đưa ra luật hoạt động để phát triển hệ thống TCP/IP 1970, NSF tạo ra công nghệ Computer Science Network (CSNET) để kết nối các máy tính của các nhà khoa học 1986, sự ra đời của mạng backbone diện rộng được biết là NSFNET backbone

Trang 6

III/ Các Dịch Vụ Internet

Người ta không thể đánh giá cao những chi tiết kỹ thuật cơ bản TCP / IP mà không hiểu các dịch vụ nó cung cấp TCP/ IP là một chuẩn giao thức Giao thức là một tập các qui tắt, cú pháp, ngữ nghĩa dành cho việc truyền thông Chúng đưa ra những định dạng chi tiết cho các tin nhắn, mô tả làm thế nào mà máy tính có thể phản hồi khi mà nó nhận được một tin nhắn đến, hoặc là làm thế nào nó có thể xữ lí lỗi do nhiều trường hợp khác nhau Giao thức cho phép chúng

ta thảo luận về sự truyền thông của máy tính hoàn toàn độc lập với các phần cứng riêng biệt của các nhà cung cấp Có thể hiểu giao thức là cách tương tác với các thuật toán bởi vì thuật toán giúp ta hiểu được các cách tính toán mà không cần quan tâm đến các ngôn ngữ lập trình bên dưới Tương tự như vậy , một giao thức truyền thông cho phép người dùng có thể xác định hoặc hiểu thông tin liên lạc mà không phụ thuộc vào chi tiết về các kiến thức phần cứng mạng từ một nhà cung cấp

Việc ẩn đi sự hoạt động của các thiết bị phần cứng ở bên dưới mang lại nhiều lợi ích Thứ nhất, người dùng chỉ cần sử dụng các tiện ích ở bên trên, và các lập trình viên cũng không cần phải nhớ nhiều về các cấu hình của phần cứng bên dưới Thứ hai, vì các ứng dụng đều hoạt động trên các lớp cao, nên chúng không bị giới hạn bởi các cấu trúc của phần cứng riêng biệt từ các nhà cung cấp khác nhau Thứ ba, nó hoạt đông bằng cách sử dụng các giao thức cấp cao, độc lập với các thiết bị bên dưới, nên nó có thể chuyển tiếp hoạt động qua các máy khác nhau Và nhiều ứng dụng có thể hoạt động vì nhiều mục đích chung, cùng một mã chương trình mà có thể chạy được cho bất kì máy tính nào

3.1 Các Dịch Vụ Internet Ở Cấp Ứng Dụng

Theo quan điểm của người dùng là internet xuất hiện để mang lại nhiều ứng dụng nhằm thực hiện nhiều công việc hữu ích Internet được thiết kế để phù hợp mạng không đồng nhất và máy tính, vì thế, khả năng tương tác là một yêu cầu quan trọng Do đó, chương trình ứng dụng Internet thường biểu hiện một mức độ cao của khả năng tương tác Trong thực tế, hầu hết người dùng truy cập vào các ứng dụng mà không có sự hiểu biết về các loại máy tính hoặc mạng đang được sử dụng , các giao thức truyền thông , hoặc thậm chí các con đường của dữ liệu đi từ nguồn

Trang 7

đến đích của nó Do đó, một người dùng có thể truy cập vào một trang web từ một hệ thống máy tính để bàn kết nối với một modem cáp hoặc từ một iPad kết nối với một mạng không dây 4G

Các dịch vụ ứng dụng Internet phổ biến nhất bao gồm:

1 Công nghệ World Wide Web (WWW).Web trở thành nguồn lưu lượng được truy cập lớn nhất trên mạng Internet toàn cầu từ năm 1994 đến năm 1995 Nhiều dịch vụ phổ biến , bao gồm cả dịch vụ tìm kiếm Internet (ví dụ , Google ) và mạng xã hội (ví dụ , Facebook ) , sử dụng công nghệ web Facebook có lưu lượng truy cập bằng ¼ tổng số lưu lượng Mặc dù người dùng phân biệt giữa nhiều dịch vụ dựa trên web, nhưng chúng ta sẽ thấy rằng tất cả họ đều sử dụng cùng một giao thức cấp ứng dụng

2 Điện toán đám mây (Cloud Computing): Cloud computing là công nghệ sử dụng thuật ngữ Cloud là nới chứa trung tâm của dữ liệu, và người dùng có thể dùng Internet để truy cập dữ liệu từ trong đám mây

3 Điều khiển truy cập (Remote access ): là một dịch vụ cho phép việc truy cập từ xa của các máy cục bộ đối với một máy tính làm trung tâm dữ liệu Khi máy tính làm trung tâm dữ liệu cập nhật thông tin, thì các mấy cục bộ có thể thấy được sự khác biết của dữ liệu của nó thông qua Internet

4 Truyền tải dữ liệu (File Transfer) : Các giao thức truyền file cho phép người dùng gửi hoặc nhận được một bản sao của một tập tin dữ liệu Các tập tin, bao gồm nhiều loại dữ liệu khác nhau, được gọi một tập tin theo cơ chế chuyển giao Bởi vì chúng thường được chuyển từ một trang web, người dùng có thể không nhận thức được rằng một ứng dụng truyền file đã chạy để có thể tải một dữ liệu từ một trang web

5 Thư điện tử (Electronic Mail ): Thư điện tử , đã từng chiếm số lượng lớn lưu lượng truy cập Internet ,nhưng ngày nay, phần lớn đã được thay thế bởi các ứng dụng web Người sử dụng ngày nay truy cập email thông qua một ứng dụng web cho phép người dùng đọc tin nhắn trong hộp thư của mình , tùy biến một tin nhắn, và chuyển tiếp tin nhắn hay gửi phản hồi Khi người dùng gửi một tin nhắn, hệ thống cơ bản sẽ sử dụng một giao thức truyền email để gửi tin nhắn vào hộp thư của người nhận

Trang 8

6 Dịch vụ thoại và Video ( Voice and Video services): Cả hai luồng video và audio đã chiếm một

phần không nhỏ của các bit dữ liệu vận chuyển qua mạng Internet toàn cầu Quan trọng hơn, việc upload video ngày càng tăng, đặc biệt là bởi vì người dùng đang sử dụng các thiết bị di động để gửi video và các sự kiện

Như vậy, chúng ta đã thấy cách thức các ứng dụng sử dụng giao thức TCP / IP để hoạt động,

và lý do tại sao cần phải có các tiêu chuẩn cho các giao thức ứng dụng để giúp chúng có được tính phổ biến rộng rãi

3.2 Các Dịch Vụ Internet Ở Cấp Mạng

3.2.1 Các dịch vụ chính ở cấp mạng của Internet

Một lập trình viên lập trình mạng sẽ có cái nhìn về internet khác nhau rất rõ so với người lập trình ở cấp ứng dụng Ở cấp độ mạng, Internet cung cấp hai dịch vụ chính mà tất cả các chương trình ứng dụng sử dụng (Các kiến thức cơ bản, tổng quan về TCP/IP) :

1 Dịch vụ phân phát gói tin không kết nối ( Connectionless Packet Delivery Service)

Phân phát gói tin là một dạng cơ bản cho tất cả các dịch vụ internet Connectionless Delivery là một khái niệm trừu tượng cho các dịch vụ mà nó cung cấp mạng chuyển gói Hiểu một cách đơn giản là Internet TCP/IP sẽ chuyển những gói tin từ một máy tính đến một máy tính khác dựa vào địa chỉ được đính kèm trong gói tin Bởi vì nó chuyển các gói tin một cách độc lập, Internet không đảm bảo độ tin cậy và thứ tự các gói tin Tuy nhiên nó có thể dựa vào các thiết bị phần cứng để xác định, ánh xạ đúng đích đến Vì thế dịch vụ phấn phát gói tin không kết nối là cực kì có hiệu quả Hơn nữa, ngày nay các công việc thiết thế đều làm cho việc phân phối gói tin không có kết nối trở thành nền tảng cho các dịch vụ internet, nên giao thức TCP/IP có thể tương thích, hoạt động với các thiết bị phần cứng khác nhau trong phạm vi lớn

2 Dịch vụ vận chuyển thông tin đáng tin cậy (Realiable Stream Transport Service )

Hầu hết các ứng dụng ngày nay đều yêu cầu phần mềm truyền thông (communication software )

tự phục hồi dữ liệu khi bị lỗi, mất gói tin , hoặc truyền thất bại giữa các thiết bị trung gian giữa người gửi và người nhận Các dịch vụ luồng thông tin đáng tin cậy của internet ( Internet’s

Trang 9

realiable stream service ) cho phép ứng dụng trên một máy tính thiết lập “kết nối” với một ứng dụng trên máy tính khác và cho phép truyền một lượng lớn dữ liệu thông qua “kết nối” đó như thể nó là một đường kết nối phần cứng trực tiếp Thật chất bên dưới, các giao thức truyền thông ( communication protocol ) chia luồng dữ liệu thành các gói tin nhỏ và gửi một gói tại một thời điểm và chờ bên nhận gửi một gói ACK ( acknowledge reception ).

3.2.2 Sự khác biệt giữa TCP/IP và các dịch vụ khác

Nhiều hệ thống mạng đều cung cấp nhiều dịch vụ tương tự như trên, vậy làm thế nào phân biệt được TCP/IP với các dịch vụ khác, những đặc điểm phân biệt cơ bản như sau:

1.Sự độc lập về công nghệ mạng TCP/IP định nghĩa định nghĩa 1 đơn vị truyền tải dữ liệu gọi là datagram và nó được truyền tải trên hệ thống mạng internet toàn cầu mà hoàn toàn độc lập với các thiết bị phần cứng mạng

2.End-to-End Acknowledgement: giao thức TCP/IP cung cấp các acknowledgement ở giửa nguồn và đích đến mặc dù ở giửa chúng không có kết nối vật lí nào

3.Các chuẩn giao thức ứng dụng: nhờ vào các dịch vụ của tầng transport, TCP/IP cung cấp nhiều chuẩn cơ bản chung cho các ứng dụng như làm thế nào để truy cập web, chuyển file và nhận email…vì thế khi lập trình ứng dụng, người lập trình cần tìm hiểu về các giao thức ứng dụng liên quan đến các dịch vụ truyền thông mà họ cần

IV/ The Internet Architecture Board(IAB) Và Request For Comments (Rfcs)4.1 The Internet Architecture Board (IAB)

Bởi vì TCP/IP không phụ thuộc vào thiết bị phần cứng và hoặc là từ tổ chức chuyên nghiệp nào,The Internet Architecture Board ra đời vào 1983 khi DARPA nhận diện internet control and configuration board IAB được cung cấp tập trung cho các cuộc nghiên cứu và phát triển bên dưới giao thức TCP/IP và các phiên bản cải tiến của internet IAB sẽ quyết định giao thức nào là được yêu cầu một phần TCP/IP và các chính sách chính thức khác

4.2 Request For Comments (Rfcs)

Những nội dung cho việc vận hành và hoạt động của internet, những giao thức TCP/IP xuất hiện trong 1 tập các báo cáo được gọi là Request for comment (RFCs) Nó có thể ngắn, dài, bao quát hay cụ thể,và có thể là 1 chuẩn cho 1 giao thức mới Có nhiều đối chiếu với RFCs dưới

Trang 10

dạng text Chúng luôn được xem lại và chỉnh sửa, cập nhật Việc chỉnh sử RFCs thuộc quyền quản lí của IETF RFCs được đánh số tuần tự và chúng sẽ thay đổi khi có phiên bản mới, vì thế người dùng cần cẩn thận khi đọc RFCs với các phiên bản khác nhau Trước khi ra một RFCs chính thức, nó có 1 bản nháp gọi là Internet Drafts.

V/ Sự Phát Triển Của Internet

1984, khoảng 1000 máy tính kết nối internet, 1987 con số là 10000 1990 là 100000 và

1993 là 1000000 tới 2001, 800000000 Sự phát triển của internet nhanh như vậy là nhờ vào đa

số các trung tâm chính phủ và các trường đại học đều sử dụng và nghiên cứu các giao thức Nhiều công ty đều sử dụng TCP/IP để kết nối mạng intranet nội bộ công ty trước khi họ sử dụng mạng internet toàn cầu

Internet luôn phát triển 1 cách nhanh chóng và không ngừng cải thiện Nhiều giao thức mới ra đời và cải thiện các giao thức cũ Ngày càng nhiều ứng dụng xuất hiện dựa trên nền tảng của internet

Trang 11

VI/ IP Version 6

6.1 Sự Xuất Hiện Của Ipv6

Sự cải tiến của TCP/IP gắn liền với sự cải tiến của internet, ngày càng có nhiều người dùng internet như là 1 phần cuộc sống của họ Nhưng cả TCP/IP và internet đều có thể thay đổi Nhiều công nghệ và ưng dụng mới xuất hiện để cải thiện các cơ chế bên dưới

Ngày nay, do sự phát triển của các thiết bị phầ n cứng (băng thông mạng, hiệu suất máy,

bộ nhớ máy…) và nhiều ưng dụng tiện lợi chạy trên nền tảng mạng (Mail,Social network, FTP ) số lượng người sử dụng máy tính để truy cập mạng tăng lên đáng kể dẫn đến số lượng

Trang 12

địa chỉ IP của Ipv4 có thể bị cạn kiệt Nếu mỗi máy tính, mỗi thiết bị được gán cứng 1 địa chỉ cố định thì số lượng địa chỉ IP có thể cấp sẽ cạn kiệt.

IETF đã lên kế hoạch để thiết kế 1 phiên bản IP khác Bởi vì các tập đoàn truyền thông lớn (nhà sản xuất máy tính, điện thoại, thiết bị phần cứng…) đều yêu cầu cần cải tiến 1 phiên bản

IP mới

Nhiều thiết kế đã được đưa ra để phục vụ cho các mục tiêu và truyền thông đặt biệt Và cuối cùng, phiên bản mở rộng bao gồm nhiều ý kiến cũ được IETF gán với phiên bản IP phiên bản số 6 và được gòi là Ipv6

6.2 Chức Năng Và Sự Khác Biệt Giữa Ipv6 Và Ipv4

Ipv6 kế thừa các chính sách và chức năng của Ipv4 Ipv6 sử dụng thiết kế được kế thừa trực tiếp từ các lớp địa chỉ của Ipv4 Ipv6 chứa tất cả các địa chỉ của Ipv4 như là một subnet của

1 tập các địa chỉ mới

Hầu như cơ bản thì kiến trúc và chức năng của Ipv6 thì tương tự như Ipv4 bởi vì nó sử dụng lại toàn bộ các chính sách và chức năng của Ipv4 Mặc dù có nhiều sự tương đồng, nhưng Ipv6 cải tiến khá nhiều các giao thức Ipv6 sử dụng phạm vi địa chỉ lớn hơn và các bản cải tiến

về định dạng gói tin Sự thay đổi có thể được nhóm vào 7 nhóm sau:

1. Độ lớn của địa chỉ IP: Ở Ipv6, kích thước của địa chỉ IP được thay đổi đáng kể từ 32 bit lên 128 bit

2. Hệ thống địa chỉ có cấp bậc được mở rộng: Ipv6 sử dụng 1 khoảng địa chỉ IP lớn để tạo ra hệ thống địa chỉ có cấp bậc ( để ISP có thể cung cấp các cụm địa chỉ cho các khách hàng.)

3. Định dạng header mới : Ipv6 sử dụng định dạng gói tin mới trong tập các header

4. Chức năng cải thiện: Ipv6 cho phép gói tin điều khiển được thông tin , không giống trên Ipv4

5. Cung cấp cho sự mở rộng các giao thức : thay vì đặt tả chi tiết, khả năng mở rộng của Ipv6 cho phép IETF làm cho tương thích các giao thức với phần cứng mạng và các ứng dụng

6. Hổ trợ cho việc tự cấu hình và ghi nhớ: cho phép 1 site được thay đổi từ 1 ISP đến nơi khác bằng cách tự động yêu cầu thay đổi địa chỉ

7. Hổ trợ cho định vị tài nguyên :Ipv6 bao gồm các dòng trừu tượng và cho phép các dịch vụ phân biệt

Trang 13

đối với các hệ thống phức tạp: nguyên lý “chia để trị”, cho phép xác định rõ nhiệm vụ của mỗi

bộ phận và quan hệ giữa chúng và cho phép dễ dàng bảo trì và nâng cấp hệ thống: thay đổi bên trong một bộ phận không ảnh hưởng đến các bộ phận khác

Mỗi tầng làm việc theo giao thức của tầng đó và tầng dưới cung cấp dịch vụ cho tầng trên

II/Mô Hình OSI

Tổ chức ISO (International Standards Organization) được thành lập vào năm 1947 là cơ quan quốc tế nhằm đề ra các tiêu chuẩn cho toàn thế giới Một tiêu chuẩn ISO bao trùm tất cả các yếu tố thông tin mạng được gọi là mô hình OSI (Open Systems Interconnection) Hệ thống mở là

mô hình hai hệ thống khác nhau có thể thông tin với nhau bất kể kiến trúc mạng của chúng ra sao Mục đính của mô hình OSI là mở rộng thông tin giữa nhiều hệ thống khác nhau mà không đòi hỏi phải có sự thay đổi về phần cứng hay phần mềm đối với hệ thống hiện hữu Mô hình OSI không phải là giao thức (protocol) mà là mô hình giúp hiểu biết và thiết kế kiến trúc mạng một cách mềm dẻo, bền vững và dễ diễn đạt hơn Nó gồm có bảy lớp riêng biệt nhưng có liên quan với nhau mỗi lớp định nghĩa một phần của quá trình truyền thông tin qua mạng

ISO là tổ chức còn OSI là mô hình

2.1 Kiến Trúc Lớp

Mô hình OSI gồm có bảy lớp: physical (lớp 1), data link (lớp 2), network (lớp 3),

transport (lớp 4), session (lớp 5), presentation (lớp 6), và application (lớp g 7) Hình 2.4 minh họa phương thức một bản tin được gửi đi từ thiết bị A đến thiết bị B Trong quá trình di chuyển, bản tin phải đi qua nhiều nút trung gian Các nút trung gian này thường nằm trong 3 lớp đầu tiên trong mô hình OSI

Ngày đăng: 06/10/2015, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w